Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, mang trong nó bản chất nhân văn sâu sắc vì cuộc sống an lành, hạnh phúc của con người.
BHXH ra đời với mục đích là nhằm từng bước mở rộng và đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi các rủi ro xã hội xảy ra. Chính vì thế mà Bảo hiểm xã hội ngày càng trở thành nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội của mỗi quốc gia, của mọi thể chế nhà nước.
Trên thế giới BHXH thực sự hình thành và phát triển từ sau cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu, khi những người nông dân bỏ ruộng đất đi làm thuê cho các xí nghiệp. Lực lượng này ngày một gia tăng cùng với sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già. Một trong những giải pháp những người làm công ăn lương nghĩ ra đó là lập các quỹ tương tế, các hội đoàn… đồng thời đòi hỏi giới chủ và nhà nước cũng phải trợ giúp để bảo đảm cuộc sống của họ. Qũy dự trữ tiền tệ do sự đóng góp của người lao động và một phần lợi nhuận của chủ lao động đã ra đời từ đó, điển hình là ở Đức năm 1850.
BHXH được nhà nước đứng ra tổ chức và dần dần được mở rộng cho nhiều đối tượng khác nhau tham gia và nan rộng trên toàn thế giới như một minh chứng cho tính tất yếu của quá trình lao động sản xuất.
Ở nước ta, chính sách BHXH được xác lập từ ngay sau khi giành được chính quyền năm 1945, Đảng và Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm đến công tác BHXH. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, trước sự thay đổi lớn lao và không ngừng của xã hội Việt Nam kể từ sau khi đất nước thống nhất và nhất là từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH đã bộc lộ một số nhược điểm và nhiều lúc chưa theo kịp với đà phát triển của đất nước.
Việc xây dựng, hoạch định, ban hành, tổ chức triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát quá trình quản lý chính sách BHXH ở nước ta là một yêu cầu mang tính tất yếu, đã trở thành một đòi hỏi cấp bách trong quá trình phát triển của đất nước hiện nay. Sự thay đổi mang tính bước ngoặt đó được đánh dấu bằng việc ngày 26/01/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 12/Cp quy định về việc thực hiện điều lệ BHXH, Nghị định số 19/Cp ngày 16/02/1995 của chính phủ về việc thành lập hệ thống BHXH Việt Nam.
Theo Nghị định số 19/CP của Chính Phủ, hệ thống BHXH Việt Nam gồm 03 cấp đó là: Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp quận huyện. Hệ thống này tạo lập quỹ BHXH tập trung độc lập với ngân sách Nhà Nước dưới sự quản lý và điều hành trực tiếp của Chính phủ.
Từ kết quả của 12 năm thực hiện BHXH theo quy định tại các nghị định của chính phủ, năm 2015, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI, chính sách BHXH lần đầu tiên được Luật hóa và chính thức triển khai Luật BHXH số 71/2015/QH 11 từ 01/01/2016
Từ thực tiễn 8 năm tổ chức thực hiện Luật BHXH số 71/2015/QH 11, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, ngày 20 tháng 11 năm 2023 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật BHXH số 58/2023/QH 13, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2025 đã xem xét và sửa đổi toàn diện Luật BHXH 2015 theo hướng mở rộng sàn an sinh xã hội, hướng tới bảo đảm An sinh xã hội trong dài hạn cho nhân dân thông qua điều chỉnh các chế độ BHXH.
Từ những yêu cầu thực tiễn của hoạt động BHXH, việc nghiên cứu để tạo lập cơ sở khoa học cho việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo cho chính sách BHXH đi vào cuộc sống của tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Với những lý do trên, em chọn đề tài “Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng” để nghiên cứu và viết luận văn của mình với mong muốn góp một phần nhỏ làm sáng tỏ một số quan điểm về quản lý, tổ chức thực hiện công tác BHXH đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng, nhằm thực hiện tốt chính sách vào đời sống xã hội, đảm bảo lợi ích, quyền lợi, nghĩa vụ cho người lao động, người quản lý sử dụng lao động, trong suốt quá trình hoạt động cống hiến của họ cho xã hội. Đó là điều cần thiết có ý nghĩa rất lớn về lý luận và thực tiễn của cuộc sống.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng hoạt động Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng, phân tích chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế.
Trên cơ sở phân tích đề xuất định hướng và những giải pháp nhằm thực hiện tốt Luật Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về Bảo hiểm xã hội.
