Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Địa bàn nghiên cứu

2.1.1. Bảo hiểm xã hội huyện An Dương

  • Bảo hiểm xã hội huyện An Dương :
  • Địa chỉ: Số 16 thị trấn An Dương- huyện An Dương- Hải Phòng.
  • Số điện thoại :0225.3871
  • Giám đốc: Nguyễn Văn
  • Phó Giám đốc: Vũ Tiến
  • Phó Giám đốc: Vũ Văn
  • Mã số thuế : 0201795654-009 được cấp vào ngày 14/09/2018
  • Cơ quan Thuế đang quản lý: Cục Thuế TP Hải Phòng

BHXH huyện An Dương được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH thuộc Phòng Tổ chức Lao động – Thương binh xã hội và Liên đoàn Lao động huyện. Ngay từ khi thành lập về tổ chức bộ máy và cơ sở vật chất ngành rất khó khăn thiếu thốn. Trình độ chính trị, trình độ chuyên môn nhiệm vụ về chính sách BHXH không đồng đều, nơi làm việc chật chội, trang bị thiếu thốn, công việc mới nên áp lực trong công tác rất lớn có lúc rất căng thẳng song BHXH huyện An Dương đã vượt lên khó khăn vất vả, đoàn kết cùng thống nhất, nhận thức là muốn thực hiện chính sách BHXH phải làm thật tốt công tác giải quyết Chính sách BHXH cho người làm việc trong các cơ quan đơn vị đã đủ điều kiện hưởng BHXH. Chính từ làm tốt công tác này một mặt đảm bảo quyền lợi cho người lao động, mặt khác tạo lập niềm tin cho người là đối tượng BHXH và làm chuyển biến về nhận thức cho người lao động đã, sắp và sẽ tham gia BHXH. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Được sự quan tâm và lãnh đạo trực tiếp của huyện uỷ, HĐND, UBND huyện: BHXH An Dương đã nhanh chóng ổn định tổ chức đi vào hoạt động hiệu quả từng công tác. Đến nay, trụ sở của BHXH huyện An Dương được xây dựng tương đối khang trang, các bộ phận chức năng được sắp xếp theo một hệ thống hợp lý. Các bộ phận đều được trang bị máy tính phục vụ cho công việc được nhanh chóng và đạt hiệu quả cao, mỗi cán bộ được trang bị một máy tính riêng và máy in, phần mềm phục vụ cho công việc tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lưu trữ hồ sơ, cho việc chi trả cho các chế độ…

So với những ngày đầu mới thành lập thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chính trị của đội ngũ cán bộ của của đơn vị được nâng lên rõ rệt để bắt kịp với xu hướng phát triển chung của xã hội. Công tác tổ chức cán bộ, đào tạo bồi dưỡng là một trong những yếu tố quyết định đối với việc tổ chức và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà cấp trên giao.

2.1.2. Điều kiện tự nhiên huyện An Dương

An Dương là huyện ngoại thành phía Tây của TP Hải Phòng, được tách ra từ huyện An Hải cũ vào năm 2011 . Bắc và Tây Bắc giáp thành phố Hải Dương. Tây Nam giáp huyện An Lão, phía Nam giáp Quận Kiến An. Đông Bắc giáp huyện Thủy Nguyên, ranh giới là sông Hàn, thượng nguồn sông Cấm. Đông Nam giáp Quận Hồng Bàng và Quận Lê Chân.

  • Diện tích: 9,764 ha.
  • Dân số: khoảng 172.922 nhân khẩu (năm 2024).
  • Huyện lỵ: thị trấn An Dương.

Bao gồm thị trấn An Dương và 15 xã là: Đại Bản, Lê Thiện, An Hồng, An Hưng, An Hoà, Tân Tiến, Bắc Sơn, Nam Sơn, Hồng Phong, Lê Lợi, Quốc Tuấn, Đặng Cương, An Đồng, Đồng Thái, Hồng Thái.

Vùng đất An Dương ngày xưa thuộc phủ Kiến Thuỵ, trấn Hải Dương, gồm các xã An Biên, Dư Hàng, An Dương, Trực Cát, Thượng Lý, thôn Trực Cắt… Ngày 11/9/1887, An Dương là một trong ba huyện của thành phố Hải Phòng do Pháp đặt ra đó là: Nghi Dương, An Lão và An Dương lúc này có diện tích 11.245 ha.

Giao thông khá thuận lợi. Huyện An Dương nằm kẹp giữa các con sông lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Phía Bắc có sông Kinh Môn, phía Tây có sông Lạch Tray và phía Đông có sông Cấm. Tuyến quốc lộ 5 từ Hải Phòng đến Hải Phòng đi qua địa bàn của huyện. Quốc lộ 10 từ Thái Bình qua địa bàn của huyện lên tới Quảng Ninh. Ngoài ra còn có các tuyến thành phố lộ 188 và 351 đi qua trung tâm huyện lỵ. Từ đó có thể thấy tình hình giao thông trên địa bàn huyện khá thuận lợi.

2.1.3. Tài nguyên và nguồn nhân lực Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Huyện An Dương với dân số khoảng 170 ngàn dân, Huyện An Dương có 16 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị trấn An Dương và 15 xã: An Đồng, An Hòa, An Hồng, An Hưng, Bắc Sơn, Đại Bản, Đặng Cương, Đồng Thái, Hồng Phong, Hồng Thái, Lê Lợi, Lê Thiện, Nam Sơn, Quốc Tuấn, Tân Tiến. Với dân số thuộc dạng đông đúc tại thành phố Hải Phòng huyện An Dương có lợi thế về nguồn nhân lực trả và dồi dào. Chính những lý do huyện An Dương có nhiều lợi thế phát triển kinh tế tư nhân.

2.1.4. Cơ sở hạ tầng

Huyện An Dương nằm kẹp giữa các con sông lớn trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Phía Bắc có sông Kinh Môn, phía Tây có sông Lạch Tray và phía Đông có sông Cấm. Tuyến quốc lộ 5 từ Hải Phòng đến Hà Nội đi qua địa bàn của huyện. Quốc lộ 10 từ Thái Bình qua địa bàn của huyện lên tới Quảng Ninh. Ngoài ra còn có các tuyến thành phố lộ188 và 351 đi qua trung tâm huyện lỵ. Từ đó có thể thấy tình hình giao thông trên địa bàn huyện khá thuận lợi.

Trên địa bàn huyện An Dương có hai khu công nghiệp lớn là KCN Tràng Duệ và khu công nghiệp Nomura với hơn 100 doanh nghiệp FDI đóng trên hai khu công nghiệp lớn này. Với cơ sở hạ tầng giao thông thuận lợi: đường quốc lộ 5A, cận kề cao tốc 5B, quốc lộ 10 ngoài ra còn có các đường liên thành phố đi qua. Có thể thấy huyện An Dương có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới.

2.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Luận văn sử dụng phương pháo nghiên cứu chủ yếu: Điều tra khảo sát những người lao động, người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời gian khảo sát để điều tra thực trạng tham gia BHXH tại huyện An Dương.

Ngoài ra luận văn cũng sử dụng các phương pháp: phân tích, thống kê, so sánh đối chiếu và mô hình hóa, sơ đồ hóa các đối tượng được thu thập số liệu từ các báo cáo của công tác BHXH tại huyện An Dương giai đoạn 2021-2025 cũng như những số liệu được điều tra, khảo sát trong thời gian tiến hành khảo sát.

