Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

4.1.1. Tình hình thay đổi khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022

Trong giai đoạn từ năm 2012 – 2022 thì KNSL của NHTM Việt Nam được thể hiện qua hai tiêu chí đó là ROA và ROE, đồ thị biểu diễn được trình bày dưới đây:

Hình 4.1: Khả năng sinh lời ROA, ROE trung bình của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2012 – 2022

Dựa trên hình 4.1 ta có thể thấy tình hình chung ROA, ROE trung bình của 4 NHTM Việt Nam từ năm 2012 – 2022 có xu hướng tăng. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2012 – 2016 thì ROA giảm từ 0,82% xuống còn 0,47%, ROE thì giảm từ 7,43% xuống còn 6,72%. Nguyên nhân, vì giai đoạn này sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngân hàng quá cao, dẫn đến các NHTM tăng trưởng cho vay thiếu sự kiềm chế, dẫn đến nợ xấu tăng theo buộc NHNN phải có các quy định liên quan đến việc siết chặt chính sách tín dụng tại các NHTM, dẫn đến ROA và ROE trung bình giảm xuống. Nhưng từ năm 2016 – 2022 thì tốc độ tăng trưởng của ROA, ROE trung bình của các ngân hàng đều tăng qua mỗi năm, mặc dù trong giai đoạn này đại dịch Covid 19 xuất hiện nhưng các NHTM vẫn sử dụng các nguồn lực hiệu quả và có sự tái cơ cấu HĐKD để đem lại lợi nhuận cho mình.

4.1.2. Thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu

Các biến số trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp giá trị trung bình (GTTB), giá trị nhỏ nhất (GTNN), giá trị lớn nhất (GTLN) và độ lệch chuẩn trong bảng sau:

Bảng 4.1: Thống kê mô tả Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Biến GTTB Độ lệch chuẩn GTNN GTLN
ROA 0,86% 0,66% 0,001% 3,21%
ROE 10,24% 6,77% 0,08% 26,70%
NPL 2,98% 0,56% 1,24% 4,96%
LLR 2,11% 1,26% 0,34% 8,81%
SIZE 32,84 1,23 30,32 35,53
EAT 11,87% 3,37% 4,72% 23,02%
LOAN 8,80% 3,78% 2,69% 23,84%
CAR 13,31% 3,18% 8,67% 32,64%
GDP 5,81% 1,63% 2,58% 8,02%
CPI 3,74% 2,20% 0,63% 9,09%
STA 0,17 0,37 0 1
COVID 0,27 0,45 0 1

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Bảng 4.1 cho thấy với tỷ lệ ROA qua các năm có GTTB là 0,86% và có độ lệch chuẩn 0,66%, do đó cho thấy các NHTM không có sự khác biệt quá lớn về tỷ lệ này về mặt GTTB. Trong đó, tại VIETCAP năm 2016 có mức tỷ lệ ROA là 0,001% là GTNN và tại năm 2022 thì TCB có tỷ lệ ROA là 3,21% là GTLN. Đối với ROE qua các năm có GTTB là 10,24%% và có độ lệch chuẩn 6,77%, do đó cho thấy các NHTM có sự khác biệt quá lớn về tỷ lệ này về mặt GTTB. Trong đó, tại VIETCAP năm 2016 có mức tỷ lệ ROE là 0,08% là GTNN và tại năm 2022 thì VIB có tỷ lệ ROE là 26,70% là GTLN.

Đối với hai biến độc lập biểu diễn cho nợ xấu tại các NHTM Việt Nam thì tỷ lệ nợ xấu (NPL) có GTTB qua các năm là 2,98% với độ lệch chuẩn là 0,56%, cho thấy mức chênh lệch qua các năm tại các NHTM không có quá nhiều khác biệt. Trong đó, tại năm 2014 tại MSB thì tỷ lệ này là 1,24% mang GTNN và năm 2022 tại VPB tỷ lệ này là 4,96% mang GTLN. Đồng thời, tỷ lệ DPRRTD (LLR) qua các năm có GTTB là 2,11% với độ lệch chuẩn là 1,26%, cho thấy mức chênh lệch qua các năm tại các NHTM có quá nhiều khác biệt. Trong đó, tại năm 2015 tại SCB thì tỷ lệ này là 0,34% mang GTNN và tại năm 2012 tại SHB thì tỷ lệ này là 8,81% mang GTLN. Nhìn chung thì cả hai tỷ lệ này trung bình đều được duy trì dưới mức 3% là mức an toàn mà NHNN Việt Nam yêu cầu các NHTM phải đảm bảo, nhưng qua tình hình HĐKD thực tế qua mỗi năm thì tại các NHTM có sự tăng hay giảm nhưng nhìn chung vẫn đảm bảo được mức an toàn để kiểm soát được. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Đối với quy mô của các NHTM theo Log(Tổng tài sản) thì trung bình qua các năm từ 2013 – 2022 là 32,84 và không có sự khác biệt quá lớn với độ lệch 1,23. Quy mô này nhỏ nhất thuộc về SGB năm 2013 với giá trị là 30,32 và lớn nhất là 35,53 thuộc về BIDV năm 2022. Mặt khác, các NHTM như VCB, CTG, BID, AGR có sở hữu Nhà nước trên 51% luôn đứng đầu trong quy mô tài sản. Đối với tỷ lệ VCSH thì giai đoạn 2012 – 2022 tỷ lệ trung bình của các NHTM là 11,87% và độ lệch chuẩn thấp 3,37%, điều này chứng minh việc các ngân hàng vẫn tập trung vào hoạt động huy động tiền gửi để mở rộng nguồn vốn kinh doanh. Tỷ lệ VCSH thấp nhất là 4,72% của SCB năm 2016 và lớn nhất của VPB với tỷ lệ 23,03% trong năm 2018.

