Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền
Trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền được thành lập từ năm 1975. Nhà trường ra đời dựa trên cơ sở sát nhập 2 trường cấp I-II Phước Hải số 1 và cấp I-II Phước Hải số 2. Năm 1995, sau khi sát nhập trường lấy tên là trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, trụ sở được xây dựng trên địa bàn phường Phước Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tổng diện tích của nhà trường là 3461 m2 với 25 phòng học. Số lượng phòng học này đủ đáp ứng được nhu cầu cơ bản của việc nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới giáo dục.
Trong quá trình hình thành và phát triển, nhà trường đã luôn đặt uy tín, chất lượng giáo dục lên hàng đầu. Nhà trường có đội ngũ lãnh đạo, giáo viên và nhân viên có phẩm chất có phẩm chất chính trị, đạo đức nhà giáo, tâm huyết với nghề, có trình độ chuyên môn vững vàng, trong công việc thì nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, có bề dày kinh nghiệm, tinh thần đoàn kết cao.
Trường có tất cả 96 cán bộ, giáo viên, nhân viên; có tổ chức Chi bộ Đảng gồm 19 đảng viên. Chi bộ Đảng nhà trường nhiều năm liền đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh, giữ vai trò lãnh đạo trong toàn bộ hoạt động của nhà trường. Các tổ chức khác như: Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Ban đại diện Cha mẹ học sinh đều hoạt động tích cực, góp phần cùng với nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền rất quan tâm đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh; đa số giáo viên áp dụng và thực hiện tốt bài giảng điện tử trong giảng dạy. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang bị các thiết bị, đồ dùng dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy. Thực hiện nghiêm túc chương trình kế hoạch dạy học, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động hướng nghiệp, các phong trào văn hoá – văn nghệ, thể dục thể thao nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Nhà trường cũng hết sức quan tâm tới công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Năm học 2024 – 2025, trường có nhiều HS đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh, gồm 02 giải Nhất, 02 giải Nhì, 07 giải Ba, 16 giải Khuyến khích. Trong đó nổi bật là môn Toán đạt 02 giải Nhất, Môn Vật lý, và môn Tiếng Anh đạt 01 giải Nhì…
2.2. Khái quát về quá trình khảo sát Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
2.2.1. Mục tiêu khảo sát
Phân tích đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng hoạt động GD Sức khỏe sinh sản cho HS trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang.
- Thực trạng quản lý hoạt động GD Sức khỏe sinh sản cho HS trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang.
Khách thể khảo sát: Khảo sát 40 Cán bộ quản lý, GV và học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang.
- Bảng 2.1. Mẫu khảo sát học sinh
Như vậy các em có độ tuổi xấp xỉ nhau, xét về giới tính thì có sự chênh lệch chút ít giữa nam và nữ (nam: 54.2%, nữ 45.8%), tuy nhiên các em học sinh đều ở tuổi dậy thì vậy nên có sự tượng đồng về mặt tâm sinh lý và những hiểu biết chung.
2.2.3. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Phương pháp quan sát: Thu thập các thông tin liên quan đến hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ quản lý, GV, học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài, gồm những tài liệu về giáo dục sức khỏe sinh sinh, quản lý, quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh, một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp điều tra:
Thu thập số liệu về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang. Từ đó, tác giả tiến hành đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất những biện pháp quản lý.
2.2.4. Công cụ đánh giá
Các tiêu chí đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh được đánh giá trên 3 mức độ:
Được lượng hóa bằng điểm theo nguyên tắc 3-2-1: Thực hiện tốt, đáp ứng tốt, ảnh hưởng nhiều: 3 điểm Bình thường, ít ảnh hưởng: 2 điểm
Chưa tốt, chưa đáp ứng, không ảnh hưởng: 1 điểm
Thang đánh giá: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
- Mức 1: Mức cao (tốt, đáp ứng tốt, ảnh hưởng nhiều): = 2,34 – 3,0
- Mức 2: Mức trung bình (thực hiện bình thường, ít ảnh hưởng): = 1,67 – 2,34
- Mức 3: Mức thấp (thực hiện chưa tốt, chưa đáp ứng, không ảnh hưởng): < 1,67
2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền
2.3.1. Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền về hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản
Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý và GV về Sức khỏe sinh sản và giáo dục Sức khỏe sinh sản Chúng tôi tiến hành khảo sát Cán bộ quản lý và GV về sự cần thiết của việc
giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS và nhận thấy rằng đại đa số các thầy cô đều cho rằng giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS là vô cùng cần thiết. Có 85.7 % các thầy cô cho rằng hoạt động này cần thiết đối với HS, 12.5% ý kiến cho rằng bình thường và không có ý kiến nào cho rằng không cần thiết phải giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS. Thầy N.C.T cho rằng: “HS lứa tuổi vị thành niên nhất là giai đoạn lứa tuổi từ 11 – 15 tuổi có những thay đổi quan trọng đặc biệt là về thể chất, tâm lý, tình cảm. Nên việc giáo dục Sức khỏe sinh sản cho các em là hết sức cần thiết để giúp các em có thể hiểu được sự thay đổi của bản thân trong giai đoạn này cũng như định hướng thái độ, hành vi, tình cảm đúng đắn trong giai đoạn này”
Khi khảo sát nguyên nhân mà Cán bộ giáo viên cho rằng hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS là cần thiết, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.2. Các lý do của Cán bộ giáo viên cho rằng hoạt động GD Sức khỏe sinh sản là cần thiết
Kết quả khảo sát cho thấy 92.5% các thầy cô đồng ý với ý kiến cho rằng việc giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS giúp cho HS có kiến thức để có thể ứng xử với sự thay đổi tâm sinh lý giai đoạn tuổi vị thành niên và giúp các em phòng tránh các nguy cơ ảnh hưởng tới bản thân sau này; 75% ý kiến cho rằng Sức khỏe sinh sản là một trong các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của mỗi học sinh. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Ngược lại chỉ có 12.5% ý kiến cho rằng đây là nội dung bắt buộc đưa vào chương trình học nên cần thiết đối với các em. Như vậy, các thầy cô giáo đều xuất phát từ lợi ích của chương trình giáo dục Sức khỏe sinh sản mang cho cuộc sống của HS sau này, từ sự cần thiết cho chính cuộc sống cá nhân của các em.
Thực trạng nhận thức của HS về Sức khỏe sinh sản và giáo dục Sức khỏe sinh sản
- Biểu đồ 2.1. Nhận thức của HS về sự cần thiết của việc giáo dục Sức khỏe sinh sản
Tương tự như khi khảo sát Cán bộ giáo viên, HS cũng nhận thấy sự cần thiết phải giáo dục Sức khỏe sinh sản: 79 % HS cho rằng rất cần thiết, 17% HS cho rằng cần thiết và có 4% HS cho rằng không cần thiết. Số lượng HS cho rằng việc giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS chủ yếu rơi vào nhóm các em HS mới bắt đầu bước vào năm học đầu của cấp Trung học cơ sở.
Chúng tôi cũng đặt câu hỏi đối với các em về lý do mà các em cho rằng cần thiết phải giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS.
- Biểu đồ 2.2. Các lý do mà HS cho rằng cần phải giáo dục Sức khỏe sinh sản
83.3% HS đồng ý với ý kiến cho rằng việc giáo dục Sức khỏe sinh sản giúp HS có kiến thức để có thể ứng xử với sự thay đổi tâm sinh lý giai đoạn tuổi vị thành niên và giúp các em phòng tránh các nguy cơ ảnh hưởng tới bản thân sau này; tiếp đến 54,2% HS cho rằng việc giáo dục Sức khỏe sinh sản vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai của mỗi HS sau này và chỉ có 8,3% HS cho rằng vì là môn học bắt buộc nên cần thiết. Điều này chứng tỏ rằng đa số HS trường Trung học cơ sở đánh giá cao mức độ cần thiết của hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản vì nó thực sự hữu ích đối với các em, chứ không vì chương trình giáo dục bắt buộc. Các em đều nhận thấy nhu cầu của chính mình, và hiểu rõ vai trò của công việc GD Sức khỏe sinh sản.
Chúng tôi cũng đi khảo sát mức độ hiểu biết của các em về Sức khỏe sinh sản và giáo dục Sức khỏe sinh sản.
- Bảng 2.3. Nhận thức của HS về khái niệm Sức khỏe sinh sản
Bảng số liệu trên cho thấy phần lớn các em HS Trung học cơ sở hiểu rõ về khái niệm Sức khỏe sinh sản. Có 70.8% học sinh trong mẫu nghiên cứu được hỏi trả lời đầy đủ về khái niệm Sức khỏe sinh sản, 58.3% HS được khảo sát cho rằng Sức khỏe sinh sản là Một trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội ở mọi vấn đề liên quan đến bộ máy sinh sản, đến các chức năng và quá trình hoạt động của nó, còn lại các em hiểu nhưng không đầy đủ về khái niệm Sức khỏe sinh sản. Như vậy, có thể thấy phần lớn HS hiểu được khái niệm về Sức khỏe sinh sản. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Thực trạng thực hiện về nội dung giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh Trung học cơ sở Để nghiên cứu thực trạng thực hiện nội dung giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS, chúng tôi tìm hiểu quan điểm của các thầy cô về sự cần thiết của các nội dung cũng như mức độ thực hiện các nội dung giáo dục Sức khỏe sinh sản. Kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.4. Mức độ cần thiết và thường xuyên của các nội dung GD Sức khỏe sinh sản
Kết quả khảo sát cho thấy, các thầy cô đều đánh giá sự cần thiết phải giáo dục các nội dung Sức khỏe sinh sản cho HS ở mức cao với 2.49 điểm. Nội dung được đánh giá cần thiết nhất là nội dung tình bạn, tình bạn khác giới với 2.70 điểm; tiếp theo là phòng chống xâm hại, lạm dụng tình dục Vị thành niên với 2.58 điểm; nội dung phòng tránh mang thai, nạo phá thai ở tuổi Vị thành niên với 2.53 điểm; nội dung phòng tránh các bệnh lây theo đường tình dục và HIV/AIDS với 2.43 điểm; nội dung tình yêu, tình dục với 2.40 điểm và nội dung Quyền được chăm sóc Sức khỏe sinh sản với 2.30 điểm. Các thầy cô đều cho rằng việc giáo dục những kiến thức về chăm sóc Sức khỏe sinh sản cho HS cần được tiến hành một cách đồng bộ sẽ góp giúp các em HS tập trung học tập, ổn định sức khỏe và nhân cách, tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài sau này của các em.