Hiện ở An Dương tính đến năm 2025 có hơn 973 đơn vị doanh nghiệp ngoài quôc doanh có đăng ký kinh doanh hoạt động và có sử dụng lao động. Do điều kiện không thể nghiên cứu hết hoạt động Bảo hiểm xã hội của tất cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện. Vì vậy, tôi tiến hành chọn điểm nghiên cứu tình hình hoạt động Bảo hiểm xã hội đối với 100 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên phạm vi huyện An Dương để nghiên cứu

Thu thập thông tin (số liệu, tài liệu) thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, báo, tạp chí, báo cáo tổng kết ngành, niên giám thống kê và trên mạng Internet, bao gồm thông tin thứ cấp và thông tin sơ cấp. Thu thập thông tin tốt sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về lý luận và thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý và phân tích thông tin, từ đó đưa ra đánh giá chính xác về thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đề ra các giải pháp xác thực giúp cho việc hoàn thiện công việc nghiên cứu của mình và cơ sở.

  • Thông tin thứ cấp

Là những thông tin đã có sẵn, được các cơ quan, đơn vị tổng hợp từ trước và và được công bố. Trong đề tài thông tin thứ cấp bao gồm các thông tin về số doanh nghiệp, số lao động, số doanh nghiệp, số người lao động tham gia BHXH, số thu BHXH trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn 2021-2025. Thông qua các sách, tạp chí, niên giám Thống kê, các báo cáo tổng kết của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, các sở, ban ngành, Internets…

  • Thông tin sơ cấp

Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập qua các cuộc điều tra, khảo sát, phỏng vấn đối tượng nghiên cứu, lãnh đạo BHXH huyện An Dương, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và người lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng trên địa bàn huyện An Dương. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Bảng 2.1: Số mẫu điều tra doanh nghiệp (người sử dụng lao động)

Điều tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Chọn một số loại hình doanh nghiệp ở các địa bàn khác nhau để tiến hành khảo sát lấy ý kiến về nhu cầu tham gia BHXH của các doanh nghiệp.

Điều tra người lao động: Mỗi doanh nghiệp chọn mẫu lấy ý kiến của người lao động xem nhận biết của họ về BHXH như thế nào và nguyện vọng tham gia BHXH.

Thông tin thu thập được giúp chúng ta thấy được thực trạng của vấn đề nghiên cứu tình hình thực hiện Bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng trên địa bàn huyện An Dương) tìm ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại.

Bảng 2.2: Số mẫu điều tra người lao động

Thông tin thu thập được giúp chúng ta thấy được thực trạng người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhận thức về Bảo hiểm xã hội như thế nào, mức lương hưởng thực tế và mức lương đóng bảo hiểm xã hội ra sao, nguyện vọng và trách nhiệm của họ trong việc thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội.

Bảng 2.3: Số mẫu điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin (lãnh đạo)

Thông tin thu thập được giúp chúng ta thấy được thực trạng của công tác tổ chức triển khai thực hiện Luật BHXH của các cấp, các ngành.

Số liệu, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, khảo sát thường là số liệu tổng hợp chưa đồng nhất, vì vậy cần phải xử lý trước khi phân tích, đánh giá.

Thông tin thứ cấp: được xắp xếp theo từng nội dung nghiên cứu và phân thành 3 nhóm: Những tài liệu về lý luận; Những tài liệu tổng quan về cơ sở thực tiễn; Những tài liệu tổng kết, kết quả nghiên cứu thực tiễn qua đó chọn lọc, khảo sát, kế thừa.

Thông tin sơ cấp: Thông tin thu được trong quá trình điều tra, phỏng vấn được làm sạch xử lý bằng phần mềm Excel.

Sử dụng số liệu thống kê và kết quả điều tra để mô tả, đánh giá thực trạng hoạt động các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Thống kê so sánh là phương pháp tính toán các chỉ tiêu theo các tiêu chí khác nhau sau đó đem kết quả so sánh với nhau, so sánh với các chỉ tiêu đã định: So sánh với kế hoạch, so sánh theo thời gian, so sánh theo không gian, so sánh các điểm nghiên cứu khác nhau trong cùng một vấn đề. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Trong đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp thống kê so sánh với các thông tin thu thập được trên cơ sở các số liệu điều tra các đối tượng, các nhóm doanh nghiệp. Sau đó số liệu được phân tổ so sánh với nhau để đưa ra được các nhận xét về thực trạng của hoạt động BHXH tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn nghiên cứu.

Tham vấn ý kiến của các cơ quan quản lý Nhà nước về Bảo hiểm xã hội, chuyên gia về sở hữu trí tuệ, các cá nhân có kinh nghiệm trong nghiên cứu.

Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia đóng bảo hiểm xã hội qua các năm.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh số lượng lao động tham gia BHXH tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng trên địa bàn huyện An Dương.

  • Tổng thu BHXH trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong các năm 2021-2025.
  • Tỷ lệ doanh nghiệp đóng BHXH đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh
  • Tỷ lệ người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia BHXH
  • Chi ốm đau, thai sản
  • Chi hưu trí tử tuất
  • Chi trợ cấp BHXH một lần
  • Chi tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

2.3. Chính sách Bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện An Dương thành phố Hải Phòng

2.3.1. Về chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước

Trong những năm qua thực hiện đường lối chủ trương chính sách mới của đảng và Nhà nước về kinh tế xã hội trong đó có chính sách BHXH đã có kết quả rất tốt. Điều này làm cho các thành phần kinh tế phát triển một cách nhanh chóng đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong khu vực kinh tế tư nhân. Những chủ trương chính sách đó không chỉ phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà còn có tác dụng khơi dậy, huy động và khai thác các tiềm năng to lớn về vốn, lao động, tài nguyên, chất xám, thông tin truyền thông… và các nguồn lực khác góp phần quan trọng vào giữ vững ổn định chính trị của cả nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 22/11/2021 của Bộ Chính trị nêu rõ 04 mục tiêu bao quát các lĩnh vực hoạt động BHXH, BHYT giai đoạn 2021 – 2020, đó là:

Mục tiêu thứ nhất, xác định định hướng tổng quát nhất đó là thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH, BHYT xây dựng niềm tin, tạo nền tảng vững chắc để phát triển, tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, trong đó coi trọng BHXH tự nguyện và thực hiện BHYT toàn dân. Đáng chú ý trong mục tiêu này là định hướng phát triển BHXH tự nguyện, bởi lẽ đây là đối tượng chiếm số lượng đông đảo trong xã hội, không thuộc đối tượng BHXH bắt buộc, là những người nông dân, lao động tự do, người thu nhập thấp… Xã hội ổn định, đất nước phồn vinh phải bảo đảm an sinh, chăm lo cuộc sống cho toàn bộ dân cư, nhất là đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương. Do đó, việc phát triển BHXH tự nguyện cần được quan tâm thực hiện, mặc dù có nhiều khó khăn, vấn đề là cần tìm ra giải pháp thực hiện phù hợp. Bên cạnh đó, Đảng ta nêu rõ định hướng nhất quán, khẳng định con đường chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tốt nhất trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thực hiện BHYT toàn dân.

Mục tiêu thứ hai, Nghị quyết xác định rõ các chỉ tiêu cụ thể, định hướng cho việc tổ chức thực hiện với mốc thời gian phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BHTN; trên 80% dân số tham gia BHYT. Việc đưa ra các tỷ lệ về lực lượng lao động tham gia BHXH, BHTN, BHYT với các số liệu tương ứng phấn đấu thực hiện: 50%, 35% và trên 80% thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng và Nhà nước ta, đòi hòi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội cùng đồng lòng, chung sức, nỗ lực thực hiện. Đây là một bước cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng ta về thực hiện BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân đã được chỉ ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng “Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống BHXH và an sinh xã hội. Tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân…” và “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới chính sách viện phí; tiến tới BHYT toàn dân”.

