Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên trường đại học nông lâm Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh là một trường đại học đa ngành, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, tọa lạc trên khu đất rộng 118 ha, thuộc khu phố 6, phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và xã Đông Hòa, huyện Dĩ An – Tỉnh Bình Dương. Tiền thân của nhà trường là Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc (1955). Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhà trường có các  tên gọi và chức năng nhiệm vụ khác nhau. Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc (1955). Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1963). Học viện Nông nghiệp (1972). Trường Đại học Nông nghiệp Sài gòn (thuộc Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức – 1974). Trường Đại học Nông nghiệp 4 (1975), Trường Đại Học Nông Lâm Nghiệp TP.HCM (1985) trên cơ sở sát nhập hai Trường Cao đẳng Lâm nghiệp (Trảng Bom – Đồng Nai) và Trường Đại học Nông nghiệp 4 (Thủ Đức – TP.HCM). Trường Đại học Nông Lâm (thành viên Đại học Quốc gia TP.HCM 1995). Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013).

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh là trường đại học công lập đa ngành, đa lĩnh vực có nhiệm vụ đào tạo bậc đại học và sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Nông Lâm Ngư Nghiệp và các lĩnh vực liên quan. Từ năm 2013 Trường mở rộng đào tạo sang các lĩnh vực khác như: Công nghệ thông tin, Công nghệ môi trường, Công nghệ sinh học, Ngoại ngữ và Sư phạm Kỹ thuật nông nghiệp, Công nghệ ôtô, Công nghệ nhiệt lạnh, Cơ điện tử, Điều khiển tự động, Công nghệ địa chính, Kế toán, Quản trị kinh doanh, Quản lý thị trường bất động sản. Nhà  trường đã và đang đào tạo lớp lớp những thế hệ kỹ sư, chuyên viên, chuyên gia, góp phần quan trọng cùng  giáo dục cả nước thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chức năng nhiệm vụ của nhà trường là: đào tạo, bồi dưỡng và liên thông đa ngành, đa hệ với nhiều trình độ khác nhau (tiến sĩ, thạc sỹ, đại học, cao đẳng…) nhằm phát triển đa dạng nguồn nhân lực cho cả nước đặc biệt là các tỉnh thuộc khu vực miền Nam.

  • Nghiên cứu khoa học và hợp tác nghiên cứu khoa học với các đơn vị trong và ngoài nước phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội cho toàn bộ các tỉnh phía Nam.
  • Hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người sản xuất.

Cơ cấu tổ chức của nhà trường: từ khi thành lập vào năm 1955 cho đến hiện nay, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu tổ chức, mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, nội dung đào tạo cho phù hợp với yêu cầu qua từng thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hiện nay Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh có 12 khoa, 04 bộ môn trực thuộc trường, 01 viện nghiên cứu Công nghệ sinh học và môi trường, 14 trung tâm, 12 phòng ban chức năng, 01 thư viện, hệ thống ký túc xá cho trên 3750 sinh viên, 01 Phân hiệu tại tỉnh Gia Lai và 1 Phân hiệu tại tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

  • Ban Giám hiệu: gồm có 01 Hiệu trưởng và 03 Phó hiệu trưởng.

Các phòng chức năng gồm 12 phòng: phòng Đào tạo, phòng Sau đại học, phòng Hợp tác quốc tế, phòng Công tác sinh viên, phòng Hành chính, phòng Quản trị vật tư, phòng Tổ chức cán bộ, phòng Công đoàn trường, phòng Quản lý nghiên cứu khoa học, phòng Kế hoạch tài chính, phòng Thanh tra, phòng Thư viện.

Các khoa trực thuộc gồm 12 khoa: Khoa nông học, Khoa lâm nghiệp, Khoa chăn nuôi thú y, Khoa thủy sản, Khoa kinh tế, Khoa cơ khí công nghệ, Khoa công nghệ thực phẩm, Khoa công nghệ thông tin, Khoa quản lý đất đai và bất động sản, Khoa khoa học xã hội, Khoa môi trường và tài nguyên, Khoa ngoại ngữ.

Các môn trực thuộc, gồm 4 bộ môn: Bộ môn lý luận chính trị, Bộ môn công nghệ hóa học, Bộ môn công nghệ sinh học, Bộ môn sư phạm kỹ thuật.

Các trung tâm có 14 trung tâm: Trung tâm nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ địa chính, Trung tâm ngoại ngữ, Trung tâm khảo thí và đào tạo chất lượng, Trung tâm hỗ trợ sinh viên và quan hệ doanh nghiệp, Trung tâm tin học ứng dụng, Trung tâm đào tạo quốc tế, Trung tâm nghiên cứu bảo quản và chế biến rau quả, Trung tâm năng lượng và máy nông nghiệp, Trung tâm nghiên cứu biến đổi khí hậu, Trung tâm môi trường, Trung tâm công nghệ và thiết bị nhiệt lạnh, Trung tâm bồi dưỡng kiến thức, Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ.

