Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Trong chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập tại các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại HOSE trong giai đoạn 2013 – 2023. Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng. Từ đó thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan.

4.1. Thực trạng về hệ số nợ tổng thể của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2013 – 2023 

Dữ liệu thứ cấp của 24 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và tính toán thống kê theo giá trị trung bình của hệ số nợ tổng thể, tình hình thay đổi về tỷ lệ đó như sau:

Hình 4.1: Tình hình thay đổi hệ số nợ tổng thể của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam từ năm 2013 – 2023

Nguồn: Tính toán của tác giả Dựa trên kết quả hình 4.1 ta có thể thấy các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam vẫn sử dụng nợ vay trung bình với tỷ lệ cao, dao động từ 35% đến gần 60% từ năm 2013 – 2023. Từ đó, ta có thể thấy rằng nguồn tài trợ từ nợ vẫn là nguồn tối ưu với chi phí rẻ và quan trọng của các doanh nghiệp ngành xây dựng, với đặc thù là sản phẩm được xây dựng theo từng giai đoạn của công trình cần phải có nguồn vốn lưu động và đáp ứng liên tục. Trong giai đoạn 2013 – 2023 thì từ năm 2015 – 2016 là những năm mà hệ thống ngân hàng có sự thắt chặt chính sách tín dụng vì hạn chế nợ xấu, do đó việc vay nợ tổng thể của các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn này cũng có phần giảm sút. Tuy nhiên, từ giai đoạn sau đó thì có sự tăng trưởng đều qua mỗi năm và đến năm 2023 thì hệ số nợ tổng thể trung bình hiện là 58,32%.

4.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích tương quan Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

4.2.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Các biến số trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp giá trị trung bình (GTTB), giá trị nhỏ nhất (GTNN), giá trị lớn nhất (GTLN) và độ lệch chuẩn trong bảng sau:

Bảng 4.1: Thống kê mô tả

Biến GTTB Độ lệch chuẩn GTNN GTLN
LEV 50,30% 26,50% 0,66% 98,86%
SIZE 33,02 1,26 30,32 35,88
TANG 16,67% 4,63% 6,75% 32,89%
ROE 9,11% 6,46% 0,08% 26,39%
GROWTH 23,40% 12,46% 4,08% 82,94%
LIQ 36,12% 18,14% 0,86% 124,17%
TAX 24,85% 4,54% 10,14% 40,95%
STA 5,38% 14,33% 0% 57,3%
GDP 5,99% 1,75% 2,56% 8,02%
CPI 3,21% 1,40% 0,63% 6,59%
COVID 0,27 0,45 0 1

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Kết hợp Dữ liệu thu thập từ Phụ lục 1 và kết quả từ Bảng 4.1 có thể kết luận thống kê mô tả như sau: với tỷ lệ LEV qua các năm có GTTB là 50,31% và có độ lệch chuẩn 26,50%, do đó cho thấy các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết có sự khác biệt quá lớn với tỷ lệ này về mặt GTTB. Trong đó, tại PC1 năm 2016 có mức tỷ lệ nợ tổng thể là 0,66% là GTNN và tại năm 2015 thì HUB có tỷ lệ nợ tổng thể là 98,86% là GTLN.

Đối với quy mô của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết theo Log (Tổng tài sản) thì trung bình qua các năm từ 2013 – 2023 là 33,02 và không có sự khác biệt quá lớn với độ lệch 1,26. Quy mô này nhỏ nhất thuộc về DC4 năm 2013 với giá trị là 30,32 và lớn nhất là 35,88 thuộc về UIC năm 2023. Đối với cấu trúc TSCĐ hữu hình thì giai đoạn 2013 – 2023 tỷ lệ trung bình của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết là 16,67% và độ lệch chuẩn thấp 4,63%. Tỷ lệ TSCĐ hữu hình trên tổng tài sản thấp nhất là 6,75% của VCG năm 2016 và lớn nhất của HUB với tỷ lệ 32,89% trong năm 2018.

Đối với khả năng sinh lời thì giai đoạn 2013 – 2023 thì trung bình là 9,11% với độ lệch chuẩn là 6,46%, từ đó có thể thấy các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết có sự khác biệt lớn về tỷ suất sinh lời. Trong đó, tỷ lệ nhỏ nhất là 0,08% của PC1 năm 2016 và lớn nhất là 26,39% của C47 năm 2021. Đối với tăng trưởng doanh nghiệp thì trong giai đoạn 2013 – 2023 duy trì với mức trung bình là 23,40% và độ lệch chuẩn cao 12,46%, chứng tỏ trong giai đoạn này các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết vẫn cạnh tranh nhau và muốn duy trì sự tăng trưởng về doanh thu bán hàng. Trong đó, tốc độ thấp nhất là 4,08% của VCG năm 2015 và lớn nhất là 82,94% của HID năm 2016.