Mục tiêu thứ ba, Nghị quyết yêu cầu “Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn; quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ BHYT”. Đây là yêu cầu hết sức quan trọng, thực hiện nguyên tắc bảo đảm an toàn về độ tin cậy tài chính của Quỹ BHXH, BHYT. Nguồn Quỹ BHXH, BHYT phải được đảm bảo và luôn trong tình trạng sẵn có để kip thời thực hiện việc chi trả trợ cấp cho các người tham gia, thụ hưởng, vì những rủi ro, nguy cơ trong cuộc sống, về sức khỏe luôn trong tình trạng thường trực, có thể đến với bất kỳ ai, vào bất cứ lúc nào. Điều đó có nghĩa nguồn tài chính phải được đảm bảo một cách chắc chắn, là nhân tố quan trọng giữ gìn ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. BHXH, BHYT là quỹ xã hội, nguồn dự phòng phục vụ mục tiêu An sinh xã hội, do đó việc quản lý, sử dụng phải luôn đặt mục tiêu an toàn, đảm bảo cân đối lâu dài, vững chắc, là chỗ dựa tin cậy của Nhà nước và mọi tầng lớp cán bộ, nhân dân.

Mục tiêu thứ tư: Đảng ta nêu rõ định hướng “Xây dựng hệ thống BHXH, BHYT hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Mục tiêu đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Ngành BHXH trước nhiệm vụ ngày càng cao của giai đoạn mới. Những yêu cầu về tính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao trong giai đoạn mới là kim chỉ nam định hướng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức BHXH phải nỗ lực vươn lên về mọi mặt, cả về học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong và ý thức tổ chức, kỷ luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ, xứng đáng là “công bộc” của nhân dân.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ X Đảng bộ tỉnh đều khẳng định phấn đấu đến năm 2020 đạt tỷ lệ 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Ngày 10/3/2022, Tỉnh ủy cũng đã ban hành Chỉ thị 23-CT/TU về thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2021-2020. Nội dung chỉ thị đã khẳng định: “Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị. Giáo dục nâng cao nhận thức và phổ biến kịp thời các chính sách, chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ vai trò, ý nghĩa của BHXH, BHYT trong hệ thống an sinh xã hội, quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH, BHYT. Phát hiện, biểu dương và khen thưởng kịp thời các địa phương, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT; đồng thời phê bình, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm”.

2.3.2. Sự chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến người lao động thuộc các thành phần kinh tế, hoạch định những chính sách xã hội trong đó có chính sách về BHXH cho mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Chính sách BHXH đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ngoài công lập được Đảng đề ra ngày từ năm 1991 trong Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII “Đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều đóng góp vào quỹ BHXH. Từng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức khỏi ngân sách nhà nước và hình thành quỹ BHXH chung cho mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế”. Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế” và phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước định hướng, hỗ trợ, dẫn dắt và bảo hộ sự phát triển của kinh tế tư nhân trong mối quan hệ bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, điều tiết và quản lý sự phát triển nó bằng chính sách pháp luật. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa họ trên cơ sở pháp luật và tinh thần tương thân tương ái và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt Nam.

Quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng tại Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) đã nhấn mạnh: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. Nhà nước định hướng, hỗ trợ, dẫn dắt và bảo hộ sự phát triển của kinh tế tư nhân trong mối quan hệ bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, điều tiết và quản lý sự phát triển bằng chính sách và phát luật.

Ngày 26/05/1997, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) có Chỉ thị số 15/CT-TƯ về “Tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH” trong đó nhấn mạnh việc tập trung chỉ đạo, phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng ở các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong việc thực hiện các chế độ BHXH cho người lao động.

2.3.3. Sự chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội thành phố, huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Để thực hiện Chỉ thị số 06/CT-UBND thành phố Hải Phòng về việc tăng cường thực hiện chính sách BHXH và BHYT Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là hai chính sách quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, chỉ đạo thực hiện qua nhiều Nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật. Nhiều chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân trong đảm bảo an sinh xã hội.

Công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố thời gian qua đã được các cấp, các ngành nghiêm túc triển khai thực hiện và đạt nhiều kết quả quan trọng, số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tăng nhanh qua các năm; lượng người nghỉ hưu từng bước được cải thiện, bảo hiểm thất nghiệp tích cực hỗ trợ người lao động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm; chất lượng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế được cải thiện, chi phí người dân tự trả trong chăm sóc sức khỏe được giảm dần.

Tuy nhiên, công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố còn một số hạn chế như: số người tham gia bảo hiểm còn thấp, mới chỉ có khoảng 24,41% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, khoảng 70% dân số tham gia bảo hiểm y tế; tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội còn diễn ra ở nhiều doanh nghiệp; thủ tục tham gia, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn phức tạp, rườm rà; thái độ phục vụ của một số cán bộ y tế và thủ tục hành chính trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế còn gây bức xúc cho người bệnh; năng lực và trách nhiệm của một số cán bộ giám định bảo hiểm y tế còn yếu; sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế chưa được nhịp nhàng.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật cũng như khắc phục những hạn chế và triển khai thực hiện tốt các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và tiến tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân; thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 02/4/2024 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế” (gửi kèm theo), Ủy ban nhân dân thành phố yêu cầu:

  1. Các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế – xã hội, cơ quan, doanh nghiệp:

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2021 của Bộ Chính trị về “ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tế giai đoạn 2021-2020”; phấn đấu đạt mục tiêu hết năm 2024 số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 27% lực lượng lao động xã hội của thành phố, số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 75% dân số thành phố. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

  1. Sở Y tế:

Chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, Ủy ban nhân dân các quận, huyện triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế; phối hợp với Bảo hiểm xã hội thành phố hàng năm tham mưu giao chỉ tiêu phát triển bảo hiểm y tế cho các địa phương;

Tổ chức tốt việc khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, đảm bảo cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng và thuận tiện, đáp ứng yêu cầu và quyền lợi khám, chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế, nhất là y tế tuyến cơ sở;

Tăng cường và thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế; ngăn ngừa và xử lý nghiêm các biểu hiện lạm dụng, trục lợi quỹ bảo hiểm y tế;

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa các cơ sở y tế với cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ quan quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn thành phố. Phấn đấu trong năm 2024 cơ bản hoàn thành kết nối dữ liệu giữa các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ quan quản lý nhà nước về y tế trên phạm vi từ tuyến thành phố đến tuyến quận, huyện, xã, phường phục vụ thanh toán bảo hiểm y tế nhanh, chính xác, không thất thoát.

Phối hợp với Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Bảo hiểm xã hội thành phố xây dựng giá dịch vụ y tế theo lộ trình quy định về tính đúng, tính đủ và đổi mới phương thức thanh toán bảo hiểm y tế.

  1. Sở Lao động Thương binh và Xã hội:

Chủ trì, phối hợp với Bảo hiểm xã hội thành phố, các ban, ngành và các địa phương xây dựng kế hoạch, triển khai hiệu quả các giải pháp làm tăng thêm nhanh số người tham gia bảo hiểm xã hội;

Phối hợp với Sở Tư pháp, Bảo hiểm xã hội thành phố tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội nhằm nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, người sử dụng lao động và các cơ quan, tổ chức; trong đó tập trung tuyên truyền về quyền và trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động, người sử dụng lao động;

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa người lao động, các cơ quan, doanh nghiệp, cơ quan Bảo hiểm xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước và minh bạch thông tin về quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trên phạm vi toàn thành phố.

  1. Bảo hiểm xã hội Hải Phòng:

Chủ trì, phối hợp với các ban, ngành liên quan và các địa phương tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho tất cả các nhóm đối tượng;

Chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các quận, huyện phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Phòng Y tế tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; kiểm tra, rà soát hồ sơ giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý và kiến nghị xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi trục lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;

Đẩy mạnh cải cách, đơn giản thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ và tạo thuận lợi cho các bên tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; nâng cao năng lực, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Bảo hiểm xã hội; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa hệ thống quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Trong năm 2024, tập trung triển khai giao dịch điện tử, tiến tới không sử dụng phương pháp giao dịch bằng hồ sơ giấy trong việc thực hiện thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp về đề nghị cấp sổ bảo hiểm xã hội, cấp thẻ bảo hiểm y tế; phối hợp với Sở Y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế;

Quản lý tốt đối tượng đóng và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tăng cường đôn đốc thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; đảm bảo quản lý, sử dụng các quỹ hiệu quả, an toàn theo quy định của pháp luật.

