Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiện tượng thừa thầy thiếu thợ trong những năm qua đã được quan tâm khắc phục. Với nhiều tác động quyết liệt, Nhà nước và ngành Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề này. Một trong các giải pháp đó là tăng cường giáo dục hướng nghiệp và thực hiện phân luồng học sinh từ cấp THCS. Do đó, trong mục tiêu của giáo dục THCS có nội dung định hướng nghề nghiệp cho học sinh và thực hiện phân luồng để các em có thể học tiếp lên cấp THPT hoặc học nghề từ THCS. Muốn, ngay trong giáo dục hướng nghiệp đã phải chú ý đến định hướng phân luồng cho học sinh.

Thực hiện mục tiêu định hướng nghề nghiệp và phân luồng cho học sinh THCS, giáo dục hướng nghiệp ở THCS không chỉ giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp theo xu thế phân công lao động xã hội mà còn hướng tới việc sử dụng hợp lí tiềm năng, khả năng của học sinh, đưa các em vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp phù hợp với các em giúp các em chọn đúng hướng đi phù hợp với khả năng của chính mình. Với ý nghĩa như vậy, việc thực hiện tốt công tác giáo dục hướng nghiệp ở THCS sẽ phát huy tối đa hiệu quả của nó, đảm bảo tốt cho việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS.

Tuy đã có những yêu cầu cụ thể trong công tác hướng nghiệp và phân luồng ở cấp THCS, nhưng công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS vẫn còn nhiều hạn chế. Có nhiều nguyên nhân khiến cho giáo dục hướng nghiệp ở THCS trong thời gian qua chưa đạt được mục tiêu mong muốn. Một trong những nguyên nhân đó là quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS chưa hiệu quả do chưa nhận thức đầy đủ về các qui luật của quản lý giáo dục, của giáo dục hướng nghiệp để có những biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS phù hợp với qui luật khách quan.

Để giáo dục hướng nghiệp THCS thiết thực góp phần định hướng phân luồng cho học sinh sau tốt nghiệp THCS và phát huy ưu thế của giáo dục hướng nghiệp THCS trong nhiệm vụ này, quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS cần được định hướng cụ thể hơn bởi các phương thức phù hợp làm cho giáo dục phổ thông thực hiện đúng yêu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS theo định hướng phân luồng là một đòi hỏi cấp thiết nhằm tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động GDHN ở trường THCS, coi như là khâu đột phá nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo phục vụ nhu cầu của xã hội.

Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/ 2019 của Bộ Chính trị về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, tăng cường PLHS sau THCS và xóa mù chữ cho người lớn. Chỉ thị đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác phân luồng học sinh sau THCS là “Kiên trì thực hiện chủ trương phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, tạo chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh hợp lý cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội” và mục tiêu “đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh, triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau THCS. Trong đó đáng chú ý nhất là việc đẩy mạnh phân luồng sau THCS phải làm ngay khi học sinh còn học trong chương trình THCS chứ không phải sau khi tốt nghiệp. Các trường THCS cần định hướng tốt cho học sinh không nên để các em tự bơi trong muôn vàn hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS. Để công tác phân luồng có hiệu quả thì việc quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS là điều cần được thực hiện tốt và có hiệu quả” [7, tr.25].

Từ những lí do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, đề xuất các biện pháp quản lí giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở các trường THCS của huyện.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

  • Hoạt động giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS với việc định hướng phân luồng học sinh sau THCS.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

4. Giả thuyết khoa học

Công tác giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS ở huyện Gia Bình đã được quan tâm. Các trường cũng đã chú ý đến việc phân luồng học sinh sau THCS. Vì vậy, kết quả giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, công tác này cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập cần giải quyết. Nếu xác lập được mối liên hệ giữa giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS với yêu cầu phân luồng học sinh ở huyện Gia Bình thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý tác động đến các thành tố mục tiêu, nội dung, hình thức giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS theo định hướng phân luồng thì kết quả giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng sẽ được cải thiện.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Xác lập cơ sở lý luận của quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng cho học sinh cho các trường THCS.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS và công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS huyện Gia Bình, tình Bắc
  • Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh trung học cơ sở theo định hướng phân luồng trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

  • Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh ở các trường THCS công lập của huyện Gia Bình.
  • Các số liệu đề tài sử dụng của các trường THCS của huyện chỉ từ năm học từ 2022-2023 đến nay.

7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

  • Các phương pháp như phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài nghiên cứu.
  • Nghiên cứu các văn bản của Đảng, Nhà nước, của ngành GD&ĐT, các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp, phân luồng.

7.2. Nhóm các phương pháp thực tiễn

  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trên cơ sở thu thập thông tin của các trường THCS trong huyện, tổng kết kinh nghiệm tổ chức, quản lý về giáo dục hướng nghiệp, phân luồng của các trường THCS trong huyện. Những kinh nghiệm được tổng kết sẽ là một trong những cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lí giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh.

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Thiết kế các mẫu phiếu hỏi phù hợp để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh về hoạt động quản lý giáo dục hướng nghiệp, phân luồng ở các trường THCS trong huyện đồng thời cũng nắm bắt được tính khả thi, cần thiết của các giải pháp đưa ra. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

  • Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi với giáo viên và học sinh về cách thức quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp, phân luồng trong nhà trường, những khó khăn, vướng mắc,…

  • Phương pháp xử lí số liệu: sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu phục vụ công tác nghiên cứu.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÂN LUỒNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp. Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân. Từ năm 1918 đến 1939, N.K.Krupskaia có nhiều bài viết khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Đầu thế kỷ 20, Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đều xuất hiện cơ sở dịch vụ hướng nghiệp. Ở Nga, những thập kỉ đầu thế kỉ 20, công tác hướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở để phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước bấy giờ. Tư vấn hướng nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, trong nửa đầu thế kỉ 20, do tăng trưởng nền công nghiệp hóa, nhiều tác giả Keller và Viteles, 1937; Watts, 1966; Super, 1974 đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong những năm 1900, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910; nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở Bỉ năm 1911,1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva và London năm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả (1964) những nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa Kì và Châu Âu.

Ở Anh: mô hình DOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (giáo dục nghề nghiệp) (Mc. Cash, 2014), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức. Ông đã miêu tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng.

Các nước đều chú trọng đến giáo dục “tiền nghề nghiệp” cho học sinh ngay ở bậc học phổ thông; phân luồng học sinh sớm ngay từ lớp 9, chủ yếu 2 nhánh học nghề và lên THPT (như ở Ba Lan, Cộng hòa Pháp); ở Đức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông sớm hơn ngay ở bậc tiểu học.

Các nước Châu Á chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học cơ sở, hầu hết các nước phân luồng học sinh theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THPT, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc). Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, công nghệ, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia). Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn).

Ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò đối với sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia. Nhờ có sự đầu tư và phát triển cho nguồn nhân lực mà một số nước chỉ trong thới gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,… GD&ĐT, trong đó có phần giáo dục nghề nghiệp góp phần hết sức to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.

1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Về lĩnh vực hướng nghiệp dạy nghề phổ thông thể hiện ngay trong quan điểm giáo dục của Đảng ta, Bác Hồ đã sớm chỉ ra: Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động, lý luận đi với thực hành; cần cù đi với tiết kiệm.

Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận và quản lý. Những kết quả nghiên cứu của hai nhóm dưới sự chỉ đạo của Phạm Tất Dong và Đặng Danh Ánh đã tạo cơ sở cho chính phủ ra quyết định số 126 – CP về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh tốt nghiệp ra trường” ngày 19/06/1981.

Đề tài mã số B98-52-TĐ17 (8/2008): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thực hiện phân luồng học sinh sau THCS có tính chất vĩ mô toàn quốc” của tác giả Lê Vân Anh, học sinh sau THCS đi vào các luồng: lên THPT, vào Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), vào các trường dạy nghề dài hạn, học nghề ngắn hạn, học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX), tham gia vào thị trường lao động. Đề tài đã nêu được một số vấn đề chung về phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta [1].

Ngoài ra còn có một số tham luận trong hội nghị, hội thảo khoa học ở các địa phương và trên một số tạp chí chuyên ngành gần đây cũng đề cập đến nhiều vấn đề như: các nhân tố tác động đến phân luồng học sinh sau THCS và dự báo xu hướng phân luồng học sinh; thực trạng, dự báo, biện pháp về phổ cập và phân luồng học sinh… Nhìn chung, trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn, các bài viết đã trình bày khá thuyết phục về các biện pháp phân luồng học sinh ở một số địa phương.

