Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nội dung luận văn: Luận văn này đã thực hiện việc tổng hợp các khung lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp và các nhân tố tác động đến nó tại các doanh nghiệp. Đồng thời, thông qua tóm lược các nghiên cứu liên quan xác định các khoảng trống nghiên cứu. Từ đó mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được giải quyết là xác định, đại diện cho cấu trúc vốn là hệ số nợ tổng thể, cùng với đó là các biến độc lập được chọn để xây dựng trong mô hình nghiên cứu và có sự tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là quy mô doanh nghiệp; cấu trúc tài sản cố định hữu hình; khả năng sinh lời; tăng trưởng doanh nghiệp; tính thanh khoản; tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận; sở hữu Nhà nước; tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát; đại dịch Covid 19.
Sau đó, thông qua nghiên cứu định lượng với việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam từ 2013 – 2023 và thiết kế dạng bảng, xử lý hồi quy đa biến thì mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành. Kết quả nghiên cứu của mô hình FGLS cho thấy các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã làm rõ các biến có ý nghĩa thống kê. Trong đó, các biến số quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, cấu trúc TSCĐ hữu hình, thuế suất TNDN trên lợi nhuận, tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và đại dịch Covid 19 có tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Biến số tăng trưởng doanh nghiệp thì tác động ngược chiều đến hệ số nợ tổng thể. Tỷ lệ thanh khoản và sở hữu Nhà nước không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến hệ số nợ tổng thể. Cuối cùng từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thì luận văn tiến hành đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam có cấu trúc vốn phù hợp với hoạt động kinh doanh trong tương lai.
Từ khóa: Cấu trúc vốn, ngành xây dựng, quy mô doanh nghiệp, tài sản cố định, vĩ mô.
ABSTRACT Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Title: Factors affecting the capital structure of construction enterprises listed on the Vietnamese stock market.
Thesis content: This thesis has synthesized theoretical frameworks related to the capital structure of enterprises and factors affecting it in enterprises. At the same time, through summarizing related studies, research gaps are identified. From there, the first research objective is resolved to determine, representing the capital structure is the total debt ratio, along with the independent variables selected to build in the research model and have an impact on the capital structure of construction enterprises listed on the Vietnamese stock market, which are enterprise size; structure of tangible fixed assets; profitability; enterprise growth; liquidity; corporate income tax rate on profits; state ownership; economic growth; inflation rate; Covid 19 pandemic.
Then, through quantitative research with secondary data collection of 24 listed construction enterprises in Vietnam from 2013 – 2023 and panel design, multivariate regression processing, the second research objective was completed. The research results of the FGLS model show that the factors affecting the capital structure of construction enterprises listed on the Vietnamese stock market have clarified the statistically significant variables. In which, the variables of enterprise size, profitability, tangible fixed asset structure, corporate income tax rate on profits, GDP growth, inflation rate and Covid 19 pandemic have a positive impact on the total debt ratio. The enterprise growth variable has a negative impact on the total debt ratio. The liquidity ratio and state ownership have no statistical significance in affecting the total debt ratio. Finally, from the above empirical research results, the thesis proposes implications for listed construction enterprises in Vietnam to have a capital structure suitable for future business operations.
Keywords: Capital structure, construction industry, enterprise size, fixed assets, macro.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay diện mạo đô thị Việt Nam hôm nay phần nào cho thấy vị trí quan trọng và sự lớn mạnh của ngành xây dựng đã nỗ lực trong suốt nửa thập kỷ qua, để khẳng định vị trí của một nền kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Theo báo cáo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2022, ngành xây dựng là ngành kinh tế có vị trí, vai trò chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời ngành xây dựng luôn đóng góp vào GDP Việt Nam hơn 5% mỗi năm. Do đó, sự phát triển của ngành Xây dựng gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế và các chính sách vĩ mô của nhà nước (Nguyễn Hồ Phi Hà và Mai Thanh Tú, 2021). Cùng với sự hồi phục của thị trường bất động sản trong giai đoạn 2014 – 2018, lĩnh vực xây dựng, xây lắp và phát triển hạ tầng đã phát triển mạnh với tăng trưởng trung bình 9.15%/năm so với giai đoạn trước 2013. Theo số liệu thống kê của Viện nghiên cứu phát triển hạ tầng và quy hoạch đô thị, kể từ giữa năm 2018 đến nay, tốc độ phát triển của mảng xây dựng xây lắp và hạ tầng giảm mạnh với tỷ lệ tăng trưởng trong năm 2018 – 2021 chỉ đạt 9,2 – 9,5%. Năm 2022, tính đến thời điểm hiện tại, thị trường xây dựng đã bước theo một quỹ đạo vận động hoàn toàn khác, dẫu rằng, tốc độ tăng trưởng ngành chỉ đạt 7.02% (Nguyễn Hồ Phi Hà và Mai Thanh Tú, 2021). Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Hiện nay các nghiên cứu điển hình của Chandra (2015); Khaki và Akin (2020); Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022) đều có kết luận rằng các doanh nghiệp kinh doanh ngành xây dựng cần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh có mối quan hệ ngược chiều với đòn bẩy tài chính. Khi hoạt động hiệu quả, các doanh nghiệp trong ngành xây dựng có xu hướng sử dụng ít nợ hơn, điều này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sử dụng vốn. Thay vì sử dụng nợ, các doanh nghiệp xây dựng có thể tận dụng nguồn vốn nội tại từ lợi nhuận vì loại vốn này có chi phí thấp hơn vốn vay và phát hành cổ phiếu mới. Đồng thời, các nghiên cứu cũng cho rằng tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp, trong khi số năm hoạt động lại có mối quan hệ ngược chiều với doanh nghiệp. Về mặt lý thuyết, cấu trúc vốn sẽ thay đổi đáng kể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng thường tập trung vào các đặc điểm sau: tình hình của doanh nghiệp, lĩnh vực doanh nghiệp hoạt động cũng như ảnh hưởng từ biến động vĩ mô của nền kinh tế, yếu tố văn hóa, tôn giáo và hành vi quản trị. Thay vì tìm hiểu tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tối ưu là bao nhiêu, các nhà nghiên cứu tài chính thường quan tâm đến việc tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng vốn vay, hay nói cách khác là quyết định sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung, tại các bối cảnh, thời gian nghiên cứu khác nhau hay các ngành nghề kinh doanh thì các tác giả cho những quan điểm khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng. Do đó, tạo ra các khoảng trống nghiên cứu về phạm vi lẫn đối tượng ngành nghề.
Trên thực tế, cấu trúc vốn sẽ thay đổi tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố nhưng thường tập trung vào các đặc điểm như sau: Tình hình của từng doanh nghiệp, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động cũng như các ảnh hưởng từ sự biến động vĩ mô của nền kinh tế, các yếu tố văn hóa, tôn giáo và hành vi quản trị của nhà quản trị (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Thay vì tìm xem tỷ lệ vốn vay trên tỷ lệ vốn chủ sở hữu là bao nhiêu thì tối ưu, các nhà nghiên cứu về tài chính học thường quan tâm đến việc tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng vốn vay, hay nói cách khác là sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Chính từ sự tương quan giữa những nhân tố ảnh hưởng này với cấu trúc vốn, chúng ta có thể đánh giá được quyết định sử dụng vốn vay hoặc vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là hợp lý hay không hợp lý, có những bất cập và rủi ro phát sinh gì để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính, tối đa hóa giá trị tài sản cho doanh nghiệp. Bên cạnh những thành tựu và cố gắng nỗ lực của ngành xây dựng tại Việt Nam, doanh nghiệp cũng đã phải đối mặt với nhiều khó khăn. Những ảnh hưởng xấu của cuộc khủng hoảng kinh tế, đại dịch Covid-19, những biến động về lãi suất và lạm phát cũng như các chính sách quản lý của Nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành xây dựng. Những vấn đề này khiến các doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam ngày càng quan tâm đến bài toán quả trị tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là thiết lập một cơ cấu vốn phù hợp cho doanh nghiệp. Cấu trúc vốn phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận, hạn chế rủi ro tài chính. Việc nghiên cứu về cấu trúc vốn, đặc biệt là các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành Xây dựng là rất cần thiết và có tính ứng dụng cao.