- Đánh giá thực trạng hoạt động Bảo hiểm xã hội cho người lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất các định hướng, giải pháp, nhằm thực hiện có hiệu quả bảo hiểm xã hội cho người lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thực hiện nghiêm túc Luật bảo hiểm xã hội của Nhà nước.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Bảo hiểm xã hội bao gồm BHXH và các chế độ liên quan như hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản… Các cơ quan đơn vị tham gia BHXH có rất nhiều như các cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã và doanh nghiệp… Nhưng do điều kiện về thời gian, đề tài chỉ nghiên cứu về tình hình thực hiện Luật BHXH, đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh huyện An Dương thành phố Hải Phòng. D oanh nghiệp ngoài quốc doanh và người lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện Bảo hiểm xã hội bao gồm:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Công ty Cổ phần
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung
- Nghiên cứu tình hình thực hiện Bảo hiểm xã hội các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
- Nghiên cứu việc thực hiện các chế độ BHXH các đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng, những thuận lợi, khó khăn cho việc thực hiện Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Nghiên cứu tình hình thu BHXH của người sử dụng lao động, người lao động các đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Nghiên cứu tình hình chi BHXH cho người lao động các đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Nghiên cứu tình hình phát triển doanh nghiệp, người lao động tham gia BHXH các đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng.
Về thời gian
Các số liệu nghiên cứu chủ yếu được thu thập từ năm 2020-2024,. Các số liệu sơ cấp là kết quả điều tra, khảo sát một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các cá nhân có liên quan trong năm 2024, các giải pháp đề xuất cho năm 2025 và những năm tiếp theo.
1.5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Việc nghiên cứu thực hiện hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng có ý nghĩa góp phần nhỏ cùng ngành BHXH thành phố Hải Phòng tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên, nhân dân và người lao động về chế độ, chính sách BHXH. Đồng thời cho thấy việc tăng cường công tác quản lý BHXH góp phần thiết thực vào việc thực hiện tốt các chế độ BHXH, đảm bảo quyền lợi của người lao động cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ sử dụng lao động, người lao động trong quá trình thực hiện chính sách BHXH của Đảng và Nhà nước.
1.6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội
- Chương 2: Phân tích thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
1.1.1. Khái niệm Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã nhận định: Trong xã hội còn nhiều người có sức lao động, chưa có việc làm, chưa sử dụng hết thời gian lao động, khả năng thu hút sức lao động của khu vực kinh tế Nhà nước là có hạn trong khi nguồn vốn của nhà nước còn hạn chế, trong khi nguồn vốn nằm dự trữ trong dân vẫn còn nhiều và chủ yếu chỉ để tiêu dùng và cất giữ. Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo việc làm, kích thích mọi người đưa vốn nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội. Xuất phát từ sự đánh giá những tiềm năng tuy phân tán nhưng rất quan trọng đó cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việc làm, từ đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được chính thức thừa nhận. [11, tr23]
Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2014/QH11 đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ VIII đã quy định: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.[5, tr29]. Khu vục kinh tế ngoài quốc doanh là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh của tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý.
Các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Thông thường có hai hình thức chủ yếu về sở hữu tài sản đó là sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước về tài sản, bao gồm theo (Luật Doanh nghiệp số 60/2014/QH11 đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ VIII) :
Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ hai thành viên tham gia góp vốn góp sức và các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vị số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không quá 50 người.
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty cổ phần: Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đ ông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đ a; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông có cổ phiếu ưu đãi biểu quyết.
Công ty hợp danh: Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó: phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung gọi là thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài: Doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân của nước ngoài thành lập trên lãnh thổ Việt Nam dưới dạng công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh…
1.1.2.Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Chính sách kinh tế mở đã tạo cơ hội cho kinh tế ngoài quốc doanh phát huy hết khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều có quyền bình đẳng, chính điều này đã tạo nên sức mạnh và những thế mạnh riêng cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.[5, tr46]
Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nước ta có những đặc điểm sau:
- Chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dễ thích ứng:
Người quản lý thường là chủ sở hữu hoặc là người có vốn lớn nhất nên họ được quyền đưa ra các quyết định. Cũng do quy mô hoạt động nhỏ nên họ được tự do hành động, họ có khả năng tự quyết, nên họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi. Vì vậy, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sự thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường. Việc thâm nhập vào thị trường hàng hoá trong giai đoạn này, sẽ đem lại cho doanh nghiệp thành công và khi sản phẩm bị thị trường từ chối thì doanh nghiệp dễ dàng rút lui và lựa chọn mặt hàng kinh doanh khác trong phạm vi được phép sao cho có lợi nhất phù hợp với khả năng của mình. Vì vậy đây là một thế mạnh để doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia thị trường với các doanh nghiệp Nhà nước.