Tỷ lệ thanh khoản mức trung bình từ 2013 – 2023 là 36,12% cho thấy các doanh nghiệp niêm yết vẫn cố gắng duy trì mức thanh khoản ổn định, nhưng độ lệch lại lên đến 18,14% nên khả năng các doanh nghiệp luôn cố tỏ ra sự khác biệt trong việc điều chỉnh khẩu vị rủi ro và chiến lược thanh khoản của mình. Tỷ lệ này thấp nhất với giá trị là 0,86% của ITA năm 2022 và lớn nhất là 124,17% của ITA vào năm 2016.  Tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết từ năm 2013 – 2023 duy trì với mức trung bình là 24,85% với độ lệch chuẩn là 4,53%.

Trong đó, GTNN là 10,14% của VNE năm 2014 và GTLN là 40,95% của HUB năm 2023. Với tỷ lệ cấu trúc sở hữu Nhà nước thì tỷ lệ trung bình là 5,38% và độ lệch lên đến 14,33% do đó có sự khác biệt trong sự sở hữu của Nhà nước với các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Trong đó, tỷ lệ sở hữu Nhà nước thấp nhất là 0% và cao nhất là 57,3% thuộc về LHG từ năm 2023 – 2023.

Đối với vĩ mô nền kinh tế thì đại diện bởi GDP và tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2013 – 2023 thì dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm là 5,99% với độ lệch thấp, trong đó thấp nhất là 2,56% trong năm 2021 và cao nhất là 8,02% năm 2022. Đối với tỷ lệ lạm phát thì trung bình mỗi năm là 3,21%, trong đó năm 2015 thấp nhất với tỷ lệ 0,63% và cao nhất là 6,59% năm 2013. Đối với đại dịch Covid 19 thì đây là biến giả được luận văn thiết kế theo hai nhóm giá trị 1 và 0. Trong đó, giá trị 1 biểu diễn cho các năm xuất hiện đại dịch từ 2020 – 2021; giá trị 0 cho các năm còn lại cho giai đoạn nghiên cứu. Hay nói cách khác, luận văn này chỉ tập trung đánh giá việc khác biệt giữa cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong giai đoạn xuất hiện Covid 19 so với các năm khác. Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

4.2.2. Phân tích sự tương quan của các biến độc lập

Phân tích tương quan của các biến độc lập nhằm xem xét mô hình có xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng hay không? Để xem xét hiện tượng này thì sẽ thông qua hệ số tương quan từng cặp của các biến số với nhau và yêu cầu không được cao hơn 0,8 (Farrar và Glauber, 1967). Ma trận tương quan của các biến số độc lập được thiết lập tại bảng sau:

Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến số độc lập

  SIZE TANG ROE GROWTH LIQ TAX STA GDP CPI COVID
SIZE 1,000
TANG -0,300 1,000
ROE 0,310 0,223 1,000
GROWTH -0,285 0,208 -0,223 1,000
LIQ -0,131 0,129 -0,033 0,055 1,000

Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến số độc lập

TAX 0,216 0,195 0,308 -0,032 -0,046 1,000
STA -0,221 0,114 -0,092 -0,004 0,091 -0,159 1,000
GDP -0,097 0,072 -0,242 0,020 0,123 -0,110 0,041 1,000
CPI -0,120 0,050 -0,107 0,283 0,029 -0,123 -0,017 0,022 1,000
COVID 0,224 -0,105 0,177 -0,150 -0,138 0,265 -0,079 -0,530 -0,208 1,000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Dựa trên bảng 4.2 và “xét độ lớn giữa hệ số tương quan giữa các biến số độc lập thì lớn nhất là 0,310 thấp hơn 0,8. Điều này chứng mình mô hình có các biến độc lập không tương quá lớn với nhau, hay khả năng xảy ra đa cộng tuyến nghiệm trọng không có trong mô hình.”

4.3. Kết quả hồi quy đa biến Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

4.3.1. Kết quả các mô hình hồi quy đa biến

Như đã đề cập tại chương 3 thì ba mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn này đó là Pooled OLS, FEM và REM nhằm xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM

Tên biến LEV
OLS FEM REM
SIZE 0,012 0,059** 0,026*
TANG 1,08*** 0,044 0,852**
ROE 2,395*** 1,733*** 2,000***
GROWTH -0,384*** -0,371*** -0,358***
LIQ -0,023 -0,009 -0,010
TAX 1,245*** 1,155*** 1,328***
STA 0,076 -0,039 0,063
GDP 1,428* 0,874 1,095
CPI 2,396** 2,447*** 2,299***
COVID 0,046 0,012 0,036
R2 62,31% 50,48% 62,74%

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Dựa trên kết quả bảng 4.3 thì các mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM đều có hệ số R2 đều lớn hơn 50%, điều này có nghĩa có biến số có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam, sẽ giải thích được hơn 50% sự thay đổi của hệ số nợ tổng thể.