Đối với tốc độ tăng trưởng tín dụng thì các NHTM trong giai đoạn 2012 – 2022 duy trì với mức trung bình 8,80% và độ lệch chuẩn cao 3,78%, chứng tỏ trong giai đoạn này các NHTM vẫn cạnh tranh nhau và muốn duy trì sự tăng trưởng với dư nợ tín dụng. Trong đó, tốc độ thấp nhất là 2,69% của SCB năm 2020 và lớn nhất là 23,84% của SGB năm 2013. Đối với tỷ lệ an toàn vốn thì các NHTM trong giai đoạn 2012 – 2022 duy trì với mức trung bình 13,31% và độ lệch chuẩn cao 3,18%, chứng tỏ trong giai đoạn này các NHTM vẫn duy trì mức an toàn vốn cao để tạo điều kiện cho các HĐKD, đồng thời ứng phó với những rủi ro có thể xảy ra của ngân hàng. Trong đó, tốc độ thấp nhất là 8,67% của VCB năm 2015 và lớn nhất là 32,65% của KLB năm 2022.

Đối với vĩ mô nền kinh tế thì đại diện bởi GDP và tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2012 – 2022 thì dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm là 5,81% với độ lệch thấp, trong đó thấp nhất là 2,58% trong năm 2021 và cao nhất là 8,02% năm 2022. Đối với tỷ lệ lạm phát thì trung bình mỗi năm là 3,74%, trong đó năm 2015 thấp nhất với tỷ lệ 0,63% và cao nhất là 9,10% năm 2012. Ngoài ra thì trong luận văn có sử dụng sở hữu Nhà nước, đại dịch Covid 19 nhưng chúng tồn tại dưới dạng biến giả nhận hai giá trị 0, 1. Do đó, có tính đặc thù theo nhóm hoặc theo năm nên không trình bày thống kê mô tả tại mục này.

4.1.3. Sự tương quan giữa các biến số độc lập trong mô hình nghiên cứu

Phân tích tương quan của các biến độc lập nhằm xem xét mô hình có xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng hay không? Để xem xét hiện tượng này thì sẽ thông qua hệ số tương quan từng cặp của các biến số với nhau và yêu cầu không được cao hơn 0,8 (Farrar và Glauber, 1967). Ma trận tương quan của các biến số độc lập được thiết lập và trích xuất tại Phụ lục 2. Khi xét độ lớn các hệ số tương quan trên ma trận thấp hơn 0,8 điều này cho thấy mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiệm trọng. Ngoài ra, hệ số tương quan của STA với GDP và CPI là 0 điều này cho thấy cấu trúc sở hữu của NHTM không phụ thuộc và chịu sự ảnh hưởng qua lại bởi tình hình kinh tế vĩ mô.

4.2. Kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

4.2.1. Kết quả kiểm định cho các mô hình hồi quy

Như đã đề cập tại chương 3 thì ba mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn này đó là Pooled OLS, FEM và REM nhằm xem xét sự tác động của nợ xấu đến KNSL tại các NHTM.

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM

Tên biến ROA ROE
OLS FEM REM OLS FEM REM
NPL 0,338*** 0,242*** 0,287*** 3,461*** 2,093** 2,678***
LLR – 0,113*** -0,070*** -0,076*** -1,427*** -0,881*** -0,873***
SIZE 0,004*** 0,007*** 0,005*** 0,031*** 0,070*** 0,040***
EAT 0,039*** 0,0147 0,018 0,571*** 0,249 0,413***
LOAN 0.093*** 0,103*** 0,099*** -0,016 0,067 0,090
CAR 0,0000 0,0000 0,0000 0,0003 0,001 0,0001
GDP -0,029 -0,058*** -0,042*** -0,0962 -0,495** -0,284*
CPI 0,035** 0,043*** 0,037*** 0,311* 0,449*** 0,236*
STA -0,006*** 0 -0,009*** -0,029* 0 -0,049***
COVID 0,0001 -0,002** -0,001 0,016 -0,020 -0,011
R-square 63,49% 68,76% 68,27% 53,57% 58,35% 57,32%
Kiểm định Hausman Prob>chi2 = 0,0199 Chấp nhận H1: Mô hình FEM phù hợp để phân tích Prob>chi2 =  0,4385 Chấp nhận H0: Mô hình REM phù hợp để phân tích

