Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học cơ sở Tân Minh, Thường Tín, Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc sống hiện nay đang ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được cải thiện và nâng cao. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường lại có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp. Do vậy, bảo vệ môi trường đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội.
Vấn đề bảo vệ môi trường ở thời đại nào, thời điểm nào cũng hết sức quan trọng. Hồ Chủ tịch, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Người vẫn luôn quan tâm dặn dò nhân dân, cán bộ, chiến sĩ luôn phải biết giữ gìn và bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe, giữ gìn vệ sinh vì sức khỏe là vốn quí nhất của con người. Con người có mạnh khỏe thì công việc làm mới có hiệu quả, chất lượng.
Từ thế kỷ XIX cho đến nay, nhiều quốc gia đã đưa ra những đạo luật về môi trường như: Luật cấm gây ô nhiễm nước sông của Anh năm 1876; Luật về khói than của Mỹ năm 1896; Luật khoáng nghiệp, Luật sông của Nhật Bản năm 1896, …
Trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc năm 1972 về “Môi trường và con người” họp tại Stockholm đã nêu: “Việc giáo dục môi trường cho thề hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để học có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”. Tiếp ngay sau sự kiện đó, chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEF) cùng với các tổ chức văn hóa – khoa học –giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã thành lập chương trình giáo dục môi trường quốc tế (IEEP). Cho đến tháng 10/1975, chương trình giáo dục môi trường thế giới đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Giáo dục môi trường ở Beograde (Cộng Hòa Liên Bang Nam Tư), tại Hội thảo đã đưa ra được một nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường. Trong nghị định nêu rõ mục tiêu giáo dục môi trường là nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường và hiểu biết về môi trường; giúp cho mỗi cá nhân xác định thái độ và lối sống tích cực đối với môi trường; có những hành động cho một môi trường tốt đẹp hơn.
Bên cạnh Luật giáo dục thì Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 3288/QĐ_BGD&ĐT ngày 2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam và một số văn bản hướng dẫn kèm theo. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục môi trường ở các trường phổ thông và trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam.
Đến thế kỷ XXI, toàn nhân loại đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn của tự nhiên. Đó là vấn đề cạn kiệt tài nguyên và nạn ô nhiễm môi trường trên toàn thế giới và cũng chính những điều này đã tác động không nhỏ tới việc tận dụng tài nguyên thiên nhiên của con người. Tài nguyên thiên nhiên không còn là kho dự trữ vô tận để con người mặc sức sử dụng chúng phục vụ những nhu cầu của cuộc sống. Từ đây sẽ đặt ra cho chúng ta những suy nghĩ cần thiết về việc cải tạo, tận dụng tài nguyên thiên nhiên như thế nào để đảm bảo được sự bền vững của chúng cũng như bảo vệ môi trường sống của chính con người?
Điều 4, Luật bảo vệ môi trường năm 2020 tại kỳ họp Quốc hội thứ 13 khẳng định: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân”. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Tháng 5/2025, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã ký kết chương trình phối hợp về công tác bảo vệ môi trường giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2025-2030. Trong nội dung ký kết có nêu: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo gắn với bảo vệ môi trường trong giai đoạn tới”.
Trên thực tế hiện nay, việc tổ chức phối hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội trong những năm gần đây có nhiều thay đổi và cải tiến. Tuy nhiên việc phối hợp các lực lượng này trong công tác giáo dục cho học sinh bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, kết quả thu được chưa cao. Sự phối hợp giữa gia đình, xã hội với các nhà trường còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong giáo dục.
Xuất phát từ thực tiễn ngày càng báo động về sự sa sút đáng lo ngại của môi trường, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học cơ sở Tân Minh, Thường Tín, Hà Nội” với mong muốn góp phần thực hiện giúp công tác bảo vệ môi trường được toàn diện hơn, hiệu quả hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, đề xuất giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh nói chung và học sinh trường Trung học Cơ sở Tân Minh nói riêng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trường Trung học cơ sở Tâm Minh, huyện Thường Tín, TP Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng trong hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Quản lí hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường như thế nào?
- Cần có những biện pháp nào để nâng cao chất lượng Quản lí hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường?
5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Nếu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp, phù hợp thực tiễn và phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục thì chất lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường được nâng cao, đáp ứng yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận thực trạng hoạt động phối hợp các lực lượng trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường ở trường Trung học Cơ sở nói chung và trường Trung học Cơ sở Tân Minh nói riêng.
- Nghiên cứu thực trạng việc quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín, lý giải thực trạng trên.
- Trên cơ sở các thực trạng và nguyên nhân, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín hiện nay.
7. Giới hạn nghiên cứu
7.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường như hạn chế sử dụng rác thải nhựa ở trường và ở nơi cư trú, giữ gìn vệ sinh chung (sân trường, lớp học, nhà vệ sinh, đường làng, ngõ xóm)
7.2. Giới hạn về khách thể khảo sát
- Cán bộ quản lý: Hiệu trưởng, tổng phụ trách Đội, bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
- Giáo viên chủ nhiệm các lớp, cán bộ y tế trường học.
- Học sinh các khối 6, 7, 8, 9 tại Trường Trung học Cơ sở Tân Minh
7.3. Giới hạn thời gian khảo sát
- Thời gian khảo sát từ năm học 2023-2024 đến nay.
8. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, trong luận văn này tôi phối hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Bằng việc nghiên cứu các công trình đã có và tài liệu thu thập được, phương pháp này được sử dụng nhằm xây dựng hoặc chuẩn hóa các khái niệm, xác định cơ sở lý luận để nghiên cứu.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Bằng việc quan sát những biểu hiện của học sinh và quan sát hoạt động phối hợp giũa các lực lượng giáo dục từ đó tìm hiểu thực trạng và thu thập các số liệu minh chứng cho thực trạng hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín.
- Phương pháp điều tra
Sử dụng các loại phiếu khảo sát để tìm hiểu thực trạng hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục để bước đầu khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín.
- Phương pháp chuyên gia
Qua việc lấy ý kiến các chuyên gia để thu thập các kinh nghiệm quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục, từ đó có những biện pháp cụ thể trong quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Bằng việc tổng kết các kinh nghiệm quản lý giáo dục, quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục từ đó rút ra những mặt mạnh, mặt yếu, những điều đã làm được và những điều chưa làm được từ đó tìm hiểu được thực trạng hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh. Qua đó, đưa ra những biện pháp có tính khả thi trong quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín.
8.3. Nhóm phương pháp bổ trợ
Bằng việc sử dụng một số thuật toán và phần mềm tin học, các phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu.
9. Những đóng góp của đề tài
Đề tài đưa ra nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng giáo dục từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học Cơ sở.
10. Cấu trúc luận văn Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – thường Tín.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín.
Chương 1 Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường trung học cơ sở
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường
Hiện nay, biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng bỏng trên toàn cầu và công tác bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ cấp bách không của riêng ai. Có một thực tế là hiện nay, trong khi các quốc gia phát triển có môn học riêng về môi trường thì Bảo vệ môi trường trong trường học ở một số nước đang phát triển như Việt Nam mới chỉ được đưa vào một số tiết học ngoại khóa.
Kinh phí đầu tư cho các chương trình tuyên truyền về bảo vệ môi trường của nhà nước không phải là nhỏ. Số tiền này được chi cho các hoạt động truyền thông, các cuộc thi ý tưởng, các ngày hội môi trường… Tuy nhiên, hiệu quả thu được từ những chương trình đó chưa hẳn đã cao so với giáo dục trong trường học. Bởi lẽ, giáo dục học đường là cách giáo dục thường xuyên và lay động lớn nhất đối với lớp trẻ. Song, việc giáo dục bảo vệ môi trường trong trường học chưa được chú trọng đúng mức. Ý thức bảo vệ môi trường vì thế chưa hình thành trong cộng đồng học sinh, sinh viên và đáng buồn là cả ở giáo viên. Điều này có thể thấy rõ khi nhìn vào tình trạng hút thuốc trong trường học, xả rác bừa bãi, sử dụng điện nước lãng phí… Ngay trong những trường đại học, trường tư thục lớn, dù đã có những thùng rác phân loại nhưng rất ít người có ý thức phân loại rác. Thậm chí, bên cạnh những thùng rác đã được chuẩn bị vẫn còn chỏng chơ rác thải, sản phẩm của những người ngại lại gần thùng rác. Bên cạnh các khu chợ mọc lên tự phát gần trường học, rác thải bừa bãi, điển hình là những tờ quảng cáo, túi ni-lông, giấy gói thức ăn… Tình trạng sử dụng năng lượng điện và nước lãng phí không phải là điều hiếm gặp trong nhà trường. Nhiều nơi, các thiết bị chiếu sáng, quạt, điều hòa nhiệt độ được sử dụng bừa bãi, vô tội vạ. Thiết bị điện không được tắt sau khi sử dụng, nước được xả thoải mái không khóa vòi, giấy vở cũng vứt phung phí.
Ở bất cứ trường học nào, những học sinh không biết giữ gìn vệ sinh học đường khá phổ biến. Nhiều học sinh vứt giấy, rác, bao bì của các loại đồ ăn vặt, bã kẹo cao su,… nơi sân trường, hành lang lớp học, ngăn bàn, cầu thang,… gây ảnh hưởng tới mĩ quan trường học cùng với đó là bầu không khí giảng dạy, học tập, sinh hoạt vui chơi cua cả thầy và trò.