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, song việc thực hiện giáo dục các nội dung giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS chỉ được thực hiện ở mức trung bình với 2.32 điểm. Nội dung được thực hiện thường xuyên nhất là nội dung tình bạn, tình bạn khác giới với 2.50 điểm; nội dung phòng tránh xâm hại, lạm dụng tình dục vị thành niên đứng thứ 2 với 2.38 điểm. Nội dung ít được thực hiện nhất là 2 nội dung phòng tránh các bệnh lây theo đường tình dục và HIV/AIDS với 2.10 điểm và phòng tránh mang thai, nạo phá thai ở tuổi Vị thành niên với 2.23 điểm. Thầy N.Đ.S cho biết: “Các nội dung chương trình giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS được triển khai về cơ bản phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi HS Trung học cơ sở, đồng thời cơ bản phù hợp với nội dung chương trình GD Sức khỏe sinh sản của lứa tuổi này”.
Trong quá trình khảo sát chúng tôi cũng nhận thấy nhiều ý kiến của GV khi thừa nhận chưa thực hiện một vài nội dung bao giờ như phòng tránh xâm hại, lạm dụng tình dục Vị thành niên, phòng tránh mang thai, nạo phá thai ở tuổi Vị thành niên…, hoặc nếu có thực hiện thì chỉ mang tính hình thức, lướt qua. Đây là một thực tế cần nhìn nhận trong quá trình sử dụng phương pháp giảng dạy của GV nhằm tăng tính hiệu quả hơn trong việc giảng dạy những vấn đề mang tính chất nhạy cảm, tế nhị bằng việc cung cấp những thông tin đầy đủ và cập nhật về các lĩnh vực Sức khỏe sinh sản và giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS Trung học cơ sở.
2.3.3. Thực trạng về phương pháp, hình thức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
- Về phương pháp giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS
Chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Thầy(cô) đã tiến hành GD Sức khỏe sinh sản cho HS thông qua các phương pháp nào sau đây?” và thu được số liệu thể hiện ở bảng sau:
- Bảng 2.5. Mức độ thực hiện các phương pháp giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS
Phương pháp được sử dụng thường xuyên nhất là phương pháp thuyết trình với 42.5% GV thường xuyên sử dụng trong quá trình dạy học của mình. Thông qua thuyết trình, GV truyền tải đến HS những kiến thức về Sức khỏe sinh sản, từ đó giúp các em thay đổi hành vi của mình. Chúng tôi cũng đặt ra vấn đề nếu sử dụng thuyết trình, truyền thụ kiến thức cho HS, thì những kiến thức này các em hoàn toàn có thể tự mình tìm hiểu trên sách báo, trang mạng thì hiệu quả của thuyết trình có thật sự hiệu quả. Nói về vấn đề này, cô T.T.A – hiệu trưởng nhà trường cũng rất trăn trở: “Giáo dục Sức khỏe sinh sản là một vấn đề rất cần thiết cho HS Trung học cơ sở – lứa tuổi đang chuyển tiếp từ thiếu niên, nhi đồng sang tuổi thanh niên, tuy nhiên hiện nay tại trường số Trung học cơ sở Nguyễn Hiền số giáo viên chưa có trình độ chuyên môn sâu về vấn đề này còn chiếm tỷ lệ cao. Do vậy, kinh nghiệm truyền đạt cho HS chưa tốt. Mặt khác, do ảnh hưởng của quan niệm truyền thống nên thầy (cô) đôi khi còn né tránh ngại không muốn nói đến vấn đề này cho nên hiệu của của công tác giáo dục sức khỏe sinh sản chưa thực sự có chất lượng”. Cô cũng bày tỏ quan điểm cho rằng việc giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS sẽ mang lại hiệu quả cao nếu như khâu tổ chức công tác giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS khoa học, bởi kiến thức HS học được trong trường mang tính hệ thống và khoa học chứ không rời rạc, thiếu hệ thống như khi các em tự tìm hiểu.