  1. Ủy ban nhân dân các quận, huyện:

Xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại địa phương, coi chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là một chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;

Huy động mọi nguồn lực để hỗ trợ cho người dân tham gia bảo hiểm y tế; vận động học sinh, sinh viên, hộ gia đình có mức sống trung bình mua bảo hiểm y tế, góp phần tăng tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế;

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật, nhất là hành vi trốn đóng, nợ đọng và gian lận, trục lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; tổ chức kiểm tra và triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách trên địa bàn;

Chỉ đạo các cơ sở y tế trên địa bàn triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, đảm bảo sự hài lòng của người bệnh; triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối dữ liệu trong quản lý bảo hiểm y tế và khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo hướng dẫn của Sở Y tế và Bảo hiểm xã hội thành phố.

  1. Các Sở, ngành và các cơ quan liên quan:
  • a) Sở Tài chính: Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Bố trí đầy đủ, kịp thời kinh phí đóng bảo hiểm y tế và hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho các nhóm đối tượng theo quy định của Nhà nước; phối hợp với các ngành liên quan thanh tra, kiểm tra việc thu, quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế;

Phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội thành phố xem xét, đề xuất hỗ trợ 30% mức đóng bảo hiểm y tế còn lại cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo từ năm 2025.

  • b) Sở Thông tin và Truyền thông:

Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến sâu rộng và dành thời lượng phù hợp để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nhất là đối tượng thuộc diện tham gia.

  • c) Công an thành phố, Bộ Chỉ huy quân sự thành phố:

Chỉ đạo, tổ chức việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho quân nhân lực lượng vũ trang theo quy định; chế độ bảo hiểm y tế cho thân nhân lực lượng vũ trang, đảm bảo đạt tỷ lệ bao phủ 100%.

  • Sở Giáo dục và Đào tạo:

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội thành phố và các ngành xây dựng kế hoạch phát triển bảo hiểm y tế tại mỗi cơ sở giáo dục, đào tạo và tổ chức thực hiện các giải pháp mở rộng bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên, phấn đấu đạt tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế 100%.

  • Sở Kế hoạch và Đầu tư:

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các ban, ngành liên quan đưa tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế vào vào hệ thống chỉ tiêu, kế hoạch kinh tế – xã hội của thành phố.

  • Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức đoàn thể:

Tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; chủ động tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phù hợp với bản thân và gia đình.

  • h) Đề nghị Liên đoàn Lao động thành phố: Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Chỉ đạo các Công đoàn ngành, Liên đoàn Lao động các quận, huyện nêu cao vai trò bảo vệ quyền lợi của người lao động; tăng cường giám sát, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đề nghị các cơ quan chức năng xử lý theo quy định; thường xuyên với Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội thành phố trong công tác kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

  • Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Hải Phòng, Liên minh Hợp tác xã và Doanh nghiệp thành phố:

Phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội thành phố tuyên truyền, vận động chủ sử dụng lao động nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

  1. Tổ chức thực hiện:

Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, tổ chức đoàn thể thành phố và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện chỉ đạo, triển khai nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị này;

Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội thành phố theo chức năng, nhiệm vụ chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, định kỳ tổng hợp tình hình thực hiện Chỉ thị, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố.

2.3.4. Những chế tài thực hiện

Chủ trường, đường lối của Đảng và Nhà nước đối với các chủ trường, chính sách trong đó có BHXH chủ yếu bằng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người lao động, người sử dụng lao động và mối quan hệ với các cơ quan chức năng trong đó có cơ quan BHXH, cụ thể là:

Ngày 23/06/1994 Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ V đã thông qua Bộ Luật lao động trong đó quy định cụ thể: Loại hình tham gia BHXH đối với các doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên, ở những doanh nghiệp đó người sử dụng lao động phải đóng 15% và người lao động đóng 5%. Đối với các doanh nghiệp có dưới 10 lao động hoặc có hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động dưới 3 tháng, thì các khoản BHXH được tính vào tiền lương, do người sử dụng lao động trả để người lao động tham gia BHXH tự nguyện hoặc lo liệu về bảo hiểm. Đồng thời Bộ Luật này cũng xác định, Chính phủ sẽ ban hành điều lệ Bảo hiểm xã hội và thành lập hệ thống tổ chức BHXH. Đến ngày 26/01/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/CP quy định “Người lao động làm việc trong các khu vực kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng phải áp dụng các chế độ BHXH theo quy định. Việc tổ chức thu BHXH do BHXH Việt Nam thực hiện, để cụ thể hoá Nghị định số 12/CP, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 06/LĐTBXH-TT hướng dẫn thi hành một số điều để thực hiện điều lệ Bảo hiểm xã hội, trong đó quy định: Các đơn vị ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

Ngày 29/06/2015 Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2015/QH11 quy định cụ thể các doanh nghiệp, xí nghiệp, tổ chức, cơ quan và các tổ chức khác kể cả các doanh nghiệp có sử dụng dưới 10 lao động, hợp tác xã có sử dụng lao động đều thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Sau đó Chính phủ cũng ban hành Nghị định 152/2015/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH. Ngày 30/01/2016 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành Thông tư số 03/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Nghị định số 152/2015/NĐ-CP.

2.3.5. Tổ chức thực hiện Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Với các văn bản quy phạm pháp luật như trên đã tạo hành lanh pháp lý tốt cho BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện. Trong những năm qua hệ thống BHXH Việt Nam đã tiếp thu, xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện BHXH cho người lao động đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, từng bước đưa ra được những giải pháp cụ thể chỉ đạo BHXH các thành phố triển khai theo đúng tinh thần Nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra.

Tổ chức triển khai: Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong đó có sự phát triển nhanh của khu vực kinh tế tư nhân, BHXH Việt Nam đã tổ chức hội thảo về thực hiện BHXH đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 03/1998 với sự tham gia của Công ty Bảo Việt, Cục Thuế và một số doanh nghiệp lớn thực hiện tốt công tác BHXH. đây là tiền đề cho Hội nghị toàn quốc ngành BHXH vào ngày 02/06/1998 để triển khai thực hiện BHXH đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cũng trong thời gian đó BHXH huyện chủ động tham mưu cho thành phố uỷ, HĐND, UBND thành phố ban hành các văn bản chỉ đạo và tổ chức các hội nghị phổ biến, triển khai thực hiện. Bảo hiểm xã hội thành phố đã phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Liên đoàn lao động tỉnh, Đài phát thanh và truyền hình Hải Phòng cùng với các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn Thành phố để tuyên truyền vận động, điều tra, khảo sát, hướng dẫn, kiểm tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong việc thực hiện BHXH cho người lao động. Bảo hiểm xã hội thành phố Hải Phòng là một trong những thành phố trực thuộc trung ương thực hiện tốt công tác này.

