Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phát triển chương trình và quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo hiện nay tại trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về đặc điểm, tình hình các trường tiểu học quận Đống Đa

2.1.1. Đặc điểm chung về các trường tiểu học quận Đống Đa

Quận Đống Đa nằm ở trung tâm, là một trong bốn quận nội thành cũ của thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp quận Ba Đình, phía đông bắc giáp quận Hoàn Kiếm, phía đông giáp quận Hai Bà Trưng, phía nam giáp quận Thanh Xuân và phía tây giáp quận Cầu Giấy.

Luôn là một trong những đơn vị dẫn đầu khối các quận nội thành Hà Nội về công tác giáo dục, đào tạo, ngành GD&ĐT quận Đống Đa góp phần lớn vào sự đổi mới diện mạo của GD&ĐT Thủ đô trong những năm gần đây.

Chất lượng GD&ĐT của quận đang hứa hẹn thêm những tín hiệu vui khi Cơ sở vật chất ngày một chuẩn hóa, chất lượng của Cán bộ quản lý và GV trên địa bàn chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng; chất lượng dạy và học được nâng cao, hiệu quả giáo dục đạo đức ngày càng được cải thiện.

Phong trào thi đua hai tốt, thi đua đổi mới phương pháp dạy học diễn ra sôi nổi và thường xuyên ở các trường đã góp phần đảm bảo chất lượng đại trà hàng năm. Riêng chất lượng GV giỏi và HS giỏi của quận luôn là một trong những đơn vị dẫn đầu thành phố vì luôn được quan tâm và đầu tư đúng mức.

Quận gồm tất cả 19 trường TH công lập và 2 trường TH dân lập. Cùng với các trường THPT, THCS trên địa bàn quận, các trường TH cũng đóng góp một phần không nhỏ vào các hoạt động thi đua và thành tích tốt của quận.

Hàng năm, các trường TH đã đóng góp một phần không nhỏ vào các giải thi giáo GV và HS giỏi của quận. Năm học 2023-2024, ngành quận Đống Đa GD&ĐT đã đẩy mạnh giáo dục toàn diện, giữ vững chất lượng giáo dục đại trà, duy trì tốt chất lượng mũi nhọn. Công tác bồi dưỡng GV giỏi, HS giỏi luôn được quan tâm đúng mức. Kết quả toàn quận có 227 GV đạt giải GVDG cấp Quận, có 19 GVDG cấp MN, TH và THCS dự thi trong các Hội thi cấp TP và kết quả 19/19 GV dự thi cấp TP đạt giải, trong đó có: 1 giải xuất sắc, 6 giải Nhất, 10 giải Nhì, 1 giải Ba và 1 giải KK. Các trường THPT, các Trung tâm GDTX, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị, Trung tâm dạy nghề trên địa bàn Quận đã đạt được nhiều thành tích về GV giỏi, HS giỏi. Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp và Đại học, Cao đẳng của các trường ngày càng tăng cao. Căn cứ kết quả Hội thi GV dạy giỏi, Sở GD&ĐT đã khen thưởng Phòng GD-ĐT quận Đống Đa về thành tích xuất sắc trong chỉ đạo phong trào thi GV dạy giỏi cấp học TH và THCS năm học 2023-2024.

Bên cạnh GD văn hóa, ngành GD&ĐT Đống Đa luôn chú trọng đến GD đạo đức HS. Song song việc hưởng ứng cuộc vận động xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, các trường TH trên địa bàn quận Đống Đa còn tích cực tham gia các chương trình giáo dục, phổ biến pháp luật cho HS. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Việc kí cam kết thực hiện năm an toàn giao thông, tham gia giao thông an toàn, chống ách tắc giờ tan học được các trường TH trên địa bàn thực hiện ngay từ đầu năm học. Phòng chống tai nạn thương tích cho CB – GV và HS cũng đã được triển khai đồng bộ với các hoạt động phòng chống ma túy và tệ nạn xã hội, đặc biệt mới đây là cuộc vận động phòng chống tác hại của game online đã được các trường thông báo tới học sinh và cha mẹ HS về tác hại và các biện pháp ngăn ngừa…

2.1.2. Đặc điểm Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS các trường TH quận Đống Đa

Quận Đống Đa là một trong số những quận có thành tích cao trong các hoạt động, phong trào của Ngành. Trong mỗi hoạt động thi đua hay chào mừng ngày lễ lớn (như Hội diễn văn nghệ GV-HS chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; liên hoan “Chiến sĩ nhỏ Điện Biên”,…), quận đều tham gia tích cực và đạt được những kết quả cao. Đây quả là một kết quả đáng mừng, bởi các hoạt động, phong trào này chính là bề nổi của HĐGDNGLL. Thông qua các hoạt động, phong trào này, HS sẽ được giáo dục một cách vừa tự nhiên lại vừa có hiệu quả. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, không phải tất cả các trường TH trên địa bàn quận đều tham gia hoặc được tham gia một cách tích cực các phong trào này. Có một số trường vì điều kiện không cho phép (như diện tích sân trường nhỏ, Cơ sở vật chất chưa được đáp ứng, chất lượng HS chưa đồng đều…) nên chưa nhiệt tình tham gia. Hoặc trong quận có một số trường luôn dẫn đầu trong các phong trào thì luôn được quận đề cử tham gia thi cấp Thành phố.

Không những thế, mặc dù tất cả các hoạt động của Ngành đều được triển khai theo công văn về từng trường, có kiểm tra, đánh giá, tuy nhiên, đa phần các hoạt động này được tổ chức quy mô toàn trường như mít tinh, lễ kỉ niệm,… với các hình thức khác nhau và không được hướng dẫn chi tiết, theo kiểu “trăm hoa đua nở”. Do đó, dẫn đến việc chất lượng của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở các trường TH trong quận chưa đồng đều và chưa có hiệu quả cao.

2.1.3. Đặc điểm tình hình trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội

  • Công tác quản lý và bộ máy hoạt động của nhà trường

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức nhà trường

Thuận lợi

  • Năm học 2025 – 2026: trường có 31 lớp; 1502 HS; bán trú: 1015
  • Tổng số cán bộ, GV, nhân viên:
  • Tập thể GV đoàn kết, yêu nghề mến trẻ, chuyên sâu với giảng dạy.
  • Khung cảnh sư phạm nhà trường xanh – sạch – đẹp, Cơ sở vật chất đầy đủ.
  • Trường đã được công nhận là “Trường chuẩn Quốc gia mức độ I”.
  • Nhà trường nhận được sự quan tâm, ủng hộ của PH HS và các cấp lãnh đạo.

Khó khăn

  • Trường nằm trên địa bàn giáp ranh giữa 2 phường Văn Chương và Khâm Thiên nên vấn đề an ninh còn gặp nhiều khó khăn. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
  • Về HS: Có nhiều HS tự kỷ, tăng động nên Giáo viên chủ nhiệm khó khăn hơn trong quá trình giảng dạy.
  • Các thành tích của nhà trường:

Năm sau luôn đạt cao hơn năm trước. Cụ thể:

Năm học 2023 – 2024:

  • Về chất lượng giáo dục:
  • Hạnh kiểm: Tốt: 1407 HS chiếm 100%.
  • Văn hóa:
  • Học sinh: + Văn hóa: 13 giải cấp Quận, 1 giải cấp Quốc gia
  • Văn nghệ + TDTT: 6 giải cấp Quận
  • Giáo viên: đạt 6 giải cấp Quận.
  • Trường tiên tiến xuất sắc về TDTT cấp Thành phố.