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Đối với biến phụ thuộc là ROA thì ba mô hình hồi quy đa biến đều có hệ số xác định R2 đều lớn hơn 60%. Điều này cho thấy các biến số độc lập, kiểm soát có ý nghĩa thống kê giải thích được trên 60% sự thay đổi của ROA. Ngoài ra, tại ba mô hình này thì biến số độc lập NPL đều tác động cùng chiều đến ROA và biến LLR thì tác động ngược chiều đến ROA với mức ý nghĩa 1%. Ngoài ra, biến số kiểm soát SIZE, LOAN, CPI đều tác động cùng chiều đến ROA với mức ý nghĩa 1%.

Biến GDP có ý nghĩa thống kê tại mô hình FEM và REM. Nhưng STA lại có ý nghĩa thống kê tại Pooled OLS và REM. Nhìn chung thì chiều tác động thì các biến số đều có sự tương đồng. Do đó, mô hình vẫn có sự phù hợp về số liệu, nên cần kiểm định lựa chọn xem mô hình nào phù hợp để tiếp tục kiểm định. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Đối với biến phụ thuộc là ROE thì ba mô hình hồi quy đa biến đều có hệ số xác định R2 đều lớn hơn 50%. Điều này cho thấy các biến số độc lập, kiểm soát có ý nghĩa thống kê giải thích được trên 50% sự thay đổi của ROE. Ngoài ra, tại ba mô hình này thì biến số độc lập NPL đều tác động cùng chiều đến ROE và biến LLR thì tác động ngược chiều đến ROE với mức ý nghĩa 1%. Ngoài ra, biến số kiểm soát SIZE, CPI đều tác động cùng chiều đến ROE với mức ý nghĩa 1%. Nhìn chung thì chiều tác động thì các biến số đều có sự tương đồng. Do đó, mô hình vẫn có sự phù hợp về số liệu, nên cần kiểm định lựa chọn xem mô hình nào phù hợp để tiếp tục kiểm định.

Mặt khác, để lựa chọn mô hình phù hợp thì cần phải kiểm định Hausman với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM. Do đó, kết quả kiểm định Hausman tương ứng với biến phụ thuộc ROA và ROE được trình bày tại bảng 4.3. Mặt khác, hai mô hình FEM và REM đều có tính vững hơn mô hình Pooled OLS do đó hai mô hình này đều thích hợp để tiến hành những kiểm định tiếp theo để kết luận kết quả nghiên cứu.

4.2.2. Kiểm định các khuyết tật của mô hình phù hợp

Trong các hiện tượng khuyết tật của mô hình thì cần kiểm định là hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan thì kết quả kiểm định dưới bảng sau:

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình

Mô hình với biến phụ thuộc tương ứng Hiện tượng phương sai sai số thay đổi Hiện tượng tự tương quan
ROA chi2 (24)  =      636,86

Prob>chi2 =      0,0000

F( 1,23) =     22,372

Prob > F =     0,0000

ROE chi2 (01)  =      207,69

Prob>chi2 =      0,0000

F( 1,23) =     77,046

Prob > F =     0,0000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Đối với biến phụ thuộc là ROA thì hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình. Kết quả kiểm định tại bảng 4.4 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Kết quả kiểm định tại bảng 4.4 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng tự tương quan.

Đối với biến phụ thuộc là ROE thì hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình. Kết quả kiểm định tại bảng 4.4 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Kết quả kiểm định tại bảng 4.4 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng tự tương quan.

4.2.3. Kết quả kiểm định mô hình hồi quy sau khi khắc phục khuyết tật với phương pháp FGLS

Với kết quả kiểm định khuyết tật của các mô hình FEM với biến phụ thuộc ROA; REM với biến phụ thuộc ROE thì hai mô hình đều gặp hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Do đó, để kết luận được kết quả nghiên cứu thì cần tiến hành khắc phục hai hiện tượng này theo phương pháp FGLS. Kết quả như sau:

Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS

Các biến số Biến phụ thuộc ROA Biến phụ thuộc ROE
Hệ số hồi quy Sai số chuẩn P- value Hệ số hồi quy Sai số chuẩn P- value
NPL 0,240*** 0,046 0,000 2,678*** 0,546 0,000
LLR -0,075*** 0,015 0,000 -0,872*** 0,178 0,000
SIZE 0,004*** 0,0004 0,000 0,040*** 0,005 0,000
EAT 0,033*** 0,009 0,000 0,413*** 0,100 0,000
LOAN 0,098*** 0,010 0,000 0,090 0,112 0,425
CAR -0,0000 0,0000 0,538 0,0001 0,0004 0,781
GDP -0,032*** 0,009 0,001 -0,284* 0,111 0,011
CPI 0,023** 0,008 0,005 0,236* 0,099 0,017
STA -0,007*** 0,001 0,000 -0,049*** 0,014 0,000
COVID -0,001 0,001 0,071 -0,011 0,007 0,129
Prob > chi2 0,0000 0,0000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Sau khi thực hiện phương pháp FGLS thì ta thu được hai kết quả tương ứng với hai biến phụ thuộc ROA, ROE. Giá trị P – value của hai mô hình này đều là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5%, do đó hai mô hình này phù hợp với tổng thể. Đồng thời, kết quả về sự tác động của các biến số đến ROA, ROE trong hai mô hình này có sự tương đồng cao. Trong đó, biến số tỷ lệ nợ xấu (NPL) tác động cùng chiều nhưng tỷ lệ DPRRTD (LLR) lại tác động ngược chiều đến ROA, ROE với mức ý nghĩa 1%. Ngoài ra với các biến kiểm soát thì quy mô ngân hàng (SIZE); tỷ lệ VCSH (EAT); tỷ lệ lạm phát (CPI) tác động cùng chiều đến ROA, ROE vơi những mức ý nghĩa 1%; 5%. Nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và sở hữu Nhà nước (STA) lại tác động ngược chiều đến ROA, ROE với mức nghĩa 1% và 10%. Tuy nhiên, với tăng trưởng tín dụng (LOAN) thì lại có kết quả khác biệt, trong khi LOAN tác động cùng chiều đến ROA với mức ý nghĩa 1%, thì biến số này lại không có ý nghĩa thống kê tác động đến ROE. Vì vậy, dựa trên kết quả bảng 4.5 thì mô hình hồi quy tương ứng như sau:

ROAi,t = 0,24*NPLi,t –  0,075*LLRi,t + 0,004*SIZEi,t + 0,033*EATi,t + 0,098*LOANi,t – 0,032*GDPt + 0,023*CPIt – 0,007*STAi,t

ROEi,t = 2,678*NPLi,t – 0,872*LLRi,t + 0,04*SIZEi,t + 0,413*EATi,t – 0,284*GDPt + 0,236*CPIt – 0,049*STAi,t

4.2.4. Kiểm định giải thuyết thống kê

Dựa trên kết quả bảng 4.5 thì bảng 4.6 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi yếu tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ tiến hành bác bỏ và ngược lại.

Bảng 4.6: Kết quả tổng hợp Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Giả thuyết Các biến số ROA ROE Kết luận giả thuyết
Kỳ vọng Kết  quả Kỳ vọng Kết quả
Dấu P-value Dấu P- value
H1 NPL + 0,000 + 0,000 Bác bỏ H1
H2 LLR 0,000 0,000 Chấp nhận H2
H3 SIZE + + 0,000 + + 0,000 Chấp nhận H3
H4 EAT + + 0,000 + + 0,000 Chấp nhận H4
H5 LOAN + + 0,000 + + 0,425 Chấp nhận H5
H6 CAR + + 0,538 + + 0,781 Bác bỏ H6
H7 GDP + 0,001 + 0,011 Bác bỏ H7
H8 CPI + + 0,005 + + 0,017 Chấp nhận H8
H9 STA 0,000 0,000 Chấp nhận H9
H10 COVID 0,071 0,129 Bác bỏ H10
R2 68,76% 58,35%

Nguồn: Tổng hợp kết quả tính toán

Bảng 4.6 đã trình bày kỳ vọng về giả thuyết và kết quả đối sánh. Mặt khác, đối với biến ROA thì NPL, LLR, SIZE, EAT, LOAN, GDP, CPI, STA đã giải thích được 68,76% sự thay đổi của ROA. Đối với biến ROE thì NPL, LLR, SIZE, EAT, GDP, CPI, STA đã giải thích được 58,35% sự thay đổi của ROE.