Như vậy, với sự nhận thức về tầm quan trọng của cơ cấu vốn và mục tiêu cao nhất trong việc tối đa hoá giá trị công ty, thì tác giả chọn đề tài: “Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ nhằm đề xuất cho các nhà quản trị doanh nghiệp ngành xây dựng có các chiến lược xây dựng cấu trúc vốn hợp lý để tạo sự ổn định trong hoạt động kinh doanh.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp có cấu trúc vốn hợp lý trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu cụ thể được chi tiết hóa từ mục tiêu tổng quát như sau:
Thứ nhất, xác định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Thứ hai, đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất các hàm ý mang tính khả thi cho các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam có được cấu trúc vốn hợp lý trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu trên thì luận văn cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu tương ứng như sau:
Thứ nhất, các nhân tố nào tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam?
Thứ hai, mức độ tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào?
Thứ ba, các hàm ý nào mang tính khả thi để đề xuất cho các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam có được cấu trúc vốn hợp lý trong tương lai? Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn sẽ thực hiện thu thập dữ liệu 24 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE. Nguyên nhân tác giả lựa chọn số doanh nghiệp này vì tổng thị phần và tài sản chiếm trên 70%, ngoài ra các doanh nghiệp này có đầy đủ các số liệu báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng cần thiết khi thu thập từ năm 2013 – 2023.
Về thời gian: Luận văn thu thập dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp ngành xây dựng từ năm 2013 – 2023, vì giai đoạn này nền kinh tế trả qua rất nhiều sự biến động như năm 2018 suy thoái kinh tế và năm 2020 – 2021 xuất hiện đại dịch Covid 19.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp hai phương pháp chính đó là định tính và định lượng. Trong đó nghiên cứu định tính nhằm giải quyết được mục tiêu nghiên cứu thứ nhất đó là xác định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, thông qua việc tổng hợp khung lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn vẫn là nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết được hai mục tiêu đó là đo lường sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam và từ đó đề xuất các hàm ý chính sách. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thì cần thiết nhất là thu thập dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.trong giai đoạn 2013 – 2023 và thiết kế dạng bảng. Từ dữ liệu đó tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kết quả. Sau đó, luận văn sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, thực hiện hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test để lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật và khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng. Với kết quả đó tạo cơ sở để kết luận các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất các hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
1.6. Đóng góp của đề tài Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Đề tài trình bày tác động của một số nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE, cung cấp được thêm một bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn, giúp các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ngành xây dựng nói riêng có thêm cơ sở để thiết lập một cấu trúc vốn tối ưu.
1.7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu 5 chương và nội dung tổng quát từng chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Trong chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
Trong chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến cấu trúc vốn cũng như các tiêu chí đo lường, các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Trong chương này luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam. Sau đó, chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu. Cuối cùng chương này sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong “chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập tại các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại HOSE trong giai đoạn 2013 – 2023. Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu.
Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng. Từ kết quả đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các doah nghiệp có cấu trúc vốn tối ưu thông qua việc điều chỉnh các nhân tố tác động tới nó.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến cấu trúc vốn cũng như các tiêu chí đo lường, các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu.
2.1. Lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp
2.1.1. Khái niệm về cấu trúc vốn
Ross và cộng sự (2008) cho rằng cấu trúc vốn của một doanh nghiệp là tỷ số giữa vốn vay và VCSH của doanh nghệp, hay nó phản ánh tỷ trọng vốn vay và VCSH trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, tỷ số này cho biết tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp hiện tại đang được chia như thế nào. Một doanh nghiệp với tỷ lệ VCSH cao thì có khả năng tự chủ tài chính của mình. Nếu tỷ lệ vốn vay cao thì lại phản ánh đòn bẩy tài chính đang được sử dụng trong HĐKD. Khi tỷ lệ vốn vay và VCSH đang ở trạng thái tốt nhất thì doanh nghiệp có cấu trúc vốn tối ưu. Khi đạt được trạng thái tối ưu thì chi phí sử dụng vốn cổ phần là thấp nhất, giá trị thị trường của cổ phiếu là cao nhất.
Ross và cộng sự (2012) cũng đã định nghĩa cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa các khoản nợ phải trả và VCSH của doanh nghiệp, trong đó nợ phải trả và VCSH được xem là nguồn tài trợ cho sự hình thành tài sản của doanh nghiệp. Do đó, các quyết định liên quan đến cấu trúc vốn hay nguồn tài trợ được xem là chiến lược mà bất cứ doanh nghiệp sản xuất, thương mại nào cũng phải tiến hành quyết định với mục tiêu quan trọng là tối đa hóa được lợi ích của cổ đông và giá trị của doanh nghiệp.
Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần trong tổng nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp, có thể huy động được nhằm tài trợ cho các hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn được lựa chọn trong doanh nghiệp phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp hoặc những biến động của thị trường buộc doanh nghiệp phải thay đổi để thích ứng duy trì hoạt động kinh doanh.
Nguyễn Đình Luận (2016) cho rằng cấu trúc vốn hay cơ cấu vốn là sự mô tả tỷ trọng của nợ vay và VCSH hình thành nên tổng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này được phục vụ cho các mục đích vận hành hoạt động kinh doanh hàng ngày, trang bị TSCĐ hay đầu tư vào các hạng mục của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn của các doanh nghiệp thường có những biến động vào các chu kỳ kinh doanh tương ứng, ngoài ra cơ cấu vốn có thể mang lại lợi ích hoặc hạn chế cho doanh nghiệp tùy thuộc vào sự lựa chọn. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Tóm lại, tại luận văn này thì cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và VCSH được huy động để hình thành nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong đó nguồn vốn này nhằm phục vụ cho hoạt động sắm sửa tài sản, cơ sở vật chất và vận hành kinh doanh của doanh nghiệp. Một cấu trúc vốn của doanh nghiệp thì thường tập trung vào mối quan hệ giữa nợ phải trả và VCSH, do đó một cấu trúc hợp lý cần phải có sự hài hòa giữa nợ phải trả và VCSH khi đó chi phí sử dụng vốn thấp cùng với rủi ro chấp nhận được phù hợp với các điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.2. Thành phần của cấu trúc vốn
Theo định nghĩa về cấu trúc vốn của doanh nghiệp thì đây sự kết hợp giữa nợ và VCSH được huy động để hình thành nguồn vốn. Do đó, thành phần của cấu trúc vốn bao gồm:
2.1.2.1. Nợ của doanh nghiệp
Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng tại doanh nghiệp thì nợ được xem là các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp trong đó chia thành hai nhóm chính là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Đồng thời, Bennette và Donnelly (1993) cũng cho rằng các doanh nghiệp có chính sách tài trợ riêng với các khoản nợ ngắn hay dài hạn thì sự tương tác giữa mức nợ vay của hai nhóm này này sẽ xuất hiện. Michaelas và cộng sự (1999) cũng chỉ ra rằng nếu các nhân tố tác động đến nợ vay ngắn hạn khác nợ vay dài hạn thì cần sử dụng cả hai chỉ tiêu này để đo lường cho cấu trúc vốn, đây được xem là quan điểm được nhiều sự ủng hộ từ các học giả khác. Do đó, nợ vay là toàn bộ các khoản nợ trong doanh nghiệp, với nợ phải trả có bao gồm cả các khoản tín dụng thương mại hay các khoản vốn tạm thời khác mà những khoản này góp phần không nhỏ vào chiến lược tài trợ của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn phải trả hay thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường, đó là các khoản phải trả người bán, trả nội bộ, các khoản trả dài hạn khác hoặc vay và nợ thuê tài chính tại những thời điểm báo cáo.
Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn phải trả hay thanh toán từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường, đó là các phải trả người bán dài hạn, trả nội bộ hay những khoản vay và thuê tài chính dài hạn. Doanh nghiệp có thể huy động các khoản nợ của mình thông qua các trung gian tài chính như các NHTM, công ty tài chính hoặc tự mình phát hành những chứng khoán nợ (Ross và cộng sự, 2012) Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Vay ngân hàng: Đây là hình thức mà doanh nghiệp xác lập hợp đồng tín dụng với ngân hàng, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi vô điều kiện. Các khoản vay ngân hàng tùy vào mục đích kinh doanh của doanh nghiệp mà sử dụng các kỳ hạn tương ứng.
Phát hành trái phiếu dài hạn: Đây là hình thức mà doanh nghiệp sẽ phát hành các loại trái phiếu với nhiều hình thức khác nhau như theo phương thức trả lãi một lần hay coupon, theo lãi suất thả nổi hoặc cố định. Phát hành trái phiếu được xem là phương thức khá linh hoạt nhưng phải dựa trên uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Mặt khác, trái phiếu huy động vẫn phải được doanh nghiệp cam kết hoàn trả gốc lãi vô điều kiện nhưng xếp sau nợ vay ngân hàng nếu doanh nghiệp gặp rủi ro phá sản.
Thuê tài sản: Đây được xem là hình thức các doanh nghiệp thuê tài sản từ các đối tượng cho thuê trên thị trường (có thể là tổ chức, quỹ đầu tư hoặc các doanh nghiệp khác). Hình thức này sẽ giúp cho các doanh nghiệp với tiềm lực tài chính chưa đủ mạnh để sắm sửa TSCĐ, cơ sở vật chất lớn để sản xuất kinh doanh vẫn đảm bảo được hoạt động thông qua việc đi thuê của các đối tượng cho thuê khác.
2.1.2.2. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Theo Rajan và Zingales (1995) thì VCSH là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh hoặc các cổ đông trong các doanh nghiệp cổ phần. Có 3 nguồn tạo nên VCSH đó là số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản. VCSH bao gồm vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi…
Huy động VCSH: Các doanh nghiệp có thể huy động vốn chủ sở hữu bằng nhiều cách đó là vốn góp ban đầu, tăng vốn góp, phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường hay giữ lại lợi nhuận.
Vốn góp ban đầu: Là một lượng vốn góp ban đầu nhất định do các cổ đông hay chủ sở hữu góp vào các doanh nghiệp khi mới thành lập. Tùy vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước – chủ sở hữu vào doanh nghiệp. Quy mô của vốn góp ban đầu vào doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm ngành nghề kinh doanh, quy định của pháp luật ở mỗi thời kỳ… Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Lợi nhuận không chia: Cổ tức sẽ được chia cho các cổ đông vào cuối năm tài chính từ lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp để tăng vốn chủ sở hữu các cổ đông sẽ đồng ý cho doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mà không nhận hoặc nhận một phần cổ tức. Đây là nguồn vốn rất chủ động, doanh nghiệp không bị ràng buộc từ bên ngoài, tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp và dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hang hay tổ chức tín dụng khác từ đó tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các giai đoạn phát triển sau này.
Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường. Phát hành cổ phiếu để huy động vốn là một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp vì có thể huy động vốn nhanh và nguồn vốn huy động lớn.
2.1.3. Vai trò của cấu trúc vốn
2.1.3.1. Đối với doanh nghiệp
Cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng và đúng đắn của mọi doanh nghiệp, vì nó giúp cho doanh nghiệp ngoài tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân, tổ chức liên quan và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà quyết định này còn thể hiện tập trung vào năng lực kinh doanh của doanh nghiệp với môi trường với sự cạnh tranh. Goyal (2013) cho rằng đối với doanh nghiệp thì quyết định về cấu trúc vốn rất quan trọng đối với giá trị doanh nghiệp và chi phí vốn sử dụng. Vì một cấu trúc vốn kém thì dẫn đến việc chi phí vốn của doanh nghiệp tăng lên, từ đó làm cho hiện giá giá trị thuần của doanh nghiệp giảm đi, tạo ra cơ sở các dự án đầu tư của doanh nghiệp kém hiệu quả và không chấp nhận được.
2.1.3.2. Đối với nhà đầu tư và người cho vay
Goyal (2013) cho rằng tỷ lệ nguồn hình thành trong một cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ làm thay đổi về nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của doanh nghiệp đó. Đối với khía cạnh các nhà đầu tư thì một doanh nghiệp có quá ít VCSH thì họ sẽ phải sử dụng đến vốn vay nhiều hơn, thì rủi ro sẽ được đánh giá cao hơn vì các nhà đầu tư cho rằng lúc này doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sức ép thanh toán các khoản nợ, việc chi trả các trách nhiệm tài chính nhiều hơn sẽ tác động ngược chiều đến quyết định quản lý của lãnh đạo đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hay nếu tỷ lệ nợ tăng nhanh và không hiệu quả sẽ dễ dẫn đến tình trạng phá sản của các doanh nghiệp. Nhưng cũng loại trừ những trường hợp khi vay nợ tăng cao nhưng với lãi suất ưu đãi thì chi phí lãi có thể tiết kiệm được. Đối với khía cạnh người cho vay khi họ nhận thấy tỷ lệ vay nợ của doanh nghiệp đang quá cao và áp lực trả nợ quá nhiều thì khả năng phá sản cũng tăng theo, do đó họ sẽ nhìn vào tình trạng này của doanh nghiệp để đưa ra quyết định có nên cho vay tiếp tục hay không? Vì nếu cho vay và doanh nghiệp không kinh doanh hiệu quả thí sẽ đến lúc giá trị thị trường của tổng nợ cao hơn giá trị tổng tài sản thực của doanh nghiệp, có nghĩa là doanh nghiệp bán hết tài sản cũng không trả được nợ thì người cho vay sẽ phải hứng chịu rủi ro rất lớn.
2.1.4. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn của doanh nghiệp Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Stephen và cộng sự (2003) cho rằng để đánh giá cấu trúc vốn của doanh nghiệp thì cần căn cứ vào các thước đo đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, nó được thể hiện qua các hệ số nợ, hệ số nợ trên VCSH và hệ số tự tài trợ.
2.1.4.1. Hệ số nợ
Hệ số nợ thể hiện sử dụng nguồn vốn vay của doanh nghiệp hay mức độ tài trợ của nợ vay cho tài sản của doanh nghiệp. “Hệ số này giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng tài chính, khả năng trả nợ và rủi ro gặp phải của doanh nghiệp. Đặc biệt hệ số này tính đến sự đặc thù của lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động (Firer và cộng sự, 2004). Hệ số nợ được đo lường với công thức như sau:”
- Hệ số nợ tổng quát =
Firer và cộng sự (2004) cho rằng khi tỷ số nợ của doanh nghiệp lớn hơn 50% có nghĩa là tài sản hiện nay đang được tài trợ bởi các khoản nợ nhiều hơn là VCSH và ngược lại nếu tỷ số này thấp hơn 50% thì VCSH đang tài trợ cho tài sản nhiều hơn. Xét về khía cạnh tài chính thì hệ số này càng lớn có nghĩa là doanh nghiệp đang đứng trước rủi ro về sức ép thanh toán gốc, lãi nợ cho các đơn vị khác rất nhiều nên dễ rơi vào tình cảnh khó khăn. Do đó, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà cần phải có quyết định sử dụng nợ một cách đúng đắn về kỳ hạn lẫn số tiền vay.
2.1.4.2. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên VCSH thể hiện cơ cấu giữa hai nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp đó là nợ và VCSH, đây là hai nguồn mà doanh nghiệp dùng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình. Hai nguồn vốn này sở hữu những đặc điểm riêng biệt và có mối quan hệ với nhau được dùng để đánh giá cấu trúc vốn (Macguigan và cộng sự, 2006). Hệ số này được tính như sau:
- Hệ số nợ tổng quát =
Nếu hệ số này càng lớn hơn 1 có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao hơn VCSH trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, hay nợ phải trả đóng vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp. Đồng thời, cũng thể hiện doanh nghiệp đang chịu sức ép lớn về việc thanh toán các khoản nợ kèm theo lãi (Macguigan và cộng sự, 2006).