- Cơ cấu quản lý linh hoạt:
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường thích hợp với những cơ cấu tổ chức đơn giản. Số lượng nhân viên ít và các nhân viên này thường phải đảm nhận công việc theo kiểu đa năng. Phần lớn các chủ doanh nghiệp vừa phải đảm nhận vai trò quản trị (điều hành và chỉ huy nhân viên) vừa phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo (tìm kiếm và quyết định cơ hội đầu tư). Mặt khác, vốn của thành phần kinh tế này là do những chủ thể kinh doanh tình nguyện đóng góp, do các cổ đông đóng góp hay do liên doanh liên kết… bằng tiền hoặc tài sản. Vì thế họ có toàn quyền quyết định ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng, trình độ nhu cầu của thị trường đối với loại hàng hoá mà họ sẽ kinh doanh. Mặc dù quy mô hoạt động khá bé nhỏ, song đó lại là một lợi thế cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. [5, tr47]
- Chi phí gián tiếp thấp: Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một người chủ và số nhân viên làm việc không thường xuyên, giúp cho chi phí thấp. Chi phí gián tiếp thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng. Chủ doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự thành bại của doanh nghiệp. Cũng chính vì vậy, họ đòi hỏi nhân viên làm việc nghiêm túc và hiệu quả, giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực vẫn thường gặp ở các doanh nghiệp quốc doanh. Do vậy khối luợng vốn để hỗ trợ cho từng doanh nghiệp sẽ không lớn, hiệu quả và sử dụng vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh. Tuy nhiên, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng có không ít những hạn chế của nó.
Khả năng tài chính còn nhỏ bé: Trong giai đoạn đầu, phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều gặp phải vấn đề thiếu vốn. Các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh này vì họ chưa có quá trình kinh doanh, chưa có uy tín và chưa thể tạo lập được khả năng trả nợ. Do vậy, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phần lớn dựa vào nguồn vốn chính từ bạn bè, thu hút vốn qua hình thưc mua bán chịu…Việc mở rộng doanh nghiệp luôn bị hạn hẹp về nguồn vốn.
Trình độ công nghệ sản xuất còn ở mức thấp: Trình độ công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lưọng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Hiện tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có công nghệ hiện đại không nhiều, chỉ có một số công ty liên doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài được trang bị máy móc và dây truyền tiên tiến, còn lại sử dụng các công cụ thủ công , thiếu đồng bộ. [5, tr 59]
Môi trường sản xuất kinh doanh chưa ổn định: Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ, không tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế nói chung và nền kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, phát triển.
1.1.3. Sự khác biệt giữa khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh với khu vực doanh nghiệp Nhà nước
Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trường đang có bước tiến mạnh mẽ đem lại hiều thành tựu về kinh tế, văn hoá, xã hội, cải thiện cuộc sống con người. Tuy nhiên song hành với nó là những tiêu cực hạn chế vốn thuộc về bản chất của cơ chế thị trường. Điều đó đòi hỏi cần có một chủ thể kinh tế đủ vững mạnh để đứng ra điều tiết nền kinh tế phát huy những mặt tích cực khắc phục những quyết điểm của cơ chế thị trường và Nhà nước chính là một chủ thể kinh tế quan trọng có khả năng nhận thức và vận dụng những quy luật kinh tế khách quan vào nền kinh tế, đồng thời Nhà nước đưa ra các chính sách vĩ mô nhằm khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế vv…Vì thế mà Samuelson đã nhận định “Thiếu sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế chẳng khác nào vỗ tay bằng một bàn tay”. Dựa trên những chế độ chính trị xã hội khác nhau mà vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và những công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nước cũng khác nhau. Nếu KTNN ở Việt nam là đặc trưng của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì KTTB độc quyền Nhà nước lại là đặc trưng của nền kinh tế thị trường của các nước TBCN. Giữa chúng có những điểm khác nhau căn bản sau đây: [5, tr76] Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Có 10 điểm khác biệt giữa DNNN và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Về sở hữu:
Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm toàn bộ vốn điều lệ hoặc sở hữu phần lớn cổ phần.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoàn toàn thuộc sở hữu của tư nhân.
- Về quy mô:
Doanh nghiệp nhà nước: quy mô lớn, tập trung vào những ngành then chốt.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh : quy mô từ nhỏ đến lớn, phân tán trên nhiều loại ngành nghề khác nhau.
- Về quản lý tài chính:
Doanh nghiệp nhà nước: chịu sự quản lý, điều tiết, giám sát của cơ quan chủ quản.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh : tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính.