4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Kết quả hồi quy cho thấy đối với hai biến số đại diện cho nợ xấu tại các NHTM Việt Nam thì tỷ lệ nợ xấu ảnh hưởng cùng chiều đến KNSL với hệ số hồi quy ảnh hưởng đến ROA, ROE lần lượt là 0,24 và 2,678. Có nghĩa là khi nợ xấu càng tăng thì KNSL của các NHTM càng tăng. Điều này được luận giải đó là vào thời điểm nợ xấu tăng nhưng áp lực về lợi nhuận và cạnh tranh vẫn tồn tại, do đó bắt buộc các NHTM phải tăng trưởng tín dụng và các hoạt động đa dạng hóa thu nhập khác để giữ vững tình trạng ổn định và doanh thu để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Trước tình hình nợ xấu tăng lên thì các NHTM cần tiến hành kiểm soát mức tăng của nợ xấu và tiến hành các hoạt động tăng trưởng tín dụng một cách thận trọng hơn như xét duyệt khoản vay kĩ lưỡng hơn, tăng lãi suất cho vay, tăng giá trị tài sản đảm bảo, tập trung vào các khách hàng có dư nợ lớn và các mục đảm bảo cho khoản vay tốt, đặc biệt là dòng tiền trả nợ nợ ổn định. Mặt khác, khi nợ xấu tăng thì các hoạt động đa dạng hóa thu nhập như phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử, ủy thác, quản lý tài sản,… sẽ được ngân hàng tập trung mở rộng, nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của tín dụng và tìm kiếm lợi nhuận thay cho phần bị thiệt hại từ nợ xấu. Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2021); Nguyễn Trần Thái Hà và Nguyễn Vĩnh Khương (2022); Tăng Mỹ Sang và Nguyễn Quốc Anh (2022); Lưu Phước Vẹn (2023); Phạm Hiếu và cộng sự (2023); Kwashie và cộng sự (2022); Fauziah và Fadhilah (2022); Sahiti và cộng sự (2022); Abdelaziz và cộng sự (2022).

Tỷ lệ dự phòng RRTD ảnh hưởng ngược chiều đến ROA, ROE lần lượt là -0,075 và -0,872. Có nghĩa là khi tỷ lệ dự phòng RTTD càng tăng thì KNSL của các NHTM càng giảm. Điều này luận giải cho lý thuyết về khả năng sinh lời dựa trên lý thuyết nền tảng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì NHTM là loại doanh nghiệp đặc biệt với chức năng kinh doanh tiền tệ (Rose, 2002). Một tổ chức kinh doanh hoạt động khi muốn có thật nhiều lợi nhuận thì chi phí phải được tiết kiệm tại mức tối đa. Do đó, khi ngân hàng tiến hành trích lập dự phòng RRTD thì chi phí hoạt động cũng sẽ tăng lên theo. Điều này cho thấy các khoản vay trong thời gian trước của ngân hàng mất dần chất lượng tín dụng, khả năng kiểm soát và quản lý của đội ngũ cán bộ và quản lý của ngân hàng yếu kém dẫn đến việc khả năng thu hồi giảm đi. Nên khi tỷ lệ này tăng lên cao, cũng sẽ dự báo hàng loạt các chi phí khác liên quan đến việc xử lý RRTD cũng sẽ tăng lên theo và lợi nhuận của các NHTM sẽ tiếp tục giảm. Vì vậy, xét về lâu dài thì khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng cũng sẽ kém đi nếu tỷ lệ này tiếp tục gia tăng. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Trần Thái Hà và Nguyễn Vĩnh Khương (2022); Tăng Mỹ Sang và Nguyễn Quốc Anh (2022); Phạm Hiếu và cộng sự (2023). Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

Ngoài ra, các kết quả hồi quy khác của quy mô ngân hàng cũng phản ánh khi các ngân hàng có quy mô càng lớn thì KNSL sẽ tăng theo, do khẩu vị rủi ro của ngân hàng gia tăng nên các hoạt động tiếp cận khách hàng sẽ gia tăng đồng thời các hoạt động đầu tư cũng sẽ tiếp tục được duy trì và dễ dàng tăng trưởng. Đặc biệt, khi quy mô ngân hàng càng lớn thì tham vọng tăng trưởng tín dụng càng nhiều, đồng thời việc đầu tư vào các công cụ hay hệ thống công nghệ cao giúp cho ngân hàng xác định tốt hơn tư cách vay của khách hàng, nên việc tăng trưởng tín dụng thuận lợi hơn. Từ đó giúp cho các NHTM Việt Nam sẽ gia tăng lợi nhuận, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Trần Thái Hà và Nguyễn Vĩnh Khương (2022); Kwashie và cộng sự (2022); Sahiti và cộng sự (2022); Arrdelia và Lubis (2023). Ngoài ra, đối với các NHTM có cấu trúc sở hữu Nhà nước chiếm trên 51% thì khẩu vị rủi ro có phần thấp hơn, do vẫn chịu sự chi phối nhiều của Nhà nước hoạt động theo hướng ổn định và an toàn. Do đó, các sản phẩm truyền thống vẫn được ưu tiên và sự đa dạng hóa thu nhập có phần hạn chế hơn các NHTM tư nhân toàn phần, do đó, KNSL có phần giảm đi, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2021).