Tuy nhiên, trong khi ngành giáo dục đang chờ đợi một môn học chính thức về môi trường, nếu các giáo viên biết cách lồng ghép thường xuyên những vấn đề về môi trường trong các bài giảng của mình thì hiệu quả chắc chắn không phải là nhỏ. Sở dĩ như vậy vì thầy cô giáo vừa là những tấm gương rất thuyết phục, vừa là những người có sức lay động, cảm hóa sâu sắc tới người học. Thầy cô cũng là những người hàng ngày tiếp xúc với học trò. Một lời nói của thầy cô giáo có thể tác động trực tiếp và lớn lao hơn cả những chương trình truyền thông khô cứng đang thực hiện. Việc giáo dục bảo vệ môi trường sẽ được tích hợp vào các môn học: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Vật lý, Sinh học, Công nghệ ở cấp trung học cơ sở (THCS).
Đối với cấp trung học phổ thông (THPT) sẽ được tích hợp vào các môn học: Ngữ văn, Địa lý, Giáo dục công dân, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ. Thực hiện nguyên tắc lồng ghép các nội dung bảo vệ môi trường vào các bài học một cách tự nhiên, phù hợp với nội dung bài học. Khi thực hiện tích hợp phải đảm bảo làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn nhưng không làm quá tải học sinh. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Thông qua các giờ học chính khóa và hoạt động ngoại khóa, giáo viên giáo dục cho các học sinh ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, nâng cao lòng yêu thiên nhiên, đất nước. Nội dung giáo dục môi trường được lồng ghép tích hợp qua nhiều môn học có liên quan như Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân. Thông qua lồng ghép giáo dục môi trường, các em được trang bị những kiến thức cơ bản về các yếu tố môi trường, vai trò của môi trường đối với con người và tác động con người đối với môi trường, phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường sạch đẹp.
Giáo dục bảo vệ môi trường có thể bắt đầu từ những việc nhỏ. Các giáo viên nên thực hiện lồng ghép vào bài giảng thực trạng môi trường hiện nay, các biện pháp cụ thể để giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Không chỉ thực hiện trên bài giảng, nếu trong cuộc sống hàng ngày, các giáo viên đi tiên phong trong việc tiết kiệm năng lượng điện, nước, giấy, phân loại rác thải… thì hiệu quả giáo dục sẽ tăng lên gấp bội. Các giáo viên có thể làm gương cho các học sinh bằng việc không hút thuốc lá trong trường học, vứt rác đúng nơi quy định, tiết kiệm năng lượng,… Không chỉ kêu gọi và làm gương, giáo viên nên khuyến khích học trò thực hiện tụ giám sát việc bảo vệ môi trường của mình và của các bạn.
Chỉ bằng những hành động nhỏ như nhắc nhở, tuyên dương, làm gương cũng sẽ góp phần hình thành ý thức môi trường ở những công dân trẻ. Có thể tin chắc rằng nếu ý thức bảo vệ môi trường trở nên thường trực trong trường học thì không chỉ các giáo viên, học sinh được hưởng một môi trường học đường trong lành hơn, mà về lâu dài, thế hệ tương lai sẽ làm tốt việc chung tay bảo vệ môi trường.
1.1.2. Nghiên cứu về quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Ở cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,… của chủ thể quản lý giáo dục lên các cấp đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh,… các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục”. (Nguyễn Phúc Châu, Quản lý quá trình sư phạm trong nhà trường phổ thông, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, tr 24).
Ở cấp độ vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,… của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể người học và các lực lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục và dạy học nhằm làm cho cơ sở giáo dục vận hành luôn ổn định và phát triển để đạt tới mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục đó”. (Nguyễn Phúc Châu, Quản lý quá trình sư phạm trong nhà trường phổ thông, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, tr 24).
Dù ở cấp độ nào chúng ta cũng có thể hiểu: quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có định hướng, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hoàn thành mục tiêu giáo dục và đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách có hiệu quả.
Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, nhà trường có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo các thế hệ người học phát triển nhân cách theo mục tiêu và định hướng của xã hội. Đó là quá trình tổ chức đồng loạt các hoạt động: dạy, học, giáo dục,… theo hệ thống nội dung chương trình được tổ chức bài bản, chặt chẽ.
Gia đình là tế bào của xã hội, là tập hợp những người cùng chung sống. là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ, chồng, con cháu.
Lực lượng xã hội gồm: các cơ quan nội chính, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng của địa phương.
Mục tiêu của Giáo dục môi trường là nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng hành động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn. Phương pháp Giáo dục môi trường hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môi trường trong một môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng giáo dục có hành động bảo vệ môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc Giáo dục môi trường trong công tác bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, những chương trình hành động cụ thể, và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Các chương trình Giáo dục môi trường bao gồm cả chính khóa và ngoại khóa đã được triển khai tới tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục của Việt Nam. Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng, và vận động quần chúng cũng như các tổ chức xã hội khác tham gia vào việc bảo vệ môi trường tiến hành hàng năm. Hệ thống thông tin và dữ liệu môi trường cũng đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn.
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI nêu rõ mục tiêu tổng quát của GD-ĐT là giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, “GD nhà trường phải kết hợp với GD gia đình và xã hội”. Muốn thực hiện được mục tiêu GD toàn diện học sinh cần phải coi trọng cả GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội.
Nói đến GD là nói đến nhà trường – nơi mà các hoạt động GD diễn ra thường xuyên, hàng ngày. Chất lượng của một đơn vị nhà trường thể hiện ở chất lượng các hoạt động dạy học và hoạt động GD. Đối với trường học, chất lượng GD là chất lượng hoạt động dạy học các môn văn hóa, chất lượng hoạt động GD về môi trường, tiết kiệm năng lượng điện, về an toàn giao thông, vệ sinh thực phẩm, chất lượng hoạt động GD ngoài giờ lên lớp…
Giáo dục môi trường không phải là môn học chính thức. Hoạt động Giáo dục môi trường đã được Bộ GD-ĐT triển khai dưới nhiều hình thức tích hợp, lồng ghép vào các môn học, hoặc đưa vào hoạt động GD ngoài giờ lên lớp. Song, vấn đề quản lí (QL) hoạt động Giáo dục môi trường ở các trường học nói chung và QL công tác phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục (LLGD) ngoài nhà trường nói riêng vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực hiện thường xuyên và chưa có tác động mang tính bền vững trong việc hình thành văn hóa môi trường cho học sinh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
1.2.1. Giáo dục
Giáo dục là khái niệm đa nghĩa, khi phân tích giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội ta thấy: giáo dục là hiện tượng văn minh chỉ có ở xã hội loài người, về bản chất đó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử XH của các thế hệ con người.
- Khi xem xét giáo dục dưới góc độ là một hoạt động ta thấy giáo dục có 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Nghĩa rộng: giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất, nhân cách toàn diện (trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, kỹ năng lao động…). Quá trình giáo dục theo nghĩa rộng được thực hiện trong nhà trường còn được gọi là quá trình sư phạm tổng thể, bao gồm 2 quá trình bộ phận, đó là quá trình dạy học và quá trình giáo dục
Nghĩa hẹp: giáo dục được hiểu là quá trình tác động của nhà giáo lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng XH. Với nghĩa hẹp, khái niệm GD được đặt ngang hàng với khái niệm dạy học. Khái niện giáo dục nghĩa hẹp đề cập tới quá trình giáo dục các phẩm chất đạo đức, hành vi, lối sống cho người học. (Phạm Viết Vượng, Giáo dục học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội 2016, tr 26)
1.2.2. Giáo dục bảo vệ môi trường
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” (Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam) Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất.
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
“Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái”.
Mục đích của Giáo dục môi trường nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, xoá nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên. Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh.
1.2.3. Các lực lượng giáo dục
Nhà trường ở đây chủ thể quản lý là Hiệu trưởng và các Phó hiệu trưởng là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, nhà trường có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo các thế hệ người học phát triển nhân cách theo mục tiêu và định hướng của xã hội. Đó là quá trình tổ chức đồng loạt các hoạt động: dạy, học, giáo dục,… theo hệ thống nội dung chương trình được tổ chức bài bản, chặt chẽ.
Gia đình chủ thể chính gồm phụ huynh học sinh (ông bà, cha mẹ, anh chị em học sinh) là tế bào của xã hội, là tập hợp những người cùng chung sống. là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ, chồng, con cháu.
Lực lượng xã hội gồm: các cơ quan nội chính, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng.
1.2.4. Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục
Hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục là hoạt động có chủ đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm mục tiêu huy động sức mạnh của từng lực lượng giáo dục tạo thành sức mạnh tổng hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh luôn bị tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Trong đó sự tác động của 3 lực lượng giáo dục chính đó là: gia đình, nhà trường và xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giáo dục học sinh.
Mỗi lực lượng giáo dục có tầm quan trọng, có nhiệm vụ, có phương pháp và có tính ưu việt riêng. Khi nhà trường – gia đình – xã hội cùng phối hợp để thực hiện giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thì sẽ có tác động đồng thời tạo ra hiệu quả cao đối với quá trình giáo dục. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Như vậy, bản chất của quá trình phối hợp giáo dục là sự thỏa thuận chung để đi đến nhất trí chung về nhận thức mục tiêu, nội dung, phương thức thực hiện. Đó là quá trình xây dựng kế hoạch, xác định các cơ chế hoạt động, đóng góp theo khả năng, sự cố gắng tối đa của các thành viên tham gia nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của xã hội về giáo dục, trong đó có trách nhiệm, quyền lợi về giáo dục mà các thành viên tham gia được hưởng thụ.
Quản lý hoạt động phối hợp giữa các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là một trong những nội dung quản lý nhà trường của nhà quản lý, đó là những tác động có ý thức của nhà quản lý nhằm định hướng, tổ chức, điều khiển, và kiểm soát quá trình phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục sinh viên đúng với nguyên lý giáo dục, phương pháp giáo dục, đảm bảo nguyên tắc quản lý về giáo dục làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Đó là hoạt động vạch kế hoạch, tổ chức, phân công, kiểm tra, đánh giá việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục sinh viên.
Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục là một lĩnh vực quản lý rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi người quản lý phải có năng lực quản lý vững vàng, toàn diện, khả năng vận dụng các biện pháp một cách linh hoạt và phải luôn là tấm gương sáng về đạo đức nhà giáo cho mọi người học noi theo.
Tóm lại, quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục giáo dục về bản chất là quá trình tổ chức quản lý sự phối hợp giáo dục của nhiều thành viên cùng tham gia tạo ra sự thống nhất chung của các thành viên, nhằm huy động hợp lý nhất khả năng của các thành viên phù hợp với mục tiêu, nội dung, kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục, Giáo dục toàn diện của nhà trường.
Mục tiêu của quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục làm cho quá trình vận hành thêm đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khi hăng hái và thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội.
1.3. Mục tiêu giáo dục bậc Trung học Cơ sở và những nhiệm vụ giáo dục học sinh giai đoạn mới Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
1.3.1. Mục tiêu giáo dục bậc Trung học Cơ sở
Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp.
Giáo dục học sinh bảo vệ môi trường nhằm giúp cho học sinh hiểu được bản chất phức tạp của hệ thống môi trường thiên nhiên cũng như môi trường nhân tạo để từ đó giúp học sinh có những hành vi đối xử “thân thiện” hơn đối với môi trường.
1.3.2. Nhiệm vụ của giáo dục học sinh trong giai đoạn mới
- Những phẩm chất cơ bản của con người Việt Nam thế kỷ XXI
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Từ cuộc sống thực của nhân dân, cuộc đời thực của con người xã hội Việt Nam, từ sự từng trải sâu sắc và tu dưỡng của chính mình, từ niềm tin lớn lao vào khát vọng và sức vươn tới cái chân, thiện, mỹ của con người, Bác Hồ đã dày công vun đắp các phẩm chất của con người Việt Nam, cho mọi người, mọi đối tượng, trong mọi lĩnh vực hoạt động và sinh sống của con người, trong mọi phạm vi và trong các quan hệ phong phú, phức tạp và tinh tế của con người.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đồng thời kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức của nhân loại, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, là sự kế thừa và phát triển giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh những phẩm chất đạo đức được nêu ra là phù hợp với từng đối tượng nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định. Từ đó, Người khái quát thành những phẩm chất cơ bản của con người Việt Nam, những chẩn mực chung của nền đạo đức cách mạng Việt Nam. Đó là:
- Trung với nước, hiếu với dân Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Đây là phẩm chất đạo đức bao trùm, quan trọng nhất của con người Việt Nam. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân. Nước ở đây là nước của dân, còn dân là người làm chủ, chủ nhân của đất nước, “bao nhiêu quyền hạn đều là của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”. “Hiếu với dân”, không phải là chỉ dừng lại ở chỗ thương dân mà là gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc.
- Yêu thương con người: là một trong những phẩm chất đạo đức đẹp đẽ và cao cả nhất mà Hồ Chí Minh yêu cầu và khẳng định đối với người Việt Nam và chính Bác đã chứng minh tuyệt vời phẩm chất đó bằng cả cuộc đời của người.
Yêu thương con người gắn liền với niềm tin tuyệt đối vào khả năng tự giải phóng của con người vào năng lực vươn lên tự hoàn thiện mình theo lý tưởng chân, thiện, mỹ.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: phẩm chất này gắn với hoạt động thực tiễn, được thể hiện cụ thể, hang ngày của mỗi con người, là cái nhìn thấy được của đạo đức, không thể che giấu, gắn chặt giữa nới và làm, suy nghĩ và hành động,… Bác Hồ cho rằng, bốn đức tính cần, kiệm, liêm, chính là những phẩm giá cơ bản, tốt đẹp nhất để làm người, làm cán bộ, đảng viên. Người nói:
- Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
- Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa không thành trời.
- Thiếu một phương không thành đất. Thiếu một đức không thành người.
Chí công vô tư: theo Người, khi làm bất cứ việc gì đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì nên đi sau. Phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Tinh thần quốc tế trong sáng: đó là yêu cầu và phẩm chất đạo đức mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, vượt ra ngoài quốc gia, xây dựng tình đoàn kết, hợp tác quốc tế.
- Nhiệm vụ của trường Trung học Cơ sở.
Để đạt được mục tiêu giáo dục Trung học Cơ sở là Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp thì trường Trung học Cơ sở thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp Trung học Cơ sở và cấp Trung học Phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Luật bảo vệ môi trường có ghi: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân”; “Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành”.
Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng hành động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn. Phương pháp Giáo dục bảo vệ môi trường hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môi trường trong một môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng học sinh có hành động bảo vệ môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc Giáo dục bảo vệ môi trường trong công tác bảo vệ môi trường trong học sinh.
Giáo dục môi trường không phân biệt giáo dục cho đông đảo nhân dân, giáo dục trong các trường phổ thông, giáo dục đại học hay trung học chuyên nghiệp đều nhằm mục tiêu đem lại cho các đối tượng được giáo dục có cơ hội:
Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu. Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các Kiến thức về môi trường.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng như đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ. Mục tiêu này có định hướng xây dựng Thái độ, cách đối xử thân thiện với môi trường. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để họ có thể tham gia hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi họ ở và làm việc. Đây là mục tiêu về khả năng.
Ở cấp học trung học, nội dung giáo dục môi trường phải được coi là nội dung chính thống, có hệ thống, có chất lượng và phải hiệu quả. Cách thức đưa vào chương trình phổ thông và phương thức đào tạo có thể mềm dẻo nhưng việc đánh giá kết quả phải được đặt ra một cách tương xứng với tầm quan trọng của vấn đề. Cần phải giúp cho các em tự mình chiếm lĩnh được tri thức, kỹ năng và tự thân các học sinh xác định thái độ phải đối xử đúng đắn với thiên nhiên như chính ngôi nhà của mình.
Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục môi trường có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường”.
1.4. Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại các trường Trung học Cơ sở
1.4.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Trung học Cơ sở
Trên cơ sở hiểu được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh bậc Trung học Cơ sở từ đó các nhà quản lý giáo dục có phương pháp, cách thức quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường để đạt được hiệu quả giáo dục.
- Sự phát triển trí tuệ của học sinh Trung học Cơ sở
Học sinh Trung học Cơ sở có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng. Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn.
Ở lứa tuổi này trí nhớ thay đổi về chất. Trí nhớ dần dần mang tính chất của những quá trình được điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức. Học sinh Trung học Cơ sở có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ, các em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại. Khi ghi nhớ các em đã biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hoá, phân loại. Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên. Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa. Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn, các em không muốn thuộc lòng mà muốn tái hiện bằng lời nói của mình. Vì thế giáo viên cần phải: Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Dạy cho học sinh phương pháp đúng đắn của việc ghi nhớ logic.
- Cần giải thích cho các em rỏ sự cần thiết của ghi nhớ chính xác các định nghĩa, những quy luật không được thiếu hoặc sai một từ nào.
- Rèn luyện cho các em có kỹ năng trình bày chính xác nội dung bài học theo cách diễn đạt của mình.
- Khi tổ chức quá trình ghi nhớ, giáo viên cần làm rõ cho học sinh biết là hiệu quả của ghi nhớ không phải đo bằng sự nhận lại, mà bằng sự tái hiện.
Sự phát triển chú ý của học sinh Trung học Cơ sở diễn ra rất phức tạp, vừa có chú ý chủ định bền vững, vừa có sự chú ý không bền vững. Ở lứa tuổi này tính lựa chọn chú ý phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của đối tượng học tập và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó. Vì thế trong giờ học này thì các em không tập trung chú ý, nhưng giờ học khác thì lại làm việc rất nghiêm túc, tập trung chú ý cao độ.
Biện pháp tốt nhất để tổ chức sự chú ý của học sinh Trung học Cơ sở là tổ chức hoạt động học tập sao cho các em ít có thời gian nhàn rỗi như không có ý muốn và khả năng bị thu hút vào một đối tượng nào đó trong thời gian lâu dài.
Hoạt động tư duy của học sinh Trung học Cơ sở cũng có những biến đổi cơ bản, ngoài tư duy trực quan – hình tượng, các em cần đến sự phát triển tư duy trừu tượng.
- Sự hình thành kiểu quan hệ mới
Học sinh Trung học Cơ sở có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn người lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng, không muốn người lớn coi nó như trẻ con mà phải tôn trọng nhân cách, phẩm giá, tin tưởng và mở rộng tính độc lập của các em.
Để duy trì sự thay đổi mối quan hệ giữa các em và người lớn, các em có những hình thức chống cự, không phục tùng. Tuy nhiên không phải mọi người lớn đều nhận thức được nhu cầu này của các em, nên điều này là nguyên nhân dẫn đến sự xung đột giữa các em với người lớn.
Tính độc lập và quyền bình đẳng trong quan hệ của các em với người lớn là vấn đề phức tạp và gay gắt nhất trong sự giao tiếp của các em với người lớn và trong sự giáo dục các em ở lứa tuổi này.
Những khó khăn đặc thù này có thể giải quyết, nếu người lớn và các em xây dựng được mối quan hệ bạn bè, hoặc quan hệ có hình thức hợp tác trên cơ sở tôn trọng, tin tưởng giúp đỡ lẫn nhau. Sự hợp tác này cho phép người lớn đặt các em vào vị trí mới – vị trí của người giúp việc và người bạn trong những công việc khác nhau, còn bản thân người lớn trở thành người mẫu mực và người bạn tin cậy của các em. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Hoạt động giao tiếp của học sinh Trung học Cơ sở với bạn bè
Sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh Trung học Cơ sở là một hoạt động đặc biệt, mà đối tượng của hoạt động này là người khác – người bạn, người đồng chí. Nội dung của hoạt động là sự xây dựng những quan hệ qua lại và những hành động trong quan hệ đó. Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác và bản than mình; đồng thời qua đó làm phát triển một số kỹ năng như kỹ năng so sánh, phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn, làm phong phú thêm những biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân.