  • Đội ngũ các cán bộ công nhân viên

Đội ngũ giáo viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh là một tập thể đoàn kết thống nhất, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, nhiệt tình trong công tác, tâm huyết với nghề nghiệp, có tính cộng đồng cao. Những thầy cô giáo lớn tuổi có tay nghề vững, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, mẫu mực trong cuộc sống, luôn sẵn sàng giúp đỡ, dìu dắt thế hệ trẻ. Lực lượng giáo viên trẻ, năng động, kiến thức vững, ham hoạt động, hăng say và có chí tiến thủ.

  • Bảng 2.1 : Phân loại cán bộ trường đại học Nông Lâm

Hiện nay, trường có 885 cán bộ viên chức: trong đó cán bộ giảng dạy là 611 (tiến sĩ là 106; thạc sĩ là 226; đại học là 279), cán bộ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ 21 (trong đó tiến sĩ là 5; thạc sĩ là 1; đại học là 15), cán bộ phục vụ giảng dạy là 244 (trong đó đại học 85) và cán bộ quản lý hành chính là 9 (trong đó có 5 là thạc sĩ).

  • Bảng 2.2 : Tổng hợp số lượng về đội ngũ cán bộ giảng viên của ở trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (tính đến 12/2025) Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Theo số liệu trên thì số lượng giảng viên hiện có của nhà trường cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo của Trường. Cơ cấu đội ngũ giảng viên tương đối hợp lý cho các ngành và chuyên ngành đào tạo. Số lượng giảng viên có học vị tiến sĩ, thạc sĩ chiếm tỷ lệ cao. Đội ngũ giảng viên của Trường được bổ sung thường xuyên và đang được trẻ hóa, bình quân thâm niên công tác chuyên môn của giảng viên khá cao. Nhà trường có cơ sở vật chất khá hiện đại, đáp ứng được yêu cầu đào tạo đặt ra.

2.2. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế trong quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

2.2.1. Ưu điểm và hạn chế trong quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

2.2.1.1. Ưu điểm và hạn chế trong quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Về ưu điểm: hàng năm nhà trường đã chủ động xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học của của sinh viên nói riêng phù hợp với nội dung chương trình đào tạo và thực tiễn của nhà trường. Kế hoạch nghiên cứu khoa học của nhà trường được quản lý, phân cấp: cấp nhà trường, cấp khoa, bộ môn.

Kế hoạch nghiên cứu của nhà trường được xây dựng dựa trên cơ sở phát huy dân chủ, trí tuệ của đông đảo cán bộ, giảng viên, sinh viên trong nhà trường thông qua xin ý kiến đóng góp rộng rải. Trên cơ sở trí tuệ đóng góp của các lực lượng, nhiệm vụ trên giao, nhiệm vụ và thực tiễn của nhà trường Phòng Quản lý Khoa học tổng hợp, xin ý kiến chỉ đạo của Ban Giám hiệu nhà trường và tiến hành tổ chức xây dựng kế hoạch. Nội dung nghiên cứu trong năm, trong đó có nội dung nghiên cứu khoa học của sinh viên luôn được đặc biệt quan tâm trong kế hoạch. Quy trình xây dựng kế hoạch và quy cách trình bày văn bản (nội dung, hình thức) của kế hoạch các cấp được trình bày đúng quy định của Nhà nước và hướng dẫn cụ thể của nhà trường.

Kế hoạch nghiên cứu khoa học của nhà trường là căn cứ pháp lý quan trọng để nhà trường quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng. Đồng thời còn là căn cứ để cấp dưới, phòng, khoa, bộ môn, viện xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học của mình. Các phòng, khoa, bộ môn, viện căn cứ vào kế hoạch nghiên cứu hàng năm của nhà trường xây dựng kế hoạch nghiên cứu của cơ quan, đơn vị mình. Trên cơ sở kế hoạch nghiên cứu khoa học của tập thể, cán bộ, giảng viên và sinh viên xây dựng kế hoạc nghiên cứu của mình trong năm.

  • Các hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên trong kế hoạc được thể hiện là:

Viết bài đăng trên các ấn phẩm nghiên cứu khoa học trong và ngoài trường (Kỷ yếu hội thảo, Nội san sinh viên nghiên cứu khoa học, khoa học kỹ thuật nông lâm ngư nghiệp, các báo và tạp chí chuyên ngành).

Thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học dự thi sinh viên nghiên cứu khoa học các cấp (Khoa, Trường, Bộ GD&ĐT…) và các giải thưởng khác trong và ngoài nước. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Phòng Quản lý KHCN thông báo, hướng dẫn xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên vào tháng 2 hàng năm.

Khoa hướng dẫn sinh viên đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học. Chậm nhất là 15 tháng 6 hàng năm các khoa quản lý sinh viên lập và đăng ký kế hoạch nghiên cứu khoa học sinh viên với Phòng quản lý khoa học.