Những nghiên cứu chuyên sâu về công tác hướng và quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông tiếp tục được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới góp độ giáo dục học và tâm lý học nghề nghiệp. Có thể dẫn ra một số nghiên cứu cơ bản của một số tác giả sau đây như: Phạm Tất Dong (1987, 2008), Đặng Danh Ánh (1985, 2010), Nguyễn Văn Hộ (1998), Nguyễn Bá Dương (1994), Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), Hồ Văn Thống (2019),… Các nghiên cứu này đã giải quyết tương đối có hệ thống về lý luận công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông. Một số nghiên cứu khác dưới góc độ quản lý giáo dục đã giải quyết được một số vấn đề về thực tiễn quản lý công tác này đối với khách thể là học sinh trung học và học nghề. Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lý hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta hiện nay còn ít được quan tâm nghiên cứu. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Trong những năm gần đây, công tác Hướng nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc hướng học, hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS, nhằm mục đích đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội và theo định hướng phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2019-2028. Tuy nhiên, hoạt động quản lý GDHN cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.

Theo tác giả Phạm Tất Dong, đa số thanh niên không kiếm được việc làm là do không biết nghề và nhấn mạnh: “Chú trọng hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự họ tìm ra việc làm”, đồng thời: “tiếp sau quá trình hướng nghiệp dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh. Đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản” [14].

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Đặng Danh Ánh xác định: “Cách mạng khoa học kỹ thuật đã thay đổi tận gốc lao động, và do đó thay đổi những đặc điểm và cách đào tạo con người ở trong nhà trường. Cần phải trang bị cho học sinh không chỉ kiến thức và kỹ thuật công nghệ nhất định mà còn hình thành có hiệu quả phương tiện phát triển tư duy sáng tạo kỹ thuật, tính độc lập trí óc, hình thành kỹ năng, trong thời gian tối thiểu thu được lượng thông tin tối đa và năng lực tự học”. Công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [25, tr.35]. Tác giả đã xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Công tác GDHN và phân luồng học sinh ở Việt Nam đã được một số nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục quan tâm nghiên cứu với các đề tài cụ thể như sau:

  • Tác giả Phạm Tất Dong với đề tài “Đổi mới công tác hướng nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [15].
  • “Phân luồng học sinh sau THCS THPT góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Tháp trong thời kỳ hội nhập” của tác giả Hồ Văn Thống [37].
  • “Phân luồng học sinh sau THCS – một biện pháp quan trọng nâng cao hiệu quả xã hội của phổ cập giáo dục” của tác giả Phạm Văn Khanh (dẫn theo [30]).

Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Danh Ánh như “Tư vấn nghề và phân luồng học sinh phổ thông sau trung học” (Báo cáo tại Hội thảo về Tư vấn nghề do ĐHQG Hà Nội tổ chức tháng 01/2013), “Cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hóa” (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba) hay “Dạy nghề thách thức và giải pháp” [3], “Vấn đề và hướng đi cho Giáo dục Hướng Nghiệp Việt Nam” [5] đã xây dựng luận chứng cho công tác phân luồng và quản lý phân luồng học sinh ở Việt Nam từ trước đến nay. Tuy nhiên, cho đến nay, công trình nghiên cứu về quản lý GDHN, phân luồng học sinh sau THCS ở một địa phương cụ thể hầu như chưa có.

1.2. Các khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

1.2.1. Quản lý

Quản lý là những tác động liên tục có định hướng, có kế hoạch của chủ thể (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng bị quản lí) trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định.

Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối một cách tối ưu các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất trong điều kiện biến động của môi trường.

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến người bị quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể QLGD lên các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, tài lực, vật lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Ở cấp vi mô, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể đến khách thể, đối tượng quản lý trong hoạt động giáo dục. Quản lý giáo dục là một dạng quản lý xã hội trong đó diễn ra các hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực; các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục.

Để tổ chức được một hoạt động giáo dục trong nhà trường có hiệu quả, trước hết, cần xác định rõ mục tiêu mà hoạt động đó cần đạt tới. Trên cơ sở mục tiêu đề ra, các nhà quản lý xây dựng những nội dung giáo dục phù hợp để đạt tới mục tiêu đó, đồng thời chỉ ra các cách thức thực hiện để triển khai các nội dung đã được xác định. Để đảm bảo cho quá trình triển khai đạt kết quả, cần phải chỉ nhân sự, về chương trình, tài liệu, cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính là các điều kiện tiên quyết và việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục sẽ là những yếu tố quan trọng đảm bảo cho hoạt động giáo dục đạt kết quả mong muốn. Cần nhận thức rõ giáo dục là một hoạt động có tổ chức. Vì vậy, trong quá trình triển khai, cần phải đảm bảo tất cả các khâu của chu trình quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện.

1.3. Quản lý giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS. 

1.3.1. Khái niệm hướng nghiệp

Có nhiều quan niệm khác nhau về hướng nghiệp. Sự khác nhau này là do bắt nguồn từ những góc độ chuyên môn khác nhau:

  • Các nhà giáo dục học cho rằng: “Hướng nghiệp là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan, nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích giúp cho học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, hứng thú, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu nhân lực của xã hội. Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục – học tập trong nhà trường” [14].
  • Trong tâm lý học: “hướng nghiệp được coi là hệ thống các biện pháp tâm lý – sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân. Đó là quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp. Sự sẵn sàng tâm lý đó chính là tâm thế lao động – một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạt động lao động” []. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Các nhà kinh tế thì nói: “Hướng nghiệp là những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội” [].

  • Hiểu hướng nghiệp trên bình diện xã hội:

Toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường… các cơ quan quản lý kinh tế và quản lý nhà nước, cơ quan đoàn thể chính trị và xã hội… đều cần những người có năng lực và những phẩm chất nhân cách phù hợp. Để chọn được người theo đúng tiêu chuẩn đã định, cơ quan tổ chức nói trên có nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện… công tác của cơ quan mình, giúp họ tìm hiểu những nghề nghiệp chuyên môn mà cơ quan mình cần tuyển chọn. Cuối cùng, các cơ quan, cơ sở sản xuất phải tuyển chọn người trên cơ sở nguyện vọng và dự định nghề nghiệp của người đó.

Có thể nói rằng, hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội có trách nhiệm tham gia. Trong những điều kiện lý tưởng, các em cần được hướng nghiệp liên tục và thường xuyên bằng nhiều hình thức, nhiều con đường. Nếu xã hội biết tận dụng các câu lạc bộ, nhà văn hóa, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, nhà xuất bản, thư viện, công nghệ thông tin,… vào công tác hướng nghiệp, tác dụng hướng dẫn chọn nghề đối với các em sẽ rất lớn.

Không nên để các em chọn nghề một cách tự phát, cũng không nên để việc chọn nghề nghiệp của mỗi học sinh phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên. Hướng nghiệp là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho họ phát huy được hết năng lực lao động nghề nghiệp.

Như vậy, hướng nghiệp có thể hiểu như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học,… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.

  • Hiểu hướng nghiệp trên bình diện trường phổ thông:

Trong trường phổ thông, hướng nghiệp được xem là một dạng hoạt động giáo dục. Hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên có mục đích giáo dục học sinh trong việc chon nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội. Như vậy, hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho các em chọn được nghề phù hợp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Với cách hiểu này, hướng nghiệp là nhiệm vụ của bất kỳ thành viên nào trong tập thể sư phạm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ phụ trách các đoàn thể trong nhà trường,…

Từ các khái niệm trên có thể hiểu: Hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất; hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển đồng thời lại phù hợp với hứng thú , năng lực cá nhân.

1.3.2. Quản lý giáo dục hướng nghiệp

  • Khái niệm quản lý giáo dục hướng nghiệp

Quản lý giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của quản lý giáo dục, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu hướng nghiệp cho học sinh. Quản lí giáo dục hướng nghiệp bao gồm những yếu tố cơ bản như: Chủ thể quản lý; Đối tượng quản lý; Công cụ quản lý; Phương pháp quản lý.