Đồng thời, các biến số ảnh hưởng tích của đến giá cổ phiếu bao gồm ROE, TAX, CPI với các mức ý nghĩa 5%, 10%. Các biến số ảnh hưởng ngược chiều bao gồm GROWTH với mức ý nghĩa 1%. Mặt khác, LIQ, STA và COVID không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến LEV, do các giá trị P – value của các biến số này lớn hơn 5%. Ngoài ra, biến SIZE có ý nghĩa thống kê với FEM, REM nhưng không có ý nghĩa với Pooled OLS, biến TANG thì có ý nghĩa với Pooled OLS và REM nhưng lại không có ý nghĩa với FEM. Nhưng nhìn chung về kết quả của ba mô hình hồi quy trên thì về chiều hướng ảnh hưởng của các biến số độc lập đến LEV đều có sự tương đồng, điều này có nghĩa là dữ liệu thu thập có sự phù hợp, tạo điều kiện tin cậy để thực hiện các kiểm định tiếp theo. Tuy nhiên, nhằm tạo ra tính thống nhất thì cần phải lựa chọn mô hình phù hợp nhất trong ba mô hình nói trên.

4.3.2. Kiểm định lựa chọn mô hình

Luận văn này sẽ tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình thông qua các kiểm định tương ứng dưới bảng 4.4 như sau:

Bảng 4.4: Kiểm đinh lựa chọn mô hình

Kiểm định Pooled OLS và FEM FEM và REM Pooled OLS và REM
F – test F (10,230)   = 23,96

Prob > F      =   0,000

Hausman chi2(10)       =     290,24

Prob>chi2    =     0,000

Breusch –Pagan chibar2(01)      =   106,01

Prob > chibar2 =   0,000

Kết quả Chọn FEM Chọn FEM Chọn REM

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM thì luận văn sử dụng kiểm định F – test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình FEM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > F là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình FEM phù hợp.

Khi kiểm định Hausman để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM. Kết quả tại Bảng 4.4 cho thấy giá trị P-value của kiểm định này thấp hơn 5% nên chấp nhận H0, hay nói cách khác thì mô hình FEM phù hợp hơn. Mặt khác trong ba mô hình thì tính vững của mô hình FEM vững nhất. Do đó mô hình FEM phù hợp với việc thực hiện các kiểm định tiếp theo để kết luận kết quả.

4.3.3. Kiểm định khuyết tật của mô hình tác động cố định (FEM)

4.3.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến

Kiểm định đa cộng tuyến sẽ dựa trên tổng hợp về hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến số. Trong đó, cặp giả thuyết như sau H0 là mô hình không có đa cộng tuyến và H1 là mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.  

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến

Biến số VIF
COVID 1,61
GDP 1,51
ROE 1,46
SIZE 1,46
TANG 1,42
TAX 1,28
GROWTH 1,26
CPI 1,14
STA 1,09
LIQ 1,05
VIF trung bình 1,33

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Dựa vào kết quả 4.5 ta thấy các hệ số phóng đại phương sai VIF đều thấp hơn 5 và giá trị trung bình VIF thấp hơn 5. Điều này cho thấy giả thuyết H0 được ủng hộ, hay nói cách khác mô hình không có đa cộng tuyến (Hoàng Ngọc Nhậm, 2007). Do đó, dữ liệu độc lập và có sự tin cậy để tiếp tục kiểm định. Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

4.3.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi

Hiện tượng này xuất hiện sẽ làm cho phương sai các phần dư không phải là dạng hằng số, điều này dẫn đến chúng sẽ thay đổi với các quan sát khác nhau và không tuân theo phân phối chuẩn ngẫu nhiên. Với hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình.

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi của mô hình FEM

Hiện tượng phương sai sai số thay đổi
chi2 (24)   =      43374,48

Prob>chi2 =      0,0000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Kết quả kiểm định tại bảng 4.6 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

4.3.3.3. Kiểm định tự tương quan

Hiện tượng này xuất hiện khi các biến quan sát trong bảng dữ liệu có tương quan với nhau. Nguyên nhân tạo ra hiện tượng này là sai lệch khi lập mô hình và thu thập dữ liệu. Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình.

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình FEM

Hiện tượng tự tương quan
F (1,23)   =     20,409

Prob > F =      0,0000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Kết quả kiểm định tại bảng 4.7 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng tự tương quan.

4.3.3.4. Khắc phục hiện tượng khuyết tật mô hình tác động cố định

Như vậy khi xác định được mô hình FEM đã có tồn tại hai hiện tượng phương sai số thay đổi và tự tương quan thì cần phải tiến hành khắc phục hai hiện tượng này theo phương pháp FGLS, nhằm xác định kết quả cuối cùng để thảo luận và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.