Xét tại khía cạnh vĩ mô nền kinh tế thì kết quả nghiên cứu đều cho ra thực nghiệm khi tăng trưởng kinh tế càng cao thì ROA, ROE của ngân hàng càng thấp. Điều này khẳng định cho việc, khi GDP tăng cao thì các NHTM lại có tham vọng trong việc mở rộng các HĐKD khác, ngoài những hoạt động truyền thống. Điều này có phần thuận lợi cho việc mở rộng thị phần nhưng lại đem lại sự bất lợi trong việc tập trung hóa kinh doanh, các nguồn lực bị phân tán và rủi ro của ngân hàng cũng từ đó gia tăng nhiều hơn. Chính vì thế mà ROA, ROE của ngân hàng cũng suy giảm. Kết quả này ngược với các lập luận của Nguyễn Kim Quốc Trung (2021); Phạm Hiếu và cộng sự (2023). Đối với tỷ lệ lạm phát, khi các NHTM Việt Nam hoạt động kinh doanh trong thị trường có lạm phát cao thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thu hồi nợ. Nguyên nhân, các khách hàng của ngân hàng sẽ chậm chạp trong việc tiêu thụ hàng hóa do giá cả tăng cao. Ngoài ra, khi lạm phát tăng thì lãi suất của ngân hàng cũng tăng theo, làm cho các khách hàng vay đối diện với mức nợ cao hơn và năng lực trả nợ kém đi, do đó nợ xấu của ngân hàng cũng tăng theo.

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Chương 4 đã tiến hành đánh giá tình hình thay đổi của ROA, ROE của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022, hai chỉ tiêu này đều gia tăng đều đặn qua mỗi năm cho thấy các NHTM Việt Nam vẫn đạt được sự tăng trưởng đều với KNSL của mình. Thông qua các kết quả hồi quy thì tỷ lệ nợ xấu ảnh hưởng cùng chiều đến KNSL của NHTM Việt Nam, nhưng tỷ lệ dự phòng RRTD lại ảnh hưởng ngược chiều đến KNSL. Mặt khác, các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng cùng chiều đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế và sở hữu Nhà nước lại ảnh hưởng ngược chiều đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Cuối cùng, hệ số an toàn vốn không ảnh hưởng đến KNSL của các NHTM Việt Nam.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

5.1. Kết luận

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy trên dữ liệu bảng nhằm tìm hiểu tác động của nợ xấu đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho KNSL của các NHTM Việt Nam đó là ROA, ROE. Các biến độc lập đại diện cho nợ xấu là tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng RRTD. Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ BCTC của 24 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2022 và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ ADB Indicator và Tổng Cục Thống kê.

Luận văn đã đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã đề ra trong chương 1 là xác định sự tác động của nợ xấu đến KNSL của các NHTM Việt Nam nhằm đề xuất các hàm ý quản trị. Kết quả nghiên cứu của mô hình FGLS cho thấy tỷ lệ nợ xấu ảnh hưởng cùng chiều đến KNSL của NHTM Việt Nam, nhưng tỷ lệ dự phòng RRTD lại ảnh hưởng ngược chiều đến KNSL. Khi nợ xấu càng tăng thì KNSL của các NHTM càng tăng, vì tình hình nợ xấu tăng lên thì các NHTM cần tiến hành kiểm soát mức tăng của nợ xấu và tiến hành các hoạt động tăng trưởng tín dụng một cách thận trọng hơn như xét duyệt khoản vay kĩ lưỡng hơn, tăng lãi suất cho vay, tăng giá trị tài sản đảm bảo, tập trung vào các khách hàng có dư nợ lớn và các mục đảm bảo cho khoản vay tốt, đặc biệt là dòng tiền trả nợ nợ ổn định. Khi ngân hàng tiến hành trích lập dự phòng RRTD thì chi phí hoạt động cũng sẽ tăng lên theo, tỷ lệ này tăng lên cao, cũng sẽ dự báo hàng loạt các chi phí khác liên quan đến việc xử lý RRTD cũng sẽ tăng lên theo và lợi nhuận của các NHTM sẽ tiếp tục giảm.

Mặt khác, các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng cùng chiều đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế và sở hữu Nhà nước lại ảnh hưởng ngược chiều đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Cuối cùng, hệ số an toàn vốn không ảnh hưởng đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu này thì luận văn sẽ đề xuất các hàm ý quản trị tại phần dưới đây cho các NHTM VIệt Nam để gia tăng KNSL trong tương lai.

5.2. Hàm ý quản trị Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

5.2.1. Đối với kiểm soát nợ xấu

Theo kết quả nghiên cứu thì tỷ lệ nợ xấu ảnh hưởng cùng chiều đến ROA, ROE. Nhưng tỷ lệ dự phòng RRTD lại ảnh hưởng ngược chiều. Tuy nhiên, trong ngắn hạn nếu tỷ lệ nợ xấu tăng nhưng các NHTM vẫn kiểm soát được thì vẫn có thể gia tăng lợi nhuận. Nhưng về lâu dài nếu tỷ lệ nợ xấu tăng qua mỗi năm với tỷ lệ cao thì chất lượng tín dụng của các NHTM ngày càng suy giảm. Qua đó cần phải giảm thiểu hay kiểm soát tỷ lệ nợ xấu đến mức thấp nhất được xem là hoạt động tối ưu của ngân hàng. Vì vậy, các NHTM có thể kiểm soát bằng cách:

Thứ nhất, xây dựng, duy trì, thiết lập hệ thống tài chính vững chắc gồm việc quy định các chuẩn mực, quy tắc, chế độ kiểm toán, quyết toán, kế toán, quản trị riêng biệt, khuôn khổ điều tiết, giám sát thị trường tài chính-tiền tệ… để xác định những mục tiêu trọng điểm giúp hệ thống tài chính hoàn thành tốt vai trò của mình.