Chủ thế quản lí là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn lực cho công tác hướng nghiệp tại địa bàn, đơn vị đang quản lý. Trong quản lý giáo dục hướng nghiệp, chủ thể quản lý là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách hướng nghiệp của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường. Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bằng phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý giáo dục hướng nghiệp để đạt mục tiêu. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Đối tượng quản lý là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp, bao gồm các GV và cán bộ phụ trách hướng nghiệp, tập thể HS ở các trường THCS, các tổ chức, đoàn thể xã hội như Hội cha mẹ học sinh, hội Liên hiệp phụ nữ, các doanh nghiệp… Đối tượng quản lí còn bao gồm các hình thức giáo dục hướng nghiệp, ngân sách, cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục cho hướng nghiệp.

Công cụ quản lí là những phương tiện mà cán bộ quản lý hướng nghiệp sử dụng trong quá trình quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp hoạt động của các tác nhân hướng nghiệp và HS trong việc thực hiện mục tiêu công tác hướng nghiệp. Công cụ chủ yếu để quản lý giáo dục hướng nghiệp là các quy định của Nhà nước, Bộ GD&ĐT đối với công tác hướng nghiệp, là các cơ chế và chính sách cho công tác hướng nghiệp.

Phương pháp quản lí là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của cán bộ quản lý hướng nghiệp đến hệ thống bị quản lí nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Phương pháp quản lý bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lí và lựa chọn cách thức tác động của cán bộ quản lý hướng nghiệp tới đối tượng quản lý.

  • Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông

Công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông có nhiệm vụ:

  • Giáo dục thái độ lao động đúng đắn
  • Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề.
  • Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.
  • Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hóa.

Yêu cầu đối với thực hiện nhiệm vụ hướng nghiệp:

  • Tiến hành định hướng nghề cho học sinh:

Định hướng nghề là việc thông tin cho học sinh biết về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang cần nhiều lao động, về những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư, về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, tập thể và tư nhân. Nhà trường cũng cần cung cấp những thông tin nói trên cho cha mẹ học sinh nhằm mục đích phối hợp hướng nghiệp cho học sinh.

Sau việc thông tin nghề nghiệp phải tạo điều kiện cho học sinh làm quen với một số nghề, để từ đó học sinh kiểm nghiệm hứng thú năng lực bản thân, tự giác lựa chọn và đi vào một lĩnh vực nghề phù hợp nhất.

  • Tư vấn nghề đối với từng học sinh:

Công việc chủ yếu của tư vấn nghề là khảo sát đặc điểm tâm lý của từng học sinh, đối chiếu các thuộc tính cơ bản nhất như hứng thú, năng lực, hoàn cảnh gia đình… của cá nhân học sinh với đặc điểm, yêu cầu hoạt động của các nghề để xác lập mức độ phù hợp nghề trên cơ sở đó người làm tư vấn cho học sinh những lời khuyên về chọn nghề.

  • Tạo điều kiện cho tuyển chọn nghề nghiệp một cách khoa học:

Việc tuyển chọn nghề nghiệp không thuộc chức năng của nhà trường phổ thông, nhưng có liên quan với công việc định hướng nghề nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, phân luồng. Nhà trường phổ thông có nhiệm vụ tư vấn nghề nghiệp, định hướng nghề nghiệp, lưu trữ tư liệu, ví dụ qua hình thức “Sổ hướng nghiệp” để làm cứ liệu khi tuyển học sinh vào các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp hoặc trực tiếp tuyển chọn lao đông. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

  • Nội dung dạy hướng nghiệp ở THCS

Thực hiện theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo.

Bảng 1.1. Chương trình dạy hướng nghiệp ở THCS

  • Những con đường hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông
  • Hướng nghiệp cho học sinh qua hoạt động “giáo dục hướng nghiệp”.

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp là con đường chính, có tầm quan trọng đặc biệt trong hướng nghiệp cho học sinh phổ thông vì nó cung cấp cho học sinh những thông tin nghề nghiệp, hệ thống đào tạo và thị trường lao động một cách có hệ thống, có chủ đích. Đồng thời qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp, các em biết được về năng lực cá nhân, điều kiện và truyền thống gia đình để định hướng lựa chọn nghề trong thế giới nghề nghiệp, chọn hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS một cách có ý thức, có cơ sở khoa học nhằm đạt được ước mơ đích thực của mình.

Trong định hướng về phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở thì các em sẽ được tổ chức để tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp qua nhiều dạng hoạt động như:

Tìm hiểu nghề qua nhiều con đường khác nhau: qua bản mô tả nghề, nghe giới thiệu về nghề, điều tra xã hội,…

Thảo luận tìm ra cách thức giải quyết những vấn đề về chọn nghề phù hợp; về các cơ hội, con đường học tập để đạt được ước mơ của bản thân sau khi tốt nghiệp THCS; về cách thức vượt qua những khó khăn trong những giai đoạn chuyển tiếp trong học tập, tìm việc làm và ngay cả khi không đạt được ước mơ của mình.

  • Trao đổi với phụ huynh học sinh về việc định hướng nghề, phân luồng cho học sinh.
  • Giao lưu với những điển hình, những gương vượt khó trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, học tập. Giao lưu giữa các lớp, cụm trường… về chủ đề hướng nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.
  • Tham quan ngoại khóa theo các chủ đề.
  • Thực tập lao động nghề qua học nghề phổ thông.

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp sẽ được tổ chức theo chủ đề từng tháng được qui định tại chương trình với thời lượng 9 tiết/ lớp/ năm học, bình quân 1 tiết/ lớp / tháng ở bậc THCS.

  • Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các bộ môn văn hoá, khoa học cơ bản:

Trong nhà trường, các môn văn hóa, khoa học cơ bản giữ một vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển toàn diện nhân cách của học sinh. Chúng đặt nền tảng cho sự hiểu biết các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp; giúp cho việc xây dựng và phát huy những năng lực sở trường đa dạng của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống và lao động nghề nghiệp.

Môn học nào cũng cần và cũng có khả năng hướng nghiệp cho học sinh. Tuy nhiên, đây là việc làm khó khăn đòi hỏi người cán bộ quản lý trường học và người giáo viên phải có quan điểm, nhận thức đúng đắn về giáo dục hướng nghiệp, đồng thời luôn có ý thức quán triệt tinh thần hướng nghiệp trong từng bài dạy văn hóa, khoa học cơ bản.

Biết quán triệt tinh thần hướng nghiệp trong từng môn học chất lượng giảng dạy và học tập sẽ được nâng cao. Vấn đề là biết khai thác những tư liệu nói về nghề nghiệp và biết vận dụng vào nội dung bài học như thế nào.

  • Hướng nghiệp qua dạy – học môn “Công nghệ”, dạy nghề phổ thông và giáo dục lao động

Hướng nghiệp qua dạy học môn “Công nghệ”: môn “Công nghệ” là tên gọi của môn kỹ thuật trước đây, nay được dùng trong chương trình đổi mới của giáo dục phổ thông ở bậc trung học cơ sở. Chương trình môn công nghệ bao gồm kỹ thuật phục vụ, kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật công nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Qua đó cho thấy môn công nghệ có khả năng hướng nghiệp rất lớn. Mặc dù học sinh chưa thật sự đi sâu vào kỹ thuật nghề nghiệp, nhưng qua việc học kỹ thuật các ngành nghề thuộc kỹ thuật phục vụ, nông nghiệp, công nghiệp,… các em có điều kiện hiểu về những nghề thuộc các ngành này trong xã hội. Nếu đảm bảo khâu thực hành được tiến hành một cách đầy đủ nghiêm túc, học sinh sẽ được thử sức mình với hoạt động kỹ thuật cụ thể, qua đó các em sẽ phát hiện và đánh giá đúng hơn năng lực kỹ thuật của bản thân mình, hứng thú kỹ thuật được phát triển mạnh và ngày càng bền vững. Đó là điều kiện rất thuận lợi cho việc định hướng nghề nghiệp của các em.

  • Hướng nghiệp qua hoạt động dạy nghề phổ thông:

Giáo dục nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, một bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện.

Giáo dục nghề phổ thông chuẩn bị một số kỹ năng lao động có kỹ thuật cho học sinh và góp phần định hướng nghề để học sinh có thể vận dụng vào cuộc sống lao động và lựa chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh củng cố và vận dụng những hiểu biết và kỹ năng được trang bị ở môn công nghệ và các môn học khác vào những điều kiện thực tiễn cụ thể.