Đó chính là ý nghĩa to lớn của sự giao tiếp ở lứa tuổi này đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Vì thế làm công tác giáo dục phải tạo điều kiện để các em giao tiếp với nhau, hướng dẫn và kiểm tra sự quan hệ của các em, tránh tình trạng ngăn cấm, hạn chế sự giao tiếp của lứa tuổi này.
Có nhiều học sinh lớp 8.9, đặc biệt là em gái hay để ý đến vấn đề ai yêu ai, nhưng điều này rất bí mật, chỉ kể cho những người bạn rất thân thiết và tin cậy.
Ở học sinh lớp 6,7 tình bạn nam nữ ít nẩy sinh, nhưng các học sinh lớp 8,9 thì nẩy sinh thường xuyên, sự gắn bó hai bên rất thân thiết và nó giữ một vị trí lớn trong cuộc sống của các em. Tất nhiên quan hệ nam nữ ở lứa tuổi này cũng có thể lệch lạc. Quan hệ về bạn khác giới không đúng mực, đưa đến chỗ đua đòi chơi bời, bỏ việc học tập và những công việc khác. Vì thế công tác giáo dục phải thấy được điều đó, để hướng dẫn, uốn nắn cho tình bạn giữa nam và nữ thật lành mạnh, trong sáng và nó là động lực để giúp nhau trong học tập, trong tu dưỡng.
- Sự hình thành tự ý thức của học sinh Trung học Cơ sở
Học sinh Trung học Cơ sở bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chất nhân cách của mình, các em có biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, nhu cầu so sánh mình với người khác. Các em bắt đầu xem xét mình, vạch cho mình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình.
Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt động học tập, đến sự hình thành quan hệ qua lại với mọi người.
Sự tự ý thức của lứa tuổi này được bắt đầu từ sự nhận thức hành vi của mình, từ những hành vi riêng lẻ, đến toàn bộ hành vi và cuối cùng là nhận thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình.
Đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là mâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kỹ năng chưa đầy đủ để phân tích đúng đắn sự biểu lộ của nhân cách. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Ý nghĩa quyết định để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi học sinh Trung học Cơ sở là cuộc sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin và sự tự đánh giá của mình.
Như vậy trên cơ sở phát triển tự ý thức và thái độ nhận thức thực tế, trên cơ sở yêu cầu ngày càng cao đối với chúng, vị trí mới mẻ của các em trong tập thể, đã làm nẩy sinh khát vọng tự tu dưỡng nhằm mục đích phát triển cho bản thân những nét tính cách tốt, khắc phục những nét tính cách lạc hậu, những khuyết điểm, sai lầm của mình.
- Sự hình thành tình cảm ở lứa tuổi học sinh Trung học Cơ sở
Tình cảm các em học sinh Trung học Cơ sở sâu sắc và phức tạp. Điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hoá dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột. Đặc điểm này là do ảnh hưởng của sự phát dục và sự thay đổi một số cơ quan nội tạng gây nên.. Nhiều khi còn do hoạt động hệ thần kinh không cân bằng, thường thì quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế, đã khiến các em không tự kiềm chế được. Khi tham gia các hoạt động vui chơi, học tập, lao động các em đều thể hiện tình cảm rõ rệt và mạnh mẽ. Đặc biệt những lúc xem phim, xem kịch … các em có biểu hiện những xúc cảm rất đa dạng, khi thì hồi hộp cảm động, khi thì phấn khởi vui tươi, có khi lại om sòm la hét. Vì thế các nghệ sĩ cho rằng, các em lứa tuổi này là những khán giả ồn ào nhất và cũng đáng biết ơn nhất.
Sự dễ kích động dẫn đến các em xúc động rất mạnh mẽ như vui quá trớn, buồn ủ rủ, lúc thì quá hăng say, lúc thì quá chán nản. Nhiều em thay đổi rất nhanh chóng và dễ dàng, có lúc đang vui chỉ vì một cái gì đó lại sinh ra buồn ngay, hoặc đang buồn bực nhưng gặp một điều gì đó thích thú thì lại tươi cười ngay. Do sự thay đổi tình cảm dễ dàng, nên trong tình cảm của của các em đôi lúc mâu thuẫn.
Tóm lại, có thể nói tình cảm ở lứa tuổi này mang tính bồng bột, sôi nổi, dễ bị kích động, dễ thay đổi, đôi khi còn mâu thuẫn. Tuy vậy, tình cảm các em đã bắt đầu biết phục tùng lý trí, tình cảm đạo đức đã phát triển mạnh. Do vốn kinh nghiệm trong cuộc sống của các em ngày càng phong phú, do thực tế tiếp xúc hoạt động trong tập thể, trong xã hội, mà tính bộc phát trong tình cảm của các em dần bị mất đi, nhường chỗ cho tình cảm có ý thức phát triển.
Hoàn cảnh xã hội cũng đã ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển tình cảm của các em. Tình cảm bạn bè, tình đồng chí, tính tập thể ở lứa tuổi này cũng được phát triển mạnh. Tình bạn của các em được hình thành trên cơ sở cùng học tập, cùng sinh hoạt, cùng có hứng thú, sở thích như nhau. Các em đối với nhau chân thành, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, cứu bạn lúc nguy hiểm. Các em tin tưởng nhau, kể cho nhau nghe những câu chuyện thầm kín của mình. Các em sống không thể xa bạn, thiếu bạn. Vì thế khi bị bạn phê bình, các em cảm thấy khổ tâm, buồn phiền, đặc biệt những em bị bạn bè không chơi, tẩy chay thì đó là một đòn tâm lý rất nặng, là một hình phạt rất nặng nề với các em.
Với những đặc điểm trên, cần thiết phải có hoạt động phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh. Ban Giám hiệu nhà trường xác định rõ mục tiêu của hoạt động phối hợp để quản lý hoạt động phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với gia đình học sinh và với các lực lượng giáo dục trong xã hội để giáo dục học sinh trong trường. Xác định các thao tác của hoạt động phối hợp từ đó hình thành các thao tác của hoạt động phối hợp đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh đạt hiệu quả.
1.4.2. Mục tiêu phối hợp các lực lượng giáo dục Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh để tạo sức mạnh tổng hợp, thống nhất và liên tục trong quá trình giáo dục học sinh; nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho học sinh; để hạn chế những tác động tiêu cực tới quá trình phát triển nhân cách của học sinh; phát huy tiềm năng của xã hội trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường; nâng cao sự quản lý của nhà trường trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường; phát huy ưu thế của giáo dục gia đình và giáo dục ngoài xã hội trong việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường; Nhà trường tranh thủ sự đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, các nguồn tài trợ của một số tổ chức, doanh nghiệp và các nhà hảo tâm trong xã hội; nâng cao trách nhiệm của gia đình và xã hội đối với giáo dục; công tác giáo dục môi trường phù hợp với đối tượng học sinh.
- Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Tại Điều 2 Luật giáo dục năm 2005 và đã được sử đổi bổ sung năm 2015 ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [24].
Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho đất nước đang đổi mới hiện nay, yêu cầu cấp bách đặt ra là nâng cao chất lượng nhân lực, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài nhằm tạo ra những mẫu nhân cách phù hợp với xã hội mới. Đó là nguồn lao động vừa có học vấn kiến thức đa ngành vừa có kiến thức chuyên sâu và có năng lực sáng tạo, có sức khỏe đồng thời phải có những phẩm chất, kiến thức cần thiết như trình độ, năng lực, lòng nhân ái, sự đồng cảm với con người, sự quan tâm đến lợi ích của cộng đồng, dân tộc hài hòa với lợi ích cá nhân, gia đình. Để xây dựng được những con người có phẩm chất cơ bản đó cần có sự hợp tác, sự kết hợp nhịp nhàng đồng bộ, hỗ trợ cho nhau giữa ba lực lượng nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh.
Sự phối hợp có hiệu quả nhất khi có sự quản lý để điều chỉnh các mối quan hệ cho phù hợp nhằm phát huy tối đa kết quả trong quá trình phối hợp giáo dục. Công tác quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục tạo nên sức mạnh tổng hợp phát huy được những tiềm năng phong phú của toàn xã hội tham gia vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam. Tại Điều 3, Luật giáo dục năm 2005 và sửa đổi bổ sung năm 2015, nêu rõ một trong số những nguyên lý giáo dục của nước ta: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục đi đôi với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [24].
Trong đó nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục (Điều 93 luật giáo dục 2005). Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Như vậy, trong công tác giáo dục người học nhà trường phải chủ động, phát huy vai trò trung tâm tổ chức phối hợp, dẫn dắt nội dung và phương pháp giáo dục của gia đình và xã hội, vì nhà trường là một tổ chức chuyên biệt đối với công tác giáo dục; nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo nhân lực do xã hội giao phó; có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được chọn lọc và tổ chức chặt chẽ; có lực lượng giáo dục mang tính chất chuyên nghiệp và giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác động tích cực trong quá trình giáo dục người học.
Trong quá trình giáo dục thì nhà trường, gia đình và xã hội đều là chủ thể giáo dục, sinh viên đóng vai trò là khách thể. Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội là một chỉnh thể trong hệ thống môi trường giáo dục, các yếu tố trong hệ thống có tác động phối hợp với nhau để tạo ra tác động tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho người học. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục ở nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù có tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không được toàn vẹn.
Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hôi nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho người học là sự thể hiện tác động qua lại biện chứng. Trong mối quan hệ này, ở nhà trường dễ thực hiện được nhiệm vụ của mình vì có giáo viên hướng dẫn và làm mẫu. Nhà trường giúp đỡ, hỗ trợ cụ thể cho gia đình trong giáo dục người học, giúp gia đình nắm được nội dung và phương pháp giáo dục trong gia đình, giúp họ nắm được tri thức về chính sách giáo dục đồng thời cho họ thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của gia đình trong việc nuôi dậy con của họ.