Thứ hai, siết chặt các quy định về việc bảo đảm an toàn hệ thống sẽ luôn được đặt lên trước hết bất kể khi nào hệ thống ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao, bao gồm cả các mối đe dọa như khủng hoảng hoặc thậm chí là phá sản. Tiếp đến, các quy định, quy chế quan trọng khác như các quy định về tỉ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng (ví dụ như là hệ số an toàn vốn tối thiểu- CAR), về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, hay chấp thuận cho mở rộng quy mô, phạm vi, lĩnh vực hoạt động mà mức độ rủi ro của chúng chưa được đo lường đầy đủ và bảo đảm khả năng kiểm soát… đều phải cần được xem xét, đánh giá lại một cách kỹ lưỡng và cần siết chặt hơn.

Thứ ba, giám sát tình hình nợ xấu một cách hiệu quả thông qua các hoạt động phân tích, phân loại nợ xấu theo định kỳ. Duy trì thường xuyên việc kiểm tra, phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân phát sinh nợ xấu, làm rõ trách nhiệm của các cá nhân liên quan nhất là ở những đơn vị, cá nhân phụ trách có tỷ lệ nợ xấu tăng cao đồng thời phải gắn trách nhiệm xử lý nợ xấu đối với những cá nhân có liên quan trong việc cấp tín dụng.

Thứ tư, tăng cường các cơ chế thỏa thuận, thương lượng trong xử lý nợ xấu giữa ngân hàng thương mại (bên cho vay) và các doanh nghiệp, cá nhân (bên đi vay) để đồng thuận giữa hai bên trong việc giải quyết hậu quả của nợ xấu. Cả hai bên cần bàn bạc để có giải pháp hợp lý như đề ra các phương án trả nợ, xác định thời điểm trả nợ, thay đổi các điều khoản, nội dung hợp đồng tín dụng để phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tế của các bên. Quản lý, kiểm soát chi phí hoạt động tốt. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản có tương quan cùng chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Vì vậy, việc gia tăng quy mô tổng tài sản cần có sự gia tăng tương xứng của chi phí hoạt động, từ đó tạo ra nhiều doanh thu và gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Các NHTM cần gia tăng hiệu quả quản trị chi phí thông qua việc chú trọng đến công tác kế toán quản trị ngân hàng, mua sắm những phần mềm quản trị chi phí tối ưu, tuyển dụng nhân viên có chuyên môn tốt để cung cấp thông tin quản trị hữu ích nhằm sử dụng chi phí hợp lý. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

5.2.2. Đối với các hoạt động quản trị ngân hàng

Quy mô ngân hàng có ảnh hưởng cùng chiều với KNSL cho thấy các NHTM khi muốn gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh thì cần xem xét vấn đề gia tăng quy mô. Vì khi NHTM gia tăng quy mô, NHTM có thể tận dụng lợi thế theo quy mô để phát triển hoạt động, giảm thiểu chi phí tiếp cận nguồn tài trợ từ bên ngoài. NHTM cần xem xét việc mở rộng quy mô với việc tuyển dụng đầu vào kỹ lưỡng, vì khi quy mô NHTM được mở rộng mà đội ngũ làm việc không hiệu quả thì cũng không phát huy hết được lợi thế theo quy mô. Việc mở rộng này cần gắn liền với việc đánh giá hiệu quả đóng góp của nhân viên để có chế độ lương, thưởng phù hợp nhằm khuyến khích họ làm việc tốt hơn; đồng thời các chương trình đào tạo huấn luyện nhân viên cũng cần được tổ chức định kỳ cùng các kỳ thi đánh giá năng lực nhân viên khi thực hiện nghiệp vụ. Các sản phẩm ngân hàng ứng dụng công nghệ số có ý nghĩa khách quan và đây là một lợi thế cạnh tranh hữu hiệu của ngành ngân hàng trong tương lai. Việt Nam có tiềm năng to lớn phát triển ngân hàng số. NHTM Việt Nam cần nhanh chóng nắm bắt cơ hội, thay đổi nhận thức trong xây dựng chiến lược kinh doanh của mình, hướng đến lấy khách hàng làm trung tâm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, áp dụng công nghệ số đem đến cho khách hàng nhiều trải nghiệm và tiện ích hơn. Với yêu cầu cấp thiết này, nghiên cứu một cách toàn diện thực trạng phát triển ngân hàng số ở Việt Nam, để từ đó có cơ sở đưa ra những khuyến nghị, đề xuất đối với các NHTM và khuyến nghị về cơ chế, chính sách quản lý đối với các cơ quan quản lý là nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn cao.