Giáo dục nghề phổ thông chính là một con đường để hướng nghiệp cho học sinh.

  • Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông qua hoạt động giáo dục lao động:

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các khái niệm về giáo dục lao động đều có chung những điểm sau:

Giáo dục lao động là một bộ phận cơ bản của giáo dục phổ thông xã hội chủ nghĩa và là một nội dung giáo dục toàn diện.

Giáo dục lao động không chỉ đơn thuần tổ chức cho học sinh tham gia lao động mà có nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp cho học sinh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo về lao động và giáo dục thái độ lao động. Thông qua đó, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, giúp học sinh có đủ năng lực và phẩm chất, sẵn sàng về tâm thế để tham gia vào cuộc sống lao động sau khi rời ghế nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Giáo dục lao động gắn bó hữu cơ với giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp.

  • Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khoá:

Hoạt động ngoại khóa có khả năng hướng nghiệp to lớn. Thông qua hoạt động ngoại khóa, học sinh có thể thu nhận được những thông tin về các ngành nghề, về nhu cầu nhân lực của xã hội; qua các hình thức sinh hoạt ngoại khóa, sự phát triển năng khiếu cũng như sự phân hóa năng lực sẽ diễn ra rất mạnh, đồng thời các em cũng có điều kiện thử sức mình với những ngành nghề mà các em định chọn, nhờ đó giúp cho khuynh hướng nghề nghiệp ngày càng rõ, càng chính xác.

Có nhiều hình thức hoạt động ngoại khóa về hướng nghiệp ở trong và ngoài nhà trường:

  • Xây dựng các tổ ngoại khóa, đặc biệt là các tổ ngoại khóa về kỹ thuật, nhằm phát triển hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của học sinh.
  • Xây dựng góc hoặc phòng hướng nghiệp.
  • Tổ chức cho học sinh đọc sách báo, nghe đài, xem ti vi, xem phim…, tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ giáo dục hướng nghiệp.
  • Có thể tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi hướng nghiệp giúp các em làm quen dần với hoạt động nghề nghiệp của xã hội.
  • Động viên học sinh tích cực tham gia hoạt động hướng nghiệp của các đoàn thể, của cơ sở sản xuất, các cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường tổ chức.

Các con đường hướng nghiệp nêu trên có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ lẫn nhau, vì thế khi tổ chức hoạt động GDHN trong trường học, cần phải tiến hành đồng bộ các con đường hướng nghiệp đã nêu trên.

Như vậy: Quản lý giáo dục hướng nghiệp là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến các thành tố của giáo dục hướng nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết của giáo dục hướng nghiệp trong môi trường kinh tế- xã hội luôn biến động.

1.3.3. Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

  • Ý nghĩa giáo dục

Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dục xã hội chủ nghĩa. Về phương diện này, hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội. Kinh nghiệm cho thấy, sự chọn nghề một cách tự phát của thanh, thiếu niên thường không phù hợp với hướng phát triển sản xuất và ngành nghề trong xã hội. Vì vậy, tác động giáo dục trong quá trình hướng nghiệp có ý nghĩa rất đặc biệt. Kết quả cuối cùng cần đạt là mỗi học sinh phải tự giác chọn nghề với ý thức đặt lợi ích của sự phát triển sản xuất lên trên những nguyện vọng cá nhân.

Hướng nghiệp với ý nghĩa giáo dục sẽ là một hoạt động góp phần cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông. Trong giai đoạn hiện nay, trường phổ thông phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể. Tốt nghiệp trường phổ thông, học sinh phải có năng lực tham gia một nghề ở địa phương hoặc sẽ tiếp tục học để sau này làm tốt một nghề. Như vậy, quá trình hướng nghiệp trong nhà trường không dừng lại ở sự giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp chung chung, mà phải hướng học sinh đi vào nghề nghiệp cụ thể.

  • Ý nghĩa kinh tế

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước, từ đó nâng cao năng suất lao động của xã hội. Đưa thanh, thiếu niên vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực, sở trường lao động, phát triển cao những hứng thú nghề nghiệp, làm nảy nở óc sáng tạo trong lao động là việc làm hết sức quan trọng đối với hướng nghiệp. Để đảm bảo ý nghĩa kinh tế của hướng nghiệp, trường phổ thông phải gắn mục tiêu đào tạo với những mục tiêu kinh tế – xã hội, bám sát với sự chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội: Sự phát triển kinh tế – xã hội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất. Tóm lại, hướng nghiệp là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động nghề nghiệp, phân bố lại lực lượng lao động xã hội, chuyên môn hóa tiềm năng lao động trẻ tuổi.

  • Ý nghĩa chính trị Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Nói hướng nghiệp có tác dụng góp phần làm cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông, có nghĩa là công tác hướng nghiệp có chức năng thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, hiện thực hóa đường lối giáo dục trong đời sống xã hội. Hướng nghiệp sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người lao động – yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội. Hướng nghiệp phải được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục.

Làm tốt công tác hướng nghiệp, chúng ta sẽ có những lớp người đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tóm lại, công tác hướng nghiệp có ý nghĩa đối với sự triển khai chiến lược con người – một bộ phận của chiến lược kinh tế, khoa học và công nghệ.

  • Ý nghĩa xã hội.

Hướng nghiệp có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong phân bố lực lượng dân cư. Khi xã hội gặp khó khăn trong việc tìm kiếm “công ăn việc làm” cho thanh, thiếu niên, hướng nghiệp kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác dụng làm ổn định đời sống xã hội: góp phần tạo điều kiện để xã hội sử dụng hết lực lượng học sinh phổ thông ra trường trong lĩnh vực kinh tế, kể cả kinh tế quốc doanh, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế gia đình.

1.4. Phân luồng Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

1.4.1. Phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

Phân luồng là sự phân hoá theo nhóm lớn đối với học sinh sau THCS. Đó là những nhóm HS có cùng định hướng, cùng nguyện vọng sau THCS.

Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong trường THCS, tạo điều kiện để HS sau khi tốt nghiệp THCS, tiếp tục học ở THPT, học TCCN, học trung cấp nghề, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội. Đó còn là việc lựa chọn, sắp xếp mang tính xã hội để HS sau khi tốt nghiệp tiếp tục được theo những khuynh hướng và ngành học khác nhau phù hợp với nguyện vọng, năng lực HS và nhu cầu xã hội hoặc tham gia lao động sản xuất.

Học sinh sau tốt nghiệp THCS được phân chia theo các luồng khác nhau đó là: Giáo dục phổ thông (luồng chính); GDTX, giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất (các luồng phụ).

Xu thế hiện nay cần giảm học sinh vào luồng chính đến một tỉ lệ phù hợp, tăng tỷ lệ học sinh các luồng phụ ở mức cần thiết, riêng đối với luồng lao động sản xuất phải giảm xuống càng ít càng tốt.

1.4.2. Quản lý phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

Quản lý phân luồng học sinh sau THCS là những tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cấp quản lý giáo dục vào việc tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hoạt động hướng nghiệp, cơ sở của công tác phân luồng, trong và ngoài trường THCS (với sự hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả của các lực lượng xã hội) nhằm định hướng, giúp cho học sinh sau THCS được tiếp tục học ở THPT, học TCCN, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội.

Có thể nói quản lý việc phân luồng học sinh đã được đề cập từ rất lâu nhưng thực tế việc triển khai lại chưa hiệu quả. Đây là một vấn đề lớn của xã hội, của toàn Đảng và toàn dân. Ngay sau khi có nghị quyết TƯ 2 năm 1998 về đổi mới giáo dục và đào tạo, Bộ GD&ĐT đã đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học nghề tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế.

Chỉ thị số 10 -CT/TƯ ngày 5-12-2019 của Bộ chính trị cũng nêu rõ “đến năm 2028 phấn đấu có ít nhất 30% số học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề” nhưng thực tế đến nay chỉ có 3,5% số học sinh tốt nghiệp THCS tham gia học nghề một tỷ lệ rất thấp so với mục tiêu đặt ra. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Thực tế cơ cấu thị trường lao động Việt Nam chỉ cần 13-15% người lao động có trình độ đại học, 50% người lao động có trình độ cao đẳng trung cấp , 20% sơ cấp và khoảng 17% không qua đào tạo nghề. Năm học 2024 – 2025 học sinh tốt nghiệp THCS thi lên THPT khoảng 76%, vào học tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên khoảng 7%, vào trung cấp chuyên nghiệp khoảng 3%, trung cấp nghề khoảng 5%, đi làm khoảng 9%.Vì vậy đã đến lúc chúng ta phải đẩy mạnh công tác phân luồng, không chỉ có nói không mà phải có những việc làm cụ thể, có những chính sách phù hợp (tạo ra những rào cản kỹ thuật) để việc phân luồng được thuận lợi.