2.1.4.3. Hệ số tự tài trợ Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Hệ số tự tài trợ phản ánh tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số này có giá trị càng lớn nghĩa là mức độ tự chủ tài chính bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao do đó rủi ro của doanh nghiệp càng thấp (Stephen và cộng sự, 2003). Hệ số này được tính theo công thức sau:
- Hệ số tự tài trợ
Hệ số này có giá trị càng lớn thì mức độ tự chủ về mặt tài chính và khả năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu càng cao, do đó rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp càng thấp. Nếu hệ số này lớn hơn 50% tức là nguồn vốn của doanh nghiệp phần lớn được tài trợ từ nguồn vốn thực góp của các cổ đông. Các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính của doanh nghiệp sẽ có các giá trị khác nhau khi giá trị nguồn vốn của doanh nghiệp được đo lường căn cứ vào giá trị sổ sách (giá trị kế toán) hoặc giá trị thị trường. Titman và Wessels (1988) cho rằng, giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nguồn vốn có sự khác biệt đáng kể, vì vậy việc lựa chọn giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của nguồn vốn có ảnh hưởng nhất định đến các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính. Tuy nhiên, do việc xác định giá trị thị trường của nguồn vốn nợ tương đối khó khăn nên hầu hết các nghiên cứu về chi tiêu tài chính doanh nghiệp chỉ đo lường nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp theo giá trị thị trường, còn nguồn vốn nợ được xác định căn cứ vào giá trị sổ sách kế toán.
Tóm lại, “tại luận văn này thì chỉ tiêu đại diện cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp được sử dụng là hệ số nợ. Vì chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng tài chính, khả năng trả nợ và rủi ro gặp phải của doanh nghiệp. Đặc biệt hệ số này tính đến sự đặc thù của lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động (Firer và cộng sự, 2004). Mặt khác, chi phí sử dụng nợ luôn thấp hơn chi phí sử dụng VCSH, do đó vay nợ luôn được các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng.”
2.2. Các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
2.2.1. Cơ cấu vốn theo quan điểm truyền thống
Durand (1952) cho rằng cấu trúc vốn tại doanh nghiệp sẽ có “các giả định sau: Doanh nghiệp hoạt động có thuế thu nhập; Thị trường tài chính có thông tin không hoàn hảo; Nếu sử dụng nợ doanh nghiệp sẽ đối mặt với kiệt quệ tài chính. Nhưng nếu doanh nghiệp sử dụng nợ thấp thì chủ sở hữu và chủ nợ không thay đổi được tỷ suất sinh lời kỳ vọng hoặc điều chỉnh không đáng kể.
Hình 2.1: Cơ cấu vốn theo quan điểm truyền thống
Với quan điểm cấu trúc vốn truyền thống thì khi doanh nghiệp có sử dụng các khoản nợ vay thì chi phí vay hay lãi suất trả vẫn rẻ hơn nhiều so với chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu. Nên chi phí thấp kết hợp với lợi ích từ lá chắn thuế được tạo ra từ lãi vay, sẽ khiến cho chi phí sử dụng vốn bình quân WACC giảm khi nợ tăng, nên xét về mặt lợi thì doanh nghiệp có nhiều hơn là bất lợi. Nhưng khi doanh nghiệp tăng tỷ lệ vốn vay so với VCSH thì rủi ro cũng sẽ tăng theo, nên các chủ sở hữu buộc phải tăng tỷ suất sinh lời và làm giảm đi giá trị định giá của doanh nghiệp. Mặt khác, khi vay nợ càng nhiều thì doanh nghiệp đối mặt với rủi ro thanh toán nhiều hơn, nếu khả năng thanh toán ngày càng kém đi hoặc không thể chi trả thì dẫn đến phá sản. Vì thế mức tỷ suất giữa vốn nợ và VCSH cao hơn. Do đó, theo lý thuyết này thì luôn tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp nhưng lại làm cho WACC tối thiểu. Quan điểm chính của lý thuyết này chính là không có sự ràng buộc rằng chi phí sử dụng VCSH tăng bao nhiêu do tỷ lệ nợ và VCSH hay chi phí sử dụng nợ tăng lên bao nhiêu sẽ làm cho doanh nghiệp phá sản. Nên để khắc phục thì lý thuyết M&M ra đời để bổ sung thêm (Bringham và Houston, 2009).
2.2.2. Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Modilligani và Miller (1958) đã trình bày lý thuyết này trái với quan điểm của: Durand (1952), hay lý thuyết này tập trung vào mối quan hệ giữa nguồn vốn và giá trị của doanh nghiệp, nội dung chính được tập trung đó là giá trị của doanh nghiệp sẽ thay đổi thế nào khi tăng hay giảm sự vay nợ. Lý thuyết M&M được Modigliani và Miller (1958) đặt nền tảng đầu tiên với những giả định đơn giản hóa, các chi phí giao dịch hay vay vốn được xem là miễn phí. Vì vậy, giá trị của đơn vị kinh doanh sẽ phụ thuộc vào tài sản của nó chứ không phải tập trung vào cổ phần. Theo mệnh đề M&M thì bất cứ sự lựa chọn tài chính nào, kể cả sử dụng VCSH hay các khoản nợ ngắn hạn hay dài hạn thì giá trị của đơn vị kinh doanh cũng không đổi. Điều này có nghĩa là tại các doanh nghiệp theo M&M thì trên bảng cân đối kế toán nguồn vốn sẽ bao gồm các khoản nợ ngắn hay dài hạn, VCSH và khi các khoản này gia tăng hay sụt giảm tương ứng với hoạt động tài trợ thì tài sản của công ty cùng với các cơ hội phát triển cũng tăng giảm tương ứng.
Những giả định được đặt ra đó là doanh nghiệp hoạt động không tồn tại việc đóng thuế kể cả thuế thu nhập doanh nghiệp hay cá nhân. “Giả định thứ hai là không xuất hiện các chi phí giao dịch, sự kiệt quệ tài chính hay sự phá sản. Tiếp đó là lãi suất là như nhau đối với nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức. Cuối cùng là thị vốn được xem là một thị trường đáp ứng tính hoàn hảo. Với lý thuyết cơ cấu vốn hiện đại (M&M) thì có hai mệnh đề chính trong đó thứ nhất là giá trị doanh nghiệp và mệnh đề thứ hai tập trung vào chi phí sử dụng vốn. Cả hai mệnh đề đều được trình bài trong hai trường hợp có hay không có thuế.
2.2.2.1. Mệnh đề cơ cấu vốn hiện đại về giá trị doanh nghiệp
Với điều kiện không có thuế thì giá trị doanh nghiệp vay nợ là VL và không vay nợ là VU được xem là như nhau. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp không sử dụng đòn bẩy tài chính và không sử dụng công cụ này để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, nên cấu trúc vốn này không được đánh giá là tối ưu (Brigam và Houston, 2012).
Trong điều kiện có thuế thì giá trị doanh nghiệp sẽ được tăng lên khi có sử dụng nợ vì được hưởng lợi từ lá chắn thuế tạo ra. Hay nói cách khác giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ lớn hơn khi không sử dụng nợ, bằng đúng khoản giá trị được hiện giá tiết kiệm của lãi vay. Đồng thời, mức độ sử dụng nợ vay của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi chi phí hay lãi suất cho vay giảm xuống, nên WACC của doanh nghiệp sử dụng nợ thấp hơn khi không sử dụng nợ. Do đó VL = VU + D*T, với D là giá trị khoản vay và T là thuế suất thuế TNDN.