Tăng VCSH trong NHTM trong giai đoạn hiện nay, các NHTM nên tập trung vào một số giải pháp như: Phát hành thêm cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu hoặc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Để thực hiện giải pháp này một cách hiệu quả, các NHTM Việt Nam cũng cần minh bạch thông tin, công khai tài chính để tăng khả năng tham gia huy động vốn qua thị trường chứng khoán. Chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông. Hình thức tăng vốn này có hiệu quả trong việc nâng cao ý thức và trách nhiệm, thể hiện vai trò của cổ đông đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Các ngân hàng cần có những bước tính toán tiền gửi cần được huy động tại mức nào cân đối với mức tăng trưởng tín dụng mong muốn để tránh tình trạng chạy đua tăng trưởng nhưng nợ vay không đòi được nhưng lãi tiền gửi vẫn phải trả. Mặt khác, các khoản huy động tiền gửi khuyến khích khách hàng chuyển từ ngắn hạn sang dài hạn để tránh được áp lực thanh toán gốc quá sớm, nhằm phục vụ cho các hạng mục đầu tư dài dạn. Ngoài ra, cần tập trung tiếp thị riêng đối với từng phân khúc khách hàng, tiếp cận khách hàng mục tiêu cụ thể, tập trung vào các khách hàng có tiềm năng. Tuy nhiên, khi ngân hàng tăng tỷ lệ cho vay thì cũng cần lưu ý đến việc đảm bảo an toàn tín dụng theo quy định của NHNN, thực hiện chặt chẽ quy định trước, trong và sau khi cho vay để đảm bảo nguồn vốn giải ngân được dùng đúng mục đích, sử dụng vốn hiệu quả.

Các NHTM muốn đạt lợi nhuận tốt thì cần phải cắt giảm bớt chi phí hoạt động. Tuy nhiên chi phí hoạt động gồm rất nhiều chi phí như chi phí lương nhân viên, chi phí công nghệ, chi các hoạt động khác,… nên vấn đề cắt giảm bớt các chi phí hoạt động cũng không phù hợp. Nếu như tình trạng chi phí hoạt động cao xảy ra, NHTM cũng cần phải tìm hiểu nguyên nhân, hiểu rõ vấn đề, đề xuất và thực hiện các biện pháp để khắc phục. Do đó, việc phát triển công tác trong việc quản lý nên được chú trọng và nâng cao, song song đó là NH nên tuyển dụng nguồn nhân sự có tiềm năng. Bên cạnh đó, các buổi đào tạo nâng cao cho nhân viên cần được tổ chức và phổ biến rộng rãi, việc này giúp cho hệ thống nhân lực của NH được phát triển, trình độ chuyên môn của nhân viên tăng cao. Vấn đề lương thưởng của nhân viên cũng nên cải thiện để giúp khuyến khích nhân viên hoạt động năng suất. Việc hiệu suất và chất lượng hoạt động của nhân viên tăng cao cũng giúp cho ngân hàng hoạt động một cách hiệu quả và đạt được những mục tiêu đề ra.

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

5.3.1.Hạn chế nghiên cứu

Dữ liệu từ báo cáo tài chính: Hạn chế của nghiên cứu là sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ BCTC của các NHTM Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2022 nên chắc chắn khó có thể tránh được những thiếu sót trong thu thập dữ liệu nghiên cứu và ảnh hưởng đến kết quả.

Một số biến độc lập trong mô hình bị đổi dấu so với kỳ vọng của tác giả và của một số nghiên cứu khác. Điều này xuất phát từ phía mẫu dữ liệu và điều kiện thực tế tại các NHTM Việt Nam. Hạn chế của tác giả là chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Sử dụng thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho các yếu tố tác động đến KNSL được sử dụng trong luận văn.

Thực hiện thêm một số hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình. Thu thập thêm đầy đủ dữ liệu nhằm phân tích hoàn chỉnh thực trạng thu nhập của các NHTM Việt Nam. Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả NHTM Việt Nam và một số NHTM trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Chương này đã tập trung kết luận những kết quả đạt được của luận văn trong việc đo lường sự tác động của nợ xấu đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Ngoài các biến số độc lập là tỷ lệ nợ xấu và dự phòng RRTD thì một số biến kiểm soát khác thuộc bên trong và bên ngoài ngân hàng cũng được sử dụng để đo lường. Thông qua kết quả đó thì luận văn đã đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTM Việt Nam để gia tăng KNSL trong tương lai. Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Tác động nợ xấu đến khả năng sinh lời ở các ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng sinh lời ở các ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993