- Kiếm tiền:
Đầu tiên phải nói rằng: mọi doanh nghiệp, dù nhà nước hay tư nhân, đều có chung một mục tiêu quan trọng nhất, đó là kiếm tiền.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh kiếm tiền từ khách hàng, doanh nghiệp nhà nước kiếm tiền từ ngân sách phía trên đổ xuống.
- Về thua lỗ:
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh nếu thua lỗ vượt quá khả năng chịu đựng sẽ phá sản. Doanh nghiệp nhà nước nếu thua lỗ, sẽ được bù lỗ (bằng ngân sách hay nói trắng ra là tiền thuế của dân).
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh sợ thua lỗ, doanh nghiệp nhà nước thích thua lỗ (mỗi lần rót thêm ngân sách là có thêm cơ hội ăn chia). Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả là tất yếu, không có gì đáng ngạc nhiên. Doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 60% tổng tín dụng, sử dụng phần lớn tài nguyên của đất nước nhưng chỉ tạo ra được 38% GDP.
- Về vốn:
Vốn của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tiền của chủ doanh nghiệp hoặc của nhà đầu tư nên họ phải tính toán cẩn thận để sử dụng đồng tiền đó hiệu quả nhất.
Vốn của doanh nghiệp nhà nước là “tiền chùa” nên cứ xài thoải mái.
- Ràng buộc ngân sách và các ưu đãi khác:
Ràng buộc ngân sách của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là cứng. Ràng buộc ngân sách của doanh nghiệp nhà nước là mềm: doanh nghiệp nhà nước là con cưng của Nhà nước nên được ưu tiên về chính sách, ưu tiên về công nghệ, bao cấp, được chậm nộp thuế thậm chí miễn thuế, hoãn nợ…
Doanh nghiệp nhà nước cũng có lợi thế hơn trong tiếp cận vốn vay nước ngoài, khi mà phần lớn vay nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam dành cho tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước cũng có ưu thế trong tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh. Dù pháp luật hiện hành không phân biệt việc giao, cho thuê đất sản xuất kinh doanh nhưng ước tính thực tế doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ 70% mặt bằng sản xuất kinh doanh.
- Chất lượng sản phẩm, dịch vụ và chất lượng chăm sóc khách hàng:
Bởi vì thu nhập duy nhất của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là từ khách hàng nên Doanh nghiệp ngoài quốc doanh buộc phải liên tục nâng cao chất lượng sản phẩm/dịch vụ và chất lượng chăm sóc khách hàng (tiếp đón, cung cách phục vụ, hậu mãi, bảo hành, khuyến mãi, trải nghiệm khách hàng…). Ngược lại, bởi việc phục vụ khách hàng chỉ mang tính tượng trưng đối với doanh nghiệp nhà nước nên từ chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ cho tới thái độ khi giao tiếp của nhân viên đối với khách hàng của doanh nghiệp nhà nước đều kém hơn Doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất nhiều.
Một nguyên nhân khác khiến chất lượng sản phẩm, cung cách phục vụ của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hơn hẳn doanh nghiệp nhà nước là: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường phải cạnh tranh với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác nên phải thường xuyên cải tiến về mọi mặt, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước thường được bảo hộ, thậm chí độc quyền nên không cần lo lắng về cạnh tranh, từ đó trở nên lười biếng, ù lì, chậm cải tiến.
Một số ý kiến sử dụng lý lẽ rằng trong khi Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ phải tối đa hóa lợi nhuận thì doanh nghiệp nhà nước phải gồng gánh trách nhiệm xã hội và lợi ích của người dân để giải thích cho việc doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, thường hay thua lỗ. Câu hỏi đặt ra là: nếu doanh nghiệp nhà nước coi trọng lợi ích người dân, tại sao chất lượng sản phẩm và chất lượng phục vụ lại kém như vậy? Thực tế là việc Doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo đuổi lợi nhuận không mâu thuẫn với lợi ích người dân, thậm chí còn đồng hành với lợi ích người dân. Bởi việc nâng cao chất lượng là cách duy nhất để các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh nâng cao lợi nhuận nên nếu các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh càng theo đuổi lợi nhuận thì người tiêu dùng lại càng được lợi. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
- Về giải quyết nhu cầu việc làm:
Doanh nghiệp nhà nước: giải quyết nhu cầu việc làm cho những người có năng lực trung bình hoặc yếu kém nhưng có mối quan hệ hoặc biết chạy chọt.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh : giải quyết nhu cầu việc làm cho những người có năng lực và tài năng thật sự.
- Về tuổi thọ:
Doanh nghiệp nhà nước: gần như bất tử, chỉ ngáp ngáp chứ không chết.
Tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh : yếu là chết ngay.
1.2. Bản chất, vai trò và nội dung của Bảo hiểm xã hội Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
1.2.1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội
BHXH là hình thức bảo hiểm thu nhập cho người lao động, là sản phẩm tất yếu khách quan của xã hội phát triển, là hình thức dịch vụ công để quản lý và đáp ứng nhu cầu chia sẻ các rủi ro trong cộng đồng, là quyền cơ bản của người lao động. BHXH vừa để thực hiện các mục đích xã hội, vừa để thực hiện các mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia. Trong đó, mục đích kinh tế và mục đích xã hội luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau, là hai mặt không thể tách rời của BHXH. Khi đề cập đến các lợi ích kinh tế của BHXH đối với người lao động và đối với xã hội là đã bao hàm cả mục đích xã hội của nó. Ngược lại, các mục đích xã hội của BHXH cũng chỉ đạt được khi nó đồng thời mang lại các lợi ích kinh tế thiết thực cho người tham gia.[14, tr23]
Về phương diện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm an toàn xã hội. Về phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm, thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ chung. Về phương diện chính trị, pháp lý: Khi được nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế. Đồng thời đó cũng là trách nhiệm của họ và người sử dụng lao động phải tham gia BHXH. Vì vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo an sinh xã hội của các quốc gia. [14, tr24]
1.2.2. Vai trò của Bảo hiểm xã hội
- Thứ nhất, BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động.
- Thứ hai, BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH.
Thứ ba, BHXH góp phần kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Giúp người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, tích cực trong lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Giúp các nhà đầu tư yên tâm tính toán để phát triển sản xuất, không bị phá sản kể cả khi có rủi ro lớn sảy ra. Kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân, thu hút đầu tư và qua đó, nâng cao năng suất lao động xã hội.
Thứ tư, BHXH góp phần thu hút lao động, hình thành và phát triển thị trường lao động, gắn bó các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và các lợi ích xã hội. Thu hút lao động tốt trong xã hội vào khu vực thuộc phạm vi bảo hiểm. Ở Việt Nam, trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch tập trung, khu vực Nhà nước luôn hấp dẫn người lao động. Điều hòa mâu thuẫn về tiền lương tiền công, thời gian lao động giữa chủ và thợ, làm cho các bên có trách nhiệm với nhau hơn, gắn bó lợi ích được với nhau, hợp tác, phát triển cùng có lợi [14, tr26]
1.2.3. Nội dung của Bảo hiểm xã hội Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
- Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây: Người sử dụng lao động góp; Người lao động góp; Nhà nước góp và hỗ trợ thêm; Các nguồn thu khác( như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần nhàn rỗi…)
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ– thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình,vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Mối quan hệ chủ – thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết các luật lệ của Nhà nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lí mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn trở thành chỗ dựa để đảm báo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định. [14, tr32]
Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc để xác định mức đóng góp. [14, tr37] Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lí BHXH …..
Nước ta, từ năm 1962 đến năm 1987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từ hai nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xí nghiệp, phần còn lại do ngân sách Nhà nước đài thọ. Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH độc lập. Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹ lương của đơn vị. Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, Chính phủ đã ban hành rộng rãi Nghị định 43/CP ngày 22/ 06/ 1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12 /CP ngày 26/ 01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:
Người sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ồm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí và tử tuất. Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động.
- Các nguồn khác.
Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau: Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ sở xác định mức phí đóng.Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng. Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.
Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhưng xác định phí BHXH lại khá phức tạp vì nó liên quan cả đến người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất. [14, tr45]
Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gian ngắn ( thường là một năm ) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ…
Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ BHXH dài hạn như : hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v..v…quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kì dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn. [14, tr45]
- Trách nhiệm và quyền hạn các bên tham gia bảo hiểm xã hội
Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế thì quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH như sau:
- Người sử dụng lao động.
Trách nhiệm: Đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định; Trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH đúng quy định; Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm tra, thanh tra về BHXH của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Quyền hạn: Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ của BHXH; Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
- Người lao động
Trách nhiệm: Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định; Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH; Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH theo đúng quy định.
Quyền hạn: Được nhận sổ bảo hiểm xã hội; Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ điều kiện hưởng BHXH theo quy định tại Điều lệ BHXH; Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
- Cơ quan bảo hiểm xã hội
Trách nhiệm: Tổ chức thu, quản lí, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định; Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại Điều lệ BHXH; Tổ chức việc trả lương hưu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện; Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội; Thông báo định kì hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động và sử dụng lao động.