Ngoài ra một số phương pháp chưa được GV thực sự đầu tư một cách nghiêm túc để đưa vào giảng dạy, mặc dù các phương pháp này đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định mang lại hiệu quả giáo dục cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là các phương pháp như thảo luận nhóm (22.5%), trò chơi (17.5%), đóng vai (15%), giải quyết vấn đề (12.5%),… Do đó, việc đổi mới phương pháp giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền cần được đưa ra thảo luận một cách nghiêm túc. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
- Hình thức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS
Để nghiên cứu thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS, chúng tôi đặt câu hỏi: Các thầy cô đã có thường xuyên sử dụng các hình thức sau để giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS hay không?. Kết quả thu được như sau:
Kết quả khảo sát GV ở cho thấy các hình thức GD Sức khỏe sinh sản: Thông qua trao đổi, trò chuyện với HS; Thông qua việc tổ chức các hoạt động GD Ngoài giờ lên lớp cho HS; Thông qua môn học mình đảm nhiệm; Thông qua các buổi sinh hoạt lớp chủ nhiệm được thực hiện với tần suất trên mức trung bình (> 53%), trong đó hình thức thông qua trao đổi, trò chuyện với HS có tần suất cao nhất (75.1%); tiếp đến là hình thức thông qua việc tổ chức các hoạt động GD Ngoài giờ lên lớp cho HS (60.7%).
- Bảng 2.6. Mức độ thường xuyên sử dụng của các hình thức GD Sức khỏe sinh sản cho HS
Qua kết quả khảo sát cho thấy, GV sử dụng các hình thức để giáo dục Sức khỏe sinh sản ở mức trung bình với 2.26 điểm.
Hình thức được sử dụng thường xuyên nhất là Trao đổi, tư vấn trực tiếp cho HS với 2.48 điểm. HS ở lứa tuổi này có nhiều sự thay đổi nhất là về sự thay đổi của cơ thể, sự phát triển về tình cảm, cảm xúc,… nên việc trực tiếp trao đổi, tư vấn cho các em giúp các em giải đáp những thắc mắc, những băn khoăn mà các em không biết hỏi ai, ngay cả với bố mẹ mình. Tuy nhiên hình thức này mặc dù được sử dụng thường xuyên nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ HS thắc mắc và thầy cô giải đáp nên thực sự hiệu quả chưa được cao lắm.
Cùng đứng ở vị trí số 1 còn có nội dung Lồng ghép, tích hợp GD Sức khỏe sinh sản cho HS vào các môn học. Hầu hết các GV được khảo sát cho rằng mặc dù hiện nay chương trình SGK đã tích hợp nội dung GD Sức khỏe sinh sản. Tuy nhiên với tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục Sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên giai đoạn dậy thì, các thầy cô đều cho rằng nên những nội dung GD về Sức khỏe sinh sản thành một nội dung riêng trong các môn học như Sinh học, Giáo dục công dân, chứ không chỉ kết hợp, lồng ghép vào những nội dung khác trong các môn học này. Điều này cần phải hướng đến sự thay đổi cơ bản ngay từ khâu xây dựng chương trình SGK, nâng cao nhận thức cho GV, những người làm công tác giáo dục nói chung và Sức khỏe sinh sản nói riêng.
Đứng ở vị trí thứ 2 là nội dung Lồng ghép giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS vào nội dung các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Hình thức này cũng được đánh giá thực hiện ở mức cao với 2.35 điểm. Trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền đã phối hợp với Chi cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình thành phố tổ chức các buổi tuyên truyền, ngoại khóa có trọng tâm dành cho học sinh. Nội dung các buổi ngoại khóa là tuyên truyền về kiến thức Sức khỏe sinh sản, vị thành niên, luật hôn nhân gia đình và bình đẳng giới. Tuy nhiên số lượng các tiết học ngoại khóa ngoài giờ lên lớp cũng hết sức hạn hẹp. Số tiết thực hiện ngoại khóa chỉ khoảng 4 tiết/1 năm học (tổng thời gian 180 phút/năm). Nội dung Mời các chuyên gia y tế, tâm lý về nói chuyện và trao đổi với học sinh là hình thức được sử dụng ít nhất với 1.98 điểm. Việc trao đổi, tư vấn trực tiếp cho HS giữa giáo viên và HS, HS với nhau đã tốt, cần được khuyến khích nhiều hơn nữa. Tuy nhiên do một số khó khăn nhất là vấn đề kinh phí để mời các nhà tâm lý, chuyên gia đến nói chuyện với HS nên hình thức này ít được sử dụng nhất trong các hình thức giáo dục trên
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh Trung học cơ sở Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
2.4.1. Thực trạng công tác kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS
Trước khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào, việc lập kế hoạch sẽ định hướng cho toàn bộ hoạt động được diễn một cách trơn tru và có hiệu quả. Việc lập kế hoạch cụ thể sẽ cho phép người hiệu trưởng quản lý hoạt động đó đi đúng mục tiêu đề ra, xác định chính xác các nguồn lực (nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu. Ngoài ra, một kế hoạch tốt còn đưa ra được những giải pháp, phương án dự phòng cho các trường hợp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện, từ đó giúp cho người hiệu trưởng trở nên chủ động, sáng tạo, không bị bất ngờ trước mọi tình huống phức tạp.