Với tư cách là một chủ thể giáo dục, gia đình mà tiêu biểu là các bậc phụ huynh có trách nhiệm chủ động hợp tác với nhà trường trong việc tổ chức lại hoạt động giáo dục cho sinh viên ở gia đình, hiểu rõ vai trò của gia đình và nền tảng cơ bản ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Giáo dục gia đình rất quan trọng ví đây là môi trường giáo dục đầu tiên mà học sinh tiếp xúc, Nó là cái nôi của sự hình thành nhân cách sinh viên. Đồng thời nhờ có gia đình mà giáo dục nhà trường được tái hiện lại vì nội dung giáo dục học sinh ở nhà trường đưa vào thực tiễn cuộc sống và công việc sau này.
Thông qua quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục mà tạo nên một môi trường giáo dục đúng đắn, rộng khắp trong toàn xã hội. Đồng thời làm quá trình giáo dục thống nhất và liên tục trong không gian và thời gian và theo thời gian, bởi môi trường xã hội là nơi sinh viên có cơ hội và có khả năng ứng dụng kiến thức tiếp thu ở nhà trường để có thái độ ứng xử hợp lý, đúng đắn khi tham gia sinh hoạt cộng đồng. Bên cạnh đó sự phối hợp còn có tác dụng chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội dẫn đến việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, vừa tạo những điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc giáo dục ở trường và gia đình Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Đảm bảo môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn
Việc thống nhất quản lý việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đã tạo sức mạnh tổng hợp và đồng bộ trong toàn xã hội đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với giáo dục, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường và kinh tế hội nhập từ đó xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn, mang tính giáo dục tích cực, thống nhất tác động trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.
Việc trang bị kiến thức cơ bản, định hướng cho học sinh về các chuẩn mực giá trị đạo đức, hạn chế những ảnh hưởng không lành mạnh là rất cần thiết. Yêu cầu đó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là trách nhiệm của gia đình và các lực lượng xã hội. Văn kiên Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI khẳng định: “…Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện dại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành. Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời…”.
Quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục tạo ra sự ràng buộc lẫn nhau, tạo động lực cho sự phát triển đúng định hướng, hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội, tạo ra môi trường sư phạm lành mạnh, an toàn cho người học.
Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, hợp tác kinh tế và mở rộng giao lưu văn hóa các nước có nhiều thuận lợi. Song không ít ảnh hưởng tạo môi trường không tốt với nhiều vấn đề tiêu cực của xã hội đáng lo ngại đang xâm nhập vào các trường học. Quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục chính là tạo ra sức mạnh tổng hợp, đồng bộ, đồng thuận toàn xã hội nhằm xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, phát huy mọi mặt tích cực của xã hội, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực, kịp thời điều chỉnh hành vi của học sinh tạo môi trường giáo dục an toàn, toàn diện đảm bảo sự phát triển của xã hội hiện đại.
Cần phải tạo môi trường hoạt động và giao lưu mang tính giáo dục thống nhất cho thế hệ trẻ thông qua các nội dung hoạt động của các đoàn thể trong và ngoài nhà trường. Mỗi nhà trường có kế hoạch và tổ chức giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và tinh thần cách mạng một cách hiệu quả cho người học; phối hợp với chính quyền địa phương, đoàn thể và nhân dân địa phương phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng cho cuộc sống cộng đồng. Nhà trường kết hợp với gia đình, với các tổ chức chính trị xã hội, các ban phòng chống tệ nạn xã hội, thông qua các phong trào như xây dựng đời sống văn hóa, môi trường “xanh – sạch – đẹp””. Thông qua đó tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh tổ chức các câu lạc bộ phù hợp lứa tuổi nhằm tạo ra môi trường sinh hoạt, học tập văn minh sạch đẹp. Qua các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống, bảo vệ môi trường, phong cách ứng xử văn hóa, rèn luyện của học sinh. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
1.4.3. Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục
- Hoạt động lập kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường
Việc xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục: nhà trường –gia đình – xã hội trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là công việc chủ yếu của giáo viên chủ nhiệm và của tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,… trong nhà trường. Kế hoạch đảm bảo sao cho vừa bao quát, vừa cụ thể phù hợp với từng đối tượng khác nhau, kế hoạch phải mang tính khả thi.
Lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, kết hợp với Đoàn thanh niên lập kế hoạch tổ chức các hoạt động ngoại khóa hàng tuần, hàng tháng, hàng quý, hàng năm gắn với công tác bảo vệ môi trường tại lớp học học, trường học, địa phương nơi học sinh sinh sống; tạo các phong trào thi đua giữ gìn môi trường “Xanh – Sạch – Đẹp” nhân dịp các ngày lễ lớn của đất nước, các ngày kỷ niệm của nhà trường.
- Hoạt động xay dựng bộ máy thực hiện kế hoạch
Đối với trường Trung học Cơ sở, giáo viên chủ nhiệm có vai trò chủ đạo trong việc phối hợp giáo dục học sinh. Đoàn thanh niên và giáo viên chủ nhiệm dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch, đôn đốc mọi hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường giáo dục học sinh bảo vệ môi trường trong nhà trường, tại gia đình và địa phương nơi học sinh sống.
Các cán bộ, giáo viên bộ môn, là lực lượng nòng cốt có nhiệm vụ thực hiện chỉ đạo việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình và xã hội nhằm kết hợp kết hợp các lực lượng giáo dục để thống nhất nội dung và phương pháp giáo dục học sinh.
Gia đình học sinh có nhiệm vụ chủ động trong việc phối hợp với nhà trường và các lục lượng giáo dục trong xã hội để thống nhất với nhà trường thực hiện kế hoạch kết hợp giáo dục học sinh thực hiện các hành động bảo vệ môi trường tại gia đình và địa phương. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Các lực lượng xã hội liên hệ với nhà trường, giáo viên chủ nhiệm kết hợp thống nhất thực hiện kế hoạch và đưa ra biện pháp bảo đảm trật tự an ninh tổ chức học tập và rèn luyện, hạn chế những tệ nạn xã hội có thể tác động trực tiếp đến học sinh.
- Hoạt động chỉ đạo quản lý thực hiện hoạt động phối hợp
Lãnh đạo nhà trường triển khai chỉ đạo thực hiện theo đúng kế hoạch đã được thống nhất nhằm giáo dục học sinh đạt mục tiêu đã đặt ra. Thường xuyên đôn đốc, uốn nắn, kiểm tra quá trình thực hiện, hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình thực hiện kế hoạch đã định.
- Hoạt động kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục
Qua công tác kiểm tra, tổng kết quá trình thực hiện để đánh giá, khen thưởng kịp thời cán bộ giáo viên, học sinh thực hiện tốt kế hoạch góp phần khuyến khích, động viên các lực lượng cùng tham gia quá trình giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thu hút thêm sự chú ý của học sinh với việc bảo vệ môi trường sống xung quanh.
1.4.4. Hình thức tổ chức hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Trong quá trình sinh hoạt và học tập các học sinh có điều kiện sống và hoàn cảnh học tập khác nhau. Với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, qua việc khám phá môi trường học tập và điều kiện sinh hoạt mới nhiều học sinh đã có những tư tưởng chủ quan, có khi thích thể hiện bản thân nhưng có khi lại rụt rè, e ngại, … nhiều học sinh dễ sa vào các tệ nạn xã hội do không làm chủ được bản thân. Điều này khiến nhà trường, gia đình và xã hội không khỏi lo lắng.
Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện để sinh viên tìm tòi, khám phá môi trường học tập mới thông qua các hình thức học tập, nghiên cứu, các hoạt động ngoại khóa đa dạng và phong phú theo gợi mở theo su thế ở gia đình và ngoài xã hội tạo niềm tin, thu hút học sinh hướng theo những điều tốt đẹp trong quá trình học tập và sinh hoạt.
Gia đình luôn tạo mọi điều kiện để học sinh có điều kiện học tập và sinh hoạt ở môi trường sư phạm lành mạnh một cách tốt nhất và đầy đủ nhất.
Các lực lượng xã hội tạo các điều kiện để khuyến khích học sinh học tập thông qua các quy định của pháp luật, của địa phương, các xuất học bổng khuyến khích và hỗ trợ học tập, các cuộc giao lưu, liên hoan, sự tạo điều kiện để học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa, tham gia các hoạt động xã hội trong đó có hoạt động vệ sinh, bảo vệ môi trường xung quanh trở nên “Xanh – Sạch – Đẹp” tạo môi trường sống trong lành.
Việc phối hợp các lực lượng giáo dục bằng văn bản: theo Luật bảo vệ môi trường, Quy chế học sinh, nhà trường phải thường xuyên thông báo tình hình của học sinh về gia đình khi có những thông tin cần thiết có liên quan trực tiếp tới học sinh trong nhà trường và tiếp nhận thông tin của học sinh từ gia đình và xã hội để kịp thời có những điều chỉnh trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Các cơ quan chức năng thường thông báo tới nhà trường tình hình học sinh thuộc diện quản lý của nhà trường về những biến cố xảy ra bất thường đối với học sinh đồng thời thông qua nhà trường tìm hiểu phần nào đó về gia đình học sinh thông qua hồ sơ học sinh do nhà trường lưu giữ để có những biện pháp xử lý phù hợp.