Quyền hạn: Trình Thủ Tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định để quản lí việc thu, chi BHXH và để xác nhận đối tượng được hưởng các chế độ BHXH quy định tại Điều lệ bảo hiểm xã hội. Tổ chức phương thức quản lí quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả. Tuyên truyền, vận động để mọi người tham gia thực hiện BHXH. Từ chối việc chi trả chế độ BHXH cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá làm giả hồ sơ tài liệu. [14, tr76-78]
1.3. Bản chất và vai trò của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
1.3.1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Các đặc trưng cơ bản của BHXH Việt Nam: Bản chất của BHXH là quá trình tổ chức đền bù hậu quả của những rủi ro xã hội hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH. [7, tr13]
Nói cách khác, hoạt động BHXH là hoạt động phân phối lại thu nhập của chính bản thân người lao động theo thời gian (phân phối theo chiều ngang) và của các thế hệ/nhóm người lao động (phân phối theo chiều dọc). Sự đền bù này để bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng; nhằm góp phần bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Qua cách tiếp cận này, có thể thấy BHXH có một số đặc trưng cơ bản sau:
Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội được bảo hiểm trong BHXH liên quan đến thu nhập của người lao động gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết… Do những sự kiện và rủi ro này mà người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng (mất việc làm, thất nghiệp), dẫn đến việc họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp. Trong những trường hợp đó, người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH. Tuy nhiên, trong BHXH, không phải người lao động cứ bị mất thu nhập bao nhiêu là được bù bấy nhiêu. Điều này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động được pháp luật BHXH quy định. Đây là đặc trưng rất cơ bản của bảo hiểm xã hội. [7, tr15]
Người lao động khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. Người chủ sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn.
Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH. Ngoài nguồn thu của quỹ BHXH, còn có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH; khoản nộp phạt của các doanh nghiệp/đơn vị chậm nộp BHXH theo quy định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác. Quỹ BHXH dùng để chi trả các trợ cấp BHXH và chi phí cho các hoạt động của bộ máy BHXH. [7, tr16]
Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định. Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt động của BHXH. BHXH còn chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao động (thông qua tổ chức công đoàn) và người sử dụng lao động (thông qua tổ chức của giới chủ) theo cơ chế ba bên. Đây cũng là đặc trưng rất riêng có của BHXH. Tất cả những khía cạnh đã nêu trên, một lần nữa cho thấy, BHXH được lập ra là để tác động vào thu nhập theo lao động của người lao động tham gia BHXH. Nói cách khác, BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm, nhằm bảo đảm thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu cho họ. [7, tr17]
1.3.2. Vai trò của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và gia đình của họ bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội. Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên bình diện xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh được. Để phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH. Chúng ta có thể liệt kê một số vai trò của BHXH đối với cá nhân
Thứ nhất: BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình họ. Khi tham gia BHXH, người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời. Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn. Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống. [7, tr21]
Thứ hai: Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động.
- b) Vai trò của BHXH đối với xã hội:
Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH. Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Thứ hai: BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên. [7, tr26]
Thứ ba: BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững.
Thứ tư: BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động.
Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội.
- Vai trò BHXH đối với nền kinh tế thị trường:
Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trơ nên rõ rệt. Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội. Nhưng rủi ro xãy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn. BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ.
Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn. Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường. [7, tr27]
Thứ ba: Khi tham gia BHXH cho người lao động sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường.
Thứ tư: Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Thứ năm: BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động. [7, tr27-28]
1.4. Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Căn cứ theo Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2023 có hiệu lực thi hành từ 1/1/2025, từ 1/1/2018 đối tượng sau bắt buộc tham gia BHXH là:
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
1.1. Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
1.2. Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực hiện từ 01/01/2018);
1.3. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
1.4. Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu (trường hợp BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân bàn giao cho BHXH các tỉnh);
1.5. Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
1.6. Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc vào quỹ hưu trí và tử tuất (thực hiện từ 01/01/2025);
1.7. Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
1.8. Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 Luật BHXH. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
2. Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ 01/01/2018).
3. Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ. [2, tr34-35]
1.5. Hoạt động Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.5.1. Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây: Người lao động đóng góp; Người sử dụng đóng góp; Nhà nước bù thiếu; Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi). Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:
Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.
Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người
lao đ ng một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.
Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật.
Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.
Theo quy định tại Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội và Điều 25 của Nghị định số 127/2017/NĐ-CP thì nguồn hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp quy định như sau: Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
- Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
- Hàng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.
- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
- Các nguồn thu hợp pháp khác [2, tr43]
1.5.2. Chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội đối với người lao động
Chế độ ốm đau: Điều kiện hưởng: Người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội được hưởng trợ cấp ốm đau khi: Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế (trừ trường hợp tự hủy hoại sức khỏe do say ruợu hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác); Có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc và có xác nhận của cơ sở y tế.