Bảng 4.8: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS

Biến độc lập Biến phụ thuộc LEV
Hệ số hồi quy Sai số chuẩn P-value
SIZE 0,033** 0,012 0,005
TANG 1,083*** 0,272 0,000
ROE 2,174*** 0,197 0,000
GROWTH -0,302*** 0,075 0,000
LIQ 0,027 0,038 0,425
TAX 1,185*** 0,274 0,000
STA 0,112 0,092 0,226
GDP 1,273** 0,428 0,004
CPI 2,180*** 0,557 0,000
COVID 0,039* 0,020 0,048
cons -1,362*** 0,397 0,001
Wald chi2(8) 272,48
Prob > chi2 0,0000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Với “biến phụ thuộc là LEV thì sau khi kiểm định các hiện tượng khuyết tật và khắc phục tương ứng thì nhận được kết quả P – value của mô hình theo phương pháp FGLS là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5%. Điều này chứng minh được mô hình cuối cùng này phù hợp với tổng thể và có ý nghĩa thống kê phân tích tiếp theo. Mặt khác, bảng 4.8 cũng thể hiện sự tương đồng cao về dấu ảnh hưởng của các biến độc lập trong mô hình đến” LEV. Do đó có sự phù hợp để thảo luận kết quả này. Dựa trên kết quả bảng 4.8 thì mô hình hồi quy được thiết lập như sau: LEVi,t = 0,033∗SIZEi,t + 1,083∗TANGi,t + 2,174∗ROEi,t – 0,302∗ GROWTHi,t + 1,185*TAXi,t + 1,273*GDPt + 2,18∗CPIt  + 0,039*COVIDt

4.3.4. Kiểm định và kết luận giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên kết quả bảng 4.8 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi yếu tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ tiến hành bác bỏ và ngược lại.

Bảng 4.9: Kết quả tổng hợp

Giả thuyết nghiên cứu Biến độc lập LEV Kết luận giả thuyết
Kỳ vọng Kết quả
Dấu P-value
H1 SIZE Dương (+) Dương (+) 0,005 Chấp nhận
H2 TANG Dương (+) Dương (+) 0,000 Chấp nhận
H3 ROE Âm (-) Dương (+) 0,000 Bác bỏ
H4 GROWTH Âm (-) Âm (-) 0,000 Chấp nhận
H5 LIQ Âm (-) Dương (+) 0,425 Bác bỏ
H6 TAX Dương (+) Dương (+) 0,000 Chấp nhận
H7 STA Dương (+) Dương (+) 0,226 Bác bỏ
H8 GDP Dương (+) Dương (+) 0,004 Chấp nhận
H9 CPI Âm (-) Dương (+) 0,000 Bác bỏ
H10 COVID Dương (+) Dương (+) 0,048 Chấp nhận
R2 50,48%

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Tóm lại, dựa trên kết quả bảng 4.8 thì các biến số quy mô doanh nghiệp (SIZE), cấu trúc TSCĐ hữu hình (TANG), khả năng sinh lời (ROE), tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH), tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận (TAX), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (CPI), đại dịch Covid 19 (COVID) có ý nghĩa thống kê với P – value thấp hơn 5%, đồng thời kết quả hồi quy FGLS có dấu và chiều ảnh hưởng tương đồng với giả thuyết nghiên cứu nên chấp nhận. Ngược lại, tỷ lệ thanh khoản (LIA) và cấu trúc sở hữu Nhà nước (STA) có ý nghĩa thống kê với P – value lớn hơn 5%, do đó hai biến số này không ảnh hưởng đến hệ số nợ tổng thể (LEV).

Mặt khác, với R2 là 50,48% thuộc [0; 1] và lớn hơn 50% có thể thấy mô hình này phù hợp với tổng thể hồi quy. Hay nói cách khác, quy mô doanh nghiệp (SIZE), cấu trúc TSCĐ hữu hình (TANG), khả năng sinh lời (ROE), tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH), tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận (TAX), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (CPI), đại dịch Covid-19 (COVID) giải thích được 50,48% sự thay đổi của hệ số nợ tổng thể (LEV) của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.

4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Dựa vào bảng 4.8 và bảng 4.9 thì kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp (SIZE), cấu trúc TSCĐ hữu hình (TANG), khả năng sinh lời (ROE), tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH), tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận (TAX), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (CPI), đại dịch Covid 19 (COVID) tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam. Tuy nhiên mức độ tác động của các biến số được xếp từ cao xuống thấp theo độ lớn của hệ số hồi quy đó là tỷ lệ lạm phát (β = 2,180); khả năng sinh lời (β = 2,174); tăng trưởng kinh tế (β = 1,273); tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận (β = 1,185); cấu trúc TSCĐ hữu hình (β = 1,083); tăng trưởng doanh nghiệp (β = -0,302); đại dịch Covid 19 (β = 0,039); quy mô công ty (β = 0,033). Kết quả này được luận giải như sau:

Đối với tỷ lệ lạm phát thì hệ số hồi quy β = 2,18, điều này có nghĩa là tỷ lệ lạm phát tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tỷ lệ lạm phát tăng 1% thì hệ số nợ tổng thể tăng 2,18%. Kết quả này luận giải cho việc khi nền kinh tế có lạm phát tăng cao thì khả năng tiêu thụ kém đi, các dòng tiền lưu thông hạn chế và khó khăn. Do đó, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng cũng trở nên khó khăn, giá trị các bất động sản hay vật liệu xây dựng tăng lên cao, làm cho thị trường xây dựng và việc trao đổi mua bản các sản phẩm liên quan cũng chậm hơn. Nên các doanh nghiệp xây dựng cần phải có nguồn vốn để xoay sở và bổ sung vốn lưu động nhằm vận hành kinh doanh không bị gián đoạn. Nên nguồn vốn vay được xem là lựa chọn tối ưu khi nền kinh tế có lạm phát tăng cao. Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2023).

Đối với khả năng sinh lời thì hệ số hồi quy β = 2,174, điều này có nghĩa là khả năng sinh lời tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi khả năng sinh lời tăng 1% thì hệ số nợ tổng thể tăng 2,174%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành xây dựng ưu tiên sử dụng nhiều nợ hơn, thì chi phí sử dụng nợ thấp hơn so với việc phát hành cổ phiếu hay chi phí sử dụng vốn. Ngoài ra khi sử dụng nợ nhiều hơn tại các doanh nghiệp xây dựng thì lãi vay trở thành lá chắn thuế hữu hiệu cho các doanh nghiệp khi tính thu nhập chịu thuế. Mặt khác, nếu các doanh nghiệp xây dựng có khả năng sinh lời với tỷ lệ cao thì tạo ra uy tín, niềm tin cho các định chế tài chính hay tổ chức tín dụng cho vay dễ dàng hơn. Ngoài ra, xét về việc tận dụng nguồn lực để phát triển hoạt động kinh doanh thì nhìn chung các khoản nợ phải trả vẫn cho chi phí sử dụng thấp hơn chi phí sử dụng đối với VCSH, cùng với đó trong giai đoạn mà các định chế tài chính cạnh tranh nhau trong việc cho vay sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp xây dựng tiếp cận nguồn nợ vay để mở rộng kinh doanh. Vì thế, khi suất sinh lời càng cao thì các doanh nghiệp càng muốn tận dùng nguồn nợ vay với chi phí thấp hơn và dễ dàng bổ sung hơn, để đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh liên tục của doanh nghiệp. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Myers (1977); Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Hải Yến (2014). Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Đối với tăng trưởng kinh tế thì hệ số hồi quy β = 1,273, điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi GDP tăng 1% thì hệ số nợ tổng thể tăng 1,273%. Kết quả này luận giải cho khi nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thì các đối tượng trong nền kinh tế có hoạt động kinh doanh sẽ thuận lợi hơn, trong đó có ngành xây dựng. Vào lúc này, giá cả của vật liệu xây dựng bình ổn, các đầu vào và đầu ra của các doanh nghiệp đều đặn lưu thông thuận tiện. Khi việc kinh doanh trở nên thuận lợi hơn, thì dòng vốn lưu động tại các doanh nghiệp xây dựng sẽ có nhu cầu tăng cao. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp xây dựng dựa vào dòng vốn hay nguồn tài trợ từ vốn chủ sở hữu thì chi phí sẽ rất cao và quy trình sẽ rất phức tạp. Do đó dòng vốn vay sẽ tối ưu hơn và thời điểm nên kinh tế tăng trưởng sẽ tiếp cận dễ dàng hơn từ các định chế tài chính hay các tổ chức tín dụng. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2023).

Đối với tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận thì hệ số hồi quy β = 1,185, điều này có nghĩa là tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận tăng 1% thì hệ số nợ tổng thể tăng 1,185%. Kết quả này luận giải cho khi tỷ lệ thuế thu nhập tăng cao có nghĩa là doanh nghiệp xây dựng chưa tận dụng được việc hình thành lá chắn thuế từ lãi vay, khi tính thu nhập chịu thuế. Do đó, các doanh nghiệp xây dựng vào thời điểm tỷ lệ này tăng cao, sẽ cùng chiều trong việc tái cơ cấu nguồn vốn của mình, trong đó sẽ ưu tiên hơn với nguồn tài trợ từ nợ vay. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2023).

Đối với cấu trúc TSCĐ hữu hình thì hệ số hồi quy β = 1,083, điều này có nghĩa là tỷ lệ TSCĐ hữu hình tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tỷ lệ TSCĐ hữu hình trong doanh nghiệp tăng 1% thì hệ số nợ tổng thể tăng 1,083%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành xây dựng muốn đầu tư vào TSCĐ hữu hình thì cần phải có nguồn tài trợ, trong đó nợ vay sẽ được ưu tiên. Nguyên nhân, đến từ việc các doanh nghiệp xây dựng có thể sử dụng TSCĐ hữu hình này để thể chấp trực tiếp với các định chế tài chính hay tổ chức tín dụng, nhằm tạo ra sự tin tưởng hơn, có tính an toàn hơn và chi phí vay sẽ thấp hơn phát hình chứng khoán. Mặt khác, khi các doanh nghiệp xây dựng có TSCĐ hữu hình càng nhiều thì niềm tin và thương hiệu của mình càng lớn đối với các đối tượng cho vay nợ, từ đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng dễ dàng tiếp cận tốt hơn với các nguồn nợ vay. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Khaki và Akin (2020); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015); Nguyễn Kim Quốc Trung (2023).