Chỉ đạo về văn bản: Ngày 05/04/1999 Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đã có công văn số 348/BHXH-QLT gửi UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo thực hiện chế độ BHXH khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cũng trong ngày Tổng Giám đốc ban hành Chỉ thị số 349/BHXH-QLT chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố về việc tăng cường thực hiện chế độ BHXH cho người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đến ngày 28/06/1998 BHXH Việt Nam đã có công văn số 724/BHXH-QLT chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ đối với BHXH tỉnh, thành phố triển khai công tác thu BHXH bắt buộc đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Ngày 03/11/2000 BHXH Việt Nam đã có công văn số 2231/BHXH-CĐCS hướng dẫn thực hiện chế độ BHXH đối với lao động làm việc trong các cơ sở ngoài công lập, thuộc các ngành giáo dục, y tế, văn hoá và thể thao. Ngày 03/04/2011 BHXH Việt Nam đã có công văn số 751/BHXH-QLT chỉ đạo, hướng dẫn BHXH các tỉnh, thành phố sơ kết đánh giá tình hình thực hiện BHXH đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm tìm ra những giải pháp, những bước đi phù hợp để bảo đảm việc thực hiện chế độ chính sách BHXH đối với người lao động khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Với sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là BHXH thành phố Hải Phòng thì đến ngày 31/12/2025 tại huyện An Dương đã có số đơn vị tham gia BHXH cho người lao động tăng theo từng năm, mức độ tăng khá đồng đều. Cụ thể, năm 2021 có 453 đơn vị tham gia BHXH (tăng 31 đơn vị so với năm 2021 tương ứng tăng 7,35% và năm 2022 đã tăng lên 480 đơn vị tăng 5,96 % so với cùng kỳ), năm 2024 đã tăng so với năm 2023 là 63 đơn vị. Tuy nhiên, năm 2025 tình hình kinh tế cũng như những bất ổn, một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nhưng không vì thế mà số người tham gia BHXH vì vậy mà giảm đi. Có thể thấy số lượng người lao động tham gia BHXH có sự gia tăng qua 5 năm và tăng khá đồng đều qua từng năm. Từ 35.397 người vào năm 2021 thì sang đến năm 2025 đã tăng thêm 14.183 người, gấp 1,4 lần.

2.3.6. Tác động của các ngành, các cấp, đoàn thể

Việc tổ chức triển khai thực hiện chế độ BHXH bắt buộc cho người lao động đặc biệt đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã được các ngành các cấp ở Trung ương phối hợp chặt chẽ và thực hiện tương đối tốt. Còn ở thành phố Hải Phòng thì UBND đã ra chỉ thị số 06 CT-UBND ngày 06 tháng 6 năm 2024 chỉ đạo tăng cường thực hiện chính sách BHXH và BHYT trên địa bàn thành phố. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Qua đó, Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố đã chỉ đạo sở Lao động Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động tỉnh, Cục Thuế, Thanh tra Nhà nước tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Công an tỉnh, Việm Kiểm sát nhân dân thành phố, Đài Phát thanh và Truyền hình… và các tổ chức đoàn thể khác như: Công đoàn, đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ… phối hợp với Bảo hiểm xã hội thành phố thực hiện tuyên truyền, vận động chính sách BHXH đối với người lao động đồng thời có hình thức xử phạt đối với các đơn vị không tham gia BHXH cho người lao động. Bảo hiểm xã hội thành phố thường xuyên báo cáo tình hình, kịp thời phản ánh những tồn tại, kiến nghị các biện pháp giải quyết để tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố và các cơ quan hữu quan để chính sách BHXH đưa vào cuộc sống một cách nhanh nhất.

2.4. Phân tích thực trạng hoạt động Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng

2.4.1. Phân tích doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng

An Dương là một trong những huyện có tốc độ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Trong đó khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh được cho là lực lượng kinh tế mũi nhọn. Với khối lượng doanh nghiệp FDI tập trung phần lớn tại 02 khu công nghiệp lớn của huyện là KCN Nomura và KCN Tràng Duệ.

Bảng 2.4: Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương tham gia BHXH

Trong giai đoạn 2021-2025 số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh nghiệp tham gia BHXH trong tổng số loại hình hình doanh nghiệp có sự gia tăng rất nhanh qua các năm, do số lượng doanh nghiệp nhà nước và khối doanh nghiệp HCSN trên địa bàn huyện An Dương đều không có sự thay đổi nên số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia vào BHXH là đối tượng sẽ giúp tăng nguồn thu từ BHXH trên địa bàn huyện An Dương trong thời gian tới.

Cụ thể trong giai đoạn này số lượng doanh nghiệp quốc doanh tham gia BHXH bắt buộc tăng lên từ 231 doanh nghiệp năm 2021 lên đến 418 doanh nghiệp năm 2025 tương ứng tăng hơn Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Để hiểu rõ về số lượng lao động tham gia BHXH của các khối doanh nghiệp ta có thể xem qua hình dưới đây:

Hình 2.1: Tình hình tham gia BHXH của các khối doanh nghiệp trên địa bàn huyện An Dương giai đoạn 2021- 2025

Số người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia BHXH bắt buộc có xu hướng tăng nhanh và đồng đều qua các năm từ 2021 đến 2025. Năm 2021 có 3447 người được tham gia BHXH nhưng đến năm 2025 con số này đã lên tới 4529 người, tăng 31,38%. Qua đó ta có thể thấy nhận thức và sự quan tâm đến chế độ BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương, cũng như người lao động trên địa bàn huyện là rất lớn.Tuy nhiên số lượng lao động của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại tăng giảm không đồng nhất qua từng năm. Có thể là do quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện còn lỏng lẻo, một số doanh nghiệp ký kết hợp đồng lao động mang tính hình thức, không xác định thời gian, hợp đồng dưới 3 tháng, hợp đồng thời vụ để trốn đóng BHXH cho người lao động. Ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện.

Bảng 2.5: Tình hình tham gia BHXH, BHYT tự nguyện tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn 2021 – 2025

Công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT tự nguyện cũng đang được BHXH huyện An Dương triển khai mạnh mẽ. Cụ thể, tình hình tham gia BHXH, BHYT tự nguyện qua các năm từ 2021 đến 2025 có xu hướng tăng khá đồng đều. Tuy nhiên năm 2025 do nền kinh tế bất ổn các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã phải giảm số lượng lớn lao động chính vì vậy mà mà đã ảnh hưởng đến kết quả tham gia BHXH, BHYT. Đặc biệt thu nhập của người lao động có phần giảm sút, nên nhu cầu tham gia các loại hình BHXH, BHYT tự nguyện cũng bị giảm sút theo.

Số người tham gia BHXH, BHYT trong những năm 2021 đến 2025 trên địa bàn huyện An Dương tăng khá đồng đều qua từng năm. Tuy năm 2025 số người tham gia BHXH có xu hướng tăng lên cao nhất trong giai đoạn này khi tổng số người tham gia BHXH và BHYT đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh lên đến hơn 10% so với năm 2024. Tuy nhiên số lao động tham giai BHXH, BHYT trong năm 2021-2023 có tăng nhưng mức tăng không nhiều chỉ khoảng 0,06% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên trong giai đoạn 2023-2025 mức tăng đã lên cao từ 20,91% năm 2024 và tăng 13,1% so với năm 2025. BHXH huyện An Dương đang không ngừng phát triển và được sự quan tâm của toàn thể các ban ngành, đoàn thể cũng như các đơn vị SDLĐ và NLĐ trên địa bàn huyện.

2.4.2. Phân tích thực trạng về thu, chi Bảo hiểm xã hội doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên huyện An Dương thành phố Hải Phòng

BHXH huyện thường xuyên kiểm tra kiện toàn các ban đại diện chi trả, tổ chức ký lại đồng với các đại diện chi trả 16 xã, thị trấn qua từng năm.

Mở đầy đủ kịp thời sổ sách kế toán theo luật BHXH, BHYT thực hiện đầy đủ phần mềm kế toán. Qua các năm đã duy trì chi trả thường xuyên sớm vào mồng 5 hoặc mồng 6 hàng tháng. Thực hiện chi trả trực tiếp, tận tay người hưởng, đảm bảo chính xác, không có sai xót nào xảy ra, kết hợp kiểm tra chi trả các tổ. Đảm bảo thời gian chi trả hàng tháng của các xã, thị trấn từ đến 5 ngày là xong. Thực hiện thanh toán kịp thời các chế độ BHXH ngắn hạn cho người lao động như chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, chế độ khám chữa bệnh BHYT. Thực hiện tốt chế độ báo cáo thanh quyết toán tháng, quý, năm đầy đủ đúng theo quy định của thành phố, chấp hành đúng pháp lệnh thống kê kế toán, đảm bảo không có tình trạng xuất toán.