Từ ngày 15/9 – 15/11 hàng năm, các khoa phải triển khai giao đề tài phân công giáo viên hướng dẫn, xét duyệt đề cương nghiên cứu, lựa chọn nhóm sinh viên thực hiện.

Từ ngày 20 – 25/11 hàng năm, các khoa gửi danh mục và thuyết minh đề tài đã được Hội đồng khoa học và đào tạo khoa phê duyệt cho phòng Quản lý khoa học. Hồ sơ gồm:

  1. Danh mục đề tài
  2. Thuyết minh đề tài
  3. Biên bản xét duyệt của Hội đồng khoa học và đào tạo của khoa

Sau khi có quyết định phê duyệt công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên, các khoa, bộ môn tổ chức cho sinh viên triển khai thực hiện và tổ chức nghiệm thu công trình cấp khoa.

Chậm nhất là quý 1 hàng năm, các khoa gửi kết quả nghiệm thu cho Phòng Quản lý khoa học. Hồ sơ gồm có:

  1. Báo cáo tổng kết công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên theo mẫu của Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
  2. Biên bản họp Hội đồng và phiếu nhận xét chấm công trình.

Trên cơ sở kế hoạch nghiên cứu khoa học đã được xác định, các khoa tiến hành tổ chức cho sinh viên nghiên cứu khoa học theo kế hoạch.

Để quản lý, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tuân thủ các quy định của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học đồng thời đã cụ thể hóa trong quy chế đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường, trong quy định học tập và rèn luyện của các sinh viên các năm.

Đối với hình thức sinh viên nghiên cứu khoa học dưới dạng viết thu hoạch, tiểu luận, đồ án tốt nghiệp được nhà trường quản lý thông qua kế hoạch học tập của sinh viên trong học kỳ, trong năm. Viết thu hoạch, tiểu luận là hình thức bắt buộc mà 100% sinh viên đại học phải thực hiện theo đúng nội dung chương trình của môn học. Điểm thu hoạch, tiểu luận là điều kiện để sinh viên thi hết môn học và được cộng vào điểm trung bình chung của môn học.

Viết đồ án tốt nghiệp được thực hiện đối với những sinh viên năm cuối có kết quả học tập từ loại khá trở lên. Thực hiện viết đồ án tốt nghiệp, sinh viên được giảng viên hướng dẫn, nhà trường có quy định cụ thể về hình thức viết đồ án tốt nghiệp của sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Đối với hình thức bài tập nghiên cứu khoa học, để chuẩn bị cho sinh viên năm thứ 3, thứ 4 đi thực tập, nhà trường đã cử giảng viên hướng dẫn sinh viên làm bài tập nghiên cứu khoa học. Đối với Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, sinh viên làm bài tập nghiên cứu khoa học chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các ứng dụng trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Sinh viên thực hiện bài tập nghiên cứu hoa học được thực hiện theo 3 giai đoạn sau:

GĐ 1, chuẩn bị nghiên cứu: giai đoạn này sinh viên phải xác định đề tài nghiên cứu; xây dựng đề cương nghiên cứu; chi tiết hoá, cụ thể hóa các phương pháp, phương tiện nghiên cứu; chuẩn bị những điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học.

GĐ 2, triển khai nghiên cứu: để triển khai nghiên cứu, sinh viên phải: Lập thư mục các tài liệu có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu; nghiên cứu tài liệu, các công trình khoa học có liên quan về các vấn đề nghiên cứu; xây dựng cơ sở lý thuyết của công trình nghiên cứu; phát hiện thực trạng phát triển của đối tượng bằng các phương pháp nghiên cứu; kiểm tra giả thuyết; xin ý kiến chuyên gia về hướng đi và các sản phẩm nghiên cứu.

GĐ 3, Nghiệm thu, đánh giá công trình nghiên cứu: Đưa công trình nghiên cứu đã được hoàn tất bằng văn bản tới các thành viên trong hội đồng đọc nhận xét. Hội đồng khoa học tiến hành họp nghiệm thu đề tài, cho điểm và xếp loại sản phẩm nghiên cứu.

Kết quả chấm điểm được thực hiện với thang điểm 10 (có thể cho điểm lẻ tới 0,25) và được thực hiện theo quy định sau:

  1. Bài tập nghiên cứu khoa học phù hợp với mục tiêu đề tài (1 điểm).
  2. Bài tập nghiên cứu khoa học có tính cấp thiết, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ (tối đa 1 điểm)
  3. Phương pháp nghiên cứu phù hợp với nội dung, nhiệm vụ của bài tập nghiên cứu khoa học hợp lý, khoa học (tối đa 1 điểm)
  4. Cấu trúc bài tập nghiên cứu khoa học hợp lý khoa học (tối đa 1 điểm)
  5. Bài tập nghiên cứu khoa học giải quyết tốt các nhiệm vụ đề ra (tối đa 2 điểm)
  6. Kết quả nghiên cứu được thực nghiệm kiểm chứng tại các trung tâm nghiên cứu của trường (tối đa 2 điểm)
  7. Sản phẩm đươc đánh giá cao trong thực tế (tối đa 2 điểm)

Việc xếp loại sản phẩm cho một bài tập nghiên cứu khoa học được thực hiện theo quy định:

  • Từ 8 đến 10 điểm: Xếp loại A.
  • Từ 5 đến 7 điểm: Xếp loại B.
  • Dưới 5 điểm: Xếp loại C.