Năm học 2024 – 2025:

  • Về chất lượng giáo dục:
  • Năng lực & Phẩm chất: Hoàn thành: 1457 HS chiếm 100%
  • Văn hóa:
  • Học sinh: + Văn hóa: 14 giải cấp Quận, 1 giải cấp Quốc
  • Văn nghệ + TDTT: 13 giải cấp Quận, 4 giải cấp Thành phố, 1 giải cấp quốc gia.
  • Giáo viên: đạt 9 giải cấp Quận và 1 giải cấp Thành phố.
  • Trường tiên tiến xuất sắc về TDTT cấp Thành phố.

2.2. Các phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

2.2.1. Phương pháp khảo sát

Mục đích khảo sát:

  • Tìm hiểu thực trạng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.
  • Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý phát triển chương trình HĐTNST tại trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.
  • Trên cơ sở thực trạng đề xuất biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.

Nội dung khảo sát:

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã tập trung vào những nội dung khảo sát sau:

  • Thực trạng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.
  • Thực trạng của công tác quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.

Công cụ khảo sát:

  • Bằng phiếu hỏi:

Nội dung phiếu hỏi (PHỤ LỤC 1, 2, 3)

Đề tài thiết kế phiếu dưới dạng hệ thống các câu hỏi đồng thời áp dụng phương pháp chọn mẫu nên sẽ phản ánh tương đối đầy đủ thực trạng quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.

Bằng phỏng vấn: Để thêm độ tin cậy ở những thông tin bằng điều tra phiếu hỏi ngoài ra tác giả đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp làm rõ hơn, sâu hơn và hiểu hơn về thực trạng quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội thông qua một số đối tượng khảo sát.

  • Đối tượng khảo sát: Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Tôi đã tiến hành khảo sát tổng số 36 cán bộ, giáo viên. Trong đó có 02 người là cán bộ quản lý và có 34 Giáo viên chủ nhiệm và Tổng phụ trách.

  • Xử lý số liệu:

Với kết quả thu được tác giả đã sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu: Tính tỉ lệ % ý kiến từ kết quả số lượng ý kiến (SL).

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn

Mục đích phỏng vấn:

  • Tìm hiểu thực trạng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.
  • Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.
  • Trên cơ sở thực trạng đề xuất biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.

Nội dung phỏng vấn:

  • Thực trạng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.
  • Thực trạng của công tác quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội.
  1. Công cụ phỏng vấn: Hệ thống câu hỏi
  2. Đối tượng phỏng vấn: Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Tôi đã tiến hành phỏng vấn 12 cán bộ, giáo viên. Trong đó có 02 người là cán bộ quản lý và có 10 Giáo viên chủ nhiệm và Tổng phụ trách.

  • Xử lý thông tin:

Phân tích và tổng hợp các thông tin để đưa ra các nhận xét.

2.3. Thực trạng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Tôi nghiên cứu thực trạng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh TH và các biện pháp quản lý hoạt động này của Ban Giám hiệu nhà trường để từ đó làm căn cứ đề xuất các biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo sắp tới sao cho có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

2.3.1. Thực trạng việc thực hiện mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Để tìm hiểu thực trạng việc thực hiện mục tiêu của GV đối với Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tôi đã đặt câu hỏi yêu cầu đối tượng được khảo sát đánh dấu vào phương án lựa chọn, kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.1. Thực trạng việc thực hiện mục tiêu chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Theo kết quả của bảng 2.1 phần lớn Cán bộ quản lý và GV cho thấy:

  • Thực trạng việc thực hiện mục tiêu chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV:

Những nội dung GV thực hiện tốt là việc giáo dục các phẩm chất: Sống yêu thương (chiếm 77,7%); Sống trách nhiệm (chiếm 69,4%); Sống mẫu mực (chiếm 66,7%).

Những nội dung GV thực hiện với mức khá: Tự học; Thẩm mỹ; Hợp tác (đều chiếm 61,1%); Thể chất (chiếm 55,6%); Giao tiếp; Tự nhận thức và tích cực hóa bản thân (đều chiếm 58,3%); Tính toán (chiếm 69,4%). Nguyên nhân là do ở trường TH trong một năm học thường có một số những hoạt động thường niên của Đoàn – Đội như tổ chức chào mừng ngày 20/11; quyên góp ủng hộ người nghèo,.., do đó, việc thông qua các hoạt động đó để giáo dục các nội dung nêu trên là rất thuận lợi.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngoài các hoạt động đó ra, nhà trường không chú trọng tổ chức các hoạt động khác để giáo dục các nội dung khác. Thể hiện ở những nội dung GV thực hiện còn yếu: Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (chiếm 55,5%); Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (chiếm 69,4%); Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động (chiếm 58,3%); Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống gia đình (chiếm 55,5%); Năng lực định hướng nghề nghiệp (66,6%); Năng lực khám phá và sáng tạo (chiếm 72,2%). Trong khi đó, như ta thấy các nội dung này cũng góp phần không nhỏ vào việc hình thành phát triển nhân cách cho một con người toàn diện. Đặc biệt, một số nội dung mang tính thời sự, là chủ đề nóng ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung hiện nay lại không được đề cao giáo dục, thậm chí có những ý kiến còn cho rằng các nội dung này không được giáo dục tại một số trường TH. Điều này sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của HS, làm nhận thức của các em bị bó hẹp, dẫn đến việc thiếu hiểu biết và thiếu tự tin.

Như vậy nội dung chương trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hiện nay phần nào cũng đã đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, tuy nhiên tôi thấy tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục chưa rõ và không đa dạng.

Bảng trên chứng tỏ GV chỉ chú ý tới việc giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống mà chưa chú ý tới việc giáo dục giáo dục các phẩm chất của người lao động, nhà nghiên cứu. Lý do chính là do trong chương trình giáo dục hiện hành các chủ đề trong chương trình mới chỉ thiên về các hoạt động tập thể mà chưa chú ý đến việc phát triển các năng lực cá nhân nên phần lớn GV không đưa các kiến thức này vào trong việc thực hiện mục tiêu của mình.

2.3.2. Thực trạng thực hiện nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV ở trường TH Văn Chương, Đống Đa

Chương trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH hiện tại được cấu trúc theo các hoạt động theo chủ đề của Bộ Giáo dục và Đào tạo bao gồm 9 chủ đề lớn theo từng tháng, từ tháng 9 của năm trước đến tháng 5 của năm sau, dựa trên văn bản hướng dẫn của Vụ giáo dục Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các chủ đề được tổ chức theo nguyên tắc đồng tâm, nghĩa là chúng được lặp đi lặp lại trong suốt 5 năm tiểu học, tuy được khai thác dưới các mức độ và góc độ khác nhau. Mỗi chủ đề bao gồm 3 – 4 hoạt động gợi ý để GV có thể tham khảo, lựa chọn và vận dụng sáng tạo trong quá trình tổ chức Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Cụ thể là: Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Phương thức tổ chức phải linh hoạt, làm sao để giúp được các em HS thực sự phát huy vai trò chủ thể của mình trong tất cả các hoạt động và sáng tạo ra nhiều hình thức khác làm phong phú, hấp dẫn Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Căn cứ vào Chương trình giáo dục phổ thông Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 16/2016/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2016, nhà trường bố trí thời gian Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo đúng quy định. Ngoài giờ chào cờ đầu tuần và giờ sinh hoạt lớp là cố định, thời gian Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp không nhất thiết phải chia đều mỗi tuần một tiết mà nên căn cứ vào nội dung chương trình, quy trình thực hiện của mỗi chủ đề để phân phối thời gian sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.