Bảng 2.6: Kết quả thu, chi BHXH đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương giai đoạn 2021 – 2025 Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch thu cũng như chi trả BHXH đã được BHXH huyện An Dương làm rất tốt. Qua đây có thể thấy BHXH huyện An Dương đã giải quyết chế độ, chi trả chế độ đúng, đủ, kịp thời, thuận lợi và an toàn. Kết quả kế hoạch thu, chi BHXH đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên đia bàn huyện An Dương giai đoạn này được thể hiện thông qua biểu đồ sau: Nhìn vào biểu đồ hình 2.2 có thể thấy tình hình thu- chi BHXH trên địa bàn huyện An Dương còn một số điểm cần lưu ý. Cụ thể số thu BHXH luôn lớn số chi BHXH đây là dấu hiệu tốt cho thấy quỹ BHXH được sử dụng tốt, luôn khoản thu dự phòng đảm bảo khoản vượt chi BHXH. Đảm bảo chi nhanh, chi đúng chế độ tận tay người hưởng BHXH, an toàn tuyệt đối. Duyệt và đề nghị cấp sổ BHXH kịp thời cho người lao động tham gia đóng BHXH. Kết hợp ngành Y tế thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý chế độ quyền lợi cho đối tượng. Thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các quy định của huyện đề ra. Thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết chế độ chính sách. Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý và thực hiện.

Hình 2.2: Tình hình thu – chi BHXH đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn 2021-2025

Nhìn vào bảng bên dưới có thể thấy trong năm qua BHXH huyện An Dương đều hoàn thành vượt mức kế hoạch thu BHXH trong giai đoạn này cụ thể năm 2021 kế hoạch thu BHXH đạt 107,93% đến năm 2025 thì kế hoạch thu BHXH đạt tỷ lệ 100,64%.

Bảng 2.7: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH giai đoạn 2021 – 2025

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch thu BHXH đã được BHXH huyện An Dương làm rất tốt.

Năm 2021 tổng thu BHXH đạt 107,93% kế hoạch tăng 151,58% so với cùng kỳ, về trước thì gian 20 ngày. So với chỉ tiêu hội nghị cán bộ viên chức đề ra vựt 6,5% và trước 15 ngày. Năm 2022 số thu đạt 101,8% kế hoạch tăng so với cùng kỳ là 131,14%, về trước thời gian 5 ngày. Năm 2023 số thu đạt 104,51% kế hoạch tăng 30,24% so với cùng kỳ, về trước thời gian 10 ngày. Năm 2024 tổng thu đã lên đến 705.592.448.200 đồng tăng liên tiếp 4 năm liền.Tuy nhiên, năm 2025 tình hình kinh tế cũng như những bất ổn, một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh chính vì thế mà số thu của BHXH giảm sút theo xuống nhưng không đáng kể, chứng tỏ sự quan tâm đối với BHXH là rất nhiều. Có được kết quả này là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của các cấp ban ngành cũng như sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban giám đốc BHXH thành phố, thường trực huyện ủy, lãnh đạo UBND huyện, đóng góp không nhỏ của các phòng nghiệp vụ BHXH hành phố, sự kết hợp giúp đỡ của các Phòng, Ban, Ngành trong huyện cùng sự đồng nhất của các tổ chức SDLĐ cũng như người lao động trên địa bàn.

Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có số thu thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương tham gia BHXH nhiều hơn nhiều so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài điều này là do: Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Thứ nhất: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô nhỏ và vừa là chủ yếu, số lao động trong doanh nghiệp từ vài người cho đến vài chục người tham gia.

Thứ hai: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường lách Luật bằng cách chỉ đóng bằng mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định, ít thực hiện chế độ nâng lương thường xuyên cho người lao động.

Thứ ba: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ đóng BHXH cho những người lao động làm việc lâu dài cho doanh nghiệp, lực lượng lao động chủ chốt, lao động khung trong doanh nghiệp.

Thứ tư: Còn nhiều doanh nghiệp không ký hợp đồng với người lao động, hoặc có ký thì chỉ ký hợp đồng thời vụ, hợp đồng công việc, hợp đồng thử việc, hợp đồng lao động dưới 03 tháng né tránh đóng BHXH cho người lao động. Như vậy, có thể nói người lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang tham gia BHXH vẫn còn ít, điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng lao động cũng như việc đảm bảo cuộc sống, hạn chế rủi ro trong lao động, cuộc sống của người lao động còn cao, tạo ra sự không yên tâm trong quá trình sản xuất kinh doanh của người lao động, dẫn đến sự bỏ việc, đình công, đòi tăng lương, giảm giờ làm gia tăng, gây ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế xã hội và an sinh xã hội, an ninh xã hội của thành phố.

2.4.3. Phân tích thực trạng về số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và số doanh nghiệp, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng

2.4.3.1. Phân tích thực trạng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương

Huyện An Dương giáp với thành phố Hải Phòng ở phía Tây và Tây Bắc, giáp với huyện An Lão ở phía Tây Nam, giáp với quận Kiến An ở phía Nam, huyện Thủy Nguyên ở phía Bắc, quận Hồng Bàng và quận Lê Chân ở phía Đông Nam . Với hệ thống giao thông đồng bộ, Tuyến quốc lộ 5 từ Hải Phòng đến Hải Phòng đi qua địa bàn của huyện. Quốc lộ 10 từ Thái Bình qua địa bàn của huyện lên tới Quảng Ninh. Ngoài ra còn có các tuyến thành phố lộ188 và 351 đi qua trung tâm huyện lỵ. Từ đó có thể thấy tình hình giao thông trên địa bàn huyện khá thuận lợi. Với khoảng hơn 4000 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn huyện An Dương với 02 KCN lớn nhất là KCN Nomura và KCN Tràng Duệ cùng với hàng loạt các cụm CN vừa và nhỏ đã thu hút một lượng doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động tại huyện An Dương.

Bảng 2.8: Số đơn vị ngoài quốc doanh giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn huyện An Dương

Trong giai đoạn này thì số đơn vị ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương đều có mức tăng trưởng khá tốt. Từ 743 đơn vị năm 2021 lên đến 973 đơn vị vào năm 2025 tương ứng tốc độ tăng 39,95%.

2.4.3.2. Phân tích thực trạng số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Bảng 2.9: Số đơn vị ngoài quốc doanh tham gia BHXH giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn huyện An Dương

Trong giai đoạn này thì số đơn vị ngoài quốc doanh tham BHXH tăng từ 231 đơn vị năm 2021 lên đến 418 đơn vị năm 2025, tương ứng với mức tăng 80,95% so với năm 2025. Tuy nhiên nếu xét trên tổng thể số đơn vị ngoài quốc doanh đã tham gia BHXH so với số doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay thì số đơn vị tham BHXH thuộc khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện nay mới chỉ đạt trung bình trên 30%, duy chỉ có năm 2025 thì số đơn vị tham gia BHXH trên tổng số đơn vị ngoài quốc doanh đạt 42,95%. Chính vì vậy trong thời gian tới BHXH phải quan tâm đặc biệt đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh khi mà tỷ lệ tham gia của khối doanh nghiệp này chỉ đạt trên 30% trên tổng số đơn vị trên địa bàn.