Đối với hình thức nghiên cứu dưới dạng các đề tài khoa học, nhà trường có quy định cụ thể các khâu, các bước tiến hành. Để đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên, hàng năm nhà trường tiến hành hội nghị khoa học cấp khoa và cấp trường, thông qua đó tuyển chọn những công trình tiêu biểu gửi dự thi cấp Bộ.

Hội nghị cấp Khoa: Ban chủ nhiệm khoa chỉ đạo chi đoàn tổ chức “Tuần lễ khoa học” của sinh viên và lựa chọn công trình gửi dự thi ở cấp trường; lưu trữ công trình và hồ sơ đánh giá công trình sinh viên dự thi nghiên cứu khoa học cấp khoa hàng năm. Nội dung của Hội nghị gồm: Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

  • Báo cáo tổng kết hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên năm thứ 3, năm thứ 4 của khoa.
  • Báo cáo khoa học của sinh viên.
  • Khen thưởng: cơ cấu giải thưởng và mức giải thưởng do khoa quyết định

Khoa tổng hợp báo cáo kết quả hội nghị trên, nội dung báo cáo: Thời gian tổ chức hội nghị; số lượng sinh viên tham gia hội nghị; số công trình nghiên cứu của sinh viên trong năm; số sinh viên tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học; số công trình đạt giải và 02 công trình tiêu biểu. Báo cáo được gửi về phòng Quản lý khoa học của nhà trường.

Hội nghị cấp trường: trên cơ sở báo cáo khoa học của các khoa, Phòng Quản lý khoa học phối hợp với Đoàn thanh niên nhà trường tổ chức Hội nghị “Tổng kết hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên”. Thời gian tổ chức thường được tiến hành vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Trong hội nghị sẽ tiến hành báo cáo tổng kết hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên; trưng bày hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và kết quả nghiên cứu của sinh viên.

Tham gia dự thi cấp Bộ: trên cơ sở Hội nghị cấp trường lựa chọn các công trình tiêu biểu tham gia dự thi “Tài năng khoa học trẻ” của Bộ GD&ĐT, hội nghị khoa học công nghệ tuổi trẻ các trường đại học khối tự nhiên toàn quốc.

Hạn chế, nhiều khoa kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa thực sự được coi trọng. Kế hoạch mới chỉ được coi như phương tiện hoạt động chứ chưa phải công cụ quản lý. Vì thế việc xây dựng và thực hiện kế hoạch nghiên cứu của sinh viên còn mang tính hình thức.

Việc phối hợp giữa phòng Quản lý khoa học của nhà trường với các  khoa giáo viên; giữa khoa giáo viên với sinh viên để tiến hành quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa được thường xuyên, hình thức chưa phong phú.

Công tác kiểm tra của cơ quan quản lý, của khoa giáo viên, của thầy hướng dẫn đối với nghiên cứu của sinh viên có lúc, có nội dung chưa kịp thời. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Qua thực tiễn quản lý học viên từ năm 2021 đến 2025 cho thấy kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa thực sự khoa học, nhiều khoa xác định hướng nghiên cứu cho sinh viên chưa phù hợp. Kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa được xác định rõ, kết quả điều tra cũng cho thấy, hầu hết sinh viên chưa xác định được kế hoạch nghiên cứu khoa học của mình trong năm học cũng như trong quá trình đào tạo tại trường, chủ yếu được thực hiện khi được lớp triển khai.

Những năm qua, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã không ngừng tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm các phương tiện vật chất, tài liệu phục vụ cho giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường nói chung, nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng. Nhà trường đã khai thác tốt nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học, ngoài nguồn kinh phí được nhà nước cấp, nhà trường còn khai thác nguồn kinh phí thông qua các chương trình hợp tác nghiên cứu với địa phương với nước ngoài và với các tổ chức phi chính phủ. Điều kiện và phương tiện giảng dạy nghiên cứu khoa học của nhà trường dần được cải thiện, phần lớn các phòng học, giảng đường có đủ máy chiếu projector, hệ thống âm thanh, một số phòng được trang bị máy lạnh. Thư viện đang trong quá trình cải tiến theo hướng vi tính hóa, số thầy cô giáo và sinh viên đến với thư viện ngày càng tăng. Hiện thư viện của nhà trường có trên 3.000 đầu sách, với hơn 70.000 cuốn. Trong đó có 65% là giáo trình cao đẳng, đại học và sách giáo khoa phổ thông, 35% còn lại là sách nâng cao trình độ và sách tham khảo. Hệ thống kết cấu hạ tầng đảm bảo việc cung cấp, xử lý thông tin phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học được đầu tư nghiên cứu. Hệ thống mạng LAN, mạng internet của nhà trường hoạt động có hiệu quả. Trang Web (địa chỉ: http://elib.hcmuaf.eu.vn) của nhà trường đã đi vào hoạt động. Nhìn chung nhà trường đã kịp thời đáp ứng những yêu cầu cơ bản cho hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, cho nghiên cứu của sinh viên nói riêng, sử dụng tài chính cơ sở vật chất đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm.