Đối với tăng trưởng doanh nghiệp thì hệ số hồi quy β = -0,302, điều này có nghĩa là tăng trưởng doanh nghiệp tác động ngược chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tăng trưởng doanh thu trong doanh nghiệp tăng 1% thì hệ số nợ tổng thể giảm 0,302%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành xây dựng tiêu thụ được các mặt hàng, doanh thu thu bằng tiền nhiều hơn, lợi nhuận cũng tăng lên từ đó nguồn giữ lại cũng tăng lên tương xứng, nên các nguồn vốn dùng để dự trữ và tạo sự lưu động cho kinh doanh giai đoạn tiếp theo cũng dồi dào. Chính vì vậy thì nợ vay cũng sẽ hạn chế đi nhằm giảm bớt các khoản nợ cho doanh nghiệp. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chandra (2015); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2015); Nguyễn Kim Quốc Trung (2023).

Đối với đại dịch Covid 19 thì hệ số hồi quy β = 0,039, điều này có nghĩa là đại dịch này tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi xuất hiện đại dịch thì hệ số nợ tổng thể tăng 0,039%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn Covid 19 gặp nhiều khó khăn trong việc xoay chuyển các dòng vốn để vận hành kinh doanh, nhất là trong thời điểm Việt Nam đóng cửa ưu tiên chống dịch. Do đó, thời điểm này các tổ chức tài chính hay tổ chức tín dụng là lựa chọn ưu tiên để các doanh nghiệp xây dựng làm việc vay nợ để cầm cự, hay đại dịch Covid 19 làm cho các doanh nghiệp ngành xây dựng phải mượn nợ nhiều hơn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2023). Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Cuối cùng với quy mô doanh nghiệp thì hệ số hồi quy β = 0,033, điều này có nghĩa là quy mô doanh nghiệp tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi quy mô doanh nghiệp tăng 1% thì hệ số nợ tổng thể tăng 3,3%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành xây dựng có quy mô càng lớn thì việc tiếp cận khoản vay nợ sẽ dễ dàng hơn vì có năng lực mạnh hơn hay niềm tin với các đối tượng cho vay sẽ dễ dàng hơn. Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn vẫn muốn tận dụng nguồn nợ vay nhiều để được hưởng mức chi phí thấp hơn là việc phát hành hay huy động từ các kênh chứng khoán của mình. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chandra (2015); Khaki và Akin (2020); Saif-Alyousfi và cộng sự (2020); Setiawan và Yumeng (2021); Sadiq và cộng sự (2022); Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2020); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2022).

Cuối cùng hai biến số tỷ lệ thanh khoản và cấu trúc sở hữu Nhà nước không ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết. Nguyên nhân là đối với tỷ lệ thanh khoản được xem là khả năng quy đổi của các loại tài sản ngắn hạn để giúp cho doanh nghiệp có thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn, do đó tỷ lệ này dù có tăng lên hay giảm xuống thì chỉ mang ý nghĩa cảnh bảo cho doanh nghiệp về khả năng thanh toán chứ không hẳn tạo điều kiện cho doanh nghiệp dựa vào đó để tính toán việc gia tăng hay giảm đi các khoản nợ vay từ các tổ chức tài chính. Mặt khác, tỷ lệ này chỉ có thể phản ánh được trong ngắn hạn nên có thể trung và dài hạn thì không chính xác. Đối với cấu trúc sở hữu Nhà nước thì có thể làm gia tăng được uy tín của doanh nghiệp, tuy nhiên việc sử dụng nợ tổng thể tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro hoặc tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp.

Ngoài ra, khi tiếp cận các khoản nợ vay từ các định chế tài chính thì uy tín là chưa đủ mà các tổ chức này vẫn quan tâm nhiều hơn và định hướng hay kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng niêm yết. Do đó, hai biến số này tại luận văn phản ánh kết quả không ảnh hưởng đến cấu trúc vốn là có cơ sở.