Sự phối hợp này thường được trao đổi bằng văn bản thông qua biên bản; thông qua tuyên truyền; thông qua hành động trực tiếp; trao đổi điện thoại, tin nhắn và các hình thức khác như: gửi thư, email, sổ liên lạc, … thông báo tới gia đình hoặc địa bàn nơi cư trú khi cần thiết. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Việc phối hợp các lực lượng giáo dục thông qua tuyên truyền: hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhà trường đã sử dụng cách tuyên truyền bằng các pano, khẩu hiệu, trên mạng Internet kêu gọi các bậc phụ huynh, các cơ quan chức năng, các học sinh tham gia công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Việc phối hợp các lực lượng bằng hành động trực tiếp: thành lập tổ tự quản về công tác vệ sinh môi trường tại trường học, liên hệ giữa nhà trường với các phụ huynh học sinh thông qua giáo viên chủ nhiệm để thực hiện công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường ở tại gia đình.
Triển khai các biện pháp tuyên truyền Luật môi trường, giáo dục về môi trường trong và ngoài nhà trường.
Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm thường xuyên, có quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ thi đua phối hợp đối với cán bộ, giáo viên trực tiếp tham gia công tác phối hợp giáo dục, động viên khen thưởng kịp thời. Tổ chức triển khai bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng thực hiện các hoạt động phối hợp đối với các lực lượng giáo viên, phụ huynh và các lực lượng giáo dục.
1.4.5. Các điều kiện của hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục
- Điều kiện về con người
Các lực lượng giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội luôn được coi là “tam giác” giáo dục quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của người học. Tầm quan trọng của mỗi lực lượng cũng như mối quan hệ giữa chúng trong giáo dục học sinh ai cũng hiểu nhưng vẫn có khoảng cách giữa nói và làm.
Trong thực tế, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường phải chăng chỉ có tính bề nổi, còn rất nhiều hạn chế mà chúng ta nhìn thấy, từ nhận thức về việc phối hợp, cách thức phối hợp, nội dung phối hợp,… và đặc biệt là biện pháp trong phối hợp giáo dục chưa được tiến hành thường xuyên và đồng bộ. Thực tiễn giáo dục cho thấy nhận thức về sự phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường còn chưa thực sự đúng.
Nhiều gia đình quá bận rộn không có thời gian để trò chuyện với con; quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu của con và cho rằng thế là đã quan tâm, chăm sóc chúng một cách đầy đủ; quá kỳ vọng để buộc con phải đạt được những mục tiêu vượt xa khả năng của chúng, đặc biệt là trong học tập, trong việc dạy dỗ con em mình thì một số gia đình còn xem nhà trường là môi trường giáo dục duy nhất cho trẻ, còn mang nặng suy nghĩ “trăm sự nhờ thầy cô”… có lẽ đó là do tình trạng phổ biến trong những gia đình hiện nay. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Không ít cha mẹ khi được thông báo về tình hình của con mới giật mình bởi mọi chuyện đã đi qua xa tầm kiểm soát của gia đình, vì vậy khi trẻ hư thì đổ lỗi cho nhà trường là “thầy cô dạy không nghiên khắc”,… hoặc đổ lỗi cho xã hội “xã hội quá nhiều tiêu cực, quá nhiều cạm bẫy làm con tôi hư”…
Về phía nhà trường cũng luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục, cũng nhận thức rõ nhiệm vụ của mình là phải chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục. Nhưng không ai phủ nhận một thực tế là lâu nay trong một số nhà trường việc thực hiện phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường hầu như được “giao thẳng”, “khoán trắng” cho nhà trường. Đó cũng là nguyên nhân để giáo viên, nhà trường không đủ thời gian để nắm bắt tới thói quen, biểu hiện, đặc điểm và tính cách của học sinh.
Bên cạnh đó thì sự đơn điệu trong nội dung, cách thức phối hợp thì “chểnh mảng” của một số cán bộ quản lý trong nhà trường chưa sát xao trong việc thường xuyên giám sát, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện phối hợp cũng góp phần làm ảnh hưởng đến sự phối hợp và quản lý việc phối hợp các lực lượng trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, những đặc điểm tâm lý lứa tuổi và sự thay đổi cách sống, sự thay đổi sinh lý của học sinh và sinh hoạt cũng ảnh hưởng nhất định đến sự phối hợp và hiệu quả quản lý việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Ở lứa tuổi thiếu niên niên có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Là thời kỳ chuẩn bị hành trang bước vào giai đoạn mới của cuộc sống. Ở lứa tuổi này các em đang muốn khẳng định bản thân, làm theo ý muốn và sở thích và đang dần phát huy được tính độc lập của mỗi cá nhân vì vậy rất cần đến sự đối xử tế nhị, sự định hướng và sự động viên từ phía cán bộ, giáo viên trong nhà trường, sự động viên gần gũi từ phía gia đình và sự định hướng lành mạnh của xã hội.
Sự phát triển tâm lý của học sinh cũng chịu ảnh hưởng của thời kỳ phát triển kinh tế xã hội. Cái ảnh hưởng quyết định nhất đối với sự phát triển tâm lý của các em chính là những mối quan hệ xung quanh đặc biệt là những mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với người lớn để tạo thành thói quen, lối mòn trong sự phát triển của các em. Vì vậy trong quá trình phối hợp các lực lượng giáo dục phải luôn quan tâm, chú ý đến sự phát triển tâm sinh lý của các em, kết hợp hài hòa giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục ngoài xã hội, tránh tình trạng các em tự do thái quá, học đòi lẫn nhau hoặc người lớn áp đặt đối với các em, gây phản tác dụng trong quá trình phối hợp giáo dục học sinh.
- Điều kiện ngoại cảnh Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống xã hội. trong quá trình hội nhập quốc tế, nước ta đứng trước những thách thức vô cùng gay gắt – sự phát triển của các cuộc cách mạng công nghệ hiện đại và sự hình thành nền kinh tế tri thức, xã hội thông tin, xu thế toàn cầu hóa gia tăng, … đã đem đến những yếu tố tích cực cho sự phát triển giáo dục, nhưng đồng thời mặt tiêu cực của cơ chế thị trường cũng từng bước gia tăng và đang ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giáo dục trong nhà trường. Để hạn chế những tiêu cực đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục toàn diện đối với học sinh trong đó có cả công tác giáo dục môi trường. Người trực tiếp quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục là hiệu trưởng nhà trường. Hoạt động quản lý đó được xây dựng và chỉ đạo thực hiện dựa trên hệ thống quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục học sinh, nhằm hình thành và phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện nhất.
Tuy nhiên điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội của địa phương, nhà trường và gia đình cũng có những ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp tới việc quản lý việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục cho học sinh bảo vệ môi trường xung quanh.
Điều kiện kinh tế cung cấp nguồn lục tài chính, cơ sở vật chất và một phần trang thiết bị dạy học cho các nhà trường cũng góp phần ảnh hưởng tới công tác giáo dục học sinh của mỗi nhà trường.
Như vậy, nền tảng kinh tế đã góp phần xây dựng cảnh quan sư phạm của nhà trường, góp phần quan trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục cho học sinh đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, nền tảng kinh tế của địa phương và gia đình vững chắc sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể giáo dục có nhiều thời gian và tâm sức dành cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Khi nền tảng kinh tế gia đình vững chắc, cha mẹ sẽ dành nhiều thời gian quan tâm tới sự học tập và tu dưỡng đạo đức cuả con, có điều kiện trang bị cho con những điều kiện học tập tốt nhất. Mối quan hệ này dẫn đến sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường một cách tự nhiên không gò bó tạo hiệu qua cao trong công tác giáo dục học sinh.
Bên cạnh đó, chính điều kiện kinh tế tạo cơ sở xây dựng chính sách cho người tham gia công tác giáo dục bảo vệ môi trường cũng được quan tâm, chú ý. Thực tế, khi tham gia phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, những tổ chức xã hội ít phát huy được những tác dụng, hầu như chỉ mang tính hình thức. Các cán bộ quản lý phụ trách công tác phối hợp giáo dục giữa nhà trường – gia đình – xã hội chưa có điều kiện hoạt động, phát huy hết năng lực, trách nhiệm của mình. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Mặt khác, nếu ở địa phượng có quan hệ sản xuất lành mạnh, lực lượng sản xuất giàu tiềm năng, nghề phụ phát triển tốt thì đó là môi trường định hướng nghề nghiệp, công việc cho học sinh trong lúc học tập tạo nền tảng vững chắc và sự vũng vàng cho học sinh sau này; tránh những ảnh hưởng không tốt có thể tác động đến học sinh.
Một môi trường xã hội ổn định, nền tảng văn hóa xã hội lành mạnh là điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh trong công tác bảo vệ môi trường.
Thực tế cho thấy các phong trào văn hóa xã hội, các hoạt động ngoại khóa, các công tác xã hội tích cực khi tổ chức sẽ lôi cuốn học sinh tham gia một cách tự nhiên, thông qua các phong trào văn hóa xã hội lôi cuốn sự hưởng ứng từ phía gia đình và xã hội tham gia tài trợ, hỗ trợ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp các lực lượng cùng tham gia công tác giáo dục học sinh một cách tốt hơn. Các phong trào: “Xây dựng gia đình văn hóa”; “Gia đình, dòng họ hiếu học”; Phòng chống tệ nạn xã hội”; “Bảo vệ môi trường xanh-sạch-đẹp”; “Kỷ niệm các ngày lễ lớn”;… là môi trường rất tốt để hoàn thiện nhân cách học sinh, cái ảnh hưởng quyết định nhất đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách, thói quen cho các em chính là những mối quan hệ xung quanh, đặc biệt là những mối quan hệ giữa các em với người trưởng thành.
Do đó văn hóa truyền thống cũng là môi trường tạo nên sự liên kết, phối hợp hết sức tự nhiên trong việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Trình độ dân trí ở địa phương sẽ là yếu tố ảnh hưởng đầu tiên cần phải kể đến. Nếp sống văn minh, các phong tục cũ (dòng họ, gia tộc, lễ hội, hội làng,…), các phong tục mới (kỷ niệm các ngày lễ lớn, các phong trào xây dựng trường học, các hội thi, các phong trào thi đua bảo vệ môi trường sống, môi trường học tập, lao động,…) khi được tổ chức tốt sẽ lôi cuốn được học sinh và sự ủng hộ to lớn từ các gia đình và các lực lượng hỗ trợ từ địa phương và xã hội.