Qua phỏng vấn và trao đổi với một số GV, kết quả như sau:

  • Thực trạng giờ sinh hoạt lớp

Quỹ thời gian dành cho giờ sinh hoạt lớp: thường được bố trí giờ sinh hoạt lớp 1 tiết/tuần vào tiết cuối ngày thứ sáu.

Hình thức tổ chức: Các hình thức sinh hoạt lớp thường đơn điệu, nặng về kiểm điểm và phổ biến kế hoạch (80%), Giáo viên chủ nhiệm thường tổng kết tình hình lớp trong tuần sau đó nhận xét, khen chê một số em, phổ biến kế hoạch tuần tới. Có đôi khi, giờ sinh hoạt lớp được cải tiến thành các sân chơi nhưng cũng không thường xuyên, Cá biệt có Giáo viên chủ nhiệm còn lạm dụng giờ sinh hoạt bồi dưỡng văn hoá cho HS.

Hiệu quả của giờ sinh hoạt: nhiều GV không có giáo án sinh hoạt, chưa chủ động về kế hoạch, thường chỉ triển khai công tác theo kế hoạch của nhà trường và xử lý các sự việc đột xuất, phê bình phạt những HS mắc lỗi trong tuần, không thay đổi hình thức tổ chức, HS ít hứng thú với giờ sinh hoạt lớp và có cảm giác nặng nề, bị giáo huấn.

  • Thực trạng giờ chào cờ

Thời gian dành cho giờ chào cờ là 1 tiết/tuần, thường bố trí vào tiết đầu ngày thứ hai và người thực hiện thường là GV Tổng phụ trách Đội. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Hình thức tổ chức: Tập trung toàn trường chào cờ, tổng kết thi đua, phát thưởng; phổ biến kế hoạch. Nhìn chung hình thức tổ chức giờ chào cờ của trường còn đơn điệu, nặng nề, không gây hứng thú cho HS.

Tôi đã lấy ý kiến của các đồng chí Cán bộ quản lý và GV về thực hiện nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo hiện tại, kết quả như sau:

  • Bảng 2.2. Thực hiện nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV

Những nội dung mà GV thường xuyên thực hiện gồm:

  • Giáo dục và phát triển cá nhân (chiếm 91,7%);
  • Quê hương đất nước và hòa bình thế giới (chiếm 75,0%).

Những nội dung mà GV thỉnh thoảng thực hiện là:

  • Tình bạn, tình yêu và gia đình (chiếm 66,7%).

Bên cạnh đó có những nội dung mà GV không thực hiện chiếm tỷ lệ cao như:

  • Thế giới nghề nghiệp (chiếm 72,2%);
  • Khoa học và nghệ thuật (chiếm 66,7%).

Phỏng vấn đối với một số Giáo viên chủ nhiệm cho thấy nguyên nhân của thực trạng này là do Giáo viên chủ nhiệm thường chú trọng vào hoạt động dạy học dẫn đến thời lượng dành cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thường ít. Cô giáo Nguyễn Bích Hằng cho biết: “Nhà trường rất chú trọng vào hoạt động chuyên môn, giảng dạy, thường xuyên tổ chức dự giờ, kiểm tra công tác chuyên môn. Với cương vị một Giáo viên chủ nhiệm một lớp chọn của khối 5 với hơn 50 HS, tôi phải dành rất nhiều thời gian để soạn giáo án, chấm bài để đáp ứng yêu cầu về chất lượng giảng dạy của nhà trường. Thực ra, cũng biết rằng Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS là rất cần thiết, nhưng để có thể có những Hoạt động trải nghiệm sáng tạo hiệu quả để giáo dục HS thì phải cần thời gian chuẩn bị khá lâu. Đôi khi còn cảm thấy lúng túng vì không có tài liệu và cũng không có chỉ đạo từ phía nhà trường”.

Như vậy có thể thấy GV chưa dành nhiều thời gian và công sức để chú trọng tới các nội dung này.

2.3.3. Thực trạng khả năng phát triển nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Để khảo sát thực trạng khả năng phát triển nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tác giả đã tiến hành khảo sát các đối tượng là Cán bộ quản lý, Giáo viên chủ nhiệm, Tổng phụ trách trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

  • Kết quả khảo sát như sau:

Bảng 2.3. Thực trạng khả năng phát triển nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV

Như chúng ta thấy nội dung Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là các chủ đề theo một khung định sẵn về kiến thức. Điều này đã hạn chế rất nhiều khả năng sáng tạo của HS cũng như của GV trong việc đưa ra các ý tưởng thiết kế nội dung chương trình. Vì vậy tôi nghĩ các chủ đề trong chương trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH hiện nay chưa đáp ứng được mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Do đó, nhìn vào bảng 2.3 ta thấy hầu hết GV có khả năng phát triển chương trình tốt với các nội dung quen thuộc như:

  • Giáo dục và phát triển cá nhân (chiếm 83,3%);
  • Quê hương đất nước và hòa bình thế giới (chiếm 77,8%);
  • Tình bạn, tình yêu và gia đình (chiếm 66,7%).

Đặc biệt, GV có khả năng phát triển chương trình yếu với những nội dung rất cần cho việc phát triển năng lực của HS như:

  • Thế giới nghề nghiệp (chiếm 50,0%);
  • Khoa học nghệ thuật (chiếm 52,8%).

Điều này cho thấy Giáo viên chủ nhiệm hầu như có khả năng rất hạn chế đối với việc phát triển nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Trên thực tế việc dự giờ các tiết Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của Ban Giám hiệu còn ít chỉ thực hiện chủ yếu vào những dịp đặc biệt như 20/11, Hội giảng Mùa xuân,… Ban Giám hiệu thường xuyên đi dự giờ nhưng chủ yếu là các môn cơ bản chưa quan tâm nhiều đến các tiết Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Điều này thể hiện việc quản lý nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn mang tính chất hành chính chưa sâu sát. Việc dự giờ thăm lớp còn nhiều hạn chế. Vì vậy GV còn rất qua loa trong việc xây dựng và phát triển nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

2.3.4. Thực trạng năng lực phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV ở trường TH Văn Chương, Đống Đa

Bảng sau cho thấy ý kiến của Cán bộ quản lý và GV về năng lực phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV trong nhà trường:

  • Bảng 2.4. Năng lực phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV

Nhìn vào kết quả khảo sát, ta có thể dễ dàng nhận thấy phần lớn GV có năng lực phát triển chương trình tương đối tốt ở nội dung:

  • Nắm chắc được mục tiêu chương trình (Tốt: 58,3%; Khá: 41,7%; TB: 5,6%).

Và đa số GV có năng lực Khá với nội dung:

  • Xây dựng, lựa chọn được nội dung phù hợp với mục tiêu chương trình

(Tốt: 16,7%; Khá: 52,8%; TB: 19,4%; Yếu: 5,6%);

  • Tìm được hình thức tổ chức, phương pháp phù hợp để đạt được mục tiêu năng lực của HS (Tốt: 11,1%; Khá: 58,3%; TB: 22,2%; Yếu: 13,9%).