Hình 2.3: Số đơn vị ngoài quốc doanh tham gia BHXH so với tổng số đơn vị ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương giai đoạn 2021-2025

2.4.3.3. Phân tích thực trạng số lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia BHXH

Bảng 2.10: Số lao động quốc doanh tham gia BHXH giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn huyện An Dương

Số lao động tại các ngoài quốc doanh tham gia BHXH trong giai đoạn này tăng từ 3447 lao động năm 2021 lên đến 4529 lao động năm 2025. Tương ứng tốc độ tăng: 31,38% so với năm 2021. Tuy nhiên tốc độ tăng số lao động tham gia BHXH trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương còn khá hạn chế, chưa tương xứng với tốc độ tăng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham BHXH trên địa bàn huyện An Dương (đạt 80,95% so với năm 2025) trong cùng giai đoạn này.

Hình 2.4: Số lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia BHXH giai đoan 2021-2025

2.4.4. Phân tích thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp khảo sát Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Để có đủ cơ sở thực tiễn kết luận cho đề tài: Tác giả đã thực hiện khảo sát tại 100 đơn vị sử dụng lao động ngoài quốc doanh theo các loại hình ở hai KCN lớn của huyện An Dương là KCN Nomura và KCN Tràng Duệ cũng như một số doanh nghiệp nằm ngoài KCN.

2.4.4.1. Kết quả khảo sát điều tra tại 100 doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Bảng 2.11: Điều tra số lao động tham gia bảo hiểm xã hội tại 100 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương (năm 2025)

Qua kết quả điều tra thực tế còn đến gần 70% người lao động hiện làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tham gia BHXH, chưa đóng BHXH đầy đủ chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chấp hành đóng nộp BHXH nghiêm túc hơn lý do:

Thứ nhất: Một số lao động đang trong thời gian thử việc chưa tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ hai: Một số doanh nghiệp đã lách luật chỉ đóng cho người lao động làm công tác quan lý, hoặc giữ vị trí quan trọng trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh vì sợ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.

Thứ ba: Người lao động không muốn tham gia vì chưa hiểu hết mục đích, ý nghĩa của việc tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ tư: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và người lao động thoả thuận không tham gia bảo hiểm xã hội vì cả hai bên không muốn mất thêm một khoản tiền để đóng bảo hiểm xã hội.

2.4.4.2. Kết quả điều tra thu nhập và mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH

Đây là số liệu điều tra về thu nhập và mức tiền lương tại 100 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương.

Bảng 2.12. Thu nhập tiền lương tính đóng bảo hiểm xã hội tại 100 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Từ bảng trên cho thấy các chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã lạm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động để kiếm lời cụ thể là:

  • Với doanh nghiệp TNHH mỗi người lao động doanh nghiệp đã giảm tiền phải đóng BHXH là 915.000 x 16% = 146.400 đồng/người/tháng.
  • Với doanh nghiệp Cổ phần mỗi người lao động doanh nghiệp đã giảm tiền phải đóng BHXH là 945.000 x 16% = 151.200 đồng/người/tháng.
  • Với doanh nghiệp tư nhân mỗi người lao động doanh nghiệp đã giảm tiền phải đóng BHXH là 906.000 x 16% = 144.960 đồng/người/tháng.
  • Với doanh nghiệp có vốn DTNN mỗi người lao động doanh nghiệp đã giảm tiền phải đóng BHXH là 750.000 x 16% = 120.000 đồng/người/tháng.

Đây là khoản tiền thất thoát mà quỹ bảo hiểm không thu được, trong khi đó người lao động đóng mức bảo hiểm xã hội thấp sau này khi nghỉ chế độ thì được chi trả một phần trợ cấp bảo hiểm xã hội thấp hơn mà đáng lẽ họ được nhận. Qua điều tra đối với khối DN ngoài quốc doanh thì số doanh nghiệp cắt giảm nhiều nhất về BHXH của người lao động hiện nay nằm trong khối doanh nghiệp cổ phần và công ty TNHH, trong khi đó khối DN có vốn đầu tư nước ngoài là đơn vị cắt giảm ít nhất của người lao động khi số lượng cắt giảm chỉ là 750.000đ/người/tháng. Tuy nhiên đây là hiện tượng không mấy tích cực, điều đó cho thấy DN đang cắt giảm quyền lợi của người lao động về BHXH. Đây là điều cần được cải thiện trong thời gian tới nếu không muốn người lao động bị móc túi như vậy. Đồng thời tạo sự công bằng giữa những người lao động.

Cùng với điều tra về tiền lương đóng BHXH trên địa bàn huyện An Dương thì tác giả tiếp tục điều tra nhận thức của người lao động về BHXH để xem người lao động và chủ doanh nghiệp có nắm rõ nhận thức về trách nhiệm cũng như luật BHXH hiện nay hay không đối với 100 doanh nghiệp thuộc khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương, TP. Hải Phòng.

Kết quả điều tra hiểu biết nhận thức về bảo hiểm xã hội của người lao động được thể hiện ở bảng dưới đây.

Bảng số 2.13: Điều tra nhận thức của người lao động về bảo hiểm xã hội

Qua bảng điều tra trên cho thấy có 58% người lao động làm việc tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiểu biết về Luật bảo hiểm xã hội, 42% người lao động hiểu một ít về Luật bảo hiểm xã hội. Có 46% người lao động hiểu biết về trách nhiệm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho người lao động, 54% người lao động hiểu một ít về trách nhiệm của người lao động. Không có người lao động nào không hiểu biết về luật bảo hiểm xã hội và trách nhiệm của doanh nghiệp.

Như vậy, việc thông tin truyên truyền về bảo hiểm xã hội, còn hạn chế dẫn đến người lao động chưa hiểu nhiều về Luật bảo hiểm xã hội và trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như quyền lợi của người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội

2.5. Tổng hợp nhận xét chung Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Trên thực tế không phải doanh nghiệp ngoài quốc doanh nào cũng tham gia BHXH cho công nhân nên dẫn tới tình trạng người lao động đình công, bỏ việc, di chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác. Theo khảo sát hàng năm của BHXH huyện An Dương thì vẫn còn rất nhiều người lao động chưa được tham gia BHXH kể cả những doanh nghiệp đã đóng BHXH cho người lao động. Không có doanh nghiệp nhà nước nào không tham gia đóng BHXH cho người lao động. Có một vài doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa đóng BHXH cho người lao động là do các doanh nghiệp đó mới thành lập, đang trong giai đoạn san lấp mặt bằng, chưa kịp lập hồ sơ xin tham gia. Đối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài có số lao động chưa tham gia BHXH chủ yếu là lực lượng lao động có thời vụ, lao động hợp đồng đang trong thời gian thử việc và lao động ký hợp đồng dưới 3 tháng. Vấn đề mấu chốt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa tham gia hoặc đóng không đầy đủ cho người lao động chiếm một tỷ lệ lớn. Các doanh nghiệp, người lao động chưa tham gia BHXH cho người lao động là do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Có một số doanh nghiệp là công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân có quy mô rất bé, hoạt động như một “công ty gia đình” chỉ sử dụng từ 01 – 02 lao động nên họ không đóng BHXH cho người lao động.

Thứ hai: Có một số doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh, có trụ sở tại huyện An Dương nhưng không hoạt động trên địa bàn huyện.

Thứ ba: Có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh thành lập nên nhưng không hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư mà có khi chỉ để thuận lợi cho việc vay vốn ngân hàng hoặc có những mục đích khác.

Thứ tư: Phần nhiều các doanh nghiệp không hiểu nhiều về pháp luật nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vẫn cho rằng tham gia BHXH hay không là do họ tự nguyện chứ không phải bắt buộc. Bên cạnh đó một số doanh nghiệp còn bớt sén những quyền lợi của người lao động tham gia BHXH.

Thứ năm: Một số doanh nghiệp thì luôn trốn đóng BHXH cho người lao động vì chi phí nộp BHXH tính vào giá thành sản phẩm, giá thành cao không cạnh tranh được.

Thứ sáu: Phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nếu có đóng BHXH cho người lao động thì chỉ đóng cho bộ khung, cho những người lao động có thể làm việc lâu dài.