Như vậy điều kiện kinh tế, các hoạt động văn hóa tinh thần là môi trường thuận lợi và tự nhiên cũng góp phàn ảnh hưởng lớn đến tới quản lý việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
1.5. Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
1.5.1. Các thành phần của quản lý
- Chủ thể của quản lý
Chủ thể quản lý trong luận văn này được đề cập là Hiệu trưởng nhà trường. Hiệu trưởng nhà trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhà trường, lãnh đạo nhà trường, giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trong nhà trường phối hợp cùng gia đình học sinh và các lực lượng xã hội truyền thụ kiến thức cho học sinh và giáo dục học sinh phát triển toàn diện.
Hiệu trưởng nhà trường lãnh đạo, quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh trên mọi lĩnh vực trong đó có hoạt động giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
- Đối tượng của quản lý
Đối tượng quản lý bao gồm: cán bộ, giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm lớp; phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội (cán bộ chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội địa phương, các lãnh đạo công ty, doanh nghiệp,… có trụ sở tại địa bàn địa phương nơi có nhà trường.
Dưới sự chỉ đạo của hiệu trưởng nhà trường, các lực lượng có nhiệm vụ phối hợp, thống nhất giáo dục học sinh phát triển toàn diện đạt mục tiêu giáo dục trong đó có mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường.
- Mục tiêu quản lí hoạt động phối các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường
Nhằm cung cấp thông tin toàn diện về tình hình phối hợp và quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh huyện Thường Tín, từ đó có thể đưa ra một số biện pháp quản lý sự phối hợp để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục.
Các lực lượng giáo dục thực hiện hoạt động phối hợp giáo dục học sinh bảo vệ môi trường một các thống nhất, hiệu quả; thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ đã được xác đinh khi thực hiện hoạt động phối hợp giáo dục học sinh.
1.5.2. Nhiệm vụ quyền hạn của các lực lượng giáo dục Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Hiệu trưởng
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
- Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường;
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
Giáo viên chủ nhiệm
Ngày 28/03/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT về điều lệ trường Trung học Cơ sở, phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học. Theo đó, nhiệm vụ của Giáo viên chủ nhiệm trường Trung học Cơ sở là một trong những nội dung trọng tâm và được quy định tại Khoản 2 Điều 31 Điều lệ trường Trung học Cơ sở, phổ thông và trường phổ thông gồm:
- Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng học sinh; Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng;
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường;
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh; đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ học sinh;
- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng.
Gia đình (phụ huynh)
- Nuôi dưỡng, chăm sóc, tạo điều kiện cho trẻ em được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường.
- Giáo dục trẻ em trong gia đình, xây dựng những thói quen sinh hoạt, học tập tốt.
- Xây dựng gia đình văn hóa tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con cái.
- Phối hợp với nhà trường để giáo dục học
Các lực lượng giáo dục ngoài xã hội:
Các cán bộ chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội địa phương, các lãnh đạo công ty, doanh nghiệp,… trên địa bàn tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội, công tác bảo vệ môi trường và các hoạt động khác có liên quan đến học sinh, hướng dẫn học sinh chấp hành pháp luật, nội quy, quy chế; phát hiện, kết hợp với nhà trường giáo dục học sinh có hành vi không đúng, gây ảnh hưởng xâu tới môi trường, …
1.5.3. Lập kế hoạch phối hợp các lực lượng
Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là để tạo ra sự thống nhất về quan điểm giáo dục, thống nhất về nội dung, biện pháp giáo dục học sinh nhằm làm cho quá trình giáo dục ọc bảo vệ môi trường đạt kết quả cao trong sự đồng thuận của các lực lượng giáo dục, giúp cho học sinh trở thành những công dân tốt, có ích cho xã hội. Kế hoạch sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục là công việc cần thiết và quan trọng cần phải thực hiện của nhà trường với gia đình, xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Kế hoạch hóa sự phối hợp các lực lượng giáo dục giúp cho quá trình phối hợp giữa các lực lượng đó được thục hiện một cách thuận lợi, nhịp nhàng, thường xuyên, chặt chẽ và đem lại hiệu quả cao hơn.
Nhà trường trong đó Giáo viên chủ nhiệm có vai trò chủ đạo trong quá trình phối hợp, giáo viên chủ nhiệm là nơi lập kế hoạch, thay mặt Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
- Thống nhất giữa các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội về mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.
- Thống nhất quan điểm, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục cho học sinh ở trong trường, trong gia đình và ngoài xã hội cho mỗi cán bộ quản lý giáo dục, các đoàn thể trong nhà trường, phụ huynh của sinh viên và các cán bộ quản lý xã hội.
- Nhà trường theo định kỳ hoặc thường xuyên thông báo cho gia đình sinh viên và các lực lượng giáo dục khác về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh thông qua điện thoại, email, sổ liên lạc điện tử,…
- Nhà trường giúp cho gia đình học sinh và các cán bộ quản lý xã hội hiểu rõ những nhiệm vụ, chức năng, phương pháp của giáo dục bảo vệ môi trường trong gia đình và giáo dục ngoài xã hội, tạo điều kiện để gia đình, các cán bộ quản lý giáo dục xã hội nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình từ đó chủ động phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh.
- Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về ý nghĩa, vai trò quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng giáo duc ngoài xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
- Huy động, khai thác nguồn lực vật chất phục vụ cho hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục.
- Nhà trường tổ chức thực hiện mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình và ngoài xã hội trong công tác giáo dục học sinh.
- Thực hiện kiểm tra, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm về sự phối hợp các lực lượng giáo dục.
Tuy nhiên, việc lập kế hoạch cho sự phối hợp các lực lượng giáo dục cần phải phù hợp với từng điều kiện nhà trường với đặc điểm của từng địa phương và tùy vào mức độ nhận thức của các thành viên tham gia phối hợp trong công tác giáo dục học sinh.
1.5.4. Tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Căn cứ vào kế hoạch đã định, Hiệu trưởng phân quyền giao cho Giáo viên chủ nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch đã định nhằm mục đích thực hiện mục tiêu giáo dục. Giáo viên chủ nhiệm thực hiện đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời số lượng, chất lượng nhân lực, phối hợp các nỗ lực thông qua việc thiết kế một cơ cấu tổ chức hợp lý và các mối quan hệ quyền lực giữa các lực lượng giáo dục. Xây dựng bộ máy, phân công công việc và giao quyền cho từng lực lượng giáo dục.
Phân chia những nhiệm vụ chung của việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thành những công việc cụ thể giao cho từng tập thể, cá nhân, nhà trường, gia đình và xã hội với những quyền hạn tương ứng.
- Xác định những nhiệm vụ cần thực hiện để đạt được mục tiêu giáo dục học sinh.
- Nhóm gộp các hoạt động bảo vệ môi trường thành từng bộ phận (trong nhà trường, tại gia đình và ngoài môi trường xã hôi).
- Giao quyền và gắn trách nhiệm tương ứng để thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt đông bảo vệ môi trường.
- Xác lập cơ chế cho sự phối hợp các hoạt động giữa các lực lượng giáo dục trong việc phối hợp trách nhiệm, quyền hạn và thông tin theo cả chiều ngang, chiều dọc của cơ cấu tổ chức giữa nhà trường, gia đình và xã hội. (thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức)
Việc tổ chức thực hiện sự phối hợp thể hiện ở việc biến mục tiêu đã đặt ra ở kế hoạch thành hiện thực. Công tác tổ chức thực hiện cũng là nhân tố quyết định sự thành bại của kế hoạch.
Thực hiện tốt việc tổ chức trong việc xây dựng bộ máy lãnh đạo việc phối hợp các lực lượng đảm bảo việc phối hợp được nề nếp, nhịp nhàng trong phối hợp giữa các bộ phận, đảm bảo tính kỷ luật phát huy được sở trường của mỗi lực lượng, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và ngược lại.
Việc phân công công việc cụ thể và hợp lý, phù hợp với từng cá nhân, tổ chức cũng là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong sự phối hợp các lượng lượng để giáo dục học sinh đạt kết quả tốt.
Tổ chức tạo ra sự thống nhất, hợp tác tạo nên tính trội của hệ thống. Thông qua tổ chức hợp lý mà các hoạt động phối hợp của các bộ phận không bị chồng chéo lên nhau và xác định được mối liên hệ, kết hợp giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch giáo dục. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Việc làm thường xuyên của công tác quản lý là thiết kế và phân công công việc. Để hoàn thành mục tiêu đã đề ra có rất nhiều cách thức khác nhau. Vấn đề đặt ra là lựa chọn cách thức tiến hành tối ưu nhất. Sự phân công công tác giáo dục học sinh một cách hợp lý và khoa học sẽ giúp cho chất lượng giáo dục được nâng cao, tiết kiệm được thời gian, thúc đẩy được tính tích cực của các lực lượng giáo dục trong việc phối hợp để giáo dục học sinh.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ chung để sắp xếp, bố trí nhân sự phù hợp và hợp lý đảm bảo công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường diễn ra đúng mục tiêu, đúng thời hạn đã định, đạt hiệu qủa tốt nhất.
Căn cứ vào những chức năng, nhiệm vụ riêng để tập hợp những công việc thương tự vào cùng một nhóm đảm bảo tối ưu hóa quy trình công tác giáo dục.
Căn cứ công việc của từng vị trí để quy định rõ ràng, chính xác nhiệm vụ của mỗi bộ phận, phát huy được tính năng động, tụ chủ và sáng tạo của mỗi cá nhân tạo sự hứng thú trong khi thực hiện công việc theo kế hoạch.