1.4.3. Công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

  • Mục tiêu công tác phân luồng học sinh sau THCS

Phân luồng học sinh sau THCS là nhằm phát huy năng lực của người học tốt nhất theo khả năng, hoàn cảnh, điều kiện mà họ có được. Công tác phân luồng học sinh sau THCS sẽ định hướng và giúp cho HS có thêm thông tin, tự mình định hướng cho phù hợp với năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu xã hội để được đào tạo, trở lại phục vụ chính mình và đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH của quê hương, đất nước. Việc học lên cao là nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của mỗi học sinh đã được qui định tại Luật giáo dục. Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta nên biết tự lượng sức mình và dựa vào điều kiện cho phép để theo học tới đâu và phải theo học luồng nào cho phù hợp. Vì vậy, có thể nói rằng, được bình đẳng về cơ hội ở các luồng trong học tập nhưng thật khó bình đẳng như nhau về sức học. phân luồng học sinh sau THCS như cuộc thi marathon, mỗi cá nhân học sinh có một sức chạy khác nhau, không thể bình đẳng về đường dài và tốc độ. Nếu chọn sai, chúng ta sẽ lỡ mất cơ hội tiến thân và sự chọn lựa chọn sai lầm đó sẽ theo ta suốt đời.

  • Ý nghĩa của công tác phân luồng học sinh sau trung học sở

Phân luồng học sinh sau THCS là biện pháp hợp lý hoá xu hướng phân hoá của HS sau THCS trên cơ sở năng lực học tập, nguyện vọng của HS và nhu cầu xã hội. Phân hoá trong giáo dục là xu hướng tất yếu trong việc phát triển năng lực, hình thành nhân cách của HS sau một quá trình giáo dục, rèn luyện. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Thật vậy, trong giáo dục phổ thông, sau mỗi lớp học, cấp học sự phân hóa sẽ chia HS thành những nhóm khác nhau về học lực, về sở thích, nguyện vọng, xu hướng nghề nghiệp. Có sự khác biệt giữa phân luồng với phân hóa. Đối với HS sau THCS, phân hóa giúp cho phân luồng được đa dạng và cụ thể hơn. Trong mỗi luồng có sự phân hóa theo luồng, thí dụ trong luồng THPT có trường THPT chuyên, trường “không chuyên”, các trường năng khiếu khác nhau hoặc phân hóa nhỏ hơn (theo nhóm môn hoặc theo môn học tự chọn) như các ban khoa học tự nhiên, khoa học cơ bản, khoa học xã hội nhân văn… trong trường THPT “phân ban”. Trong giáo dục nghề nghiệp có trường TCCN, trường trung cấp nghề, sơ cấp nghề với nhiều ngành, nghề đào tạo khác nhau. Trong GDTX có hình thức học tập trung, vừa học vừa làm, tự học có đăng ký, học theo lớp phổ cập… Cuối cấp THCS, HS chuẩn bị bước vào tuổi vị thành niên, tuổi lao động cho nên sự phân hoá trong HS cũng đa dạng và đủ lớn để phải tiến hành phân luồng sau THCS. Đó là nguyện vọng của một bộ phận đông đảo HS, là yêu cầu cần thiết của xã hội. Như vậy, phân luồng học sinh sau THCS cũng là yêu cầu khách quan.

Phân luồng học sinh sau THCS làm đa dạng hoá phương thức học, luồng học cho người học, tạo điều kiện thích hợp cho nhiều người học và cho cả việc học lên chứ không làm triệt tiêu các cơ hội học lên của HS. Nếu HS có nhu cầu nguyện vọng và năng lực thì việc học lên có nhiều cơ hội – như học liên thông, liên kết, từ xa, vừa học vừa làm…

Phân luồng học sinh sau THCS là phân luồng sớm, tích cực nhằm giải quyết nhu cầu nguyện vọng của người học và của xã hội. Khác với phân luồng học sinh sau THPT là chỉ có luồng giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất, phân luồng học sinh sau THCS ngoài giáo dục nghề nghiệp và tham gia lao động sản xuất, người học còn có luồng tiếp tục học vấn phổ thông với mức độ phù hợp với trình độ, điều kiện của người học theo chương trình GDTX. Ở Việt Nam, chúng ta vô tình xô đẩy một bộ phận đông đảo HS sau THCS yếu thế về học lực và hoàn cảnh, điều kiện gia đình không được tiếp tục học mà phải nghỉ học, phải tham gia lao động sản xuất mà trong tay không có nghề qua đào tạo. Phân luồng học sinh sau THCS cũng không phải là ép buộc những HS sau THCS yếu thế về học lực và hoàn cảnh kinh tế về phía những phương thức học tập bất lợi mà là tạo ra phương thức học phù hợp và cơ hội học tập có hiệu quả đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng được học, nguyện vọng có nghề nghiệp của họ. Thực hiện phân luồng học sinh sau THCS lành mạnh, đúng hướng thông thoáng thực chất là nâng cao hiệu quả giáo dục và hiệu quả xã hội: mặt bằng chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên, cơ cấu nhân lực được cải thiện, tránh được lãng phí xã hội trong giáo dục… Phân luồng là làm cho cơ cấu tuyển sinh, cơ cấu đào tạo, cơ cấu lao động phù

hợp với cơ cấu nguồn nhân lực của địa phương, đáp ứng nhu cầu nhân lực của các cơ sở sản xuất, kinh doanh; qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế, bảo đảm cho kinh tế phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế khác trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Phân luồng cũng sẽ tạo ra cho mọi công dân những cơ hội học tập không ngừng, học tập liên tục, học tập suốt đời. Mặt khác, phân luồng còn là cầu nối giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giữa giáo dục phổ thông với giáo dục ĐH và giữa đào tạo với việc làm. Nói cách khác, phân luồng là cầu nối giữa người học với thị trường giáo dục – đào tạo và thị trường lao động. Nếu chúng ta có chính sách phân luồng đúng đắn thì cơ cấu tuyển sinh và cơ cấu đào tạo sẽ được cân đối, dẫn tới cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, đủ các cấp độ, các trình độ, đủ năng lực đáp ứng được sự cạnh tranh trong toàn cầu của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy toàn xã hội phát triển.

Ngoài ra công tác phân luồng có ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc và nó còn có ý nghĩa tôn trọng quyền của mọi công dân được sống, học tập, làm việc theo sở trường, nguyện vọng và năng lực làm việc của bản thân.

1.4.4. Nội dung công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

  • Phân luồng giáo dục trung học phổ thông

Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [22].

  • Phân luồng giáo dục thường xuyên Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

“Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.

Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập” [17].

  • Phân luồng giáo dục nghề nghiệp

Luật Giáo dục 2013 quy định Giáo dục nghề nghiệp bao gồm [31]:

  1. Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;
  2. Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.

“Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.

Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.

Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo”.

1.4.5. Hình thức phân luồng học sinh sau trung học cơ sở Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

  • Giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học cơ sở

Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội [19].

Nói cách khác, hướng nghiệp được bắt đầu từ khi HS đến trường đến khi các em có một nghề trong tay mà trọng tâm vẫn là ở trường phổ thông và nền tảng của hướng nghiệp vẫn là hướng nghiệp ở trường THCS.

Giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn HS, ngay từ trong nhà trường, chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đồng thời phù hợp với năng lực cá nhân [7].

Giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông có nghiệm vụ: Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho HS làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên HS đi vào những nghề, những nơi đang cần [7].

Hướng nghiệp được tiến hành qua 4 giai đoạn: giáo dục nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề, thích ứng nghề. Trách nhiệm chính ở 2 giai đoạn đầu là nhà trường phổ thông, còn 2 giai đoạn cuối là trách nhiệm của các trường DN, TCCN, CĐ, ĐH. Nhưng các trường CĐ, ĐH và TCCN phải giúp trường phổ thông làm công tác hướng nghiệp gắn chặt với trách nhiệm của toàn xã hội.