- Bảng 2.7. Đánh giá của Cán bộ giáo viên về thực trạng lập kế hoạch GD Sức khỏe sinh sản cho HS
Dựa vào ĐTB ở bảng 2.6 cho thấy: với 5 nội dung xây dựng kế hoạch Hoạt động trải nghiệm đưa ra khảo sát đều thu được ý kiến đánh giá ở mức trung bình (mức phân vân) với ĐTB là 2.30 điểm:
Nội dung Xây dựng kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản chung cho cả trường, được GV đánh giá ở mức điểm tốt 2.38 điểm. Chúng tôi nghiên cứu kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản cho cả năm học ở trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền thì nhận thấy, trong bản kế hoạch đã nêu mục đích yêu cầu của hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản, nhiệm vụ, nội dung, hình thức tổ chức, thời gian, địa điểm và dự trù kinh phí để thực hiện kế hoạch. Chúng tôi đem ra trao đổi với một số thầy cô và được cho biết các kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh được xây dựng từ đầu năm học dựa trên các văn bản pháp quy, các nhiệm vụ năm học, Hiệu trường thường phân công một Phó hiệu trưởng hoặc tự mình xây dựng kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản bên cạnh kế hoạch chung của trường. Kế hoạch này được Hội đồng sư phạm trường xây dựng và hoàn thiện và được đưa ra phổ biến cho Cán bộ giáo viên. Cô N.T.A nhận xét về các bản kế hoạch: “Kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh được Cán bộ quản lý chú ý quan tâm, sát sao xây dựng từ đầu các năm học và được thiết kế một cách tỉ mỉ, cụ thể tới từng tháng. Do đó đem lại hiệu quả cho các hoạt động giá dục Sức khỏe sinh sản”.
- Các nội dung 2, 3, 4, 5 được đánh giá ở mức trung bình dao động từ 2.20 đến 2.35 điểm.
Nội dung Xây dựng kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh được tích hợp, lồng ghép với nội dung học tập các môn văn hóa ngoài giờ lên lớp được đánh giá thực hiện ở mức thấp nhất với 2.20 điểm. Như phần hình thức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS, chúng tôi đánh giá cao hình thức trao đổi, trò chuyện, tư vấn trực tiếp cho HS. Các GV dễ dàng hơn khi tiếp cận với các em theo hình thức gần gũi, chia sẻ hơn là trong những buổi học chính khóa, công khai ở trên lớp. Điều này đòi hỏi xem xét lại vấn đề chương trình giảng dạy hiện theo hướng tích hợp, lồng ghép GD Sức khỏe sinh sản thông qua các môn học văn hóa liệu đã phù hợp chưa, đã thực sự hiệu quả chưa. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Thầy V.H.V nhận xét: “Trong nội dung kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản, chưa nêu rõ nội dung tích hợp các nội dung hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản với chương trình các môn văn hóa chính khóa mà chỉ nêu một cách rất chung chung là phối hợp với các môn học có liên quan như sinh học, giáo dục công dân triển khai các nội dung giáo dục Sức khỏe sinh sản”.
Nội dung Tập huấn xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho GV cũng chỉ nhận được đánh giá ở mức điểm thấp 2,23 điểm. Tìm hiểu về nội dung này, chúng tôi nhận thấy giáo viên chủ nhiệm là những người đảm nhiệm trực tiếp lập kế hoạch của từng lớp, báo cáo với lãnh đạo nhà trường. Để xây dựng được kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho các lớp thì một yêu cầu đặt ra là GV phải được tập huấn các kỹ năng xây dựng động giáo dục Sức khỏe sinh sản. Trong thời gian vừa qua, Phòng Giáo dục & Đào tạo thành phố Nha Trang tiến hành tổ chức các lớp tập huấn và được GV rất tích cực tham gia. Tuy nhiên, do liên quan đến kinh phí tổ chức, các lớp tập huấn này diễn ra không thường xuyên, nội dung tập huấn chủ yếu nâng cao kiến thức cho GV về Sức khỏe sinh sản và giáo dục Sức khỏe sinh sản, chưa có lớp hướng dẫn GV về kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS hiệu quả.
Khi đi nghiên cứu bản kế hoạch của Giáo viên chủ nhiệm về lập kế hoạch tổ chức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho từng khối lớp, hạn chế chung của các bản kế hoạch mà chúng tôi nhận thấy là một số nội dung của kế hoạch còn chưa đầy đủ, các giáo viên vừa làm vừa bổ sung kế hoạch cho sát với thực tiễn hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản. Cá biệt có trường hợp GV trong việc chuẩn bị kế hoạch cho học kỳ, năm học vẫn có hiện tượng sao chép lại kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản của năm học trước.