Hình 2.2: Giá trị doanh nghiệp khi có thuế TNDN Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Nên theo mô hình của Modilligani và Miller (1963) cơ cấu vốn liên quan trực tiếp đến giá trị của doanh nghiệp, hay doanh nghiệp càng sử dụng nợ càng nhiều thì giá trị càng tăng và đến tối đa nếu được sử dụng 100% nợ để tài trợ cho doanh nghiệp.
2.2.2.2. Mệnh đề cơ cấu vốn hiện đại về chi phí sử dụng vốn
Mệnh đề II của M&M cho rằng chi phsi sử dụng vốn của chủ sở hữu có tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính. Trong điều kiện không có thuế TNDN thì lợi nhuận yêu cầu tính trên một cổ phần có quan hệ thuận chiều với mức sử dụng đòn bẩy tài chính hay đó là tỷ lệ nợ trên VCSH. Công thức được biểu diễn như sau rE = rU + (rU – rD)*D/E, trong đó rE là chi phí sử dụng VCSH, rU là chi phí sử dụng vốn khi doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ từ 100% VCSH, D là giá trị khoản nợ vay, E là giá trị VCSH.
Trong trường hợp có thuế TNDN thì chi phí sử dụng VCSH của doanh nghiệp được tiết kiệm một phần từ lá chắn thuế hay công thức đó là rE = rU + (rU – rD) *D/E*(1T), với T là thuế suất TNDN.
Dù “lý thuyết cơ cấu vốn hiện địa M&M có những nhận xét khác nhau dựa trên các khía cạnh về sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị của doanh nghiệp, nhưng các giả định của mệnh đề khó xảy ra nên tạo ra các hạn chế. Do đó, đây là cơ sở cho các lý thuyết hiện đại tiếp theo ra đời.”
2.2.3. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Dưới nền tảng của M&M thì lý thuyết này xem xét sự tác động của thuế và chi phí khi doanh nghiệp bị cạn kiệt tài chính. Đặt nền tảng đầu tiên cho lý thuyết này là Kraus và Litzenberger (1973) cùng với đó là sự hoàn thiện cho nó là Myers (1977). Lý thuyết này cho rằng doanh nghiệp nên tập trung sử dụng một giới hạn về nợ nhất định thì dễ dàng hơn trong tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, ngược với M&M cho rằng nợ càng nhiều thì giá trị doanh nghiệp càng cao. Myers (1977) đã lập luận rằng cấu trúc vốn mục tiêu là điểm mà lá chắn thuế tạo ra lợi ích nhằm bù đặp được các chi phí kiệt quệ tài chính mà doanh nghiệp phải đối mặt. Đồng thời, khi hệ số sử dụng tăng đến một giá trị nào đó thì chi phí kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp sẽ vượt quá mặt lợi do lá chắn thuế từ lãi vay tạo ra thì giá trị doanh nghiệp sẽ giảm, khả năng phá sản tăng cao.
Giá trị doanh nghiệp = Giá trị doanh nghiệp không sử dụng vây nợ + Hiện giá lá chắn thuế – Hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính
Với quan điểm này thì các nhà quản trị doanh nghiệp muốn tối ưu cấu trúc vốn của mình thì cần xác định điểm mà tại đó giá trị vay nợ tăng thêm tạo ra lợi ích lá chắn thuế có thể bù đắp được cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính, trong điều kiện các chiến lược đầu tư và giá trị tài sản của doanh nghiệp không thay đổi. Do đó, các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn theo quan điểm này là: Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Với các mức thuế suất khác nhau của doanh nghiệp, thì mức thuế cao hơn sẽ tạo ra động cơ muốn vay nhiều hơn của doanh nghiệp vì tạo ra lợi ích lá chắn. Nên lợi nhuận từ lá chắn cũng có mối quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn.
Chi phí kiệt quệ tài chính: Chi phí này có sự nghịch chiều với cấu trúc vốn. Khi doanh nghiệp gặp sự khó khăn trong tài chính thường sử dụng nợ ít hơn các doanh nghiệp có ít rủi ro phá sản.
Tài sản cố định hữu hình: Khi doanh nghiệp nắm giữ càng nhiều TSCĐ thì khả năng vay nợ càng cao, do có thể sử dụng chúng làm thế chấp.
Quy mô doanh nghiệp: Khi quy mô doanh nghiệp càng lớn thì uy tín càng tăng, do đó càng dễ dàng trong việc tiếp cận với các định chế tài chính trung gian để vay, hay làm hạn chế được tình trạng rơi vào khó khăn khi HĐKD.
Lợi nhuận: Lợi nhuận có mối quan hệ đồng chiều với cấu trúc vốn. Vì khi doanh nghiệp HĐKD có sự tăng trưởng thì khả năng vay nợ trong tương lai sẽ cao hơn, mặt khác doanh nghiệp muốn tăng tỷ trọng vay nợ để tối đa hóa lợi nhuận từ lãi vay do tạo được lợi ích từ lá chắn.
Tóm lại, lý thuyết đánh đổi đã phân tích về chi phí kiệt quệ tài chính mà M&M chưa tập trung. Nhưng cũng có nhiều mặt mà lý thuyết này chưa đánh giá được đó là vẫn có các doanh nghiệp vẫn thành công, HĐKD vẫn tăng trưởng mặc dù sử dụng rất ít nợ vay. Hoặc trong thực tế thì giá cổ phiếu doành nghiệp đang rất cao và có nhu cầu huy động nguồn tài trợ từ bên ngoài thì sẽ ưu tiên kênh này hơn là vay nợ.
2.2.4. Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết trật tự phân hàng được phát triển bởi Myers và Majluf (1984) đi theo một hướng khác đó là không tồn tại cấu trúc vốn tối ưu mà chỉ có trật tự ưu tiên khi sử dụng các hạng mục đầu tư. Trong đó nguồn tài trợ có hai thành phần đó là bên trong gồm vốn góp và lợi nhuận giữ lại, nguồn bên ngoài bao gồm vốn vay và cổ phiếu mới được phát hành. Theo Myers và Majluf (1984) thì việc thông tin bất cân xứng giữa các nhà quản lý tài chính và các nhà đầu tư bên ngoài, thì các nhà quản lý sẽ có nhiều thông tin của doanh nghiệp hơn nhà đầu tư nên họ yêu cầu lãi suất chiết khấu cao hơn, vì vậy làm cho cho chi phí huy động bên ngoài sẽ cao hơn. Nên hình thanh trật tự ưu tiên về nguồn tài trợ đó là nguồn vốn bên trong, các khoản nợ vay sau cùng là cổ phiếu mới phát hành.
2.2.4.1. Đối với lựa chọn về nguồn vốn bên trong Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Theo Myers và Majluf (1984) thì đối với nguồn vốn bên trong hay còn được gọi là nguồn vốn nội bộ hiện có thì được hình thành từ hai nguồn lớn đó là vốn góp ban đầu, lợi nhuận giữ lại. Trong đó, nguồn vốn góp ban đầu là số tiền mà chủ nhân doanh nghiệp bỏ ra, các bên tham gia, các đối tác, đối với doanh nghiệp công thì là nguồn ngân sách đầu tư của Nhà nước. Đối với lợi nhuận giữ lại, đây là nguồn lợi mà doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư vào các hạng mục kinh doanh, đối với công tu cổ phần thì lợi nhuận này không được chia cho cổ tức và không được nhân tiền lãi cổ phần nhưng bù lại được quyền sỡ hữu vốn cổ phần tăng lên tại doanh nghiệp. Nguồn vốn nội bộ được xem là sự ưu tiên đầu tiên khi doanh nghiệp phát sinh nhu cầu về vốn. Do nguồn vốn nội bộ này là phương án mang ít rủi ro nhất cho doanh nghiệp. Các nhà quản trị doanh nghiệp hiểu tình hình nội bộ của mình nhất nên việc muốn đảm bảo quyền kiểm soát, cũng như đảm bảo quyền lợi cao nhất cho các chủ sở hữu thì nguồn vốn bên trong cần được ưu tiên hơn các nguồn vốn từ bên ngoài, điều này dẫn đến việc tự chủ trong tài chính. Mặt khác khi vay nợ quá nhiều sẽ dẫn doanh nghiệp bị đe dọa khả năng chi trả và kiệt quệ tài chính nếu HĐKD không hiệu quả, nên nguồn vốn nội bộ cần được ưu tiên hàng đầu. Nhưng xét về một khía cạnh khác khi nguồn vốn nội bộ được duy trì và tài trợ quá lớn thì những bất lợi cơ bản sẽ xuất hiện, cụ thể đó là làm giá cổ phiếu trên thị trường sẽ giảm và ảnh hưởng ngược chiều đến doanh nghiệp. Nguyên nhân vì các nhà đầu tư cho rằng một doanh nghiệp lớn mạnh cần phải có lợi nhuận dư ra và chia đều cổ tức cho mỗi năm, nhưng nếu lợi nhuận giữ lại cứ được duy trì nhiều để tái đầu tư thì doanh nghiệp giảm đi tính hấp dẫn. Vì vậy, nguồn vốn nội bộ chỉ nên được duy trì đảm bảo hoạt động nhất định của doanh nghiệp và phải tính đến các nguồn vốn bên ngoài có thể tài trợ cho doanh nghiệp.