Giáo dục nghề nghiệp được thực hiện thông qua 4 con đường: qua chương trình hướng nghiệp, qua các môn khoa học cơ bản, qua môn công nghệ và lao động sản xuất, qua tham quan, sinh hoạt ngoại khoá. Nhưng dù qua con đường nào cũng đều hướng tới một mục đích chung là hình thành hứng thú, khuynh hướng và năng lực nghề cho HS.

Đại hội IX của Đảng đã khẳng định phải coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương. Việt Nam đang ở trong bối cảnh cạnh tranh cực kỳ khốc liệt và gay gắt của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao được bố trí theo cơ cấu hợp lý để làm ra nhiều sản phẩm tốt, mẫu mã đẹp, giá thành hạ đủ sức cạnh tranh trên thương trường khu vực và quốc tế. Đây cũng là trách nhiệm nặng nề đặt lên vai ngành GD&ĐT trong đó công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh có ý nghĩa cực kỳ to lớn [19]. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

  • Tuyển sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở

Giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [34]. Tốt nghiệp THCS, HS sẽ có 3 sự lựa chọn thông qua 3 hình thức tuyển sinh: vào THPT, vào giáo dục nghề nghiệp hoặc vào GDTX.

Mục đích tuyển sinh sau THCS nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cơ sở giáo dục, thực hiện phân luồng đào tạo sau khi HS học hết chương trình THCS.

  • Tuyển sinh vào trung học phổ thông:

Quy chế tuyển sinh THPT quy định:

  • Có 3 phương thức: Xét tuyển, thi tuyển, kết hợp thi tuyển với xét tuyển.
  • Căn cứ tuyển sinh: Việc tuyển sinh được căn cứ vào kết quả rèn luyện, học tập

của 4 năm học ở THCS, nếu lưu ban lớp nào thì lấy kết quả năm học lại của lớp đó; điểm bài thi (đối với các phương thức có thi tuyển); điểm cộng thêm cho đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên, khuyến khích.

Đối tượng tuyển sinh THPT là người đã tốt nghiệp THCS hoặc tốt nghiệp bổ túc THCS.

  • Tuyển sinh vào giáo dục nghề nghiệp: Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Quy chế tuyển sinh TCCN quy định việc tuyển sinh đối tượng tốt nghiệp THCS như sau:

Điều kiện dự tuyển: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, nam, nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế nếu có đủ các điều kiện sau đây đều được dự tuyển vào TCCN:

  • Đã tốt nghiệp THCS;
  • Có đủ sức khoẻ để học tập theo quy định hiện hành của Liên Bộ Y tế và Bộ GD&ĐT.
  • Trong độ tuổi quy định đối với những ngành có quy định hạn chế tuổi;

Đăng ký dự tuyển:

  • Căn cứ vào kế hoạch tuyển sinh được Bộ GD&ĐT thông báo hằng năm, người dự tuyển ghi nguyện vọng đăng ký dự tuyển vào trường phù hợp với khả năng và điều kiện của mình;
  • Thí sinh có thể đăng ký dự tuyển vào một hoặc nhiều trường theo mẫu phiếu đăng ký tuyển sinh thống nhất của Bộ GD&ĐT.
  • Trúng tuyển: Thí sinh đã dự thi đủ số môn quy định hoặc đã nộp đủ hồ sơ xét tuyển (đối với trường xét tuyển), nếu đạt điểm tuyển vào trường đã dự tuyển cho từng đối tượng, theo từng khu vực của từng ngành (nếu trường tuyển theo ngành), không có môn nào bị điểm không (0) thì trúng tuyển vào trường đã dự tuyển.
  • Tuyển sinh TCCN gồm các hình thức: Xét tuyển, thi tuyển và cử tuyển.
  • Hằng năm, các trường có chỉ tiêu đào tạo tiến hành tổ chức tuyển sinh để tuyển chọn chọn HS vào trường.
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý nhà nước và chỉ đạo thống nhất đối với các trường về công tác tuyển sinh TCCN trong toàn quốc.

Bên cạnh Quy chế tuyển sinh TCCN, Quy chế tuyển sinh học nghề cũng quy định việc tuyển sinh đối tượng tốt nghiệp THCS như sau: Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

  • Tuyển sinh học nghề được thực hiện một hoặc nhiều lần trong năm theo quy định sau: Tuyển sinh học nghề trình độ sơ cấp thực hiện theo hình thức xét tuyển; Tuyển sinh học nghề trình độ trung cấp thực hiện theo hình thức xét tuyển:

Xét tuyển học nghề trình độ sơ cấp: Những người có trình độ học vấn và sức khoẻ phù hợp với nghề cần học, nếu nộp hồ sơ đăng ký học nghề trình độ sơ cấp đúng thủ tục theo quy định của cơ sở dạy nghề nào thì được cơ sở dạy nghề đó tuyển vào học nghề trình độ sơ cấp.

Xét tuyển học nghề trình độ trung cấp: Tuỳ thuộc vào đối tượng tuyển sinh của từng nghề được thực hiện theo một trong các căn cứ sau: Điểm xét tốt nghiệp THCS; Điểm tổng kết các môn học của 4 năm học THCS; Điểm tổng kết các môn học lớp cuối THCS.

  • Tuyển sinh vào giáo dục thường xuyên:

Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX [9] quy định:

  • Trung tâm GDTX có nhiệm vụ:
  • Tổ chức thực hiện các chương trình GDTX cấp THPT.
  • Tổ chức các lớp học theo chương trình GDTX cấp THPT theo kế hoạch hằng năm của địa phương. Ngoài ra, Trung tâm GDTX còn tổ chức liên kết đào tạo với trường TCCN và cơ sở giáo dục ĐH.
  • Hình thức học tập tại Trung tâm GDTX bao gồm: vừa làm vừa học, học từ xa và tự học có hướng dẫn. Với hình thức vừa làm vừa học được tổ chức theo lớp học.
  • Học viên học hết chương trình GDTX cấp THPT có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được giám đốc sở GD&ĐT cấp bằng tốt nghiệp THPT.

1.5. Mối quan hệ giữa hoạt động GDHN và phân luồng HS sau THCS

Giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh có những đặc điểm và mục tiêu riêng, song lại quan hệ với nhau chặt chẽ và tạo điều kiện cho nhau thực hiện mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” với yêu cầu cao về chất lượng và hiệu quả. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Trong hội nghị khu vực về Mô hình mới của giáo dục phổ thông trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI do UNESCO tổ chức tại Thái Lan tháng 8/1991, một trong những định hướng quan trọng là đa dạng hóa và nghề nghiệp hóa giáo dục trung học (Diversification and Vocationalisation). Điều đó tạo ra mục tiêu kép: học hỏi và yêu cầu đáp ứng phát triển kinh tế-xã hội. Để thực hiện mục tiêu kép có thể giải quyết theo các hướng (chính khóa hay tự chọn): đưa vào chương trình phổ thông một số phân môn như công nghệ, kinh tế gia đình,…

Biện pháp giáo dục hướng nghiệp được thực hiện rõ nhất ở xây dựng chương trình giáo dục đào tạo với sự tiếp nối hợp lý và tránh trùng lập theo quan điểm tích hợp. Ví dụ: môn Lý, Hóa, Sinh được hình thành đảm bảo liên thông dọc trong các cấp học từ dưới lên. Đồng thời chú ý mặt bằng chung của từng môn thể hiện ở khoảng 70% phần cốt lõi, để khi chuyển đổi loại hình đào tạo đạt chuẩn. Nghĩa là chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học của người tốt nghiệp THCS, THPT, TCCN hoặc đào tạo nghề khi vào học tiếp đại học phải tương đương nhau.

Phân luồng giúp cho học sinh chủ động lựa chọn con đường tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đó phù hợp với hoàn cảnh, năng lực, hứng thú của các em và phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội. Phân luồng học sinh là yêu cầu khách quan, là xu thế phát triển hệ thống giáo dục của mọi quốc gia. Tùy thuộc trình độ phát triển giáo dục và các điều kiện thực tế của mỗi nước mà lựa chọn phân luồng từ các cấp học, bậc học khác nhau. Phân luồng học sinh được hiểu là sau khi tốt nghiệp mỗi bậc học thuộc hệ thống giáo dục chính quy hoặc không chính quy, học sinh lựa chọn những con đường khác nhau để đi tiếp, bao gồm: tiếp tục học lên trong hệ thống giáo dục theo Luật Giáo dục năm 2013; hoặc không học tiếp trong hệ thống đó, ra trường tìm kiếm việc làm hoặc học nghề tại các trung tâm dạy nghề.