Thứ bảy: Có một số người lao động chưa hiểu rõ vai trò và lợi ích của việc tham gia BHXH nên chính những người lao động này không thích, không muốn tham gia. Người lao động chỉ biết cái lợi trước mắt là tiền công thực tế, mỗi tháng phải trích vài phần trăm từ tiền công là họ không thích. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Thứ tám: Do tình hình sản xuất kinh doanh không ổn định cũng như là những người lao động chỉ tranh thủ thời kỳ nông nhàn đi tranh thủ kiếm tiền, đến thời vụ họ lại về làm ruộng nên lao động ra vào trong một doanh nghiệp có sự dao động lớn. Các doanh nghiệp cũng vì thế mà không đóng BHXH cho những người lao động đó.

Thứ chín: Nhiều người lao động có độ tuổi từ 40 trở lên vì nếu tham gia BHXH thì cho đến khi họ 60 tuổi vẫn không đủ năm công tác để được về hưu thường xuyên nên họ cũng không muốn tham gia.

Thứ mười: Chế tài xử phạt vi phạm về BHXH còn quá nhẹ, cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực BHXH, thanh tra, kiểm tra vi phạm lực lượng quá mỏng, chưa đủ tính dăn đe. Hiện nay theo quy định tại Nghị định số 86/2019/NĐ-CP ngày 13/08/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tối đa là 30 triệu đồng. Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; UBND từ cấp huyện trở lên và Thanh tra Nhà nước.

  • Các kết quả đạt được

An Dương là một trong những huyện của thành phố có tốc độ tăng trưởng cao, là địa chỉ đầu tư hấp dẫn không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các khu công nghiệp như Nomura, Tràng Duệ… đang hoạt động khá hiệu quả và giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động. Đây là điều kiện thuận lợi để BHXH Huyện An Dương có nhiều tiềm năng khai thác đối tượng tham gia BHXH trong năm 2026 và những năm tiếp theo.

Bảo hiểm xã hội huyện An Dương đã tích cực phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê thành phố…. nắm danh sách các đơn vị mới thành lập tổ chức khảo sát, tuyên truyền, cung cấp văn bản về chế độ chính sách, hướng dẫn đơn vị lập hồ sơ tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Do đó đã khai thác thêm được nhiều đơn vị và người lao động tham gia mới qua các năm. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của thành uỷ, HĐND, UBND thành phố bằng việc ra Chỉ thị, văn bản chỉ đạo, có chương trình kế hoạch giám sát, nghe báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất của cơ quan BHXH và các ngành, được sự phối hợp của các cấp các ngành, chủ động tổ chức triển khai thực hiển của cơ quan BHXH nhất là việc cải cách thủ tục hành chính, công khai quy trình, hồ sơ, giải quyết kịp thời, chính xác, đảm bảo đúng chính sách nên Luật BHXH đã được thực hiện khá hiệu quả, đảm bảo quyền lợi của người lao động, thuận lợi cho đơn vị và cá nhân khi tham gia và hưởng chế độ BHXH, góp phần ổn định an ninh, chính trị trên địa bàn huyện An Dương.

  • a) Về thu bảo hiểm xã hội

Số thu bảo hiểm xã hội các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng dần theo hàng năm năm 2021 số thu mới chỉ đạt trên 379 tỷ đồng, năm 2025 đạt trên 697 tỷ đồng

  • b) Về chi bảo hiểm xã hội

Số chi BHXH trên địa bàn huyện An Dương năm 2021 là trên 256 tỷ đồng đến năm 2025 là chi trên 458 tỷ đồng.

  • Về số doanh nghiệp, số lao động tại doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội.

Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội tăng dần theo hàng năm, năm 2021 là 231 đơn vị những đến năm 2025 là 418 đơn vị. số lao động tham gia BHXH tại khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 4529 lao động.

  • Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân

Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật đã có xong ban hành chậm, chưa đồng bộ, một số vấn đề vướng mắc được hướng dẫn bổ sung kịp thời. Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.

Công tác tuyên tuyền tuy đã được thực hiện khá kịp thời, thường xuyên, song chủ yếu là do cơ quan BHXH làm, các đơn vị sử dụng lao động chưa thấy được trách nhiệm của mình phải tổ chức tuyên truyền chế độ đến người lao động trong đơn vị, nên người lao động không nắm được đầy đủ thông tin về chế độ chính sách BHXH do đó chưa biết tự bảo vệ và đòi hỏi quyền lợi về BHXH bị người sử dụng lao động chiếm dụng mà không biết.

Qua kết quả nghiên cứu điều tra tại 100 doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì thấy năm 2025 số lao động tham gia BHXH chỉ đạt 168 lao động, tỷ lệ tham gia BHXH tại khối doanh nghiệp này chỉ đạt trên 30% trên tổng số lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Một số không nhỏ người sử dụng lao động tuy đã nắm được chính sách, thấy rõ trách nhiệm trong việc tham gia BHXH cho người lao động nhưng vẫn không tham gia, hoặc tham gia cho số ít người làm gián tiếp, người nhà, người thân, có đơn vị chỉ tham gia khi thấy cần tham gia để hưởng quyền lợi trước mắt của một số người lao động, còn đại đa số lao động trực tiếp không được tham gia. Còn một số đơn vị sử dụng lao động và nhiều người lao động chưa hiểu đầy đủ nên còn một lượng không nhỏ đơn vị nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hợp tác xã… và người lao động chưa tham gia.

Còn có đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc chế độ đóng nộp tiền BHXH, BHYT, BHTN hàng tháng theo Luật BHXH thường chậm nộp từ hai tháng trở lên, trong đó điển hình một số doanh nghiệp nợ đọng kéo dài dẫn đến ảnh hưởng đến việc giải quyết quyền lợi cho người lao động.

Công tác thanh kiểm tra làm chưa được nhiều, chế tài xử lý vi phạm còn nhẹ, chưa có chế tài quy định trách nhiệm của đơn vị khi xin cấp phép hoạt động phải thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên về việc thực hiện chế độ BHXH cho người lao động trong đơn vị với cơ quan cấp giấy phép và cơ quan quản lý Nhà nước về lao động trên địa bàn.

2.6. Tiểu kết chương 2 và phương hướng chương 3

Chương 2 của luận văn đã cơ bản giải quyết được các vấn đề sau:

Đánh giá thực trạng BHXH chung của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn 2021-2025

Tình hình thu- chi BHXH, BHYT trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn 2021-2025

Đánh giá tình hình tham gia BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhận thức của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đến việc tham gia BHXH cho người la động trên địa bàn huyện An Dương (với 100 doanh nghiệp khảo sát và 200 người lao động được phỏng vấn về thu nhập cũng như mức chênh lệch đóng BHXH của doanh nghiệp được khảo sát) từ đó chỉ ra những tiêu cực trong tham gia BHXH cho người lao động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương.

Từ đó chỉ ra những điểm đạt được và những hạn chế trong quá trình tham gia BHXH tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn 2021-2025.

  • Phương hướng chương 3: 

Trong chương 3 của luận văn tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm Hoàn thiện công tác bảo hiểm xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng bao gồm 07 nhóm giải pháp cụ thể sau:

  • Giải pháp 1: Đổi mới phong cách phục vụ Luận văn: Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội của các DN.
  • Giải pháp 2: Nâng cao chất lượng phục vụ trong công tác chi trả, thực hiện chế độ BHXH
  • Giải pháp 3: Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, nâng cao nhận thức của người lao động và chủ sử dụng lao động về BHXH huyện An Dương
  • Giải pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát doanh nghiệp
  • Giải pháp 6: Tăng cường công tác khảo sát đôn đốc các doanh nghiệp
  • Giải pháp 7: Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan nhà nước
  • Giải pháp 8: Nâng cao hoạt động đào tạo nguồn nhân lực của BHXH huyện An Dương.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo hiểm xã hội ở các DN

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993