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Chương này tiến hành phân tích thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và xem xét tính tương quan của các biến số độc lập thì không vi phạm đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tiếp theo kiểm định các mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM và nhận thấy FEM phù hợp nhất, tuy nhiên mô hình này gặp phải khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan nên khắc phục theo phương pháp FGLS để khắc phục. Kết quả mô hình FGLS có Prob thấp hơn 5% nên có ý nghĩa thống kê. Đồng thời, các biến số quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, cấu trúc TSCĐ hữu hình, thuế suất TNDN trên lợi nhuận, tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và đại dịch Covid 19 có tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Biến số tăng trưởng doanh nghiệp thì tác động ngược chiều đến hệ số nợ tổng thể. Tỷ lệ thanh khoản và sở hữu Nhà nước không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến hệ số nợ tổng thể.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

5.1. Kết luận Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Luận văn đã tiến hành thực hiện tổng hợp khung lý thuyết nền tảng liên quan đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, các chỉ tiêu đo lường và các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, tổng hợp các yếu tố lý thuyết ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Đồng thời, thông qua các lược khảo liên quan trong nước và nước ngoài thì luận văn này xác định được các khoảng trống của nghiên cứu này, từ đó tạo cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu phù hợp cho bối cảnh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Từ đó, mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được hoàn thành đó là biến phụ thuộc đại diện cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam được xác định là hệ số nợ tổng thể. Đồng thời, hệ số này bị tác động bới các biến độc lập là quy mô doanh nghiệp; cấu trúc TSCĐ hữu hình; khả năng sinh lời; tăng trưởng doanh nghiệp; tính thanh khoản; tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận; sở hữu Nhà nước; tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát; đại dịch Covid 19.

Thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại HOSE từ năm 2013 – 2023 và tiến hành thống kê, kiểm định, khắc phục các hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tự tương quan thì mô hình FGLS được sử dụng để kết luận. Từ đó, mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành với kết quả về mức độ tác động từ cao xuống thấp của các biến số đến hệ số nợ tổng thể đó là đó là tỷ lệ lạm phát (β = 2,180); khả năng sinh lời (β = 2,174); tăng trưởng kinh tế (β = 1,273); tỷ lệ thuế TNDN trên lợi nhuận (β = 1,185); cấu trúc TSCĐ hữu hình (β = 1,083); tăng trưởng doanh nghiệp (β = -0,302); đại dịch Covid 19 (β = 0,039); quy mô công ty (β = 0,033). Ngoài ra, tỷ lệ thanh khoản và sở hữu Nhà nước có ý nghĩa thống kê với P – value lớn hơn 5%, do đó hai biến số này không tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng.

Mặt khác, các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến các biến số quy mô doanh nghiệp, cấu trúc TSCĐ hữu hình, tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ thuế TNDN, tăng trưởng kinh tế và đại dịch Covid-19 được chấp nhận vì dấu của hệ số hồi quy tương đồng với phát biểu của giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, các biến số khả năng sinh lời có dấu của hệ số hồi quy trái với phát biểu của giả thuyết nghiên cứu ban đầu nên bác bỏ. Mặt khác, hai biến số tính thanh khoản và sở hữu Nhà nước không có ý nghĩa thống kê tác động đến cấu trúc vốn, nên giả thuyết này cũng sẽ bị bác bỏ.

5.2. Hàm ý quản trị

Các kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn và bối cảnh hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại TTCK. Vì vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở cho luận văn sẽ đề xuất các hàm ý quản trị khả thi đến các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam để có cấu trúc vốn ổn định tương xứng với hoạt động kinh doanh của mình. Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

5.2.1. Gia tăng quy mô tương xứng với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp ngành xây dựng có lộ trình phù hợp để mở rộng quy mô doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động tương ứng, đảm bảo việc mở rộng quy mô trong tầm kiểm soát, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Mặt khác mở rộng quy mô doanh nghiệp cũng xét đến khía cạnh độ phủ sóng hoạt động của doanh nghiệp, bản thân doanh nghiệp cũng cần phải có chiến lược mở rộng thị trường của mình một cách bền vững, an toàn, tập trung mở rộng nâng cao cạnh tranh của mình tại những địa bàn hay địa điểm thật sự tiềm năng và an toàn.

Các doanh nghiệp nên mở rộng quy mô khi có nhiều dự án đầu tư và cần một lượng vốn vay để phát triển. Tuy nhiên mức độ mở rộng quy mô cần căn cứ vào ảnh hưởng thực tế của nó đến cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu mở rộng quy mô quá mức, tỷ lệ nợ của doanh nghiệp sẽ tăng cao và khả năng doanh nghiệp sẽ gặp những rủi ro phá sản là rất lớn. Việc mở rộng quy mô doanh nghiệp có thể được thực hiện đồng bộ hoặc từng phần, tùy theo đặc điểm của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp có cơ cấu vốn mục tiêu cao và sắp đặt ngưỡng là nên mở rộng quy mô doanh nghiệp từng phần và phải luôn luôn xem xét giới hạn tỷ lệ nợ của mình. Ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ thấp có thể mở rộng quy mô đồng bộ để tiếp cận càng nhiều các nguồn vốn vay hơn.