Phân luồng học sinh nhằm phát triển cân đối, hợp lý hệ thống giáo dục phổ thông, dạy nghề, tạo cơ hội cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ và những người lao động có điều kiện được học tập nâng cao dân trí, đào tạo về nghề nghiệp để tham gia vào thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Phân luồng học sinh sau THCS sẽ nâng cao chất lượng giáo dục THPT, đồng thời tạo điều kiện phát triển các trường TCCN, dạy nghề. Hiện nay, cả nước đang tiến hành công tác phổ cập giáo dục THCS, số học sinh sau THCS là rất lớn, nếu không có phân luồng tốt sẽ dẫn đến quá tải học sinh vào THPT, kéo theo khó khăn về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Thực tế cho thấy hầu hết học sinh sau THCS đều vào con đường chính là tiếp tục học lên THPT nên chất lượng bậc phổ thông giảm sút, số học sinh trúng tuyển vào các trường CĐ-ĐH không cao. Bên cạnh đó, các trường chuyên nghiệp do không tuyển được học sinh vào học, không tuyển được đủ số lượng chỉ tiêu; phần lớn học sinh các trường này đã tốt nghiệp THPT. Nhận thức của các em và các bậc PHHS cho rằng vào các trường chuyên nghiệp chỉ là giải quyết tình thế để sau đó tạo cánh cửa học tiếp lên CĐ-ĐH. Như vậy việc phân luồng tốt sẽ là cơ hội phát triển, mở rộng các trường TCCN và dạy nghề; đảm bảo cho việc phát triển giáo dục chuyên nghiệp đi đúng hướng về phát triển nguồn nhân lực, theo yêu cầu CNH-HĐH đất nước như nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “…Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người; yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.

Mục đích của phân luồng học sinh: Phân luồng học sinh trong hệ thống giáo dục nhằm phát triển cân đối, hợp lý hệ thống giáo dục phổ thông, chuyên nghiệp, đại học, tạo mọi người có điều kiện được học tập nâng cao trình độ và năng lực nghề nghiệp để tham gia có hiệu quả vào thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Phân luồng học sinh hợp lý sẽ đáp ứng phát triển sự nghiệp CNH- HĐH đất nước trong những năm tới, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực được coi là vấn đề cốt lõi có tính chiến lược hướng tới mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” với chất lượng và hiệu quả cao. Do sự khác nhau về tâm lý, điều kiện kinh tế gia đình, hoàn cảnh xã hội nên các em có những định hướng khác nhau, có sự lựa chọn con đường học vấn hoặc đi vào các nghề nghiệp khác nhau, giáo dục hướng nghiệp có vai trò tích cực trong định hướng nghề nghiệp tương lai cho các em. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS: Lên THPT; vào trung cấp chuyên nghiệp; vào các trường đào tạo nghề sơ cấp, nghề thường xuyên; học nghề trung cấp; học tại các trung tâm GDTX; tham gia vào thị trường lao động.

  • Sơ đồ 1.3. Sơ đồ phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS

Tác động hoạt động giáo dục hướng nghiệp vào phát triển nguồn lao động: Chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, ý thức để học sinh có định hướng nghề nghiệp. giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, ý thức, kỹ năng để các em đi vào lao động đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân. Giáo dục hướng nghiệp không chỉ tác động vào nhận thức cá nhân đối với nghề định chọn mà còn làm cho cá nhân đó hiểu được giá trị của nghề, hình thành hứng thú, say mê nghề nghiệp và cống hiến cuộc đời cho nghề đã chọn.

Thực hiện mục tiêu đào tạo ở trường THCS: công tác giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dục góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo ở trường THPT. Một mặt hướng nghiệp giúp điều chỉnh động cơ chọn nghề nghiệp của học sinh, mặt khác hướng nghiệp hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước. Giáo dục hướng nghiệp giúp họ phát huy hết năng lực, sở trường lao động, phát triển khả năng sáng tạo trong lao động. Từ đó, giúp học sinh xác định nghề nghiệp không chỉ để kiếm sống mà là nơi thể hiện nhân cách, phát triển tài năng, cống hiến sức lực trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước.

Làm đồng bộ nguồn nhân lực, phân bố hợp lý lực lượng lao lao động: thực tiễn cho thấy sự phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào lao động sản xuất, đi vào sự phân công trong phạm vi cả nước và từng địa phương. giáo dục hướng nghiệp là một trong những yếu tố làm đồng bộ hóa đội ngũ lao động nghề nghiệp, phân bổ lại lực lượng lao động xã hội chuyên môn hóa tiềm năng lao động trẻ tuổi.

Công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường còn có ý nghĩa chính trị to lớn. Hướng nghiệp có tác dụng góp phần làm cụ thể hóa mục tiêu đào tạo. Công tác giáo dục hướng nghiệp có chức năng thể hiện đường lối giáo dục của Đảng và nhà nước, thực hiện hóa đường lối giáo dục trong đời sống của xã hội. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường THCS là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu biết được khả năng của mình, hiểu được yêu cầu của nghề. Thông qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề và định hướng chọn nghề một cách đúng đắn. Đồng thời có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bổ lực lượng lao động, góp phần tạo điều kiện cho xã hội sử dụng hết lực lượng học sinh THCS tốt nghiệp ra trường để phát triển nguồn nhân lực.

Hướng nghiệp và phân luồng học sinh có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, nhưng đó là hai mặt của một quá trình thống nhất vì chúng cùng tác động lên một đối tượng là HS nhằm mục đích chung là làm cho cơ cấu đào tạo, cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp hoá. Ở đây hướng nghiệp có vai trò điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề của HS sao cho “ăn khớp” với nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, “ăn khớp” với các hướng phân luồng đã được nhà nước định ra ở từng giai đoạn phát triển kinh tế. Hướng nghiệp và phân luồng học sinh chính là cầu nối giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục ĐH và việc làm. Nói cách khác, hướng nghiệp và phân luồng học sinh là cầu nối giữa người học với thị trường đào tạo và thị trường lao động. Nếu làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh ta sẽ có cơ cấu đào tạo cân đối, dẫn tới cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý đủ các cấp trình độ, nền kinh tế sẽ phát triển nhanh và bền vững.

1.6. Quản lý giáo dục hướng nghiệp THCS theo định hướng phân luồng

1.6.1. Khái niệm quản lý GDHN theo định hướng phân luồng

Quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ định, có kế hoạch chủ động và phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý có chất lượng và hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu giáo dục hướng nghiệp, phân luồng. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

1.6.2. Nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng

  • Quản lý mục tiêu giáo dục hướng nghiệp THCS theo yêu cầu phân luồng

Tùy thuộc vào mỗi địa phương cụ thể, mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS có thể khác nhau nhưng việc xác định mục tiêu phải đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS được đề xuất căn cứ vào các mục tiêu giáo dục nói chung, gắn với quan điểm về đổi mới giáo dục phổ thông và bốn trụ cột của thế kỷ XXI (học để biết, học để làm việc, học để làm người và học để chung sống cùng nhau), trong đó có thể coi giáo dục hướng nghiệp là hoạt động chủ đạo, trực tiếp giúp cho học sinh thực hiện mục tiêu học để biết, học để làm việc.
  • Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS phải bám sát các quan điểm của Đảng, Nhà nước được cụ thể hóa trong việc chỉ đạo đổi mới mục tiêu chương trình THCS cũng như mục tiêu phân luồng.
  • Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS phải hướng tới việc tìm ra hướng đi (phân luồng) tối ưu cho mỗi cá nhân học sinh.

Quản nội dung giáo dục hướng nghiệp THCS sát với định hướng phân luồng

Trong quá trình xây dựng các nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS, cần quan tâm đến các yêu cầu sau:

  • Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải đáp ứng mục tiêu đào tạo con người một cách toàn diện.
  • Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải có tính mềm dẻo, có sự phân hóa phù hợp với năng lực sở trường của học sinh từ đó giúp các em chọn hướng đi phù hợp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.
  • Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải đổi mới vừa mang tính cơ bản.
  • Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải cho học sinh biết tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới, đồng thời giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
  • Đảm bảo sự cân đối giữa tri thức văn hóa – khoa học công nghệ với hướng nghiệp.
  • Đảm bảo cho người học, người lao động được học tập suốt đời.

Quản lý các hình thức giáo dục hướng nghiệp linh hoạt góp phần tích cực phân luồng học sinh

Tận dụng tối đa những điều kiện sẵn có để tổ chức các hoạt động lao động và giảng dạy kỹ thuật nghề nghiệp, tạo điều kiện phát huy năng lực, sở trưởng của các em. Thông qua các hình thức giáo dục hướng nghiệp, phân luồng quản lý việc thực hiện các hình thức đó phù hợp với từng thời điểm, từng đối tượng học sinh giúp các em tự xác định được năng lực, sở trường của mình từ đó chọn con đường đi đúng cho mình sau khi tốt nghiệp THCS.

Như vậy: Việc quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phân luồng là một vấn đề rất cần thiết vì:

  • Những nghiên cứu về quản lý hướng nghiệp theo định hướng phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta hiện nay còn ít được quan tâm nghiên cứu.
  • Trong những năm gần đây, công tác Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông được xã hội đặc biệt quan tâm. Hướng nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc hướng học, hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS nhằm mục đích đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Tuy nhiên việc quản lý GDHN cho học sinh THCS theo định hướng phân luồng còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.
  • Nếu đứng về phương diện xã hội học và phương diện tài chính chúng ta có thể khẳng định rằng: nếu làm tốt công tác quản lý GDHN theo định hướng phân luồng cho học sinh sau tốt nghiệp THCS sẽ góp phần giúp cho số học sinh có lục học trung bình, dưới trung bình đỡ phải gánh chịu sự căng thẳng về tinh thần và tốn kém về thời gian trong năm học ở THPT và giảm được khoản tiền lớn cho gia đình.

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

1.7.1. Thị trường lao động

Các yếu tố của thị trường lao động như dân số, tiền lương, tuyển dụng, nhu cầu thị trường, chính sách cho người lao động… là các yếu tố chủ yếu tác động tới tạo nguồn nhân lực. Người lao động nếu được trả công theo chất lượng vả hiệu quả lao động sẽ khuyến khích họ học tập, rèn luyện để nâng cao kỹ năng, kiến thức.

1.7.2. Giáo dục đào tạo

Phát triển nguồn nhân lực gắn liền với giáo dục và đào tạo. Với quan niệm đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lợi nhất, các quốc gia trên thế giới đều có sự thay đổi trong chiến lược đầu tư cho giáo dục vì GD&ĐT tạo ra nguồn lực quyết định cho sự phát triển của đất nước trong tương lai.

1.7.3. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên

Để giáo dục hướng nghiệp có hiệu quả, vai trò quan trọng hơn hết là đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Trong nền giáo dục hiện đại, việc quản lý và đào tạo giáo viên không chỉ chăm lo về chuyên môn là đủ mà còn phải được yêu cầu đào tạo, trang bị thêm một số môn học khác để phục vụ cho việc giáo dục toàn diện cho học sinh; được huấn luyện phương pháp và kỹ năng dạy học một cách chu đáo và thường xuyên được trao đổi với đồng nghiệp, thường xuyên được rèn luyện nhân cách, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển tính cách, tăng cường ý thức của người giáo viên, từ đó tạo sự ảnh hưởng của nhân cách giáo viên đến học sinh. Trong nhà trường phổ thông hiện nay nhất thiết phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, hàng năm nhà trường cần có kế hoạch cử lực lượng này tham gia các chương trình tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức.

Cán bộ quản lý các trường THCS cần quan tâm, phối hợp với các lực lượng đoàn thể để đưa các nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp vào các tổ chức này, đây là tổ chức vừa có lực lượng đông đảo vừa có vai trò tác động tích cực và hiệu quả trong việc vận động tuyên truyền đến các đối tượng học sinh và phụ huynh học sinh.

1.7.4. Phụ huynh học sinh Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Các bậc phụ huynh học sinh có vai trò quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai cho các em, họ là cầu nối, là nhà tư vấn gần gũi nhất giúp các em chọn lựa hướng đi phù hợp. Chính cha mẹ mới biết rõ năng khiếu, sức học của con và hoàn cảnh kinh tế của gia đình, với những yếu tố đó mà tư vấn cho con chọn lựa cơ sở và quyết định hướng đi thích hợp nhất. Tuy vậy cũng không ít các bậc phụ huynh học sinh buộc con em mình theo luồng theo ý thích mà ở đó không phù hợp với khả năng và sở trường các em. Bên cạnh thói quen áp đặt, không ít phụ huynh lại thiếu quan tâm chuyện định hướng cho con, không tư vấn cho con có sự lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh gia đình và khả năng bản thân.

Từ trách nhiệm và hiểu biết, các bậc phụ huynh học sinh không thờ ơ hay để con tùy tiện chọn hướng nghề nghiệp mà có sự phối hợp chặt chẽ từ phía bản thân các em và gia đình để có thể quyết định đúng đắn học ở trường nào, ngành nào phù hợp với nhu cầu xã hội và sở trường, hoàn cảnh của bản thân và gia đình.

1.7.5. Các tổ chức xã hội

Ngoài nhà trường và gia đình, hai yếu tố quan trọng chi phối đến giáo dục hướng nghiệp đó là chính quyền địa phương và các xí nghiệp, cơ sở sản xuất. Đối với chính quyền địa phương cần có kế hoạch ngắn hạn, dài hạn trong việc xây nguồn lực, đặc biệt là phải quan tâm đến công tác đào tạo nghề phục vụ cho việc phát triển kinh tế địa phương. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh cần tạo điều kiện cho học sinh tham quan, học tập, tư vấn cho các em chọn ngành nghề phù hợp với năng khiếu của mình. Thực hiện mối liên kết này giúp học sinh có điều kiện mở rộng thông tin về ngành nghề của xã hội và địa phương, yêu cầu của nghề đối với người lao động, quy trình đào tạo, những điều kiện tham gia lao động. Qua đó giúp học sinh hiểu biết các thông tin cần thiết về nghề nghiệp không chỉ về mặt lý thuyết mà ngay cả thực tiễn nữa. Nó còn là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong việc hình thành và phát triển năng khiếu nghề nghiệp của các em.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

Quản lý giáo dục hướng nghiệp đã được nghiên cứu ở các nước Châu Âu, Châu Á. Trên cơ sở điểm riêng từng khu vực, mục tiêu, nội dung, định hướng giáo dục hướng nghiệp quan điểm về tư vấn hướng nghiệp, các hình thức tổ chức cung cấp dịch vụ, mục tiêu giáo dục hướng nghiệp, phân luồng HS đối với HS cấp phổ thông có những nét đặc thù.

Trong quản lý giáo dục hướng nghiệp có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau có thể ở bản chất, mục tiêu, các yếu tố,… Tuy nhiên, luận văn không theo cách tiếp cận riêng lẻ mà gắn kết thành thể thống nhất. Các chức năng quản lý giáo dục hướng nghiệp, phân luồng tích hợp bao gồm các thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục hướng nghiệp,… đảm bảo tính khoa học, hiệu quả trong quản lý giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường phổ thông hiện nay.

Giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa giáo dục, kinh tế, chính trị, xã hội vô cùng quan trọng. Giữa giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS mối quan hệ chặt chẽ. Nắm vững và thực hiện tốt mối quan hệ này sẽ có thể định hướng giáo dục hướng nghiệp theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực một cách khoa học, hiệu qua.

Trên cơ sở phân tích và làm rõ các yếu tố được tích hợp trong chức năng quản lý giáo dục hướng nghiệp có thể thấy nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp bao gồm: quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý hình thức giáo dục hướng nghiệp.

Quản lý giáo dục hướng nghiệp phải hướng theo nhu cầu xã hội, góp phần phát triển nguồn nhân lực cho xã hội, giúp học sinh THCS làm quen và tiếp xúc với nghề, tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ sản xuất.

Xây dựng mục tiêu và các con đường hướng nghiệp cho học sinh cấp THCS gắn chặt với phân luồng học sinh đã được qui định trong các văn bản pháp quy và thực tiễn kinh tế xã hội và con người của địa phương. Đây cũng là các yêu tố ảnh hưởng rất lớn đến quản lý giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993