2.2.4.2. Đối vơi lựa chọn các khoản nợ vay
Theo Myers và Majluf (1984) thì doanh nghiệp khi sử dụng các khoản vay nợ thì được huy động từ các khoản nợ ngắn hạn và các khoản nợ vay dài hạn. Với lý thuyết này thì các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ ưu tiên huy động các nguồn vốn bên ngoài từ các khoản vay hơn là phát hành cổ phiếu. Nguyên nhân vì các khoản vay sẽ phát sinh chi phí lãi vay và nó sẽ hình thành nên lá chắn thuế cho doanh nghiệp. Mặt khác, khi vay vốn từ các khoản nợ vay thì số tiền được chi trả bao gồm cả gốc hay lãi đểu là những khoản cố định và xác định được, nên sẽ dễ dàng thuyết phục các cổ đông hơn trong tương lai. Nhưng với khía cạnh nào thì các khoản nợ vay đều phát sinh chi phí tài chính cố định và nghĩa vụ hoàn trả bắt buộc, do đó dù HĐKD của doanh nghiệp có ra sao thì việc đảm bảo trả gốc lãi đúng hạn là sự cam kết không thay đổi. Nên khi gia tăng khoản nợ vay và sử dụng không hợp lý hoặc không hiệu quả, đồng nghĩa với việc nâng cao rủi ro tài chính cho doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần cân nhắc giá trị nợ cần sử dụng và làm sao để vận hành hợp lý khoản vay nợ này.
2.2.4.3. Đối với lựa chọn phát hành cổ phiếu mới
Theo Myers và Majluf (1984) thì lựa chọn huy động vốn từ phát hành cổ phiếu mới được xem là lựa chọn cuối cùng của các nhà quản lý doanh nghiệp, nguyên nhân vì đây là phương án có chứa nhiều rủi ro nhất vì khi doanh nghiệp công bố sẽ phát hành thêm cổ phiếu thì khả năng cao thị trường đang cho rằng doanh nghiệp bị hụt nguồn vốn và làm cho giá cổ phiếu giảm. Thứ hai chi phí phát hành cổ phiếu mới như nghiên cứu thị trường, phát hành,… vẫn phải được chi trả. Đồng thời, quyền sở hữu của các cổ đông hiện tại sẽ bị chia nhỏ cho các cổ đông mới. Do các nguyên nhâ đó nên việc huy động VCSH mới bằng phát hành cổ phiếu là phương án cuối cùng mà nhà quản lý sử dụng. Lý thuyết trật tự phân hạng còn có một số lý giải như các doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời ít thường sẽ vay ít hơn vì họ có nguồn vốn nội bộ dồi dào, đủ để đầu tư. Ngược lại các doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời thấp thường sẽ ưu tiên dùng các khoản nợ vay, vì các nguồn vốn nội bộ không đủ cho các hoạt động tài trợ. Mặt khác, các hoạt động quản trị của doanh nghiệp sinh lợi cao và cơ hội đầu tư thấp thường ưu tiên với việc duy trì tỷ lệ nợ thấp, ngược lại các doanh nghiệp tuy suất sinh lời thấp nhưng các cơ hội đầu tư đa dạng thì họ thường ưu tiên các khoản nợ hơn là các nguồn nội bộ. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hàng có những điểm mạnh trong việc giải thích được các khía cạnh liên quan đến quyết định chọn nguồn vốn tài trợ của doanh nghiệp, nhưng điểm hạn chế của lý thuyết này chính là chưa tập trung với các lý giải liên quan đến tác động của thuế, chi phí vỡ nợ hay chi phí trong quá trình phát hành chứng khoán đến các khoản nợ vay của doanh nghiệp.
2.3. Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Dựa trên việc tổng hợp các lý thuyết M&M, đánh đổi cấu trúc vốn và trật tự phân hạng thì cấu trúc vốn bị tác động bởi các nhân tố lý thuyết được tổng hợp tại bảng 2.1. Do đó, để trả lời được vấn đề liên quan đến cơ cấu vốn hợp lý, việc vay nợ và mức độ rủi ro như thế nào? Thì các doanh nghiệp cần tập trung vào các nhân tố tác động như sau:
Bảng 2.1: Tóm tắt các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn theo các lý thuyết
| Lý thuyết | Các nhân tố tác động | Chiều tác động đến cấu trúc vốn |
| Lý thuyết M&M | Thuế TNDN | Cùng chiều (+) |
| Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn | Lợi nhuận doanh nghiệp | Cùng chiều (+) |
| Quy mô doanh nghiệp | Cùng chiều (+) | |
| Tài sản cố định hữu hình | Cùng chiều (+) | |
| Chi phí kiệt quệ tài chính | Ngược chiều (-) | |
| Thuế TNDN | Ngược chiều (-) | |
| Lý thuyết trật tự phân hạng | Lợi nhuận doanh nghiệp | Ngược chiều (-) |
| Quy “mô doanh nghiệp | Ngược chiều (-) | |
| Sự tăng trưởng | Cùng chiều (+) | |
| Tài sản cố định hữu hình | Cùng chiều (+) |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.3.1. Quy mô doanh nghiệp Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Huang và Song (2001), Bhaduri (2002) cho rằng quy mô doanh nghiệp có tác động rất lớn đến mức sử dụng nợ vay, các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì càng có khả năng vay nợ càng nhiều. Nguyên nhân từ việc các ngân hàng hay các đối tác cho vay nợ sẽ tin tưởng các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn vì thông tin bất cân xứng thường ít rủi ro hơn (Wanrapee Banchuenvijit, 2009). Tuy nhiên, theo lý thuyết trật tự phân hàng của Myers và Majluf (1984) thì lại lập luận rằng thì quy mô doanh nghiệp lớn thì tiềm năng về nguồn vốn nội bộ lớn hơn. Hay nói cách khác, các doanh nghiệp có quy mô lớn, HĐKD ổn định có thu cao thì thường sẽ ưu tiên việc sử dụng lợi nhuận giữ lại hơn là đi vay nợ (Chen, 2003; Mutalib, 2011).
2.3.2. Tỷ suất sinh lời
Theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) thì tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp có tác động ngược chiều với cơ cấu vốn của doanh nghiệp, vì các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận càng cao có nghĩa là lợi nhuận ròng sẽ cao hay chi phí chi trả cho các nguồn huy động từ bên ngoài sẽ thấp, đặc biệt là lãi vay. Do đó, các doanh nghiệp thường ưu tiên các nguồn vốn nội tại hay lợi nhuận giữ lại để tiết kiệm chi phí từ hoạt động vay (Huang và Song, 2001; Chen, 2003, Banchuenvijit, 2009; Mutalib, 2011). Tuy nhiên, với quan điểm lý thuyết đánh đổi của cơ cấu vốn của Myers (1977) lại cho rằng, các doanh nghiệp có suất sinh lời cao thì khả năng phá sản sẽ thấp, do đó họ có khả năng tận dụng lợi thế và uy tín của mình để huy động từ các khoản vay nhằm tạo ra lợi ích từ lá chắn thuế, do đó khả năng sinh lời có tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp (Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Hải Yến, 2014).
2.3.3. Tài sản cố định hữu hình
Đối với doanh nghiệp thì TSCĐ hữu hình là nhân tố quan trọng vì nó sẽ hình thành khoản thế chấp với ngân hàng khi muốn vay nợ. Do đó, theo Myers (1977) thì việc hình thành càng nhiều TSCĐ hữu hình trong doanh nghiệp thì tạo điều kiện thuận lợi để chứng minh sự cam kết hay việc thế chấp khi vay nợ của doanh nghiệp. Đồng thời, Myers và Majluf (1984) cũng chỉ ra rằng việc đầu tư TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp và thế chấp chính nó với tổ chức cho vay, sẽ tạo điều kiện cho vay dễ hơn từ ban đầu, kích thích HĐKD tăng trưởng sinh ra lợi nhuận tốt hơn, nhằm duy trì việc vay nợ chất lượng tốt và lâu dài.
2.3.4. Tốc độ tăng trưởng Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Myers và Majluf (1984) cho rằng tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp thường được xác định với sự tăng trưởng bán hàng và nó có tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn. Nguyên nhân, vì các doanh nghiệp có tăng trưởng cao thì nhu cầu với vốn lưu động hay tham vọng sinh lời cao thì cần vốn rất nhiều, do đó nguồn vốn nội bộ sẽ không đủ để đáp ứng nên cần phải có các nguồn vốn bên ngoài (Chen, 2003; Mutalib, 2011). Tuy nhiên, với một khía cạnh khác thì Myers (1977) lại cho rằng với doanh nghiệp có sự tăng trưởng tốt thì việc huy động vốn từ VCSH sẽ tốt hơn vì lúc này chủ nhân thật sự sẽ bảo toàn được lợi ích, tránh được các xung đột giữa chủ sở hữu và chủ nợ. Ngoài ra, Huang và Song (2001) còn cho rằng các doanh nghiệp có sự tăng trưởng tốt hoặc có các dự án đầu tư với sự tăng trưởng tốt thì vốn vay sẽ làm họ bị áp lực thanh toán và hạn chế sự tăng trưởng, nên họ muốn tìm nguồn vốn từ VCSH để tận dụng sự dài hạn của nó.
2.3.5. Khả năng thanh khoản
Thanh khoản của doanh nghiệp phản ánh năng lực chi trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp khi đến hạn. Các lý thuyết về cấu trúc vốn cho rằng thanh khoản có tác động đến cấu trúc vốn nhưng về chiều tác động thì lại được lập luận theo các hướng khác nhau. Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2020) cho rằng tại các doanh nghiệp thì tính thanh khoản cao sẽ có khả năng vay nợ cao hơn, do doanh nghiệp có thể chủ động với việc trả nợ các khoản ngắn hạn hơn là các khoản dài hạn. Tuy nhiên, có những doanh nghiệp có tính thanh khoản cao vì họ có nhiều tài sản có tính lỏng cao hay quy đổi tốt thì họ thường sử dụng nó để tài trợ cho các nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp, hơn là việc đi vay do đó khả năng thanh khoản có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn (Lê Thị Minh Nguyên, 2016; Nguyễn Thị Thuý Hạnh, 2018).
2.3.6. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Tại doanh nghiệp thì thuế TNDN đươc xem “là một trong những thành tố quan trọng được xem xét khi lựa chọn cấu trúc vốn, vì tác động lớn của nó tạo ra cho doanh nghiệp”, đặc biệt là lá chắn thuế tạo ra. Theo lý thuyết M&M thì khi doanh nghiệp vay nợ càng nhiều thì lãi vay càng phát sinh, do đó chi phí lãi tạo ra càng nhiều, điều này giúp cho doanh nghiệp tận dụng việc đó để gia tăng chi phí hoạt động và giảm đi thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, thuế suất được áp dụng cho mỗi doanh nghiệp khác nhau so với mức lũy tiến mà thu nhập họ đạt được, do đó tương ứng với mỗi mức thuế suất và lợi ích thực sự tạo ra mà doanh nghiệp sẽ cân nhắc lựa chọn mức vay (Myers và Majluf, 1984).
2.4. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Tại Indonesia, khi nghiên cứu về các nhân tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thì Chandra (2015) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 77 doanh nghiệp niêm yết tại TTCK nước này từ năm 2003 – 2013, đồng thời sử dụng phương pháp hồi quy đa biến OLS để kết luận. Tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, tổng nợ ngắn hạn trên tài sản, rủi ro kinh doanh có tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn. nhưng lợi nhuận, tăng trưởng doanh nghiệp lại tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn. Ngoài ra, TSCĐ hữu hình không tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Harc (2015) trong nghiên cứu về cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Croatia, tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 500 doanh nghiệp từ năm 2005 – 2010, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM hệ thống. Trong nghiên cứu này thì tác giả sử dụng hệ số nợ trên tài sản của doanh nghiệp để phản ánh cho CTV. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng TSCĐ hữu hình tác động cùng chiều với tỷ lệ nợ dài hạn nhưng lại tác động âm đến tỷ lệ nợ ngắn hạn. Điều này cho thấy sự khác biệt giữa tác động của TSCĐ của doanh nghiệp đến việc dùng nợ với kỳ hạn ngắn hay dài của doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp phi tài chính tại các quốc gia vùng Vịnh như Quatar, Oman, Ả Rập Xê Út, các tiểu vương quốc Ả Rập thì Khaki và Akin (2020) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 329 doanh nghiệp, từ năm 2009 – 2017. Đồng thời, sử dụng phương pháp hồi quy đa biến với mô hình Pooled OLS, FEM, REM. Nhóm tác giả đã sử dụng giá trị sổ sách của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng của doanh nghiệp, TSCĐ hữu hình có tác động cùng chiều đến đòn bẩy tài chính. Ngược lại, tỷ lệ thanh khoản, tuổi doanh nghiệp, hạn chế tài chính, rủi ro kinh doanh và sở hữu Nhà nước có tác động ngược chiều. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Tại Indonesia, khi nghiên cứu về các nhân tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thì Saif-Alyousfi và cộng sự (2020) đã sử dụng dữ liệu của 827 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK nước này trong giai đoạn 2008 – 2017, đồng thời sử dụng phương pháp hồi quy đa biến GMM để kết luận. Tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời, tăng trưởng doanh nghiệp, lá chắn thuế, tính thanh khoản và biến động dòng tiền có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn. Nhưng tài sản thế chấp, quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, sự biến động về thuế TNDN tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn.
Tại Mỹ, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa TSCĐ hữu hình và cấu trúc vốn của các doanh nghiệp phi tài chính thì Lim và cộng sự (2020) đã sử dụng dữ liệu của 409 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2002 – 2014, đồng thời sử dụng phương pháp hồi quy đa biến GMM để kết luận. Tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đầu tư TSCĐ hữu hình làm gia tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Xây dựng niêm yết tại Trung Quốc thì Setiawan và Yumeng (2021) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 10 doanh nghiệp hàng đầu tại quốc gia này, với giai đoạn thu thập từ 2012 – 2019. Đồng thời, sử dụng mô hình hồi quy đa biến OLS để kết luận. Nhóm tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Nhưng lợi nhuận, TSCĐ hữu hình, tăng trưởng doanh nghiệp, lãi suất vay tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn. Ngoài ra, thì nghiên cứu cũng kết luận lá chắn thuế TNDN và tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê tác động đến cấu trúc vốn.