Tuy nhiên năng lực của GV còn rất hạn chế với nội dung:

  • Có cách kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá được năng lực của từng HS (Tốt: 5,6%; Khá: 22,2%; TB: 50,0%; Yếu: 22,2%).

Lý do là vì trong quá trình hoạt động GV không giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng HS trong từng hoạt động do đó không đánh giá được quá trình và kết quả hoạt động trên từng cá nhân HS và không xác định được vị trí của mỗi HS trên con đường phát triển năng lực. Mặt khác, việc kiểm tra đánh giá HS mới chỉ dừng lại ở việc kiểm tra ngẫu nhiên, chưa định kì, chưa có kế hoạch kiểm tra cụ thể. Điều này dẫn tới việc Giáo viên chủ nhiệm đối phó, chỉ tổ chức hoạt động cho HS khi Ban Giám hiệu lên lịch kiểm tra đồng thời cũng chưa quan tâm và dành thời gian tổ chức hoạt động dẫn tới chất lượng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa cao. Đây chính là một bất cập rất lớn của chương trình giáo dục hiện tại.

2.3.5. Thực trạng các hình thức và phương pháp tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Qua trao đổi với GV, Cán bộ quản lý và nghiên cứu các báo cáo tổng kết năm học của trường tôi nhận thấy: Theo biên chế năm học, các trường có 35 tuần thực học, 1 tuần sinh hoạt tập thể, tuần này chủ yếu thực hiện các hoạt động như: học nội quy học sinh, truyền thống nhà trường….

HĐTNST thông qua giáo dục NGLL thường được trường đưa vào kế hoạch năm học ngay từ đầu năm, song nội dung, quy mô hình thức tổ chức, hiệu quả tổ chức hoạt động này ở các lớp khác nhau. Đa số GV thường tổ chức có tính chất hình thức, đủ đầu hoạt động để khỏi bị khiển trách nên hình thức tổ chức đơn điệu, nội dung sơ sài, ít đầu tư, hiệu quả thấp.

Dưới đây là ý kiến của cán bộ quản lý và GV về những hình thức đã tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường:

  • Bảng 2.5. Mức độ thực hiện các hình thức tổ chức Hoạt động trải nghiệm S trong trường TH

Dựa vào kết quả bảng trên cho thấy : Hình thức tổ chức mà đa số GV đã thường xuyên tiến hành là: Trò chơi (chiếm 83,3%). Những hình thức GV thỉnh thoảng tiến hành gồm: Tham quan, dã ngoại (chiếm 94,4%); Hoạt động nhân đạo (chiếm 86,1%); Hoạt động tình nguyện (chiếm 83,3%); Lao động công ích (chiếm 80,5%); Sinh hoạt tập thể (chiếm 75%). Ngoài ra có những hình thức mà không bao giờ GV tiến hành chiếm tỉ lệ cao như: Tổ chức diễn đàn (chiếm 69,4%); Sân khấu tương tác (chiếm 72,2%); Hoạt động chiến dịch (chiếm 75%).

Qua khảo sát ta thấy các hình thức tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn rất đơn điệu, nghèo nàn, mới chỉ tập trung vào một số hình thức: thi hát múa, kể chuyện hoặc nghe báo cáo…chưa kết hợp được đa dạng các loại hình khác nhau khi tổ chức thực hiện chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS. Những hình thức này được tổ chức lặp đi lặp lại gây nhàm chán, không thu hút được sự tham gia nhiệt tình của HS, các em không còn hứng thú và mất đi sự sáng tạo cũng như vai trò chủ thể của mình trong mỗi hoạt động. Còn các hình thức khác mặc dù là rất cần thiết nhưng lại được tổ chức rất thưa thớt, thậm chí có những lớp không tổ chức. Theo đánh giá chung của GV và Cán bộ quản lý, hiệu quả của những hình thức tổ chức đã được tiến hành chưa cao.

Nguyên nhân của thực trạng trên như sau: Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

  • Thứ nhất, phần lớn các hình thức trên Giáo viên chủ nhiệm chỉ việc tư vấn câu hỏi, tổ chức không phức tạp, không chiếm nhiều thời gian đầu tư của các em HS.
  • Thứ hai, vai trò cố vấn, khả năng huy động lực lượng tham gia còn chưa tốt; hơn nữa điều kiện sân bãi, phòng học, thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động.
  • Thứ ba, Giáo viên chủ nhiệm không nhiệt tình tâm huyết và không chịu đầu tư thời gian cho việc tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo vì công tác chuyên môn, các công tác chủ nhiệm khác đã chiếm nhiều thời gian.
  • Thứ tư, GV chưa được đào tạo bài bản, thiếu kĩ năng và năng lực tổ chức các hoạt động, việc thiết kế giáo án theo hướng tích hợp nội dung các môn học hạn chế;
  • Thứ năm, một số hình thức tổ chức cán bộ quản lý của trường chưa đồng tình vì khi tổ chức gây tốn kém, chưa đảm bảo an toàn.
  • Thứ sáu, việc kiểm tra đánh giá của Ban Giám hiệu chưa sát sao. Chính vì các hình thức tổ chức quá đơn điệu dẫn đến HS bị bó buộc, cảm thấy nhàm chán, hoạt động chủ yếu chỉ tập trung vào một số HS bạo dạn, chủ động, không phát huy được tiềm năng của tập thể lớp và của từng cá nhân HS.

Như vậy, việc thực hiện chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo vẫn chỉ mang tính hình thức, không chú ý đến hình thức tổ chức, chưa khai thác được hết tiềm năng của HS, vai trò chủ thể HS bị mờ nhạt trong các tiết học. Nội dung của các chủ đề ít thay đổi, hình thức hoạt động thiếu tính đa dạng gây nên sự nhàm chán trong hoạt động dẫn tới hiệu quả giáo dục không cao.

2.3.6. Thực trạng về tỷ lệ HS được GV đánh giá trong Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở mỗi hoạt động:

Đánh giá kết quả tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là việc làm rất khó khăn so với việc đánh giá giờ dạy trên lớp, song việc đánh giá đúng sẽ động viên, thúc đẩy hoạt động và ngược lại. Đánh giá kết quả tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất khó vì có rất nhiều hoạt động và kết quả không rõ ràng ngay được. Do đó, cần có những tiêu chí cụ thể để có thể đánh giá một cách chính xác kết quả tổ chức các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

Bảng sau đây cho chúng ta biết ý kiến của GV về tỷ lệ HS được GV đánh giá trong Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở mỗi hoạt động: Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

  • Bảng 2.6. Tỷ lệ HS được GV đánh giá trong Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở mỗi hoạt động

Kết quả là: Không có GV nào thực hiện được việc đánh giá từng HS trong Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở mỗi hoạt động đạt mức trên 70%. Đối với mức đánh giá từ 50% đến 69% cũng đạt tỉ lệ tương đối thấp (cao nhất chỉ đạt 22,2%). Còn đối với mức đánh giá từ 30% đến 49% thì các phẩm chất và năng lực đạt tỉ lệ tương đối cao là: Sống yêu thương (chiếm 72,2%); Sống mẫu mực (chiếm 52,8%); Sống trách nhiệm (chiếm 50,0%); Năng lực tự học (chiếm 55,6%); Năng lực thẩm mĩ (chiếm 63,9%); Năng lực thể chất (chiếm 75,0%); Năng lực giao tiếp (chiếm 58,4%); Năng lực tính toán (chiếm 55,6%); Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân (chiếm 58,3%). Tuy nhiên ở mức đánh giá từ 11% đến 29% đa số các phẩm chất và năng lực được đánh giá nằm trong khoảng từ 11,1 % đến 36,1 %. Với các năng lực sau đa phần GV chỉ đánh giá được dưới 10% với tỉ lệ cao: Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (chiếm 50,0%); Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (chiếm 52,8%); Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động (chiếm 50,0%); Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống gia đình (chiếm 47,2%); Năng lực định hướng nghề nghiệp (chiếm 55,6%); Năng lực khám phá và sáng tạo (52,8%). Qua phỏng vấn các GV, tôi thấy sở dĩ có các tỉ lệ đánh giá trên là do tiêu chí đánh giá của GV chưa rõ ràng, việc đánh giá còn chung chung theo nhóm hay tập thể lớp, chưa đánh giá được mỗi cá nhân. Mặt khác, số GV biết kết hợp giữa sự tự đánh giá của HS và nhà sư phạm còn ít, việc đánh giá chủ yếu do GV thực hiện. Và đây là một trong những nguyên nhân khiến cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa đạt được mục tiêu hình thành các năng lực, phẩm chất cho HS.

2.4. Thực trạng quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

2.4.1. Thực trạng về mức độ quản lý thực hiện chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường TH:

Yêu cầu của nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo phải bám sát chương trình, khoa học, rõ ràng và thể hiện “Tính vừa sức” đối với HS. Ngoài ra, nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần được xây dựng cụ thể tùy vào tình hình thực tế phù hợp với tình hình của nhà trường và của địa phương dựa trên cơ sở hướng dẫn của Sở và Phòng GD&ĐT. Do đó việc quản lý phát triển nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là vô cùng quan trọng.

Để tìm hiểu về thực trạng quản lý việc thực hiện phát triển nội dung chương trình, tôi đã tiến hành khảo sát Cán bộ quản lý và GV, kết quả như sau:

  • Bảng 2.7. Mức độ quản lý thực hiện chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Đội ngũ GV nhất là Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng nòng cốt để biến toàn bộ mục tiêu, kế hoạch hoạt động của nhà quản lý tới đích đã định. Song thực tế đội ngũ Giáo viên chủ nhiệm của trường được trang bị rất ít về nghiệp vụ tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hàng năm chỉ được tham gia học bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ giảng dạy. Thông thường chỉ có Tổng phụ trách được đi học các lớp về nghiệp vụ công tác Đội. Những GV này khi về trường lại chưa tham mưu với Ban Giám hiệu về tổ chức lớp tập huấn tại trường cho đội ngũ Giáo viên chủ nhiệm. Việc bồi dưỡng chỉ dừng lại ở việc tập huấn kĩ năng tổ chức hoạt động cho đội ngũ cán bộ Đội là HS các lớp. Chính vì vậy, khi triển khai Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhiều Giáo viên chủ nhiệm chưa nắm được nội dung. Các chủ đề của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo lại theo cấu trúc đồng tâm nên dẫn đến việc năm học sau Giáo viên chủ nhiệm cố vấn HS tổ chức hoạt động giống như năm trước dẫn đến hiệu quả giáo dục của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa cao. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Kết quả điều tra ở bảng trên cho thấy, các kế hoạch tập huấn và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho đội ngũ Giáo viên chủ nhiệm chưa được thực hiện thường xuyên, lác đác có ý kiến cho là thỉnh thoảng thực hiện, tuy nhiên phần lớn GV cho ý kiến là không thực hiện: Hướng dẫn về mục tiêu, nội dung, phương pháp (KTH chiếm 61,1%); Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ (KTH chiếm 58,4%)). Điều này dẫn đến một số Giáo viên chủ nhiệm cao tuổi hoặc GV trẻ mới vào nghề không biết cách thức triển khai Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho lớp mình.

Qua phỏng vấn GV, tôi nhận thấy nhà trường rất ít khi thực hiện các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ cho GV và các lực lượng tham gia phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Chủ yếu là cử GV tham gia các lớp bồi dưỡng của Phòng GD&ĐT, Sở GD & ĐT tổ chức. Ngoài ra, việc mở các lớp tập huấn, tổ chức tọa đàm thực chất cũng chỉ lồng ghép vào những buổi họp nên hiệu quả chưa cao. Đồng thời 100% ý kiến GV được hỏi đều thống nhất nhà trường chưa tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ về tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường. Việc tham quan học hỏi được đa số GV đánh giá là chưa bao giờ tổ chức. Điều này cũng dễ hiểu bởi nhà trường chưa có đủ điều kiện để đưa GV đi giao lưu trao đổi kinh nghiệm mà chủ yếu qua các hình thức và khả năng cho phép của nhà trường.

Bên cạnh đó rất nhiều ý kiến GV cho rằng lãnh đạo nhà trường thường xuyên cho GV chủ động về phát triển nội dung chương trình và tùy ý lựa chọn hình thức, phương pháp dạy học… Đây chính là một tín hiệu đáng mừng, giúp GV có thể chủ động, linh hoạt trong thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Tuy nhiên khi phỏng vấn GV tôi thấy có nhiều GV không tận dụng cơ hội này mà vẫn tiến hành các hoạt động theo hướng dẫn trong sách; một số GV thậm chí không tổ chức hoạt động vì công tác kiểm tra của Ban Giám hiệu chưa sát sao; công tác quản lý của Ban Giám hiệu chưa đi sâu, chưa nắm bắt tình hình thực tế..

Hơn nữa, nhìn vào bảng khảo sát ta thấy lãnh đạo nhà trường hầu như không quan tâm tới việc Hỗ trợ, giúp đỡ để GV phát triển năng lực (KTH chiếm 72,2%) hay Động viên, khích lệ GV tham gia phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thực hiện trong nhà trường (KTH chiếm 75%) trong việc thực hiện hoạt động này. Đồng thời việc nắm bắt tình hình thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo để kịp thời phát hiện những sai lệch từ đó có biện pháp tư vấn, thúc đẩy kịp thời cũng chưa được Ban Giám hiệu quan tâm đúng mức, thể hiện Lấy ý kiến của GV, HS và Phụ huynh học sinh để kịp thời điều chỉnh, uốn nắn sai lệch đối với phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thực hiện trong nhà trường sau mỗi năm (KTH chiếm 80,5%).

Từ những phân tích trên cho thấy thực trạng việc quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của Ban Giám hiệu còn nặng ở hình thức, chưa sâu sát và còn thiếu tính thực tế, chủ yếu thông qua quy định bằng văn bản, cần phải đổi mới cơ chế quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường.

2.4.2. Thực trạng về công tác kiểm tra – đánh giá việc thực hiện các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV: Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Việc kiểm tra, giám sát và đánh giá GV thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là rất quan trọng trong quản lý của Ban Giám hiệu. Thông qua kết quả kiểm tra, nhà quản lý sẽ có kế hoạch điều chỉnh các biện pháp phù hợp nhất. Để tìm hiểu thực trạng công tác này, tôi đã tiến hành khảo sát cán bộ quản lý và GV, kết quả thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.8. Công tác kiểm tra – đánh giá việc thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV

Bảng 2.8 cho thấy thực trạng công tác kiểm tra – đánh giá chủ yếu bị đánh giá thấp. Duy nhất công tác kiểm tra đánh giá thông qua hồ sơ giáo án được đánh giá tương đối tốt đạt 52,8% ở mức thực hiện thường xuyên và 47,2% ở mức thực hiện thỉnh thoảng. Tuy vậy việc kiểm tra hồ sơ giáo án mới chỉ dừng lại ở việc GV có soạn nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo hay không; còn việc triển khai có hiệu quả hay không hay công tác tự kiểm tra còn yếu thì chưa chú ý đến các nội dung cụ thể. Việc kiểm tra thường xuyên các tiết Hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn chưa được quan tâm chú trọng.

Còn nội dung kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua trực tiếp tham dự các hoạt động giáo dục của GV như: dự giờ đột xuất, kiểm tra giáo án, dự tiết sinh hoạt lớp và dưới cờ được thực hiện chưa thường xuyên và chưa tốt (có tới 63,9% ý kiến cho rằng Ban Giám hiệu không thực hiện). Việc kiểm tra đánh giá nhiều khi mang tính hình thức, chủ yếu là giao phó cho Đoàn Đội với mục đích là để xếp loại thi đua giữa các lớp trong trường mà chưa làm tốt việc đánh giá rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung phương pháp tổ chức hoạt động.

Việc GV kiểm tra kết quả thực hiện phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua việc đánh giá năng lực của HS mới dừng ở việc đánh giá tập thể, chưa đánh giá được mỗi cá nhân HS do đó Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa đạt được mục đích là hình thành phẩm chất và năng lực thực tiễn cho mỗi cá nhân (KTH chiếm 77,8%). Qua trao đổi với một số Cán bộ quản lývà GV cho thấy việc đánh giá hoạt động này rất khác nhau thường theo kế hoạch riêng của từng GV. Việc sử dụng kết quả đánh giá HS chủ yếu mới được dùng trong việc nhận xét về ý thức, thái độ.

Với nội dung: Kiểm tra công tác phối hợp và huy động nguồn lực của các lực lượng giáo dục thì GV làm chưa tốt (KTH chiếm 61,1%). Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Từ các phân tích thực trạng trên đặt ra cho Ban Giám hiệu cần có biện pháp đi vào thực chất, thực tế. Thường xuyên, định kỳ tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng như các điều kiện để tổ chức thực hiện hoạt động. Nói cách khác, Cán bộ quản lý giáo dục nhà trường cần phải có những biện pháp quản lý công tác kiểm tra, đánh giá phù hợp, hiệu quả hơn.

2.4.3. Thực trạng quản lý việc bồi dưỡng các lực lượng làm công tác phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

CSVC, trang thiết bị, kinh phí luôn là một trong các điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục nhà trường nói chung và chất lượng của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói riêng. Làm tốt công tác quản lý Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học sẽ thực sự góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục toàn diện HS, chính vì vậy những năm gần đây nhà trường thường xuyên đầu tư Cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục thể chất và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Hàng năm nhà trường có sự cân đối nguồn ngân sách được cấp, đầu tư mua sắm Cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo, đồng thời dành một phần kinh phí cho các chương trình hoạt động ngoại khóa… Các sân chơi, phòng chức năng được nhà trường đầu tư xây dựng và nâng cấp. Bước đầu các công trình đó đã góp phần nâng cao hiệu quả của công tác phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

Mặc dù vậy do nguồn ngân sách được cấp còn eo hẹp, nên chưa đáp ứng được hết các yêu cầu giáo dục của nhà trường. Việc huy động sự tài trợ của CMHS, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, các nhà hảo tâm còn hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Tuy vậy chủ yếu vẫn ưu tiên cho công tác dạy và học còn Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng chưa được đầu tư nhiều.

  • Bảng 2.9. Quản lý điều kiện Cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của Ban Giám hiệu

Qua số liệu của bảng cho trên cho thấy: Ban Giám hiệu nhà trường đã quan tâm tăng cường đầu tư và sử dụng trang thiết bị (như loa đài,sách GV, tư liệu tham khảo,…) cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Các mặt khác như: kinh phí dành cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo chủ đề, huy động các nguồn kinh phí cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng được Hiệu trưởng thực hiện khá tốt.

Các lực lượng tham gia phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ cần phải có đầy đủ năng lực, nghiệp vụ cần thiết. Việc đào tạo tại các trường sư phạm, thực tập sư phạm chưa đủ để họ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Vì thế, nhà trường cần có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ và động viên họ tự bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho mình. Tuy nhiên, kinh phí cho tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho Giáo viên chủ nhiệm chưa tốt (Không thực hiện chiếm tới 63,8%). Còn chế độ đối với Giáo viên chủ nhiệm cũng chưa thực hiện được (Không thực hiện chiếm tới 77,8%), nguyên nhân là do ngân sách của trường còn rất nhiều hoạt động phải chi. Đây là khó khăn chung của đa phần các trường TH trên địa bàn quận Đống Đa.

Việc lập kế hoạch mua sắm bổ sung trang thiết bị phục vụ cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng ít được quan tâm, có tới 36,1% đánh giá ở mức thỉnh thoảng thực hiện. Hầu hết trang thiết bị phục vụ cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là những thứ đồ dùng sử dụng cho các môn văn hóa được trưng dụng phục vụ cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Sân chơi, bãi tập chủ yếu được dùng cho môn thể dục rất hiếm khi được sử dụng cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

Về việc sử dụng trang thiết bị phục vụ cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất ít, không đáng kể thể hiện ở 11,1% ý kiến cho rằng Ban Giám hiệu không thực hiện, 55,6% ý kiến cho rằng Ban Giám hiệu thỉnh thoảng mới thực hiện. Một mặt do nguồn ngân sách được cấp còn eo hẹp chưa đáp ứng được hết các yêu cầu giáo dục của nhà trường. Một mặt việc huy động sự tài trợ của CMHS, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, các nhà hảo tâm còn ít nên chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Thực tế cho thấy tăng cường Cơ sở vật chất, nguồn tài chính, xã hội hóa giáo dục là vấn đề khó khăn. Ở một số trường TH trong Quận Đống Đa, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn là không có nhiều nên khó tranh thủ được sự hỗ trợ của họ. Việc các trường mở rộng diện tích, khuôn viên trường để đạt chuẩn quốc gia cũng rất khó vì xung quanh đều là nhà dân ở, đây cũng là vấn đề mà lãnh đạo Quận, lãnh đạo Phòng GD&ĐT đang quan tâm, tìm giải pháp.

Như vậy, việc quản lý sử dụng, phát triển Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đòi hỏi Ban Giám hiệu phải năng động, có sự phối kết hợp các lực lượng giáo dục để hoạt động này ngày càng có hiệu quả.

Đồng thời qua đây có thể kết luận rằng việc quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của nhà trường chưa đạt hiệu quả cao. Cán bộ quản lý cần có những biện pháp để nâng cao chất lượng hoạt động này trong thời gian tới.

2.4.4. Thực trạng quản lý việc thu hút các lực lượng giáo dục tham gia tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Việc giáo dục HS phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục là: gia đình, nhà trường và xã hội. Việc phối hợp này tốt sẽ mang lại hiệu quả cao cho việc giáo dục HS thông qua các tiết Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Tuy nhiên, việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục này không hề đơn giản, đặc biệt là các lực lượng ngoài nhà trường như: Phụ huynh học sinh hoặc các tổ chức xã hội, ban, ngành, đoàn thể… Để làm tốt việc này đòi hỏi sự quan tâm và quản lý tốt của Hiệu trưởng nhà trường. Thực trạng việc quản lý này của Hiệu trưởng trường TH Văn Chương được thể hiện qua hiệu quả hoạt động phối hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như sau:

  • Bảng 2.10. Hiệu quả của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường với Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Như vậy, các lực lượng tham gia phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được đánh giá ở mức Hiệu quả chỉ có lực lượng trong nhà trường, cụ thể: Ban Giám hiệu (chiếm 86,1%); Giáo viên bộ môn (chiếm 75%); Giáo viên chủ nhiệm (chiếm 80,6%); Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (chiếm 63,9%). Điều này phản ánh chính xác một thực tế đây chính là lực lượng chính tham gia phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Các lực lượng khác hầu như không tham gia vào phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, thể hiện ở nội dung: Cộng đồng xã hội có 47,2% đánh giá Ít hiệu quả, 52,8% đánh giá Không hiệu quả; Phụ huynh học sinh có 13,9% đánh giá Hiệu quả, 58,3% đánh giá Ít hiệu quả, 27,8% đánh giá Không hiệu quả … Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Như ta thấy huy động tốt các lực lượng giáo dục trong nhà trường đã khó, huy động lực lượng giáo dục ngoài nhà trường càng khó hơn. Thực tế việc phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đều do Giáo viên chủ nhiệm tự xây dựng kế hoạch, không có sự tham gia của lực lượng ngoài nhà trường, sự phối hợp của lực lượng trong nhà trường còn ít ỏi. Việc phối hợp với Phụ huynh học sinh cũng không có. GV cho biết: Phụ huynh học sinh đa số là cán bộ, đi làm suốt ngày, họ có kiến thức nhưng không có thời gian tham gia vào hoạt động, chưa kể đến có Phụ huynh học sinh chỉ muốn đầu tư cho con học thêm chứ không muốn con mất thời gian cho các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo vì họ hiểu đơn giản Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động vui chơi giải trí. Tâm lý GV ngại phiền phức; hơn nữa việc soạn giáo án, chuẩn bị cho một tiết dạy theo phương pháp mới ngày nay khiến GV mất nhiều thời gian nên không thể đầu tư tốt cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và nhất là khi Ban Giám hiệu cũng chẳng yêu cầu khắt khe, chưa chú trọng đến khâu kiểm tra đánh giá. Với các hoạt động tự chọn, nhà trường mới chỉ làm tốt ở việc phối hợp với lực lượng công an trong việc tuyên truyền luật giao thông đường bộ vào dịp đầu năm học.

Bên cạnh đó kết quả phỏng vấn một số GV cho thấy: Giáo viên chủ nhiệm thường kết hợp với Giáo viên bộ môn trong tổ chức hoạt động lớp. Song, việc phối hợp của Giáo viên chủ nhiệm với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường chưa tốt, chưa huy động được sự đóng góp cả về công sức, kinh phí của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường (nhất là Phụ huynh học sinh) đối với Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Như vậy là công tác phối hợp các lực lượng xã hội; cha mẹ HS để tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn nhiều hạn chế.

Nguyên nhân: Thứ nhất, do tâm lí Giáo viên chủ nhiệm ngại liên hệ với Phụ huynh học sinh, nhất là việc vận động kinh phí của Phụ huynh học sinh đóng góp cho tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, việc liên hệ chủ yếu là truyền đạt một chiều với nội dung thông báo tình hình học tập, chấp hành nội quy của HS về gia đinh. Thứ hai, Cán bộ quản lý của nhà trường chưa có biện pháp khích lệ, động viên, ghi nhận những Giáo viên chủ nhiệm đã có kết hợp tốt các lực lượng khác trong tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Thứ ba, chưa tạo điều kiện tối đa, chưa có cơ chế tốt để các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường phối hợp với nhau trong tổ chức triển khai Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và cũng chưa tạo động lực để khích lệ sự yêu thích tham gia đóng góp cho phong trào của các lực lượng này. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Có thể thấy nhà trường chưa huy động được sự tham gia của Phụ huynh học sinh và các lực lượng khác như các tổ chức chính trị xã hội địa bàn, chính quyền địa phương các cấp. Lực lượng quản lý và tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là Giáo viên chủ nhiệm và do vậy nếu không bồi dưỡng thường xuyên Giáo viên chủ nhiệm về năng lực quản lý, tổ chức thì việc phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo không thể có hiệu quả cao được. Ban Giám hiệu cần có các biện pháp để huy động các lực lượng tham gia đông đảo vào Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội

2.5.1. Những kết quả đạt được

Từ việc đánh giá, phân tích các kết quả khảo sát có thể thấy các biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện HS.

CBQL đã triển khai và thực hiện đầy đủ tinh thần chỉ đạo của Phòng, Sở GD&ĐT về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Tùy theo đặc điểm, tình hình, điều kiện thực tế trường đã có những hoạt động phù hợp thu hút sự tham gia của HS. Công tác kiểm tra đánh giá có sự chỉ đạo thống nhất từ Ban Giám hiệu tới các tổ nhóm chuyên môn và toàn thể GV trong nhà trường.

2.5.2. Những hạn chế

Vẫn còn một số Cán bộ quản lý và GV chưa nhận thức đúng đắn về mức độ ảnh hưởng của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với sự hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực thực tiễn của HS. Một số GV chỉ chú tâm vào việc truyền thụ các tri thức khoa học và bỏ qua hoàn toàn việc tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS. Một số khác ngại khó nên không đầu tư tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo đúng kế hoạch mà chỉ thực hiện đối phó khi Ban Giám hiệu kiểm tra.

Việc quản lý nội dung phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của Cán bộ quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém, do đó GV soạn giáo án mang tính chất đối phó, chưa đầu tư. Hình thức và nội dung hoạt động chưa phong phú, hấp dẫn nên hiệu quả chưa cao và chưa thu hút được sự tham gia của HS. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho GV còn bị xem nhẹ, chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức, chưa được làm thường xuyên. Do đó kỹ năng tổ chức cho GV bị hạn chế nên họ thường bám sát nội dung hướng dẫn của sách GV. Các em HS ở trạng thái bị động, không có cơ hội tự mình thiết kế, điều khiển hoạt động theo ý tưởng của cá nhân.

Sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường rất thấp. Nhà trường chưa phát huy được sức mạnh của Phụ huynh học sinh, chưa mở rộng phạm vi hoạt động và giao lưu với các lực lượng bên ngoài nhà trường.

Việc kiểm tra, đánh giá về phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV chưa được quan tâm đúng mức và chưa được tiến hành thường xuyên. Việc sử dụng kinh phí, Cơ sở vật chất và phương tiện giảng dạy còn nhiều thiếu thốn. Kinh phí dành cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất ít ỏi; thiếu phòng chức năng…

2.5.3. Nguyên nhân của hạn chế

  • Nguyên nhân chủ quan

Do nhiều Giáo viên chủ nhiệm còn đặt việc phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào vị trí thứ yếu dẫn đến việc chưa có sự quan tâm nhiều đến nội dung, hình thức của hoat động làm cho nó trở nên nghèo nàn đơn điệu, chưa đa dạng phong phú, chưa phù hợp với tâm sinh lý của HS. Cán bộ quản lý, Giáo viên chủ nhiệm, Phụ huynh học sinh còn mang nặng tâm lí rất sợ đưa các em ra ngoài trường hoạt động với lí do: không đảm bảo được an toàn về tính mạng và tài sản của các em; không có kinh phí để tổ chức các hoạt động lớn.

Do việc bồi dưỡng đội ngũ Giáo viên chủ nhiệm để có nghiệp vụ phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo làm chưa tốt bởi lí do nhà trường tập trung vào công tác chuyên môn là chính, đầu tư cho các môn học văn hóa nhiều hơn đầu tư cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Phần lớn GV thực hiện phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo không được đào tạo nghiệp vụ tổ chức mà đôi khi mới được bồi dưỡng chuyên đề nên kỹ năng tổ chức hoạt động rất hạn chế. Điều này cũng dẫn tới việc kiểm tra đánh giá phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chỉ làm hình thức, chưa quan tâm đánh giá một cách thực chất để rút kinh nghiệm. Vì vậy, việc triển khai các hình thức tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn chưa cao. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Bên cạnh đó, do sự nhận thức chưa đúng của các lực lượng giáo dục về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nên người làm công tác quản lý cũng ngại không muốn vận động mọi người tham gia, tổ chức, hỗ trợ cho hoạt động sợ sự kêu ca, phản ứng của các lực lượng này.

Mặt khác, như ở trên ta thấy việc đánh giá của Hiệu trưởng về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là việc làm rất khó khăn. Đánh giá không chỉ nhận xét chung về tinh thần, thái độ tham gia mà đánh giá phải được ghi nhận thông qua việc đánh giá xếp loại toàn diện HS hay Tránh tình trạng GV làm hay không làm đều như nhau và không được ghi nhận. Để động viên kịp thời, sự đánh giá còn được thể hiện bằng vật chất tương xứng với thành tích về văn hoá, đặc biệt nên đánh giá động viên được cả tập thể thì sẽ mang lại sinh khí và sức mạnh cho GV và HS tham gia Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có hiệu quả.

Điều kiện tổ chức, phương tiện sẽ làm tăng tính hấp dẫn để hoạt động có hiệu quả. Chẳng hạn trong các buổi chào cờ, sinh hoạt tập thể không thể thiếu các phương tiện như loa máy, băng hình, tranh ảnh hoặc có thể máy chiếu Projector… Kinh phí cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Nếu không huy động được kinh phí thì hoạt động khó đạt được hiệu quả như ý muốn. Chính vì vậy, việc huy động sức mạnh, sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục về kinh phí cũng như Cơ sở vật chất là vô cùng cần thiếu tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đạt hiệu quả cao.

CBQL và GV ở trường TH chưa đầu tư đúng mức cho công tác quản lý và tổ chức hoạt động hiệu quả. GV và HS còn bị áp lực về thi cử và chất lượng của các bộ môn văn hóa nên chưa thực sự đầu tư cho hoạt động này. Đa số đều thực hiện và tham gia một cách hình thức mà chưa quan tâm đến chất lượng của hoạt động.

Sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường chưa chặt chẽ, chưa phát huy được hết tiềm năng của các lực lượng giáo dục. Hình thức hoạt động chưa phong phú, nội dung nghèo nàn, chưa phù hợp với nguyện vọng nên chưa lôi cuốn, tạo sức hấp dẫn đối với HS. Nhà trường chưa dành nhiều kinh phí cho hoạt động, ngại tốn kém. Tổ chức quản lý chưa chặt chẽ, việc kiểm tra đánh giá chưa thường xuyên, công tác tổng kết, rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức.

  • Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Điều ảnh hưởng đầu tiên và trực tiếp tới phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chính là yếu tố nội tại, cơ bản của hoạt động giáo dục: nội dung. Nội dung chính là yếu tố quy định Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Hiện nay tốc độ phát triển của khoa học kĩ thuật tăng theo cấp số nhân, sách giáo khoa, tài liệu không kịp cập nhật nên việc mở rộng kiến thức phù hợp với lứa tuổi làm cho HS hào hứng, có tác dụng bổ trợ kịp thời cho giờ học trên lớp và giáo dục tư tưởng đạo đức và kỹ năng sống. HS TH ham hiểu biết, có trình độ tư duy phát triển, đã hình thành và phát triển các kỹ năng và thói quen, các em thích tìm tòi, ham thích cái mới và ngày càng có nhiều điều kiện để tiếp cận với thông tin phong phú. Vì vậy, nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS TH cũng phải đa dạng, gắn với thực tiễn học tập và rèn luyện hàng ngày của các em, phù hợp với lứa tuổi, chủ đề hoạt động gắn liền với những vấn đề thời sự. Có như vậy, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo mới đáp ứng mục tiêu của từng hoạt động và mục tiêu chung của giáo dục. Nếu nội dung nghèo nàn, đơn điệu không phù hợp với lứa tuổi sẽ khó thu hút được các thành viên tham gia hoạt động, kết quả sẽ hạn chế.

HĐTNST là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực thực tiễn của HS, góp phần giáo dục toàn diện nhưng trên thực tế chưa thực sự là một tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá thi đua của các trường. Việc đánh giá nhà trường, đánh giá GV, HS chủ yếu căn cứ vào kết quả của hoạt động dạy – học nên các trường chỉ quan tâm đến chất lượng dạy học mà ít quan tâm đến phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

Chuẩn kiểm tra đánh giá, khen thưởng cho hoạt động này chưa rõ ràng, chưa có tác dụng thúc đẩy hoạt động đi vào chiều sâu giữa các trường có phong trào Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tốt và các trường thực hiện chưa tốt.

Thời gian của GV và HS dành cho hoạt động này chưa nhiều, dẫn đến hình thức hoạt động chưa phong phú, nội dung chưa hấp dẫn. Phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nên không tạo điều kiện để các em hoạt động mà chỉ ép các em học các môn văn hóa.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

Từ việc nghiên cứu thực trạng quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

Tiết Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện theo chương trình của Bộ GD&ĐT nhưng còn mang nặng tính hình thức nên chưa đáp ứng được nhu cầu của HS và mục tiêu giáo dục đề ra. Nhà trường chưa chú ý đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động nên chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của HS.

Công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm về phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã được nhà trường thực hiện, tuy nhiên chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng, các biện pháp chưa đồng bộ, việc kiểm tra chưa thường xuyên nên chưa mang lại kết quả nhất định.

Chưa chú trọng việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nên chưa phát huy được sức mạnh của lực lượng này.

Phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường vẫn chưa được chỉ đạo một cách đồng đều, chưa được đông đảo các lực lượng giáo dục xác định là trọng tâm của nhà trường, do đó chưa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy cần khắc phục những hạn chế nêu trên của phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và có những biện pháp quản lý một cách hợp lý, khoa học đối với phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo để Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thực sự phát huy vai trò hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội… cũng như các tiềm năng sáng tạo của cá nhân HS. Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993