5.2.2. Gia tăng tài sản cố định hữu hình phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp ngành xây dựng để có cấu trúc vốn hay hệ số nợ tổng thể tăng thì doanh nghiệp cần tiến hành việc đầu tư vào các TSCĐ hữu hình một cách hợp lý. Đặc biệt, tập trung vào các loại TSCĐ hữu hình sản xuất kinh doanh hiệu quả, đáp ứng được việc tiêu thụ và tăng trưởng bán hàng. Tránh việc đầu tư tài sản chỉ để vay nợ bằng thế chấp nhưng không phục vụ sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra, các doanh nghiệp xây dựng cần đầu tư vào các TSCĐ hữu hình có khả năng thế chấp, nhằm tạo ra tính đảm bảo an toàn khi vay hoặc có các rủi ro xảy ra để chống đỡ. Mặt khác, tập trung vào các khoản thế chấp trung và dài hạn hơn là ngắn hạn để tránh được các áp lực thanh toán.

5.2.3. Tăng trưởng doanh thu và khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp ngành xây dựng phải gia tăng doanh thu bán hàng, cần đẩy mạnh hoạt động bán hàng hay tiêu thụ sản phẩm, thông qua tiếp cận các thị trường mới, khách hàng mới hay mở rộng các đối tượng đầu ra của mình. Chuyển đổi mô hình kinh doanh mới mẻ và cập nhật xu hướng các loại sản phẩm mà mình có thể bán ra theo xu hướng mới của khách hàng hay thị trường. Ngoài tập trung vào các kênh bán hàng truyền thống thì các doanh nghiệp nên mở rộng thêm các kênh bán hàng trên thương mại điện tử hay ứng dụng công nghệ để tiếp cận hay thăm dò mua hàng của khách hàng tốt hơn. Mặt khác, các hoạt động đa dạng hóa thu nhập cũng cần các doanh nghiệp xây dựng lưu tâm, nhằm gia tăng doanh thu khác. Từ đó, giúp cho các doanh nghiệp chứng minh với các đối tượng cho vay mình đủ khả năng và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay để hoạt động kinh doanh. Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

Đối với hoạt động tài chính thì các doanh nghiệp cần có những chiến lược phát triển trong những giai đoạn khác nhau, trong đó cần xây dựng những kế hoạch tài chính cụ thể, bám sát đường hướng phát triển và đặc điểm của doanh nghiệp trong khoảng thời gian đó. Các kế hoạch tài chính cần có những báo cáo tài chính dự kiến, cùng với đó là các tỷ số tài chính dự kiến được tính toán từ những báo cáo này. Trong đó, các doanh nghiệp phải xác định những nhu cầu về vốn, giới hạn tỷ lệ vay nợ, đặt ra cơ cấu vốn mục tiêu cụ thể của mình dựa trên các tỷ số tài chính đã tính toán. Kế hoạch tài chính sẽ giúp các doanh nghiệp thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để dự kiến những giải pháp phù hợp.

Các doanh nghiệp nên đẩy mạnh các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt các khoản chi phí, rà soát lại các chi phí sản xuất một cách thường xuyên. Các doanh nghiệp nên đánh giá lợi ích của các công nghệ mới trong sản xuất để có những giải pháp đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó, các nhà quản lý cần có những chế độ khen thưởng và xử phạt hợp lý cho nhân viên.

Cuối cùng, các doanh nghiệp ngành xây dựng nên có những biện pháp để khơi thông thị trường đầu ra cho sản phẩm của mình để gia tăng khả năng hấp thụ vốn. Các doanh nghiệp nhỏ lẻ cần tìm những đối tác để hợp tác lâu dài trong những dự án và công trình lớn, điều này vừa đảm bảo tăng khả năng cạnh tranh vừa đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là những giải pháp căn cơ và bền vững cho các doanh nghiệp.

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

5.3.1. Hạn chế nghiên cứu

Sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ BCTC của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại HOSE từ năm 2013 đến năm 2023 nên chắc chắn khó có thể tránh được những thiếu sót trong thu thập dữ liệu nghiên cứu và ảnh hưởng đến kết quả.

Một số biến độc lập khác có thể ảnh hưởng đến hệ số nợ tổng thể của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam mà chưa được luận văn xem xét. Ngoài ra, luận văn chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Thu thập thêm đầy đủ dữ liệu nhằm phân tích hoàn chỉnh thực trạng hệ số nợ tổng thể cho các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả công ty niêm yết tại Việt Nam và trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Sử dụng thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam được sử dụng trong luận văn. Thực hiện thêm một số hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Chương 5 đã trình bày kết luận tổng quát về kết quả đạt được của luận văn, đồng thời chỉ ra các mối quan hệ tác động giữa các biến số độc lập đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam. Từ đó đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam để có hệ số nợ tổng thể phù hợp xoay quanh các nội dung chính đó là gia tăng quy mô, TSCĐ hữu hình và doanh thu cũng như khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC tác động đến cấu trúc vốn DN ngành xây dựng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993