Chế độ thai sản: Điều kiện hưởng: Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau: Lao động nữ mang thai;Lao động nữ sinh con;Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi;Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. Đối với lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp: Điều kiện hưởng: Chế độ tai nạn lao động: Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội bị tai nạn lao động trong các trường hợp dưới đây dẫn đến suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được hưởng trợ cấp tai nạn lao động do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả: Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; Bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
d). Chế độ hưu trí: Điều kiện hưởng: Người lao động được hưởng lương hưu hàng tháng khi có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên và có một trong các điều kiện sau: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc nơi có hệ số phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên; Người lao động đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò; Người lao động bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp. Người lao động có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Nam đủ 50 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên; Có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên.
e). Chế độ tử tuất: Điều kiện hưởng: Người lo mai táng cho một trong những đối tượng nêu dưới đây chết: Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội; Người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; Người đang hưởng lương hưu; Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng đã nghỉ việc. [2, tr46]
1.6. Tổ chức quản lý và thực hiện Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Theo nghị định 19/CP ngày 16/2/1995 của Chính phủ, hệ thống BHXH được thành lập đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, sự quản lí Nhà nước của Bộ lao động- thương binh xã hội và các cơ quan quản lí Nhà nước có liên quan, sự giám sát của tổ chức công đoàn. Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT); tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHTN, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật. [11, tr 59]. BHXH Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về BHXH, BHTN; của Bộ Y tế về BHYT; của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BHXH, BHTN, BHYT. Hội đồng quản lí BHXH Việt Nam là cơ quan quản lí cao nhất của BHXH Việt Nam. Có thể hiểu rõ hơn cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam qua sơ đồ 1.1 dưới đây:
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Việt Nam do Tổng giám đốc quản lí và điều hành và thực hiện các nhiệm vụ khác được Thủ Tướng Chính phủ giao cho.
Hình 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thu bảo hiểm xã hội theo quy định của Bộ luật lao động, Điều lệ BHXH và các quy định của Chính phủ.
Quản lí quỹ BHXH và tổ chức việc chi trả BHXH cho người tham gia BHXH được đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn.
Được quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu để được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, đồng thời ra văn bản thông báo việc từ chối chi trả đó cho đương sự, cơ quan sử dụng lao động và cơ quan pháp luật.
Bồi thường mọi khoản thu chi sai các quy định của Nhà nước về BHXH cho các đối tượng tham gia BHXH và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Xây dựng và tổ chức thực hiện dự án và biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng cường quỹ BHXH theo quy định của Chính phủ. [11, tr62] Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Trình thủ tướng Chính phủ quyết định về mức chi phí quản lí, định mức lệ phí thu, chi quỹ BHXH và các quy định khác có liên quan đến hoạt động BHXH và tổ chức thực hiện các quy định nói trên. Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan việc sửa đổi, bổ sung các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội phù hợp với tình hình của đất nước trong từng giai đoạn. Lưu giữ hồ sơ, cấp và quản lí sổ BHXH. Tổ chức thực hiện công tác thống kê, hạch toán, kế toán; hướng dẫn nghiệp vụ, thu, chi bảo hiểm xã hội và kiểm tra việc thực hiện; tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, giải thích các chế độ, chính sách về BHXH.
Kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi BHXH. Giải quyết kịp thời các khiếu nại của người tham gia BHXH về việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH.
Thực hiện việc hợp tác quốc tế về sự nghiệp BHXH theo quy định của Chính phủ. Quản lí tổ chức, viên chức, tài chính, cơ sở vật chất của BHXH Việt Nam theo quy định của Nhà nước. Thực hiện việc báo cáo định kì về thu, chi và các hoạt động về BHXH cho Bộ lao động – thương binh và xã hội và Bộ tài chính. Bảo hiểm xã hội Việt Nam được quan hệ trực tiếp với cá cơ quan Nhà nước và các đoàn thể nhân dân ở Trung ương và địa phương, với các bên tham gia BHXH để giải quyết các vấn đề có liên quan đến BHXH theo quy định của Bộ Luật lao động, Điều lệ BHXH.
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương, gồm có:
Trương ương : Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương( gọi chung là tỉnh) là BHXH huyện trực thuộc BHXH Việt Nam. Ở các quận, huyện, thị xã thành phố trực thuộc tỉnh( gọi chung là huyện) là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
- Bảo hiểm xã hội tỉnh:
BHXH huyện thực hiện các nhiệm vụ về BHXH trên địa bàn thành phố theo quy định của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội thành phố do một giám đốc quản lí và điều hành. Giúp việc giám đốc có 1 – 2 phó giám đốc. Giám đốc, phó giám đốc BHXH huyện do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam bổ nhiệm và miễm nhiệm. Nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế các phòng chuyên môn nghiệp vụ nói trên do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quyết định.