Việc quản lý cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho nghiên cứu khoa học được tiến hành theo đúng quy định của nhà nước, quản lý theo phân cấp, chi trả theo định múc.

Nhà trường đã xây dựng các quy định quản lý, sử dụng mạng LAN, mạng internet; sử dụng tài liệu sách giáo trình, giáo khoa phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học; xây dựng định mức chi trả cho các công trình nghiên cứu khoa học. Do đó, mọi cơ sở vật chất phục vụ cho nghiên cứu khoa học đều đã có chủ quản lý. Các quy định quản lý cơ sở vật chất đã chỉ rõ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người quản lý, người sử dụng, vì vậy đã khắc phục được tình trạng quản lý lỏng lẽo, sử dụng kém hiệu quả như trước đây.

Mọi thông tin về nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu khoa học được phổ biến đến cán bộ, giảng viên thông qua hệ thống quản lý hành chính nhà trường, thông qua các văn bản, thông qua giao ban, hội ý tuần, tháng, quan sơ kết tổng kết 6 tháng, hàng năm. Mọi cán bộ, giảng viên đều được tiếp thu các chủ trương, chính sách, kế hoạch có liên quan tới hoạt động nghiên cứu khoa học.

Hạn chế, so với yêu cầu ngày càng cao trong xu thế hiện đại hóa các trường đại học thì nguồn vật lực hiện nay của nhà trường còn khá khiêm tốn, còn nhiều bất cập. Thư viện nhà trường vẫn rất thiếu các sách và tài liệu phù hợp với chuyên môn sâu và giá trị học thuật. Tần số, hiệu suất sinh viên đến đọc sách, khai thác thông tin còn thấp. Việc khai thác, sử dụng thông tin trên trang Web chưa thực sự có hiệu quả. Kinh phí cho nghiên cứu khoa học còn eo hẹp. Việc nghiên cứu khoa học của sinh viên vẫn tự thân vận động là chính. Nhà trường chưa có cơ chế chính sách khuyến khích động viên bằng vật chất đối với sinh viên nghiên cứu khoa học. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

2.2.1.3. Ưu điểm và hạn chế trong quản lý số lượng, chất lượng các sản phẩm khoa học

Để đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi có bảng thống kê sau:

  • Bảng  2.3 : Số lượng sinh viên Trường Đại học Nông Lâm – Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu khoa học giai đoạn 2021 – 2025

Theo số liệu báo cáo trên thì số lượng sinh viên nghiên cứu khoa học dưới dạng các đề tài các năm như sau: năm học 2021 – 2022 có 265 sinh viên tham gia nghiên cứu hoa học trên tổng số 3534 sinh viên, chiếm tỷ lệ 7,4%; năm học 2022 – 2023 có 320 sinh viên nghiên cứu khoa học trên tổng số 3471 sinh viên, chiếm tỷ lệ 9,2%; năm học 2023 – 2024 có 470 sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học trên tổng số 3856 sinh viên, chiểm tỷ lệ 12,18%; năm học 2024 – 2025 số sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học là 520 trên tổng số 3960 sinh viên, chiếm tỷ lệ 13,13%.

Số liệu trên cho thấy số lượng sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, cũng như tỷ lệ sinh viên nghiên cứu khoa học của nhà trường từ năm 2021 đến nay liên tục tăng, từ 7,4% năm học 2021 – 2022 lên 13,13% năm học 2024 – 2025. Điều này cũng đồng nghĩa với số lượng công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên hàng năm cũng được tăng lên.

Về chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên có được nâng lên hàng năm, điều này được thể hiện ở điểm đánh giá thu hoạch, tiểu luận, bài tập nghiên cứu khoa học hàng năm và kết quả nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên còn rất nhiều hạn chế.

Các hình thức nghiên cứu khoa học còn rất đơn điệu, chỉ có khóa luận tốt nghiệp ra trường của sinh viên và công trình nghiên cứu khoa học trong năm của sinh viên là 2 hình thức được nhà trường quan tâm; còn các hình thức nghiên cứu khoa học khác chưa thực sự được nhà trường quan. Số lượng các công trình nghiên cứu khoa học trong sinh viên gần đây có tăng lên nhưng khả năng ứng dụng của các đề tài còn hạn chế. Tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu tăng lên nhưng tính thụ động trong học tập và nghiên cứu vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Nhiều đề tài tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí của sinh viên nhưng không được ứng dụng, gây lãng phí. Nhận thức về vấn đề này cũng không đồng nhất, một số ý kiến cho rằng rất ít sinh viên hiện nay tham gia nghiên cứu khoa học, một số khác lại cho rằng hiện nay chúng ta đang lạm phát các đề tài nghiên cứu của sinh viên. Chất lượng các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Số đông sinh viên chưa có ý thức tự giác thật sự về việc tự học tập nâng cao trình độ qua hoạt động nhiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học chưa trở thành một phong trào rộng khắp trong toàn trường.