Như vậy, vấn đề đặt ra cần phải có biện pháp chỉ đạo bồi dưỡng GV về lập kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản, về kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho GV.
2.4.2. Thực trạng công tác tổ chức thực hiện kế hoạch GD Sức khỏe sinh sản cho HS Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Tìm hiểu công tác tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh, chúng tôi đi tìm hiểu ý kiến của GV về việc triển khai các hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền. Kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.8. Thực trạng công tác tổ chức thực hiện kế hoạch GD Sức khỏe sinh sản cho HS
Kết quả khảo sát cho thấy các nội dung tổ chức thực hiện Hoạt động trải nghiệm được tiến hành ở mức trung bình với 2.25 điểm. Nội dung được tiến hành thường xuyên nhất là việc thành lập được Ban chỉ đạo và hoạt động của Ban này trong việc phát triển công tác giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS với 2.43 điểm; Tổ chức phối hợp chặt chẽ với các tổ chức Đoàn và các lực lượng giáo dục khác tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS cũng là hoạt động được tiến hành thường xuyên với 2.40 điểm. Đây là những thuận lợi nhất định để công tác giáo dục kiến thức Sức khỏe sinh sản được phổ biến rộng rãi trong HS, từ đó hình thành năng lực nhận thức cũng như làm chủ hành vi của HS.
Trong quá trình hoạt động công tác giao lưu tọa đàm, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với các trường bạn cũng rất quan trọng giúp cho nhà trường có thể học hỏi những kinh nghiệm hay trong quá trình tổ chức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh, tuy nhiên theo khảo sát đây là nội dung ít được thực hiện với 2.10 điểm. Bên cạnh đó một số nội dung chưa được thực hiện chiếm tỉ trọng lớn. 22.5 % ý kiến GV cho rằng chưa thực hiện thường xuyên việc Tổ chức bồi dưỡng cho các lực lượng tham gia tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS. Các GV đảm nhận việc giảng dạy Sức khỏe sinh sản thì chủ yếu là hoạt động tự bồi dưỡng, tự học hỏi phương pháp cũng như cách thức giáo dục Sức khỏe sinh sản, các đợt tập huấn bồi dưỡng thường rất ít.
2.4.3. Thực trạng công tác chỉ đạo giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS
- Bảng 2.9. Thực trạng công tác chỉ đạo GD Sức khỏe sinh sản cho HS
Công tác chỉ đạo giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS được đánh giá thực hiện ở mức trung bình với 2.25 điểm.
Tiến hành thường xuyên nhất là công tác chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp và hình thức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS với 2.35 điểm. Ở tuổi vị thành niên, HS thường có cảm giác xấu hổ, ngại ngần, đặc biệt là với những kiến thức khá nhảy cảm như giới tính, Sức khỏe sinh sản, tình dục. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để đưa kiến thức Sức khỏe sinh sản vào mà các em tiếp nhận một cách tích cực. Điều này rất cần sự thay đổi trong việc đổi mới phương pháp và cách thức giáo dục Sức khỏe sinh sản. Cô N. L. A cho biết: “ Các thầy, cô giáo tham gia giảng dạy kiến thức giới tính, Sức khỏe sinh sản mặc dù được tập huấn cả về kiến thức lẫn phương pháp, kỹ năng truyền đạt nhưng không phải ai cũng thực hiện thành công. Trong quá trình dạy học có GV đưa giáo dục giới tính, Sức khỏe sinh sản vào phần nội dung quan trọng, bắt buộc của các môn học để HS tránh được những ngại ngần. Có người thì tìm tòi, tham khảo các chuyên gia để lập ra những đề thi trắc nghiệm kiến thức khảo sát và đánh giá tầm nhận thức, hiểu biết của HS để có những điều chỉnh hợp lý trong cách tiếp cận và giảng dạy…”
Nội dung “Chỉ đạo công tác mua sắm, duy tu, bảo dưỡng cơ sở vật chất, phục vụ cho hoạt động giáo dục cho học sinh” được đánh giá thực hiện ít thường xuyên nhất với 2.13 điểm. Chúng tôi trao đổi vấn đề này với cô N.T.T, cô cho biết: “Do kinh phí có hạn nên các trang thiết bị phục vụ giáo dục Sức khỏe sinh sản tại trường vẫn còn thiếu thốn. Đa phần các thiết bị đều đã cũ và lạc hậu, chưa được bổ sung qua các năm học”. Cô P.T.P – Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền cho biết: “Đây là sự thật không thể chối bỏ. Tình trạng thiếu về các phương tiện dạy học nói chung, phương tiện dạy học giáo dục Sức khỏe sinh sản nói riêng khá là phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là kinh phí nhà trường khá hạn hẹp, công tác huy động các LL giáo dục tham gia tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho các em còn yếu nên kết quả đạt được chưa được cao”. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
2.4.4. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá công tác GD Sức khỏe sinh sản cho HS
- Bảng 2.10. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá công tác GD Sức khỏe sinh sản cho HS
Nhận xét: Tất cả 5 nội dung của công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS ở trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền được đánh giá thực hiện ở mức trung bình, thể hiện điểm trung bình chung của cả 5 tiêu chí được khảo sát là 2,21 điểm. Mức độ thực hiện các nội dung kiểm tra hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS không đồng đều mà có các mức độ cao thấp khác nhau.