Bảo hiểm xã hội huyện có nhiệm vụ tiếp nhận đăng ký hưởng chế độ bảo hiểm xã hội do BHXH huyện chuyển đến; thực hiện việc đôn đốc, theo dõi nộp BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động trên địa bàn; tổ chức mạng lưới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho người được hưởng trên địa bàn huyện. [11,tr63]
Hình 1.3: Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH tỉnh, thành phố
- Bảo hiểm xã hội huyện :
Hình 1.4: Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH Huyện, Quận
1.7. Bài học rút ra sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tế
Thái nguyên là một tỉnh có nhiều đặc điểm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh như Hải Phòng đặc biệt là huyện An Dương. Vì tại Thái Nguyên cũng có nhiều doanh nghiệp FDI cũng như khối lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian với sự ra đời của nhà máy Sam Sung Thái Nguyên cũng tương tự như sự ra đời của nhà LG ELECTRONIC tại KCN Tràng Duệ huyện An Dương. Chính vì có nhiều điểm tương đồng nên tác giả đã lất kinh nghiệm thực tế của tỉnh Thái Nguyên về hoạt động BHXH để làm căn cứ bài học kinh nghiệm cho BHXH huyện An Dương trong thời gian tới.
Từ những nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có thể rút ra một số kết luận về BHXH dành cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh như sau: Chính sách và pháp luật ở mỗi nước có thể khác nhau nhưng đều có điểm chung là vì sự ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Thực hiện tốt chính sách BHXH nhằm ổn định đời sống công nhân viên thì doanh nghiệp mới ổn định và phát triển. Hiện nay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Thái Nguyên nói riêng đều rất hạn chế trong công tác tham gia BHXH, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của người lao động. Chỉ khi nào người sử dụng lao động thực sự quan tâm đến quyền lợi của người lao động thì mới có một đội ngũ lao động tận tâm, yêu nghề, sống chết vì sự phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên do đặc thù là các doanh nghiệp tư nhân nên việc tối đa hóa lợi nhuận vẫn được đặt lên hàng đầu, trong khi đó luật bảo hiểm xã hội cũng như tổ chức quản lý BHXH tại Việt Nam còn lỏng lẻo dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay đã phần đều lé tránh nộp BHXH. Chính điều này gây thất thu cho ngành BHXH Việt Nam một phần do niềm tin người dân vào ngành BHXH còn nhiều bất cập, một phần ý thức tham gia BHXH bắt buộc và tự nguyện ở dân còn chưa cao. Mà khi có BHXH thì người dân cũng không tiếp cận được các chương trình bảo hiểm xã hội thực sự hữu ích. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
- Bài học kinh nghiệm rút ra cho BHXH huyện An Dương là:
Cần có cơ chế đặc thù cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia BHXH: như tổ chức hội thảo chuyên đề tại KCN, của cán bộ làm công tác BHXH xuống tại doanh nghiệp lớn làm công tác hướng dẫn thủ tục để người sử dụng lao động tham gia BHXH cho người lao động.
Tổ chức buổi đào tạo thực tế về thực hiện công tác BHXH cho những người chủ lao động hoặc bộ phận nhân sự trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn để họ nâng cao nhận thức việc phải tham BHXH.
Tiểu kết chương 1 và phương hướng chương 2:
Chương 1 của luận văn đã cơ bản giải quyết một số vấn đề sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận: khái niệm về bảo hiểm xã hội và vai trò của bảo hiểm xã hội.
Khái niệm cơ bản về quỹ bảo hiểm xã hội và quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội Việt Nam nói riêng.
Ngoài ra Chương 1 cũng đã khái quát nội dụng cơ bản của bảo hiểm xã hội cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bảo hiểm xã hội. Từ đó làm cơ sở lý luận cho phân tích thực trạng phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng. Luận văn: Hoàn Thiện công tác Bảo hiểm xã hội đối với các DN.
Chương 2 của luận văn sẽ tiếp tục tiến hành các nội dung sau: Phân tích tình hình thực trạng về công tác bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn 2021-2025. Thực trạng thu – chi BHXH trên địa bàn huyện An Dương nói chung và tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện An Dương nói riêng. Để tìm ra những ưu điểm hạn chế trong công tác BHXH đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện An Dương.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