Công tác tổ chức quản lý ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa được quan tâm khai thác sử dụng, thậm chí sau nghiệm thu còn bị “lãng quên”. Nhiều công trình chỉ được nghiệm thu đánh giá trên lý thuyết, không được ứng dụng vào thực tiễn.

2.2.2. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế trong quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

2.2.2.1. Nguyên nhân của ưu điểm

Một là, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã coi trọng và có nhiều chủ trương biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát sao đối với nhiệm vụ quản lý nghiên cứu khoa học của nhà trường nói chung, của sinh viên nói riêng.

Đây là nguyên nhân hàng đầu, giữ vai trò quyết định đến hiệu quả công tác quản lý và chất lượng nghiên cứu khoa học của nhà trường trong những năm qua. Trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã có Nghị quyết chuyên đề về công tác nghiên cứu khoa học của nhà trường giai đoạn 2023 – 2028. Trong đó, nhiệm vụ quản lý nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên là một nội dung quan trọng được quan tâm đặc biệt. Nghị quyết đã đề cập đến những nội dung hết sức quan trọng liên quan đến nghiên cứu khoa học, quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên như: xác định vai trò vị trí của nghiên cứu khoa học của sinh viên; nội dung, hình thức biện pháp sinh viên nghiên cứu khoa học; các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo sinh viên nghiên cứu khoa học.

Trên cơ sở nghị quyết lãnh đạo, Ban Giám hiệu đã triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý, nghiên cứu khoa học một cách tích cực, củng cố tổ chức biên chế nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ của phòng Quản lý khoa học của nhà trường; xây dựng quy chế, quy định về quản lý các nguồn lực nghiên cứu khoa học của nhà trường; tăng cường cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học. Đồng thời nhà trường đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo các khoa chuyên ngành nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của khoa, hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sinh viên.

Hai là, đại đa số cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường có sự nhận thức đúng về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Để làm rõ vấn đề này chúng tôi điều tra cả cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên. Có 75 cán bộ quản lý và giáo viên, 120 sinh viên tham gia trả lời câu hỏi này. Kết quả thu được ở bảng sau:

  • Bảng 2.4: Nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên trường đại học Nông lâm về vai trò nghiên cứu khoa học của sinh viên

Khi nhận được phiếu trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên về vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học, kết quả cho ta thấy: 100% cán bộ quản lý, giáo viên, 96,2% sinh viên đều cho rằng hoạt động nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ không thể thiếu được và ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng ở trường Nông Lâm. Thực tiễn chúng ta thấy ngay mỗi giáo án, mỗi học trình, mỗi học phần mà người giáo viên chuẩn bị để giảng dạy cho sinh viên cũng là một công trình khoa học, chỉ có điều công trình khoa học này sắp xếp theo một niêm luật chặt chẽ, giải quyết trọn vẹn một đơn vị kiến thức phù hợp với đối tượng. Ở mỗi kiến thức khoa học giáo viên, sinh viên phải nghiên cứu phát hiện tri thức mới phù hợp với thực tiễn hoạt động mà đang tham gia. Đó là loại công trình đích thực theo đúng nghĩa. nghiên cứu khoa học là một trong những con đường để tự bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết của bản thân với 100% cán bộ quản lý, giáo viên và 96.2% sinh viên của trường đều cho rằng hoạt động nghiên cứu khoa học là “rất quan trọng”. Kết quả trên cho thấy đại bộ phận đều nhận thức đúng về tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Trong đó, giáo viên và sinh viên đánh giá rất cao về “NCKH góp phần nâng cao tầm hiểu biết, rèn luyện các năng lực nghiên cứu khoa học phát triển khả năng độc lập nghiên cứu, khả năng tự học, tự sáng tạo”.

Những năm qua, nhà trường đã có nhiều giải pháp tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho các lực lượng của nhà trường về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học nói chung, quản lý, nâng cao chất lượng nghiên cứu hoa học của sinh viên nói riêng, nên các lực lượng này có sự nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ này. Đa số cán bộ quản lý sinh viên đều có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, củng cố kiến thức, kỹ năng cho người học. Nhận thức đúng đắn về việc phải tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Các ý kiến được phỏng vấn trực tiếp đều cho rằng hiện nay hoạt động này đã được quan tâm đúng mức hơn trước. Qua tìm hiểu, điều tra 50 phiếu trưng cầu ý kiến và trao đổi trực tiếp với giảng viên cho thấy, có trên 94% số phiếu trả lời đúng vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Như vậy, đại đa số giảng viên đều nhận thức đúng đắn tầm quan trọng nghiên cứu khoa học của sinh viên đối với việc rèn luyện khả năng tư duy độc lập sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học của sinh viên góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của trường. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Về nhận thức của sinh viên, qua điều tra thực tế 120  phiếu hỏi với câu hỏi về vai trò của nghiên cứu khoa học đối với sinh viên, có 88 phiếu trả lời đúng đạt tỷ lệ 72,33%, có 27,67% trả lời chưa chính xác về vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Khi được hỏi về động cơ nghiên cứu khoa học, có 75 phiếu có câu trả lời động cơ nghiên cứu khoa học là vì mục đích rèn luyện khả năng tư duy độc lập sáng tạo, củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, đạt tỷ lệ 62,5%; có 34 phiếu trả lời mục đích nghiên cứu khoa học là vì lòng say mê khoa học, đạt tỷ lệ 28,33%; vì bắt buộc 9 phiếu, chiếm tỷ lệ 7,5%, còn lại là vì lý do khác 2 phiếu, chiếm tỷ lệ 1,67%. Từ những số liệu thống kê, điều tra trên đây cho thấy, một bộ phận sinh viên đã có nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học của người học trong quá trình đào tạo ở nhà trường đại học.

Ba là, các cơ quan của nhà trường, nhất là phòng Quản lý nghiên cứu khoa học, Phòng Đào tạo đại học và các khoa giáo viên của nhà trường đã có nhiều biện pháp trong quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của nhà trường, các phòng, khoa của nhà trường đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao. Phòng Quản lý khoa học đã chủ động tham mưu đề xuất với Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường nhiều nội dung biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng. Kịp thời bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất cho viện thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học của nhà trường. Bám sát các khoa giáo viên hướng dẫn thực hiện xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch nghiên cứu hoa học trong năm. Phối hợp với các lực lượng kiểm tra, đôn đốc sinh viên nghiên cứu khoa học, tổ chức đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu của sinh viên.

Các khoa giáo viên đã có nhiều cố gắng, đầu tư thời gian, công sức, phân công giảng viên có năng lực, có kinh nghiệm hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học; tổ chức có nền nếp, có hiệu quả “Tuần lễ sinh viên nghiên cứu khoa học” và hội nghị khoa học hàng năm của khoa; tổ chức đánh giá, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học trong năm của sinh viên một cách chặt chẽ, lựa chọn được những công trình nghiên cứu thực sự xuất sắc gửi đi hội thi cấp nhà trường và cấp Bộ.

2.2.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Một là, tiềm lực nghiên cứu khoa học của nhà trường còn nhiều hạn chế.

Những năm gần đây mặc dù đã có nhiều cố gắng trong đầu tư xây dựng, mua sắm cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục đào tạo và nghiên cứu hoa học của nhà trường, song so với yêu cầu nhiệm vụ thì cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn, bất cập, thiếu đồng bộ. Hệ thống tài liệu còn thiếu, trang thiết bị phòng thí nghiệm lạc hậu, thiếu đồng bộ; số lượng máy tính trên đầu sinh viên còn ít, chất lượng mạng lan thấp, truy cập internet còn chậm. Kinh phí cho nghiên cứu rất hạn hẹp, nhất là kinh phí cho sinh viên nghiên cứu khoa học. Kinh phí cho việc triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu các đề tài hạn hẹp, nên nhiều đề tài nghiên cứu mặc dù đạt xuất sắc song vẫn bị “đắp chiếu” nằm trong thư viện, không được triển khai ứng dụng.

Hai là, nhận thức của một bộ phận cán bộ, giảng viên, sinh viên về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của sinh viên còn hạn chế.

Kết quả điều tra về thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên cho thấy đại đa số cán bộ, giảng viên có nhận thức đúng về nhiệm vụ này, song vẫn còn một bộ phận chưa thực sự nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của hoạt động này đối với người học. Biểu hiện như: một số cho rằng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên chỉ là hoạt động có tính chất phong trào, hoặc là hoạt động chỉ giành riêng cho những sinh viên có kết quả học tập cao, chứ không phải là nhiệm vụ bắt buộc đối với sinh viên. Một số cán bộ còn cho rằng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên không phải là hoạt động thường xuyên mà chỉ là hoạt động có tính chất theo kiểu “mùa vụ”; đồng thời cũng có ý kiến trả lời cho biết, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên chỉ có hai hình thức đó là nghiên cứu đề tài và chuyên đề, ngoài ra sinh viên không phải tham gia nghiên cứu khoa học với các hình thức khác như viết tiểu luận, viết bài hội thảo khoa học, tham gia hội thảo, trao đổi, mạn đàm, sinh hoạt học thuật… Một biểu hiện nữa của việc nhận thức chưa thực sự đúng đắn của một số cán bộ quản lý đó là việc hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học là của đội ngũ giảng viên chứ không phải của cán bộ quản lý, chính vì vậy có tư tưởng phó mặc, không quan tâm đến hoạt động này của phòng ban mình quản lý.

Một bộ phận sinh viên chưa nhận thức đúng mục đích của nghiên cứu khoa học của người học trong quá trình đào tạo. Khảo sát ý kiến của 120 sinh viên hệ chính quy các khóa 2021, 2022, 2023, 2024, 20142  của trường, kết quả khảo  sát được thể hiện ở hình 1 và hình 2. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Hình 1. Nhận thức của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh  về vai trò hoạt động nghiên cứu khoa học của  sinh viên đối với quá trình học tập ở bậc đại học.

Hình 2. Nhận thức của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh về tác dụng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đối với quá trình học tập ở bậc đại học.

Kết quả khảo sát ở hình 1 và hình 2 cho thấy đại đa số sinh viên Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh có nhận thức đúng đắn về vai trò và tác dụng của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đối với quá trình học tập ở bậc đại học. Tuy nhiên, vẫn có những sinh viên chưa nhận thức đúng đắn về vai trò và tác dụng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, 9% ý kiến đánh giá vì bắt buộc và 2% ý kiến khác, cho rằng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên không thiết thực, tốn thời gian và tiền của, ảnh hưởng đến việc học tập.

Việc sinh viên có nhận thức lệch lạc và xem nhẹ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đã dẫn đến việc thực hiện nghiên cứu khoa học một cách hình thức, đối phó.

Ba là, năng lực, trách nhiệm của cơ quan chức năng, khoa giáo viên trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên còn nhiều hạn chế, chưa được phát huy cao độ.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong thực hiện công tác quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên, song nghiêm túc đánh giá thì năng lực chuyên môn nghiệp vụ của phòng Quản lý khoa học, của các khoa giáo viên trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng còn nhiều hạn chế. Hiệu quả công tác tham mưu đề xuất của phòng Quản lý khoa học chưa cao. Nhiều khâu yếu kém trong công tác quản lý như: cơ chế chính sách hỗ trợ đối với sinh viên nghiên cứu khoa học, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng với khoa giáo viên trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên… chưa được tham mưu đề xuất kịp thời.

Năng lực nghiên cứu khoa học của các khoa giáo viên nhìn chung còn nhiều hạn chế, bất cập. Đội ngũ GV mỏng, giờ giảng nhiều đã ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu khoa học của các khoa cũng như hiệu quả hướng dẫn sinh viên nghiên cứu hoa học của giảng viên.

Các khoa giáo viên còn thiếu những chuyên gia nghiên cứu đầu ngành. Trách nhiệm và năng lực của một bộ phận GV trong hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học còn hạn chế.

Bốn là, sự phối hợp giữa cơ quan chức năng với các khoa giáo viên với phòng quản lý sinh viên và chính bản thân người học trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên chưa tốt.

Phối hợp giữa các lực lượng để quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên có vị trí rất quan trọng, nó quyết định tới chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học của sinh viên. Tuy nhiên, thời gian qua ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh thì vấn đề này thực hiện chưa tốt. Qua điều tra bằng phiếu hỏi đối với lực lượng giảng viên và cán bộ quản lý học viên trong trường cho thấy trong 75 phiếu hỏi, chỉ có 14 phiếu = 18,76% trả lời sự phối hợp giữa các lực lượng quản lý là nhịp nhàng, ăn khớp, còn 61 phiếu = 81,33% trả lời phối hợp chưa tốt. Như vậy có thể thấy, trong những năm gần đây, sự phối hợp các lực lượng này chưa thực sự nhịp nhàng ăn khớp, dẫn đến hiệu quả quản lý đối với hoạt động này chưa cao.

Kết luận Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Nhận thức đúng vị trí vai trò của nghiên cứu khoa học của sinh viên đối với kết quả giáo dục đào tạo, những năm qua Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã có nhiều chủ trương giải pháp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý sinh viên nghiên cứu khoa học. Công tác xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học dần đi vào nền nếp; công tác quản lý các nguồn lực có nhiều tiến bộ. Chính vì vậy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đã có nhiều chuyển biến tích cực, số lượng, chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học năm sau cao hơn năm trước.

Bên cạnh những ưu điểm, thì công tác quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế khuyết điểm. Nguyên nhân của hạn chế là do nguồn lực nghiên cứu của nhà trường có hạn; nhận thức của một bộ phận cán bộ giảng viên, sinh viên về nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa đúng; năng lực, trách nhiệm của các cơ quan, của các Khoa giáo viên còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa cơ quan chức năng với các Khoa giáo viên với phòng Quản lý sinh viên và chính bản thân người học trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên chưa tốt.

Khắc phục những nguyên nhân trên sẽ làm cho công tác quản lý nghiên cứu sinh viên của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tốt hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993