Căn cứ vào đặc điểm, năng lực của từng cá nhân để cung cấp các điều kiện vật chất, kỹ thuật, trao quyền tương xứng cho các chủ thể tạo sự nhịp nhàng trong việc phối hợp để thực hiện công tác giáo dục.
1.5.5. Chỉ đạo hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục
Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã sẵn sàng thì công việc tiếp theo là sự chỉ đạo, lãnh đạo, dẫn dắt, liên kết công việc để đưa kế hoạch đi đến hiện thực.
Thay mặt Hiệu trưởng, Giáo viên chủ nhiệm tác động bằng nghệ thuật, khoa học để duy trì kỷ luật, kỷ cương của công tác giáo dục học sinh bảo bệ môi trường trong nhà trường, hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ những người làm công tác giáo dục phát huy cao nhất tiềm năng, năng lực của họ hướng tới thực hiện mục tiêu của công tác giáo dục học sinh.
Trong công tác giáo dục học sinh, giáo viên chủ nhiệm có vai trò: duy trì kỷ luật, kỷ cương nhằm làm ổn định quá trình giáo dụ; hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ những người làm công tác giáo dục phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ để phát triển công tác giáo dục học sinh trong việc bảo vệ môi trường; phối hợp, liên kết các hoạt động riêng lẻ thành hoạt động chung của các lực lượng giáo dục để xây dựng tinh thần đoàn kết trong việc phối hợp các lực lượng.
Việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương là nhân tố không thể thiếu nhằm duy trì sự ổn định của quá trình phối hợp. Để thực hiện công việc này nhà quản lý phải sử dụng các công cụ chính sách, pháp luật, nội quy, quy chế,… Việc thực thi pháp luật, chính sách, nội quy, quy chế đòi hỏi chủ thể quản lý phải tiến hành thường xuyên, nghiêm túc và theo quy trình khoa học chặt chẽ.
Để khơi dậy động cơ thúc đẩy các lực lượng giáo dục, phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ thì việc chỉ đạo cần thực hiện: Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Hướng dẫn người thực hiện nhận thức sứ mệnh của công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia vào công tác giáo dục, nhận thức về yêu cầu của công việc mà họ sẽ đảm nhận.
- Cung cấp những điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện quyết định quản lý.
- Xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách phù hợp: bố trí, sắp xếp, sử dụng, đánh giá; đào tạo và phát triển nhân lực, tiền lương, tiền công, tiền thưởng,…
- Tổ chức động viên, khen thưởng kịp thời đối với từng tổ chức, các nhân có những đóng góp tích cực trong hoạt động phối hợp và đạt hiệu quả giáo dục cao.
1.5.6. Kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp các lực lượng
Công tác đề kiểm tra, đánh giá kịp thời công tác phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh là khâu quan trọng của nội dung phối hợp. Hoạt động này đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên và vững bền trong quản lý, làm khép kín chu trình vận động của việc quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục.
Kiểm tra, đánh giá đảm bảo sự thành công của kế hoạch, phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thời, đồng thời là căn cứ, cơ sở quan trọng để rút kinh nghiệm, xây dựng cho kế hoạch tiếp theo, dự kiến quyết định những bước phát triển mới.
Quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường cần nắm chắc mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình học sinh và các cán bộ quản lý xã hội, nắm được sự phối hợp, liên hệ của giáo viên chủ nhiệm lớp với giáo viên bộ môn với các giáo viên bộ môn với Đoàn thanh niên và các tổ chức khác trong nhà trường. Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa các lực lượng giáo dục thể hiện qua một số công việc sau: quy định các tiêu chuẩn đánh giá, theo dõi kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, duyệt kế hoạch, điều chỉnh hoạt động của các nhà giáo dục trong công tác phối hợp giáo dục, kiểm tra đột xuất và định kỳ ở mỗi học kỳ hoặc cả năm học.
Do vậy, việc kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là rất quan trọng, mặt khác nó còn cần thiết ở chỗ kiểm tra, đánh giá chính xác chân thực, có tác dụng trực tiếp đến việc tìm nguyên nhân và đề ra các biện pháp quản lý có hiệu quả.
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
1.6.1. Những Ảnh hưởng của hoàn cảnh kinh tế – xã hội
Trong quá trình tồn tại và phát triển, giáo dục có mối liên hệ, có tính quy luật với trình độ phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Với tư cách là một chức năng xã hội, giáo dục chịu sự chi phối của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa. Nói cách khác, trình độ sản xuất, chế độ chính trị, cấu trúc xã hội, tư tưởng của niềm tin khoa học, văn hóa quy định nội dung giáo dục, trình độ giáo dục của nhà trường. Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước, của địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục nói chung và công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường nói riêng.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế phát triển đã tạo điều kiện vật chất để thực hiện có hiệu quả trình độ đào tạo. Đảng ta đã khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục là của toàn Đảng, toàn dân. Toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Đây chính là động lực thúc đẩy giáo dục phát triển, đó cũng là nguồn lực để tăng cường công tác giáo dục cho người học. Đối với nước ta, tiến hành Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa với xuất phát điểm là nước nông nghiệp với 70% lao động là nông dân và 25% thu nhập quốc dân là nông nghiệp. Xã hội Việt Nam đang giao thoa giữa các nền văn minh hậu công nghiệp và cách mạng công nghệ thông tin. Chính vì vậy, nhân cách của thế hệ trẻ đang xoay trong vòng xoáy của sự thay đổi đó. Trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng với hội nhập kinh tế, sự giao lưu văn hóa cũng đang trở thành một sự đòi hỏi ngày càng lớn. Song song với sự mở rộng giao lưu văn hóa, việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệ thống giá trị đạo đức mới cũng phần nào bị tác động. Cùng với sự phát triển đó, ô nhiễm môi trường cũng ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của con người. Ngoài xã hội bắt đầu xuất hiện những cách sống, ứng xử xa lạ, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa. Một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên cũng đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những tác động xấu từ xã hội. Những biểu hiện không lành mạnh bộc lộ rõ ở một số học sinh:
- Định hướng giá trị không rõ ràng.
- Ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm công dân yếu.
- Phủ nhận giá trị truyền thống.
- Nhận thức về lịch sử mơ hồ, thờ ơ với quá khứ.
- Thiếu kiên nhẫn, không có tinh thần chịu đựng gian khổ.
- Có lối sống gấp, thực dụng, đua đòi theo cái xấu.
- Ý thức bảo vệ môi trường kém, vứt rác bừa bài, coi thường môi trường sống, không có trách nhiệm bảo vệ môi trường, …
Một bộ phận không nhỏ đang xuất hiện những hành vi đi ngược với chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật như: tiêu cực trong thi cử, cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, đánh nhau,… Trước những diễn biến phức tạp trong thực tế, những mâu thuẫn đặt ra cho công tác giáo dục học sinh phải giải quyết: liên kết các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cùng tham gia vào công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sống trên trái đất, nhất là môi trường sống của con người. Công cuộc xây dựng đất nước đang đòi hỏi thế hệ trẻ, nhất là các học sinh phải trở thành những người có tinh thần trách nhiệm, có lý tưởng sống cao đẹp, biết sống vì môi trường trong lành. Giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định để phát huy tiềm năng trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam, là động lực để đẩy mạnh kinh tế phát triển đưa đất nước ta liến lên nhanh, mạnh vững chắc và có môi trường trong lành, sạch sẽ.
1.6.2. Những ảnh hưởng của cơ sở vật chất và tài chính Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Cơ sở vật chất và tài chính có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến việc quản lý sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường:
- Cơ sở vật chất góp phần tạo nên cảnh quan sư phạm, cung cấp các phương tiện phục vụ cho các hoạt động học tập, rèn luyện và các hoạt động ngoại khóa trong đó có hoạt động bảo vệ môi trường của học sinh, tạo điều kiện cần thiết để học sinh có thể thực hiện các phong trào, các hoạt động trong môi trường trong lành nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Mọi hoạt động giáo dục khi tổ chức đều cần có sự đầu tư về tài chính và cơ sở vật chất, trang thiết bị để hoạt động đó đạt mục tiêu giáo dục.
- Một điều có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện thành công mục tiêu giáo dục là sự đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập và tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh.
Trong điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay còn nhiều khó khăn, ngoài nguồn ngân sách do Nhà nước cấp, các trường cần làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, tranh thủ sự đóng góp của nhân dân và các lực lượng xã hội để tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính phục vụ các hoạt động giáo dục trong nhà trường, huy động các lực lượng giáo dục ngoài xã hội tham gia tích cực vào công tác giáo dục học sinh toàn diện.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Để làm rõ cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, tác giả đã làm rõ, phân tích một số khái niệm có liên quan đến đề tài. Bên cạnh đó cũng tìm hiểu tình hình sự phối hợp các lực lượng giáo dục ở bối cảnh trong nước và ngoài nước. Chương 1 cũng tìm hiểu rõ những đặc trưng, mục tiêu, nhiệm vụ của các nhà trường trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh trong đó có giáo dục bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đang tăng cường chỉ đạo đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục tăng cường giáo dục giữ gìn, bảo vệ môi trường để nhằm: tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô đáp ứng yêu cầu sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân.
Để đạt được điều này, những người làm công tác quản lý giáo dục phải hiểu sâu sắc tâm lý lứa tuổi, hoàn cảnh gia, điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt là nắm chắc lý luận của khoa học quản lý giáo dục, đánh giá một cách đúng mực thực trạng phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục cho học sinh bảo vệ môi trường trong nhà trường, tại gia đình và ngoài xã hội để từ đó lập kế hoạch, chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục cho học sinh. Trong quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh phải tác động đến cả tập thể sư phạm và cả tập thể học sinh cùng với sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của mỗi nhà trường. Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh […]