Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Trong chương này luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam. Sau đó, chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu. Cuối cùng chương này sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán.

3.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.1.1. Đề xuất mô hình nghiên cứu

Dựa trên việc tổng hợp các lý thuyết liên quan đế cấu trúc vốn, các khoảng trống nghiên cứu được xác định tại các lược khảo, thì luận văn này sẽ kế thừa mô hình nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) làm mô hình gốc để kế thừa và phát triển. Nguyên nhân, mô hình này được lựa chọn vì được phân tích và nghiên cứu tại Việt Nam, đồng thời trong nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) đã phân tích về tác động của đại dịch Covid 19 đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam, đây cũng là khoảng trống nghiên cứu được xác định, tuy nhiên dữ liệu nghiên cứu chưa thu thập 2021 – 2022. Đồng thời, nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) có xem xét về sự tác động của các nhân tố vĩ mô nền kinh tế đến cấu trúc vốn. Nhưng để đầy đủ cho mô hình nghiên cứu thì cần bổ sung thêm biến số sở hữu Nhà nước của Khaki và Akin (2020). Do đó, các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn được lựa chọn để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất, nhằm áp dụng cho bối cảnh doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam đó là:

Bảng 3.1: Các nhân tố đề xuất trong mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Nhân tố Nguyên nhân lựa chọn Nguồn Kỳ vọng
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) Quy mô doanh nghiệp là tấm đệm chắc cho doanh nghiệp, thể hiện sức mạnh hay năng lực tài chính. Do đó, thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay. Chandra (2015); Khaki và Akin (2020); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Sadiq và cộng sự (2022); Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022). Dương (+)
Tài sản cố định hữu hình (TANG) TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp được xem là công cụ để thế chấp, hoặc niềm tin của doanh nghiệp với các đơn vị cho vay, nên tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận để doanh nghiệp vay nợ. Khaki và Akin (2020); Lim và cộng sự (2020); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015); Nguyễn Kim Quốc Trung (2023). Dương (+)
Khả năng sinh lời ROE) Tỷ suất sinh lời thể hiện cho mức lợi nhuận của doanh nghiệp được tạo ra khi sử dụng hiệu quả nguồn lực. Nên tỷ suất này phản ánh một phần các chi phí cần được tiết kiệm để gia tăng được lợi nhuận. Chandra (2015); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022). Âm (-)
Tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH) Tốc độ tăng trưởng cho thấy HĐKD của doanh nghiệp có sự phát triển, do đó nguồn vốn nội bộ hay lợi nhuận giữ lại có thể được ưu tiên sử dụng hơn đi vay. Chandra (2015); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015); Nguyễn Kim Quốc Trung (2023). Âm (-)
Khả năng thanh khoản (LIQ) Khả năng thanh khoản đại diện cho mức dồi dào nguồn vốn, hay sự quy đổi ra tiền của các tài sản của doanh nghiệp. Do đó, việc sử dụng vốn vay để tài trợ sẽ hạn chế hơn. Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Sadiq và cộng sự (2022); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022). Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng. Âm (-)
Tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận (TAX) Tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận phản ánh lá chắn thuế được tạo ra, đây là lợi ích từ vốn vay tạo ra cho doanh nghiệp. Nguyễn Kim Quốc Trung (2023). Dương (+)
Sở hữu Nhà nước (STA) Sở hữu Nhà nước có thể giúp cho các doanh nghiệp huy động nguồn tài trợ từ ngân sách. Khaki và Akin (2020). Âm (-)
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) GDP phản ánh được sự thuận lợi của doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn vay trong thị trường. Nguyễn (2023). Kim Quốc Trung Dương (+)
Tỷ lệ lạm phát (INF) Tỷ lệ này phản ánh sự khó khăn trong nền kinh tế, doanh nghiệp khó để vay nợ. Nguyễn (2023). Kim Quốc Trung Âm (-)
Đại dịch Covid 19 (COVID) Đại dịch làm cho nhu cầu vay vốn để duy trì hoạt động kinh doanh tăng cao. Nguyễn (2023). Kim Quốc Trung Dương (+)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Từ bảng 3.1 thì phương trình hồi quy biểu diễn cho các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam là: LEVi,t =  + 𝜷𝟏∗SIZEi,t + 𝜷𝟐∗TANGi,t + 𝜷𝟑∗ROEi,t + 𝜷𝟒∗GROWTHi,t + 𝜷𝟓∗LIQi,t + 𝜷𝟔*TAXi,t + 𝜷7*STAi,t +  8*GDPt + 9CPIt  + 10*COVIDt +  

Các ký hiệu đã được trình bày tại bảng 3.1. Các hệ số βj là tham số ước lượng hay hệ số góc biểu diễn cho mức độ và chiều ảnh hưởng của các biến số độc lập với biến phụ thuộc là cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Giá trị  là sai số ngẫu nhiên của hàm hồi quy mẫu ước lượng cho tổng thể. Ngoài ra i,t biểu diễn cho giá trị chạy của các doanh nghiệp ngành xây dựng thứ i và năm thứ t.

Bảng 3.2: Phương pháp đo lường biến trong mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

STT Tên biến Mô tả Công thức đo lường
Các biến độc lập
1 SIZE Quy mô doanh nghiệp Log (Tổng tài sản)
2 TANG Cấu trúc TSCĐ hữu hình
3 ROE Khả năng sinh lời
4 GROWTH Tăng trưởng doanh nghiệp  
5 LIQ Tính thanh khoản
6 TAX Thuế suất thuế TNDN
7 STA Sở hữu Nhà nước Lấy số liệu cụ thể theo từng năm.
8 GDP Tăng trưởng kinh tế Lấy số liệu cụ thể theo từng năm.
9 CPI Tỷ lệ lạm phát Lấy số liệu cụ thể theo từng năm.
10 COVID Đại dịch Covid 19 Biến giả 1 là có xuất hiện đại dịch từ 2020 – 2021; 0 cho các năm còn lại
Biến phụ thuộc đại diện cho cấu trúc vốn
11 LEV Hệ số nợ tổng thể  

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

3.1.2.1. Đối với quy mô doanh nghiệp

Chandra (2015); Khaki và Akin (2020); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Sadiq và cộng sự (2022); Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022) cho rằng khi quy mô doanh nghiệp thể hiện năng lực tài chính hay sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường. Do đó, khi quy mô càng lớn thì niềm tin sẽ càng lớn từ đó doanh nghiệp sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các nguồn tài trợ từ đi vay, đặc biệt đến từ các định chế tài chính hay các tổ chức tín dụng. Mặt khác, các doanh nghiệp có quy mô thường muốn tận dùng các nguồn vốn vay để tiết kiệm chi phí sử dụng vốn từ nợ. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H1: Quy mô doanh nghiệp tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.1.2.2. Đối với tài sản cố định hữu hình

Khaki và Akin (2020); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Lim và cộng sự (2020); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015); Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) cho rằng tương tự với quy mô doanh nghiệp, khi tài sản cố định hữu hình tại các doanh nghiệp càng lớn thì việc thế chấp với các định chế hay tổ chức tín dụng càng dễ dàng, do đó các doanh nghiệp sẽ dễ dàng vay nợ hơn. Mặt khác, khi việc đầu tư liên tục vào tài sản cố định nhằm mở rộng sản xuất, kinh doanh mà các nguồn tài trợ huy động từ VCSH không nhanh chóng và hạn chế về mặt chi phí sử dụng quá cao, thì nguồn tài trợ từ vốn vay là tối ưu nhất. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H2: Tài sản cố định hữu hình tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.1.2.3. Đối với khả năng sinh lời

Chandra (2015); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022) cho rằng ROE của các doanh nghiệp càng cao thì mức độ phản ánh sử dụng VCSH để tạo ra lợi nhuận ròng càng tốt, do đó khi tỷ lệ này càng cao thì các cổ đông hay chủ thật sự của doanh nghiệp muón bảo toàn lợi ích của mình. Thông thường họ sẽ dùng cách giữ lại lợi nhuận, hoặc sử dụng tình hình kinh doanh tốt để huy động thêm từ các kênh chủ sở hữu khác, nhằm phục vụ cho việc tái cơ cấu, đầu tư mà không ưu tiên nguồn vay nợ để tiêt kiệm chi phí. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H3: Tỷ suất sinh lời tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.1.2.4. Đối với tăng trưởng doanh nghiệp Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Chandra (2015); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015); Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) cho rằng tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp được đánh giá thông việc gia tăng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Khi việc bán hàng trở nên thuận lợi và các nguồn tiền ổn định được thu về thì lợi nhuận ròng và dòng tiền trong doanh nghiệp gia tăng. Do đó, doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn tiền đó để tiến hành tái cơ cấu, xoay vòng dòng vốn lưu động để vận hành kinh doanh mà hạn chế bớt nguồn vốn vay. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H4: Tăng trưởng doanh nghiệp tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.1.2.5. Đối với khả năng thanh khoản

Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Sadiq và cộng sự (2022); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022) cho rằng đối với một doanh nghiệp khi kinh doanh cần phải có sự trang bị về những khoản vốn dự trữ hay cần nắm giữ một số tài sản có tính thanh khoản cao, nhằm để quy đổi nhanh bằng tiền để thực hiện các hoạt động thanh toán khi đến hạn kể cả việc kinh doanh của mình gặp rủi ro. Vì vậy, tính thanh khoản của doanh nghiệp càng cao có nghĩa là bước trang bị của doanh nghiệp càng tốt nhằm hạn chế các khoản vay nợ để tiết kiệm chi phí và giảm được thêm một phần áp lực thanh toán. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H5: Khả năng thanh khoản tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.1.2.6. Đối với tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên lợi nhuận

Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) cho rằng chi phí lãi từ vay nợ của doanh nghiệp là lá chắn thuế hữu hiệu và công khai. Do đó, khi tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận thực của doanh nghiệp gia tăng, có nghĩa là việc thiết kiệm thuế đang chưa được hiệu quả. Nên các doanh nghiệp sẽ tiến hành điều chỉnh cơ cấu vốn trong doanh nghiệp bằng cách ưu tiên cho nguồn vốn vay nhiều hơn để tạo ra lá chắn thuế, nhưng cơ cấu này phải đi song song với chiến lược tiêu thụ hàng hóa hóa để có mức lợi nhuận cũng tăng trưởng. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H6: Thuế TNDN trên lợi nhuận tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.1.2.7. Đối với sở hữu Nhà nước

Khaki và Akin (2020) cho rằng khi các doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước thì dễ dàng tận dụng nguồn vốn từ ngân sách. Do đó, việc tiếp cận các nguồn vốn vay khác từ các định chế tài chính hay tổ chức tín dụng sẽ có thể được các doanh nghiệp hạn chế. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất: Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

H7: Sở hữu Nhà nước tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

3.1.2.8. Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát

Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) cho rằng khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng có nghĩa là môi trường kinh doanh nói chung tại quốc gia có những tín hiệu tốt. Từ đó, tạo ra các cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, nên nhu cầu vay vốn cũng phát sinh. Mặt khác, vào thời điểm này tiêu thụ hàng hóa thuận tiện nên các nguồn tiền trong nền kinh tế có khả năng cũng lưu thông tốt. Do đó, các doanh nghiệp cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn nợ vay. Nhưng nó hoàn toàn trái ngược khi nền kinh tế có lạm phát, khi đó việc lưu thông hàng hóa lẫn tiền tệ rất khó khăn, lãi suất cho vay cao hơn làm cho việc tiếp cận vốn vay sẽ không thuận tiện. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H8: Tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam. 

H9: Tỷ lệ lạm phát có tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam. 

3.1.2.9. Đối với dại dịch Covid 19

Nguyễn Kim Quốc Trung (2023) cho rằng giai đoạn gần đây đại dịch Covid 19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế rất lớn, đặc biệt giai đoạn 2020 – 2021 thì Việt Nam ưu tiên chống dịch bằng cách hạn chế hoặc đóng cửa hẳn nền kinh tế. Do đó, lưu thông hàng hóa chậm chạp các doanh nghiệp cần nguồn vốn rất lớn để cầm cự và giải quyết các nhu cầu thanh toán cho đối tác hay bạn hàng. Vì vậy, vốn vay là nguồn tài trợ tối ưu nhất, do đó giả thuyết sau được đề xuất:

H10: Đại dịch Covid 19 tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam. 

3.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

3.2.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu

Luận văn nhằm đạt được các mục tiêu là xác định và đo lường sự tác động của các nhân tố cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam, với giai đoạn nghiên cứu từ năm 2012 – 2023 thì quy trình nghiên cứu bao gồm các bước sau:

Bước 1: Tiến hành tổng hợp khung lý thuyết nền tảng liên quan đến cấu trúc vốn, các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn tại doanh nghiệp, các nhân tố lý thuyết có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn. Sau đó, tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu để tạo cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu tương ứng áp dụng cho bối cảnh doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

Bước 2: Xác định mẫu nghiên cứu chính thức với số lượng doanh nghiệp ngành thủy sản niêm yết tại Việt Nam là 24 với giai đoạn thời gian xác định từ năm 2012 – 2023.

  • Thu thập dữ liệu và thiết kế dưới dạng bảng.

Bước 3: Từ dữ liệu thu thập tiến hành xử lý, bước đầu phân tích tình hình chung về chỉ số tỷ lệ nợ (LEV) trung bình của các ngân hàng qua các năm. Sau đó, tiến hành thống kê mô tả mẫu, phân tích tương quan, hồi quy, kiểm định mô hình phù hợp.

Bước 4: Từ mô hình phù hợp được lựa chọn tiến hành kiểm định các khuyết tật sau đó tiến hành khắc phục theo phương pháp FGLS, kết quả sau khắc phục khuyết tật được dùng để thảo luận và kiểm định giả thuyết nghiên cứu.

Bước 5: Kết luận các vấn đề đạt được của nghiên cứu và đề xuất các hàm ý khả thi cho các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam gia tăng cấu trúc vốn từ nợ vay hiệu quả trong tương lai.

3.2.2. Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Mẫu nghiên cứu: Theo trình bày tại mục đối tượng và phạm vi nghiên cứu thì tác giả xác định và trình bày nguyên nhân lựa chọn số lượng doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam được lựa chọn để nghiên cứu là 24 từ năm 2012 – 2023 (12 năm). Ngoài ra, với mô hình hồi quy đa biến thì lượng mẫu thấp nhất được xác định với công thức 50 + 8*m với m là số biến độc lập trong mô hình nghiên cứu (Tabachnick và Fidell, 1996). Do đó, với 10 biến độc lập được đề xuất trong mô hình nghiên cứu thì lượng mẫu tối thiểu sẽ là 130 mẫu, nhưng luận văn thu thập 24 doanh nghiệp doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam trong 12 năm thì đạt 288 mẫu cùng với 2880 quan sát nên hoàn toàn đạt được yêu cầu về lượng mẫu thấp nhất.

Phương pháp thu thập số liệu: Luận văn sẽ sử dụng các số liệu thứ cấp của 24 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam từ năm 2012 – 2023 trên các báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán, Báo cáo thường niên niêm yết, dưới dạng dữ liệu thô sau đó thực hiện tính toán theo các công thức đã trình bày tại mục phương pháp đo lường biến để có được chỉ số như mong muốn. Đối với các chỉ số kinh tế vĩ mô mỗi năm như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng được thu thập từ các trang web uy tín như World Bank, Ourworldindata, IMF. Số liệu được thu thập và sắp xếp theo dữ liệu bảng, cấu trúc dữ liệu bảng được kết hợp từ hai thành phần: thành phần dữ liệu chéo và thành phần dữ liệu thời gian (Phụ lục 1).

Đồng thời, trong nghiên cứu tác giả lựa chọn thời gian nghiên cứu là 12 năm (gồm giai đoạn từ 2012 đến 2023). Trong khoảng thời gian này, nền kinh tế Việt Nam đã trả qua nhiều biến động, từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến các vấn đề chính trị trên thế giới, hay gần đây nhất là những ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid 19, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, lạm phát nghiêm trọng trong 2022. Do đó, khoảng thời gian này sẽ có những tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các công ty niêm yết.

3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

Để xử lý số liệu thì phần mềm thống kê STATA 14.0 được sử dụng, các kết quả thống kê và kiểm định sẽ được trích xuất tại Phụ lục 2 của luận văn này. Trong đó, các bước thống kê và kiểm định được thực hiện như sau:

Bước 1: Phân tích tình hình biến động hệ số nợ tổng thể của 24 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết, thông qua giá trị trung bình được tính riêng tại mỗi năm. Sau đó mô tả rõ ràng nhất các đặc tính của các biến số trong mô hình đó là giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, trung bình và độ lệch chuẩn. Từ đó tác giả có thể đánh giá tình hình tổng quát chung của các biến số cũng như dữ liệu nghiên cứu có những sai lệch so với ban đầu hay không. Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Bước 2: Phân “tích sự tương quan của các biến độc lập vì một trong số các giả định của hồi quy tuyến tính là không có tương quan giữa các biến độc lập với nhau và khi giả thuyết này bị vi phạm thì hiện tượng đa cộng tuyến có thể xảy ra. Thông qua ma trận tương quan nhằm kiểm tra mối quan hệ tương quan giữa các biến số trong mô hình, kiểm tra mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau. Nếu sự tương quan giữa các cặp biến độc lập vượt qua ngưỡng 0,8 có khả năng xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến giữa chúng trong mô hình.

Bước 3: Phân tích dữ liệu hồi quy với các mô hình đa biến Pooled OLS, FEM, REM

Mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS): Mô hình này theo phương pháp bình phương nhỏ nhất với dữ liệu bảng, đây là mô hình giản đơn và cơ bản nhất khi hồi quy các biến số. Với phương pháp OLS này thì giả định đặt ra không tồn tại khác biệt giữa các đơn vị chéo, tung độ gốc α được dùng chung cho các đơn vị chéo. Do đó, mô hình này không phản ánh sự khác biệt giữa các đơn vị chéo tại mẫu nghiên cứu, do cả hai tham số ước lượng không thay đổi với đơn vị chéo. Nhưng phương pháp này dễ xuất hiện tự tương quan chuỗi, thể hiện qua hệ số d (hệ số Durbin Watson thấp) nên kết quả ước lượng kém chất lượng và thiếu sự tin cậy.

Mô hình tác động cố định (FEM): Để khắc phục các nhược điểm của mô hình Pooled OLS về sự không đồng nhất của các đơn vị chéo thì mô hình FEM sẽ tính đến đặc trưng riêng của các đơn vị chéo. Với FEM thì các hệ số hồi quy riêng có giả định giống nhau với các đơn vị chéo nhưng hệ số chặn lại có tính phân biệt. Đặc biệt, trong mô hình FEM thì mỗi thành phần của mẫu nghiên cứu đều có những điểm riêng thuộc các đối tượng hay thời gian khác nhau và được xem như các hằng số có khả năng tác động đến các biến độc lập. Do đó, mô hình FEM sẽ phân tích sự liên hệ giữa các phần dư với từng đơn vị với biên độc lập để kiểm soát và tách sự tác động của các đặc trưng riêng rẻ (không thay đổi với thời gian) khỏi các biến số độc lập.

Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM): Mô hình này thì lại tập trung vào việc xác định các hệ số chặn khác nhau với từng đơn vị chéo, tác động chung của các biến độc lập. Với những hệ số chặn tại các đơn vị chéo phát sinh bởi một hệ số chặn chung không thay đổi theo thời gian hay các đối tượng. Mỗi biến ngẫu nhiên là một thành phần sai số thay đổi theo đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian (với thành phần của sau số là biến số không quan sát được thể hiện các sự tác động của yếu tố không quan sát được bằng cách trực tiếp). Do đó, thay vì tiếp cận trực tiếp mỗi đặc điểm riêng của các đơn vị hay cách chúng tương quan với biến độc lập, thì REM xem xét những đặc điểm này là các biến số ngẫu nhiên không tương quan với biến độc lập và được xem là những cơ sở để giải thích đến sự tác động đến biến phụ thuộc. Vì vậy, tại những tình huống nghiên cứu mà có sự khác biệt với các đơn vị tác động đến biến phụ thuộc thì mô hình REM có phần tối ưu hơn mô hình FEM.

Bước 4: Kiểm định lựa chọn mô hình Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM: Để “lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định F – test, với giả thuyết H0 là không có khác biệt giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác khau nên Pooled OLS phù hợp. Giả thuyết H1 là tồn tại sự khác biệt giữa giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác khau nên FEM phù hợp. Nếu P – value lớn hơn 5% chấp nhận H0 có nghĩa là Pooled OLS phù hợp và ngược lại.

Lựa chọn mô hình Pooled OLS và REM: Để lựa chọn mô hình Pooled OLS và REM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định Breusch – Pagan, với giả thuyết H0 là không có sự sai khác giữa phương sai sai số thay đổi nên Pooled OLS phù hợp. Giả thuyết H1 có sự sai khác giữa phương sai sai số thay đổi nên nên REM phù hợp. Nếu P – value lớn hơn 5% chấp nhận H0 có nghĩa là Pooled OLS phù hợp và ngược lại.

Lựa chọn mô hình FEM và REM: Để “lựa chọn mô hình FEM và REM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định Hausman, với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là phần dư tương quan không xuất hiện với các biến độc lập trong mô hình hồi” quy, tương ứng với REM được chọn. H1 là phần dư tương quan xuất hiện với các biến độc lập trong mô hình hồi quy, tương ứng với FEM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của Hausman để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình FEM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình REM.

Bước 5: Với mô hình phù hợp thì tiếp tục kiểm định các khuyết tật có thể xảy ra với mô hình đó.

Hiện tượng đa cộng tuyến: Kiểm định này nhằm phát hiện các biến số độc lập có tương quan cao với nhau hay không? Nếu các cặp biến độc lập tương quan quan cao với nhau thì mô hình xảy ra đa cộng tuyến (Hoàng Ngọc Nhậm, 2007). Hiện tượng này sẽ được kiểm định thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại đa cộng tuyến, H1 là mô hình tồn tại đa cộng tuyến.

Nếu VIF của các biến số và trung bình trong mô hình thấp hơn 10 thì giả thuyết H0 được chấp nhận hay không có đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu và ngược lại. Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Hiện tượng phương sai sai số thay đổi: Kiểm định nhằm xác định mô hình có xuất hiện phương sai của các phần dư khác hằng số, nó sẽ làm cho các quan sát có sự sai khác và mất đi tính phân phối ngẫu nhiên của dữ liệu. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại phương sai sai số thay đổi, H1 là mô hình tồn tại phương sai sai số thay đổi. Nếu P – Value của kiểm định Breusch – Pagan Lagrangian lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì không tồn tại phương sai sai số thay đổi. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 thì tồn tại phương sai sai số thay đổi.

Hiện tượng tự tương quan: Kiểm định này nhằm xác định sự tương quan của các biến quan sát trong mẫu, nếu xuất hiện thì sẽ tạo sự sai lệch trong dữ liệu và mô hình. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại tự tương quan, H1 là mô hình tồn tại tự tương quan. Nếu P – Value của kiểm định Wooldridge lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì không tồn tại tự tương quan. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 thì tồn tại tự tương quan.

Trong trường hợp mô hình gặp hiện tượng phương sai thay đổi hoặc tự tương quan hoặc thậm chí có cả hai khuyết tật này thì tiến hành khắc phục mô hình nghiên cứu bằng cách tác giả sẽ áp dụng phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square) để khắc phục mô hình, và đây cũng sẽ là mô hình cuối cùng được sử dụng để xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến HQHĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE. Phương pháp này sẽ tập trung vào việc khắc phục sửa sai cho các phương sai, độ lệch chuẩn và tạo tính ổn định cho sự biến thiên của dữ liệu nhằm đưa ra kết quả thỏa mãn với giả thuyết bình phương nhỏ nhất theo tiêu chuẩn. Đồng thời, sau khi khắc phục theo FGLS thì mô hình hồi quy đa biến mới được thiết lập, từ đó sẽ dựa trên hệ số hồi quy của các biến số và P – Value tương ứng và mức ý nghĩa 5%, để xem xét việc kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đề xuất là phù hợp hay không? Sau đó, dựa trên kết luận giả thuyết đó tiến hành thảo luận so sánh với các nghiên cứu trước đây.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Trong chương 3, tác giả đề xuất mô hình và giả thuyết về các nhân tố tác động đến    cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam. Các biến số độc lập bao gồm: Quy mô doanh nghiệp; Cấu trúc TSCĐ hữu hình; Khả năng sinh lời; Tăng trưởng doanh nghiệp; Tính thanh khoản; Tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận; Sở hữu Nhà nước; Tăng trưởng kinh tế; Tỷ lệ lạm phát; Đại dịch Covid19 được đề xuất vào mô hình nghiên cứu. Đồng thời, trong chương này tác giả đã trình bày các bước để thực hiện nghiên cứu, tính toán phương thực lựa chọn số mẫu và phương pháp tính toán cùng với ý nghĩa các hệ số kiểm định. Luận văn: PPNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993