Có 2/5 tiêu chí được đánh giá thực hiện ở mức cao cùng đạt 2.35 điểm là các nội dung Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch các hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS có đảm bảo mục tiêu chương trình và Điều chỉnh kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS (cả về hình thức, nội dung, phân bổ thời gian…) cho phù hợp với tâm sinh lý HS Trung học cơ sở. Để toàn bộ hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS diễn ra theo đúng kế hoạch, đạt được mục tiêu đề ra, cần phải làm tốt các bước xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện mà khâu kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch (về nội dung, hình thức,…) sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, với thực tiễn tại trường,… Các yếu tố này sẽ quyết định sự thành công của mỗi hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản. Và để mỗi hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS đạt được hiệu quả thì khâu kiểm tra thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản có đảm bảo mục tiêu đặt ra hay không. Có thể nói 2 tiêu chí này giống như hai chiếc bàn đạp vững chắc đảm bảo hiệu quả của bất kỳ hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản nào. Cô T.T.D khẳng định: “Việc thường xuyên kiểm tra, đánh giá, đôn đốc của lãnh đạo cấp trên giúp cho chủ thể tham gia giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS trong khi tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản phải luôn quan tâm điều chỉnh các kế hoạch đã được xây dựng, đồng thời uốn nắn các kế hoạch sao cho phù hợp với đúng mục tiêu đã đặt ra từ trước”.
2.4.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới QL hoạt động GD Sức khỏe sinh sản cho HS Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Chúng tôi tìm hiểu đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về thực trạng các yếu tố ảnh hướng đến quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh ở trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền và thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.11. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động GD Sức khỏe sinh sản cho HS
Các yếu tố được đánh giá là có sự ảnh hưởng ở mức cao tới công tác quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS với số điểm là 2.36 điểm. 3/5 yếu tố ảnh hưởng nhiều tới quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS. Trong đó, yếu tố được cho là có sự ảnh hưởng nhiều nhất đến việc quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS là yếu tố thuộc về nhận thức, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và các lực lượng tham gia giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh với 2.49 điểm. Để hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS được diễn ra đạt hiệu quả cao thì cần đến vai trò quản lý của đội ngũ quản lý từ khâu lập kế hoạch hoạt động đến việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động và cuối cùng là khâu kiểm tra, đánh giá hoạt động. Ngoài ra cũng phải nhắc đến vai trò của các lực lượng tham gia giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS. Đó là GV, gia đình, xã hội và cả bản thân HS. Cho nên có thể nói đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, nhiều nhất đến hoạt động quản lý giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS.
Yếu tố xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự bùng nổ của Công nghệ thông tin- truyền thông, được đánh giá ảnh hưởng ít nhất đến hoạt động quản lý giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS với 2.20 điểm. Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ thông tin cung cấp cho HS một lượng kiến thức không nhỏ liên quan đến Sức khỏe sinh sản, nhưng bên cạnh đó nó cũng những mặt trái chiều gây tác hại đối với HS. Đó là những quan điểm, lối sống thiếu lành mạnh đe dọa đến sức khỏe sinh sản. Lứa tuổi còn quá nhỏ, chưa được trang bị kinh nghiệm và kỹ năng sống, dễ bị tác động bởi những yếu tố tiêu cực của xã hội. Do đó, việc trang bị cho các em những tri thức liên quan đến Sức khỏe sinh sản một cách có hệ thống tại nhà trường là hết sức cần thiết.
2.5. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GD Sức khỏe sinh sản cho học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
2.5.1. Ưu điểm
CBQL, GV, và các lực lượng tham gia giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS ở trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng và sự cần thiết về phải giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS.
GV trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền đã thực hiện các nội dung giáo dục Sức khỏe sinh sản một cách bài bản, tuân theo đúng chương trình của Bộ, đồng thời tìm cách thay đổi phương pháp và hình thức giáo dục để tăng hiệu quả của công tác giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS
Kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS được xây dựng từ đầu năm học và được phổ biến rộng rãi tới cán bộ, nhân viên trong nhà trường đồng thời chuẩn bị các điều kiện về nhân lực, vật lực giúp cho hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản phát huy tối đa vai trò của mình trong việc giáo dục nhân cách học sinh một cách toàn diện.
Trong khi tổ chức và chỉ đạo các hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản, trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền đã quan tâm tới công tác chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch giáo dục Sức khỏe sinh sản theo các chủ điểm phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh, thường xuyên có sự điều chỉnh, sự cân đối chương trình sao cho phù hợp với các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Trung học cơ sở.
Trong công tác kiểm tra, đánh gia tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS nhà trường quan tâm tới việc điều chỉnh kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản (cả về hình thức, nội dung, phân bổ thời gian…) cho phù hợp.
2.5.2. Hạn chế
Một số GV vẫn chưa thực sự nắm bắt được nội dung Hoạt động trải nghiệm, chưa thấy được vai trò, vị trí của Hoạt động trải nghiệm đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh
Phương pháp giảng dạy các kiến thức Sức khỏe sinh sản chưa được GV thực sự đầu tư một cách nghiêm túc để đưa vào giảng dạy, mặc dù các phương pháp này đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định mang lại hiệu quả giáo dục cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là các phương pháp như thảo luận nhóm, trò chơi, đóng vai, giải quyết vấn đề …được sử dụng hết sức hạn chế.
Trong quá trình triển khai các hoạt động quản lý giáo dục Sức khỏe sinh sản, công tác giao lưu tọa đàm, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với các trường bạn chưa thường xuyên được thực hiện. Việc tổ chức bồi dưỡng cho các lực lượng tham gia tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS, chưa được chú trọng, GV chủ yếu tự bồi dưỡng, tự học hỏi phương pháp cũng như cách thức giáo dục Sức khỏe sinh sản, các đợt tập huấn bồi dưỡng thường rất ít.
Trong công tác chỉ đạo tổ chức Hoạt động trải nghiệm việc Chỉ đạo công tác mua sắm, duy tu, bảo dưỡng cơ sở vật chất, phục vụ cho Hoạt động trải nghiệm cho học sinh chưa được chú trọng.
2.5.3. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
- Nhận thức của một bộ phận giáo viên chưa đầy đủ về tác dụng của hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh
- Kinh phí tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản. Nhà trường phải tính toán, phân bổ nguồn ngân sách sao cho hợp lý giữa các hoạt động giáo dục.
- Nhà trường còn thiếu cơ chế kiểm tra, đánh giá, giám sát các hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh cũng như chưa xây dựng đội ngũ chuyên trách tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Kết quả nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền ở thành phố Nha Trang cho thấy, Cán bộ quản lý và GV có nhận thức đầy đủ về nội dung hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản bao gồm giáo dục về tuổi dậy thì, những biến đổi tâm sinh lý tuổi dậy thì; hiện tượng kinh nguyệt, phóng tinh; cách vệ sinh thân thể và bộ phận sinh dục; giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên về sự thụ tinh; phân biệt tình bạn và tình yêu, hiểu biết sâu sắc các giá trị của tình bạn, tình yêu; hiểu biết những thất bại tâm lý và các nguy hại lâu dài phải gánh chịu nếu quan hệ tình dục sớm, tảo hôn; giáo dục bạn nam biết tôn trọng, bảo vệ bạn nữ và ý thức thực hiện bình đẳng giới; giáo dục luật hôn nhân gia đình.… Do vậy, để tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản thành công cần thiết phải có sự phối hợp giữa nhà trường với nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV các bộ môn, cha mẹ học sinh, các doanh nghiệp, các tổ chức chính quyền.
Kết quả nghiên cứu về thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền thành phố Nha Trang cho thấy, trong việc quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS nhà trường đã xây dựng được kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho cả năm học, trong đó nêu mục đích yêu cầu của hoạt động hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản, nhiệm vụ, nội dung, hình thức tổ chức, thời gian, địa điểm và dự trù kinh phí để thực hiện kế hoạch.
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho học sinh tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền thành phố Nha Trang Cán bộ quản lý đã chỉ đạo giao nhiệm vụ cho từng tổ, nhóm, cá nhân Cán bộ giáo viên; Chuẩn bị mọi nguồn lực để thực hiện; Phối hợp chặt chẽ giữa GV và các lực lượng khác. Tuy nhiên, do áp lực chương trình chính khóa nặng nên thời gian dạy học chính khóa là chủ yếu, còn thời gian dành cho hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản quá ít. Trong công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động còn nhiều hạn chế, lỏng lẻo chưa chặt chẽ.
Các yếu tố ảnh hướng đến tổ chức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS ở trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền TP. Nha Trang như cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, trình độ nhận thức của Cán bộ quản lý và năng lực của GV ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS. Điều này cho thấy, cần thiết phải xây dựng hệ thống biện pháp để nâng cao chất lượng tổ chức giáo dục Sức khỏe sinh sản cho HS trường Trung học cơ sở Nguyễn Hiền TP. Nha Trang. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