Tại Pakistan, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa hoạt động quản trị rủi ro và cấu trúc vốn của doanh nghiệp thì Sadiq và cộng sự (2022) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp niêm yết tại quốc gia này, trong giai đoạn 15 năm từ 2000 – 2014. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, sự tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ lệ chi trả cổ tức có tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Trong khi đó, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hệ thống lại tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng vai trò của hoạt động quản trị rủi ro rất quan trọng với doanh nghiệp, đặc biệt khi những rủi ro kể trên gia tăng thì nên hạn chế vay nợ mà nên huy động từ nguồn vốn nội bộ hay VCSH để giám áp lực thanh toán cho doanh nghiệp.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015) khi nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành Xây dựng, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 100 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2013, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM. Nhóm tác giả đã sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp để phản ánh cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. “Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro kinh doanh, TSCĐ hữu hình, sự tăng trưởng của doanh nghiệp tác động cùng chiều đến đòn bẩy tài chính. Trong khi đó, quy mô doanh nghiệp và thuế suất TNDN lại không tác động đến cấu trúc vốn. Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra được sự khác biệt giữa các doanh nghiệp ngành Xây dựng của Việt Nam so với các doanh nghiệp khác trong việc ưu tiên với các khoản nợ ngắn hạn hơn là dài hạn.
Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020) khi nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành Xây dựng, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 54 doanh nghiệp niêm yết tại sàn chứng khoán HNX trong giai đoạn 2012 – 2019, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM. Nhóm tác giả đã sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp để phản ánh cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô doanh nghiệp, sự tăng trưởng có tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn, trong khi đó thì lợi nhuận kinh doanh thì tác động ngược chiều. Mặt khác, tỷ lệ nợ ngắn hạn, dài hạn, lãi suất vay không tác động đến cấu trúc vốn
Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022) khi nghiên cứu về sự tác động của sở hữu nước ngoài đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 288 doanh nghiệp phi tài chính trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX, trong giai đoạn từ năm 2015 – 2019. Nghiên cứu này thực hiện phương pháp định lượng với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS; FEM; REM. Nhóm tác giả đã sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp để phản ánh cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, tăng trưởng doanh nghiệp tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, lợi nhuận, TSCĐ hữu hình và tính thanh khoản có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) khi nghiên cứu về đại dịch Covid 19 tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, tác giả đã sử dụng dữ liệu của 75 doanh nghiệp từ năm 2010 – 2020, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM hệ thống. Tác giả đã sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp để phản ánh cho đòn bẩy tài chính hay cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ năm trước, TSCĐ hữu hình, thuế TNDN, tuổi doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế GDP có tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Nhưng đại dịch Covid 19, tỷ suất lợi nhuận ROA, tăng trưởng doanh thu, lạm phát có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn. Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp và đặc thù doanh nghiệp có tham gia ngành công nghiệp không có ý nghĩa thống kê tác động.
Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
| Tác giả/năm | Quốc gia | Dữ liệu nghiên cứu | Phương pháp nghiên cứu | Kết quả nghiên cứu tác động đến cấu trúc vốn |
| Các nghiên cứu nước ngoài | ||||
| Chandra (2015) | Indonesia | 77 doanh nghiệp niêm yết tại TTCK từ năm 2003- 2013. | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến OLS. | Quy mô doanh nghiệp, tổng nợ ngắn hạn trên tài sản, rủi ro kinh doanh (+). Lợi nhuận, tăng trưởng doanh nghiệp (-). |
| Harc (2015) | Croatia | 500 doanh nghiệp từ năm 2005 – 2010 | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến GMM. | TSCĐ hữu hình (+) với tỷ lệ nợ dài hạn nhưng lại (-) với tỷ lệ nợ ngắn hạn |
| Khaki và Akin (2020) | Quatar, Oman, Ả Rập Xê Út, các tiểu vương quốc Ả Rập | 329 doanh nghiệp, từ năm 2009- 2017. | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS; FEM; REM. | Quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng của doanh nghiệp, TSCĐ hữu hình (+). Tỷ lệ thanh khoản, tuổi doanh nghiệp, hạn chế tài chính, rủi ro kinh doanh và sở hữu Nhà nước (-). |
| Saif-Alyousfi và cộng sự (2020) | Indonesia | 827 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK trong giai đoạn 2008-2017. | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến GMM. | Tài “sản thế chấp, quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, sự biến động về thuế TNDN (+). Tỷ suất sinh lời, tăng trưởng doanh nghiệp, lá chắn thuế, tính thanh khoản và biến động dòng tiền tỷ suất sinh lời, tăng trưởng doanh nghiệp, lá chắn thuế, tính thanh khoản và biến động dòng tiền (-). |
| Lim và cộng sự (2020) | Mỹ | 409 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trong giai đoạn 2002 – 2014 | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến GMM. | TSCĐ hữu hình (+). |
| Setiawan và Yumeng (2021) | Trung Quốc | 10 doanh nghiệp Xây dựng hàng đầu giai đoạn thu thập từ 2012 – 2019. | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến OLS. | Quy mô doanh nghiệp (+). Lợi nhuận, TSCĐ hữu hình, tăng trưởng doanh nghiệp, lãi suất vay (-). |
| Sadiq và cộng sự (2022) | Pakistan | Các công ty niêm yết từ năm 2000- 2014. | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến GMM. | Quy mô doanh nghiệp, sự tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ lệ chi trả cổ tức (+). Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hệ thống (-). |
| Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng. | ||||
| Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015) | Việt Nam | 100 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2003 – 2013. | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS; FEM; REM. | Rủi ro kinh doanh, TSCĐ hữu hình, sự tăng trưởng của doanh nghiệp (+). |
| Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020) | Việt Nam | 54 doanh nghiệp niêm yết tại sàn chứng khoán HNX trong giai đoạn 2012- 2019. | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS; FEM. | Quy mô doanh nghiệp, sự tăng trưởng (+). Lợi nhuận kinh doanh (-). |
| Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022) | Việt Nam | 288 doanh nghiệp phi tài chính trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX, trong giai đoạn từ năm 2015- 2019 | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS; FEM; REM. | Quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, tăng trưởng doanh nghiệp (+). Lợi nhuận, TSCĐ hữu hình và tính thanh khoản (-). |
| Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) | Việt Nam | 75 doanh nghiệp từ năm 2010 – 2020 | Nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy đa biến GMM. | Tỷ lệ nợ năm trước, TSCĐ hữu hình, thuế TNDN, tuổi doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế GDP (+). Đại dịch Covid 19, tỷ suất lợi nhuận ROA, tăng trưởng doanh thu, lạm phát (-). |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu
Dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu liên quan trong nước và nước ngoài thì các khoảng trống nghiên cứu sau được tác giả nhận thấy: Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
Thứ nhất, Khaki và Akin (2020) cho rằng doanh nghiệp sở hữu Nhà nước có tác động đến cấu trúc vốn, vì các doanh nghiệp có phần sở hữu này thường sẽ có những chiến lược hay chính sách với mức độ an toàn cao. Đồng thời, khi có sở hữu của Nhà nước thì nguồn vốn vay sẽ không cần thiết vì có thể dựa trên nguồn ngân sách. Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam chưa có nhiều tập trung vào vấn đề này.
Thứ hai, Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) có đề cập đến tác động của đại dịch Covid 19 đến cấu trúc vốn, tác giả lập luận rằng khi có đại dịch kinh tế và các doanh nghiệp đều khó khăn, do đó nhu cầu vay vốn rất cao nên đòn bầy tài chính của các doanh nghiệp có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên, dữ liệu của tác giả chỉ đến năm 2020 trong khi đại dịch này kéo dài và dư âm đến 2022. Do đó, cần xem xét cho đến hết giai đoạn này.
Thứ ba, đa phần các nghiên cứu trong nước và nước ngoài chưa tập trung vào các nhân tố liên quan đến vĩ mô như GDP hay lạm phát. Trong khi đó, hai nhân tố này tác động rất nhiều đến tình hình kinh doanh lẫn khả năng tiếp cận vốn vay của doanh nghiệp.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương này tổng hợp lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn, các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn. Đồng thời, lược khảo các nghiên cứu liên quan trong nước và nước ngoài, từ đó xác định các khoảng trống nghiên cứu để làm cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu trong chương 3. Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng […]