Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – thường Tín dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát tình hình huyện Thường Tín và trường Trung học Cơ sở Tân Minh
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Trường Trung học Cơ sở Tân Minh nằm trên địa bàn xã Tâm Minh huyện Thường Tín. huyện Thường Tín phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp huyện Thanh Oai, phía Bắc giáp thành phố Hà Nội, phía nam giáp huyện Phú Xuyên.
Thường Tín có 29 đơn vị hành chính gồm 28 xã và 01 thị trấn. Diện tích là 127.59 km2 dân số 240.000 người năm 2018 chủ yếu là dân tộc kinh. Huyện Thường Tín là cửa ngõ của thành phố Hà Nội, có giá trị chiến lược, giao thông thuận lợi. Thường Tín có hệ thống đường giao thông thuận lợi với hai tuyến đường bộ chạy dọc huyện là quốc lộ 1A dài 17,2 km và đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ dài 17 km đến cầu Vạn Điểm đoạn giao cắt với đường 429 (73 cũ); chạy ngang huyện là tuyến đường tỉnh lộ 427 (đường 71 cũ) từ dốc Vân La (Hồng Vân) qua cầu vượt Khê Hồi đến TT Thường Tín sang phía tây huyện và tỉnh lộ 429 (73 cũ) từ Thị trấn Phú Minh (Phú Xuyên) qua gầm cầu vượt Vạn Điểm đến Ngã 3 Đỗ Xá giao với quốc lộ 1A cũ. Trên Huyện có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua với 2 nhà ga là ga Thường Tín và ga Tía. Đường thủy có sông Hồng, với cảng Hồng Vân, cảng Vạn Điểm. Qua sông đi Tứ Dân, Khoái Châu, Phố Nối và Thành phố Hưng Yên. Là đầu mối thương nghiệp của thành phố Hà Nội.
Tân Minh là xã phía Tây huyện Thường Tín có diện tích: 7.4 km². Địa giới hành chính: Phía Đông giáp xã Nguyễn Trãi (huyện Thường Tín); Phía nam giáp xã Dũng Tiến (huyện Thường Tín) ở phía Đông Nam và xã Liên Châu (huyện Thanh Oai) ở phía Tây Nam; Phía Tây giáp xã Tân Ước (huyện Thanh Oai) và Tiền Phong huyện Thường Tín (ở phía Tây Bắc); Phía Bắc giáp xã Tiền Phong. Xã Tân Minh có các thôn: Thọ Giáo, La Uyên (xưa là xã La Uyên tổng La Phù huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín trấn Sơn Nam Thượng). Xã Tân Minh có trường Trung học Cơ sở Tâm Minh và trường TH Tân Minh
2.1.2. Đặc điểm phát triển kinh tế – xã hội
Là khu vực của ngõ thành phố Hà Nội, Thường Tín có thế mạnh về thương mại dịch vụ. Phát triển kinh tế luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của huyện. Trong nhiều năm huyện đã tập trung phát triển công nghiệp gắn với phát triển nông ngiệp, kết hợp với những yêu cầu về quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Thường Tín đang dần hoàn thành mô hình phát triển các khu, cụm công nghiệp với xu hướng ngày càng được hoàn thiện về cả kết quả thu hút đầu tư và cả cơ chế, chính sách.
Thường Tín tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng ổn định, bền vững. Đi đôi với tăng trưởng kinh tế, tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo vệ sinh môi trường, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển bền vững, cải thiện an sinh xã hội, trú trọng tăng cường đầu tư cho giáo dục, quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định về chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Tân Minh có hệ thống giao thông thủy, bộ thuận lợi. Từ Tân Minh ra Quốc lộ 1A khoảng 3km, ra đường Tỉnh lộ 427 (đường 71 cũ), và Tỉnh lộ 429 (đường 73 cũ) cũng khoảng 3km. Sông Nhuệ chảy qua địa bàn xã, từ bắc xuống nam dài 4km. Với đặc điểm ấy, Tân Minh có điều kiện thuận lợi giao lưu, phát triển kinh tế – văn hóa; đồng thời cũng là địa bàn quan trọng về quốc phòng – an ninh. Nhân dân trong xã sống chủ yếu bằng nghề nông, thạo trồng lúa, trồng các loại rau thơm, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhất là chăn nuôi vịt, lợn nái. Một vài thôn trong xã có nghề phụ như: đan võng, thêu ren, mộc, nề. Ngày nay, cơ cấu kinh tế ở xã Tân Minh có những chuyển dịch tích cực, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp giảm xuống còn 19%. Tỷ trọng giá trị sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại tăng lên 81%. Xã có 01 di tích cấp Quốc gia (đình La Phù được công nhận năm 2003) và 01 di tích cấp thành phố (đình Nghè làng Triều Đông được công nhận năm 2019). Danh nhân có Lý Tử Tấn, sinh năm 1378 đỗ tiến sĩ năm 1400; Đào Như Hổ đỗ tiến sĩ năm 1502; Phạm Cư đỗ tiến sĩ năm 1442; Phạm Đức Trinh đỗ tiến sĩ năm 1493. Thời đại Hồ Chí Minh có Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Ngữ.
2.1.3 Khái quát về trường Trung học Cơ sở Tân Minh
- Sơ lược lịch sủ phát triển của trường Trung học Cơ sở Tân Minh
Một số thông tin cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trường Trung học Cơ sở Tân Minh:
- Năm học 2024-2025: 01 Hiệu trưởng, 01 Hiệu phó, 32 giáo viên, 06 nhân viên và 455 học sinh các khối.
- Năm học 2025-2026: 01 Hiệu trưởng, 01 Hiệu phó, 36 giáo viên, 03 giáo viên hợp đồng, 08 nhân viên và 551 học sinh các khối.
- Năm học 2026-2027: 01 Hiệu trưởng, 01 Hiệu phó, 36 giáo viên, 02 giáo viên hợp đồng, 08 nhân viên và 602 học sinh các khối.
Trường Trung học Cơ sở Tân Minh được thành lập từ tháng 9 năm 1966. Qua nhiều lần thay đổi địa điểm, đến tháng 9/2000 trường chính thức chuyển sang vị trí mới hiện nay với diện tích đất 14334 m2 (vị trí xây dựng trường nằm trên đất khu Văn Chỉ của thôn Thọ giáo), đây là khu trung tâm của xã Tân Minh. Trước năm 2017, trường chỉ có 1 khu nhà 2 tầng với 8 phòng học và 1 nhà cấp 4 (có 4 phòng) dành cho làm việc của hiệu bộ và văn phòng, CSVC khác hầu như không có.
Trải qua 11 năm xây dựng và trưởng thành trên khu đất mới, đến hết năm 2017, trường đã được xây dựng tương đối khang trang, luôn Xanh – Sạch – Đẹp. Các khối công trình kiến trúc bố trí theo hình chữ U gồm khu 2 dãy phòng học 2 tầng hướng Đông Nam (13 phòng), dãy phòng học bộ môn 2 tầng(6 phòng) và khu nhà tập đa năng hướng Bắc. Khu hiệu bộ, văn phòng, thư viện nhà trường là dãy nhà 2 tầng (8 phòng) hướng Tây Nam. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Ngày 20 tháng 01 năm 2018 trường Trung học Cơ sở Tân Minh đã được UBND Thành phố Hà Nội cấp quyết định số 497/QĐ – UBND công nhận trường Trung học Cơ sở Tân Minh đạt chuẩn Quốc Gia.
Từ năm 2018 đến nay, trường liên tục đạt danh hiệu tập thể LĐTT. Các đoàn thể trong nhà trường đều đạt danh hiệu Tiên tiến và Vững mạnh. Chi bộ Đảng nhà trường đạt trong sạch vững mạnh xuất sắc, Công đoàn đạt vững mạnh xuất sắc.
Trong những năm học gần đây số học sinh đỗ vào các trường Trung học Phổ thông trên tổng số học sinh tốt nghiệp Trung học Cơ sở đều đạt tỷ lệ từ trên 70% số học sinh đăng ký thi vào Trung học Phổ thông. Chất lượng thi vào Trung học Phổ thông ngày càng được nâng cao; có nhiều học sinh được vào lớp chọn của trường Trung học Phổ thông Thường Tín, Trung học Phổ thông Lý Tử Tấn. Nhiều năm học qua, trường luôn có học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp Huyện, cấp Thành phố.
Đội ngũ giáo viên có nhiều cá nhân được công nhận là giáo viên dạy giỏi Cơ sở, giáo viên dạy giỏi cấp Huyện như cô giáo Tạ Thị Thanh Tâm, cô giáo Trần Thị Minh Hưởng, cô giáo Trần Thị Hương Giang, cô giáo Nguyễn Thị Bích Hợp, cô giáo Thái Thị Thanh Huyền, cô giáo Phạm Thị Kim Cúc…)
Giáo viên, nhân viên nhà trường đều có tinh thần tự giác, tích cực khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có tinh thần đoàn kết, cộng đồng trách nhiệm.
Chi bộ Đảng đã nhiều năm liền được công nhận đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh và trong sạch vững mạnh xuất sắc. Các đảng viên của Chi bộ luôn nỗ lực vượt khó, luôn đoàn kết trên tinh thần phê và tự phê đúng mực; có tính tự giác, trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, hầu hết đều là những tấm gương sáng cho tập thể giáo viên và học sinh noi theo.
Năm học 2024 – 2025: trường có 13 lớp với gần 505 học sinh, học sinh nhà trường luôn tích cực học tập và rèn luyện tốt theo 5 Điều Bác Hồ dạy, 10 điều văn minh trong giao tiếp,… Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên có 34 đồng chí, hầu hết đạt chuẩn và trên chuẩn.
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức trường Trung học Cơ sở Tân Minh
Nhiệm vụ của trường Trung học Cơ sở Tân Minh Trường Trung học Cơ sở Tân Minh có nhiệm vụ:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp Trung học Cơ sở do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Tình hình hoạt động đào tạo tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh
- Mô hình hoạt động: Tạo môi trường giáo dục dân chủ, thân thiện, cởi mở, là cơ hội cho việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, lấy hoạt động học tập của học sinh làm trung tâm; học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục.
- Đội ngũ giáo viên: 100% giáo viên tốt nghiệp Đại học trong đó hơn 30% có trình độ Thạc sĩ, một nhà giáo ưu tú. Là những giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua được tuyển chọn từ những trường Trung học Cơ sở có uy tín của Hà Nội, có năng lực chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi, du học quốc tế; phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, có phong cách ứng xử thân thiện với học sinh và phụ huynh học sinh. Ngoài ra, trường còn mời đội ngũ giáo viên người nước ngoài có kinh nghiệm giảng dạy, thân thiện với học
Mục tiêu đào tạo
- Xây dựng nhà trường thành một đơn vị giáo dục chất lượng cao phù hợp với tinh thần số 07 của Sở Giáo dục về việc phát triển giáo dục trình độ chất lượng cao.
- Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức và trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, ý chí vươn lên và khả năng thích ứng cao.
- Trang bị kiến thức cơ bản theo tiêu chuẩn kiến thức của Bộ GD-ĐT, đảm bảo đạt điểm cao trong các kì thi học sinh giỏi, thi vào lớp 10 Trung học Phổ thông, thi đỗ vào lớp 10 các trường Trung học Phổ thông Chuyên và Trung học Phổ thông chất lượng cao của huyện Thường Tín và thành phố Hà Nội.
Phương châm giáo dục Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Quan tâm giáo dục toàn diện: kết hợp giáo dục kiến thức chuẩn với coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện kĩ năng thực hành, kĩ năng sống, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh: Khơi dậy và hun đúc cho mỗi ý tưởng sáng tạo, mỗi khả năng tiềm ẩn của các em, tăng cường khả năng thuyết trình, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm để mỗi học sinh được thành công trong học tập và cuộc sống.
- Giao lưu và hội nhập quốc tế qua việc chú trọng dạy môn ngoại ngữ với bốn kĩ năng cơ bản giúp học sinh giao lưu và hội nhập tốt với bạn bè quốc tế, tổ chức liên kết với một số trường quốc tế giúp học sinh làm quen với môi trường giáo dục chuẩn quốc tế.
- Quan tâm đến vấn đề tâm lý học đường thông qua việc phối hợp với các trung tâm tư vấn tâm lý giáo dục giúp các em học sinh có tâm thế học tập thân thiện, tự tin, thoải mái và hiệu quả.
Phương thức hoạt động của trường
Hoạt động dạy và học: Thực hiện phương pháp giáo dục và dạy học tiên tiến với sự hỗ trợ tối ưu của trang thiết bị hiện đại. Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy và đào tạo phù hợp với mô hình đào tạo chất lượng cao; Bố trí sắp xếp thời khóa biểu hợp lý đảm bảo thời lượng cho các buổi học, tiết học tự chọn, nâng cao, ngoại khoá chuyên đề. Tổ chức học bán trú hai buổi với chương trình tăng cường nâng cao, với sự quản lý kỉ luật nghiêm túc, nề nếp, quy củ. Tổ chức học theo phòng học bộ môn, học trên mạng; mở rộng các hình thức dạy và học đối với các trường trong và ngoài nước. Chỉ đạo khai thác, sử dụng có hiệu quả trang thiết bị phòng thí nghiệm, thực hành. Liên kết với các trường Trung học Phổ thông, Đại Học trong và ngoài tỉnh, Trung tâm ngoại ngữ, … để mời giáo viên tham gia giảng dạy các chuyên đề, các Câu lạc bộ. Liên kết với một số trường ở các nước có nền giáo dục phát triển như Singapore, Anh quốc, Austraylia… để tổ chức liên hoan trại hè cho học sinh tham quan hội nhập, du học có học bổng… Tổ chức Câu lạc bộ năng khiếu cho học sinh (Văn hóa, nghệ thuật, thể thao…) Tổ chức các buổi hội thảo, cimena, các cuộc thi olympic… phục vụ cho công tác dạy và học.
Hoạt động giáo dục toàn diện: Thực hiện các Kế hoạch; Chương trình theo hướng dẫn của nhiệm vụ năm học các ngày kỉ niệm, ngày lễ lớn trong năm, sinh hoạt chủ đề…; Tăng cường các hoạt động Đoàn – Đội – Câu lạc bộ năng khiếu, CLB Văn, Thể, Mỹ theo sở thích, CLB bảo vệ môi trường; Tăng cường các hoạt động giao lưu bằng nhiều hình thức như: Thi đấu thể thao, biểu diễn văn nghệ, thi vẽ tranh, thi hùng biện, thi học sinh thanh lịch… với các trường bạn, các trường trong khu vực và quốc tế; Tăng cường hoạt động của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, các tổ chức xã hội, giao lưu các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao; Liên kết với Trung tâm tư vấn để kịp thời tư vấn về tâm lý, tình cảm cho giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Để nghiên cứu thực trạng việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tâm Minh huyện Thường Tín tác giả xin giới thiệu vài nét về tổ chức nghiên cứu thực trạng phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường như sau:
2.2.1. Mục đích khảo sát
Nhằm cung cấp thông tin toàn diện về tình hình phối hợp và quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh huyện Thường Tín, từ đó có thể đưa ra một số biện pháp quản lý sự phối hợp để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Đánh giá thực trạng nhận thức về vai trò của việc phối hợp và quản lý việc phối hợp các lực lượng gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Thăm dò nội dung, hình thức, phương pháp phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhắm giáo dục học sinh bảo vệ môi trường có hiệu quả.
Thăm dò việc phối hợp hoạt động của giáo viên với gia đình và đánh giá thực trạng việc quản lý sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
- Cách xử lý kết quả
Kết quả khảo sát được tổng hợp thành các bảng, kết quả được tính tỷ lệ phần trăm các ý kiến đánh giá.
Với các kết quả thống kê có được tác giả đưa ra những phân tích, đánh giá về thực trạng phối hợp và quản lý việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
2.2.3. Hình thức khảo sát Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Để thực hiện mục tiêu đánh giá thực trạng của đề tài, tác giả đã tiến hành thực hiện điều tra thực trạng bằng các phiếu hỏi đối với 126 cán bộ quản lý giáo dục, các giáo viên, cán bộ quản lý xã hội ở địa phương và cha mẹ học sinh của nhà trường.
2.2.4. Đối tượng khảo sát
Trong đề tài này, đối tượng khảo sát là trường Trung học Cơ sở Tân Minh, xã Tân Minh, huyện Thường Tín, TP Hà Nội gồm các đối tượng cụ thể sau:
- Cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng): 03 người.
- Lực lượng quản lý xã hội (Đại diện chính quyền đại phương, Cựu chiến binh, phụ nữ, đoàn thanh niên,…): 09 người.
- Cán bộ giáo viên: 42 người.
- Phụ huynh: 72 người.
2.3. Thực trạng hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường ở trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín
2.3.1. Nhận thức về hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường
Ở đây, nhận thức về tầm quan trọng của sự phối hợp các lực lượng giáo dục cũng như vai trò, trách nhiệm của các lực lượng giáo dục trong sự phối hợp giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là rất quan trọng, đặc biệt với người làm công tác quản lý. Nếu cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, phụ huynh, cán bộ quản lý xã hội đều có nhận thức đầy đủ về vấn đề này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc phối hợp.
Kết quả điều tra về nhận thức của 126 người về tầm quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
- Bảng 2.1. Nhận thức của người khảo sát về tầm quan trọng của hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Dựa vào bảng kết quả khảo sát ta thấy, đại đa số ý kiến (81%) cho rằng sự phối hợp các lực lượng giáo dục ở đây là gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là rất quan trọng; 15% ý kiến cho rằng quan trọng và chỉ có 4% ý kiến cho rằng sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là không cần thiết. Điều này có thể lý giải được do một bộ phận nhỏ trong đối tượng khảo sát có trình độ văn hóa thấp, không nhận thấy được vai trò quan trọng của việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Để có thể khảo sát được nhận thức về việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, kết quả còn được phản ánh rõ hơn trong khảo sát nhận thức của 126 đối tượng khảo sát khi hỏi về vai trò của người thực hiện việc phối hợp giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại bảng sau:
- Bảng 2.2. Nhận thức của đối tượng khảo sát về vai trò của người thực hiện việc phối hợp giáo dục học sinh bảo vệ môi trường
Qua kết quả bảng 2.2 cho thấy nhận thức của các đối tượng khảo sát về vai trò của người thực hiện sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục là chưa đầy đủ. Đặc biệt trong đó về vai trò chủ đạo của nhà trường trong sự phối hợp với gia đình và xã hội. Có 12% nhận thức của đối tượng khảo sát cho rằng nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc phối hợp này; có 5% số đối tượng được khảo sát cho rằng gia đình có nhiệm vụ phối hợp với nhà trường và xã hội; chỉ có 3% ý kiến cho rằng xã hội có nhiệm vụ phối hợp với với nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Qua đây ta thấy rằng về phía nhà trường vẫn có những cán bộ, giảng viên chưa nhận thấy rõ vai trò chủ đạo của mình trong việc phối hợp với gia đình nên việc đầu tư thời gian cũng như các điều kiện khác của nhà trường cho việc phối hợp với gia đình chưa nhiều, thiếu sự tích cực, làm hạn chế hiệu quả phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Về phía gia đình và đặc biệt về xã hội cũng chưa thấy hết vai trò chủ động, tích cực của mình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh. Vì vậy giữa nhà trường, gia đình và xã hội đùn đẩy cho nhau về trách nhiệm chủ động phối hợp mỗi khi nhắc đến việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
80% ý kiến được hỏi cho rằng nhiệm vụ phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh là trách nhiệm chung của cả nhà trường, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng trong điều kiện kinh tế xã hội như hiện nay và từ thực tiễn giáo dục, những chủ thể giáo dục (phụ huynh, các thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý xã hội) có thể nhận ra ý nghĩa của việc tổ chức phối hợp trong công tác giáo dục học sinh. Đồng thời cũng thấy được giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, bởi đó là một nguyên lý trong giáo dục của Việt Nam. Song, để việc phối hợp đó thật sự mang lại hiệu quả lại là một bài toán khó. Đã có rất nhiều câu hỏi được đặt ra: trong việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội cũng như trong từng mối quan hệ đó vai trò của các chủ thể được thể hiện như thế nào? Với công việc cụ thể gì? Điều đó nhắc nhở chúng ta vẫn phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục để mọi người cùng nắm được ý nghĩa thiết thực cũng như mục tiêu của việc phối hợp và quản lý việc phối hợp trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, nắm được nội dung, hình thức phối hợp cụ thể để từ đó có ý thức tự giác, tích cực chủ động trong quá trình phối hợp tùy theo vị trí của mình và linh động công việc trong từng hoàn cảnh cụ thể khi thực hiện phối hợp giáo dục học sinh.
2.3.2. Thực trạng mục tiêu hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín
Công tác phối hợp giữ nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường nhằm phát huy những ưu thế, mặt mạnh đồng thời giảm thiểu những hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, giúp các em có điều kiện phát triển toàn diện. Để đánh giá thực trạng phối hợp thực hiện mục tiêu giáo dục, tác giả đã tiến hành khảo sát nhận thức của 126 đối tượng gồm: phụ huynh, cán bộ giáo viên, cán bộ quản lý và cán bộ quản lý xã hội về mục tiêu của việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Kết quả đạt được thể hiện tại bảng 2.3 như sau:
- Bảng 2.3. Mục tiêu của hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Dựa vào kết quả bảng 2.3 ta thấy rằng: một bộ phận không nhỏ các đối tượng khảo sát chưa nhận thức rõ vai trò, mục tiêu của sự phối hợp, như: có tới 62% số ý kiến cho rằng sự phối hợp là để nhà trường tranh thủ sự đóng góp xây dựng cơ sở vật chất của một số các doanh nghiệp và các nhà tài trợ trong xã hội. Qua bảng 2.3 ta cũng thấy số lượng nhỏ các đối tượng được hỏi có nhận thức đúng bản chất sâu sắc mục tiêu của việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, cụ thể: 31% số ý kiến cho rằng mục tiêu của sự phối hợp để tạo sức mạnh tổng hợp, thống nhất và liên tục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường; 21% số ý kiến cho rằng để phát huy tiềm năng của xã hội; 20% số ý kiến cho rằng mục tiêu của sự phối hợp là để hạn chế những tác động tiêu cực tới quá trình phát triển nhân cách của học sinh; 29% số ý kiến cho rằng để tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn; 29% số ý kiến cho rằng để phát huy ưu thế của giáo dục gia đình và giáo dục ngoài xã hội trong giáo dục sinh bảo vệ môi trường; … Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Như vậy, kết quả điều tra chứng tỏ những hiểu biết về giáo dục gia đình và giáo dục xã hội của các đối tượng điều tra nói riêng và của quần chúng xã hội nói chung còn khá hạn chế. Đây là một vấn đề đáng lo ngại, bởi muốn việc phối hợp đạt hiệu quả cao, yêu cầu người tham gia phối hợp nhất là những người làm công tác quản lý giáo dục, những người cán bộ, giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp. Họ phải có sự hiểu biết đúng đắn về mục tiêu, ý nghĩa của sự phối hợp, có như vậy hoạt động của họ mới được định hướng rõ ràng, mới được tiến hành một cách triển vọng, sáng tạo và đem lại hiệu quả như mong muốn. Một thực tế cho thấy, nếu họ quá lạc quan về giáo dục gia đình và xã hội thì sẽ không có những biện pháp giúp đỡ phụ huynh và các bộ quản lý xã hội khắc phục những khó khăn. Ngược lại, nếu họ quá bi quan về giáo dục gia đình và giáo dục xã hội thì không phát huy được tính chủ động sáng tạo của gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Kết quả điều tra này cũng cho ta thấy một bộ phận không nhỏ phụ huynh, cán bộ quản lí xã hội và cả cán bộ giáo viên chưa nhận thức đúng và đầy đủ các mục tiêu của việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Mặc dù họ đã nhận thấy tầm quan trọng, cần thiết phải có việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh, song cụ thể mục tiêu của việc phối hợp vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội để giáo dục học sinh bảo vệ môi trường chưa chặt chẽ và đạt hiệu quả chưa cao.
2.3.3. Thực trạng nội dung hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Khi tiến hành nghiên cứu thực trạng về nội dung phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, tác giả đã tiến hành điều tra các đối tượng bao gồm: phụ huynh, cán bộ giáo viên và cán bộ quản lí dựa trên một số nội dung sau:
- Nội dung phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh
Trên cơ sở đánh giá về thực trạng thực hiện nội dung phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thông qua kết quả điều tra thu được ở bảng 2.4 như sau:
- Bảng 2.4. Nội dung hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình
Kết quả điều tra cho thấy:
Những nội dung được khảo sát các đối tượng quan tâm nhiều hơn là: thông báo tình hình của học sinh chiếm 78,6% ý kiến trả lời; thông báo chủ chương, kế hoạch công tác bảo vệ môi trường của nhà trường chiếm 84,9% ý kiến trả lời; Trao đổi về ưu, nhược điểm của học sinh ở trường và ở nhà chiếm 48,4% số ý kiến trả lời; Trao đổi về kết quả thực hiện của học sinh ở trường và ở gia đình chiếm 75,4% số ý kiến trả lời.
Những nội dung phối hợp chưa được những đối tượng khảo sát chú ý đúng mức. Cụ thể: Xây dựng thống nhất mục tiêu, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục học sinh bảo vệ môi trường đạt 45,2% số ý kiến trả lời; Trao đổi về các mối quan hệ của học sinh ở trường và ở nhà trong việc bảo vệ môi trường 32,5% số ý kiến trả lời; nhà trường bồi dưỡng về kiến thức bảo vệ môi trường cho phụ huynh học sinh đạt 22,2% số ý kiến trả lời; Quản lý, giáo dục học sinh bảo vệ môi trường trong cộng đồng đạt 35,7% số ý kiến trả lời; quản lý, giáo dục sinh viên trong cộng đồng đạt 25,4% số ý kiến trả lời; Thiết lập tiêu chuẩn hoàn thành nhiệm vụ để khen thưởng học sinh đạt 38,1% số ý kiến trả lời.
Tại bảng 2.4 nội dung phối hợp nhà trường bồi dưỡng về kiến thức bảo vệ môi trường cho phụ huynh học sinh hầu như ít được quan tâm chỉ đạt 22,2% số ý kiến trả lời.
Qua kết quả điều tra ta thấy, nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường hướng vào nhiều nội dung khác nhau, chưa đi vào chiều sâu, còn mang nặng về hình thức thông báo, nội dung trao đổi, phối hợp còn nghèo nàn, ảnh hưởng của nhà trường, của giáo viên với phụ huynh còn hạn chế. Những điều này làm cho chất lượng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường chưa đạt được hiệu quả cao. Vì vậy các cán bộ quản lý cần phải tăng cường tuyên truyền vận động, đề ra kế hoạch phối hợp với những nội dung phong phú, phù hợp với điều kiện của nhà trường và đa số những gia đình để sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình được thực hiện tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.
- Nội dung phối hợp giữa nhà trường và xã hội Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Trong điều kiện xã hội hiện nay, việc phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường có vai trò rất quan trọng và hướng được tiên hành với nhiều nội dung khác nhau. Qua việc thực hiện phỏng vấn trực tiếp 12 cán bộ quản lý xã hội và cán bộ giáo viên, có 10/12 ý kiến cho rằng chỉ khi có sảy ra sự việc liên quan trực tiếp từ học sinh đến các vấn đề của địa phương thì cần có sự phối hợp để giải quyết; còn lại 2/12 ý kiến cho rằng cần có sự phối hợp giữa nhà trường với địa phương để ngăn chặn từ xa những ảnh hưởng xấu tới học sinh và giáo dục học sinh bảo vệ môi trường ở địa phương nơi học sinh sinh sống.
Bên cạnh việc phỏng vấn trực tiếp, Tác giả điều tra bằng phiếu hỏi kết quả thu được về nội dung phối hợp phối hợp giữa nhà trường và xã hội thể hiện cụ thể tại bảng 2.5
- Bảng 2.5. Nội dung phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường
Kết quả điều tra tại bảng 2.5 cho thấy:
Các đối tượng khảo sát đánh giá, những nội dung chủ yếu mà việc phối hợp giữa nhà trường và xã hội hướng vào là: Tổ chức việc vui chơi, rèn luyện nhằm giáo dục học sinh bảo vệ môi trường chiếm 81,7% số ý kiến trả lời; xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường chiếm 61,1% số ý kiến trả lời. Như vậy, các đối tượng khảo sát cho rằng, nội dung của việc phối hợp hướng chủ yếu vào việc xã hội giúp đỡ nhà trường trong công tác giáo dục học sinh. Còn những nội dung mang lại lợi ích cho xã hội vẫn còn xếp ở vị trí khiêm tốn: quản lý học sinh trong cộng đồng chiếm 41,3%. Chỉ có 31% số ý kiến cho rằng nội dung việc phối hợp Thông báo tình hình sinh hoạt, học tập và hoạt động bảo vệ môi trường của học sinh cho địa phương.
Kết quả trên cho thấy việc phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh còn khá bất cập, đa số các ý kiến một chiều và cho rằng: Nội dung phối hợp giữa nhà trường và xã hội giáo dục học sinh bảo vệ môi trường chỉ mang tính hình thức, không hiệu quả. Ý kiến này chiếm 88,9% số ý kiến trả lời. Như vậy, vấn đề cần đặt ra và xem xét một cách nghiêm túc để nâng cao hiệu quả việc phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường ở trường học cũng như khi sinh hoạt trong cộng đồng xã hội.
2.3.4. Thực trạng hình thức phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín
Khi nghiên cứu thực trạng về các hình thức phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, tác giả tiến hành khảo sát về mức độ thực hiện các hình thức phối hợp nhằm giáo dục học sinh bảo vệ môi trường và thu được kết quả tại bảng 2.6 như sau: Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Bảng 2.6. Mức độ thực hiện các hình thức phối hợp
Qua bảng 2.6 cho thấy:
- Hình thức phối hợp bằng văn bản chiếm 59,4% số ý kiến trả lời là đã thực hiện; hình thức phối hợp bằng điện thoại chiếm 64,3%. Như vậy, đây là 2 hình thức được đa số ý kiến cho rằng đã thực hiện thường xuyên.
- Hình thức phối hợp bằng hành động trực tiếp rất quan trọng vì cho phép chủ thể giáo dục nắm bắt thông tin nhanh và chính xác nhưng qua khảo sát chỉ có 24,6% ý kiến cho là đã thực hiện hình thức này còn lại cho rằng chưa sử dụng, nguyên nhân là do đa số phụ huynh học sinh có tư tưởng ngại gặp giáo viên chủ nhiệm dẫn tới việc phối hợp bằng hình thức hành động trực tiếp gặp khó khăn.
- Hình thức phối hợp bằng tuyên truyền chỉ có 14,3% số ý kiến cho rằng đã thực hiện. Như vậy đây là hình thức được đa số ý kiến cho rằng chưa thực hiện thường xuyên.
Qua kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn các hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường chưa được thực hiện một cách đầy đủ, thường xuyên và liên tục. Đây cũng là một trong số những nguyên nhân làm cho chất lượng hoạt động phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bả vệ môi trường trong thực tế chưa đạt hiệu quả cao cao.
Tuy nhiên, trong mỗi hình thức phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường lại có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau. Để làm rõ hơn thực trạng hình thức phối hợp tác giả đã tiến hành khảo sát về biện pháp phối hợp và hiệu quả mang lại. Cụ thể, kết quả khảo sát về hiệu quả của các biện pháp phối hợp giữa nhà trường với gia đình thể hiện tại bảng 2.7 như sau:
- Bảng 2.7. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Qua bảng 2.7 ta thấy:
Những biện pháp theo đánh giá của các đối tượng khảo sát có hiệu quả nhất bao gồm: mời phụ huynh đến trường khi cần chiếm 72,2%; trao đổi qua điện thoại chiếm 73% số ý kiến trả lời; phụ huynh chủ động đến trường chiếm 46,8% số ý kiến đánh giá. Như vậy ta thấy được rằng, những biện pháp trao đổi trực tiếp giữa nhà trường và phụ huynh của học sinh trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Những biện pháp được các đối tượng khảo sát đánh giá là ít có hiệu quả bao gồm: trao đổi qua cán bộ quản lý xã hội có 48,4% số ý kiến cho rằng ít có hiệu quả. Đây là biện pháp phối hợp gián tiếp, giúp cho việc trao đổi thông tin giữa nhà trường và gia đình được tiến hành thường xuyên, kịp thời, huy động được nhiều lực lượng tham gia giáo dục cho học sinh. Tuy nhiên, vai trò trung gian của chủ thể giáo dục ở đây chưa được thể hiện tốt nên hầu hết các ý kiến được hỏi cho rằng những biện pháp phối hợp đó chưa mang lại hiệu quả cao.
Từ những vấn đề trên đặt ra yêu cầu phải xem xét một cách nghiêm túc để tìm ra một cơ chế thích hợp cho sự phối hợp sao cho những tổ chức xã hội và hội đồng giáo dục nhà trường hoạt động có hiệu quả, đạt mục tiêu giáo dục học sinh.
Kết quả khảo sát về thực hiện các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thể hiện qua bảng 2.8 sau đây.
- Bảng 2.8. Các biện pháp phối hợp giáo dục học sinh giữa nhà trường và xã hội đã được thực hiện
Kết quả khảo sát:
Những biện pháp được nhà trường và xã hội đánh giá là được sử dụng nhiều nhất là: Thống nhất những yêu cầu xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh thông qua phong trào nếp sống văn minh cộng đồng chiếm 72,2% số ý kiến đánh giá; Thành lập ban chỉ đạo giáo dục các cấp để tham mưu qua các hội nghị, xây dựng quy chế, quy định, nội quy phối hợp chiếm 61,1% số ý kiến đánh giá. Tuy nhiên trong thực tế việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh thông qua phong trào nếp sống văn minh cộng đồng đã được triển khai nhưng chưa trở thành phong trào rộng. hiệu quả về mặt giáo dục của phong trào này chủ yếu được cảm nhận về mặt định tính và trên phương diện lý luận, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể.
Những biện pháp tác động trực tiếp đến hoạt động của học sinh còn được sử dụng ở mức độ vừa phải: Các tổ chức xã hội tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh (thực hiện phong trào môi trường xanh, tình nguyện, tham quan du lịch,…) có 46,8% số ý kiến cho là đã thực hiện; Các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong xã hội đỡ đầu dưới hình thức: học bổng hỗ trợ, phần khen thưởng thi đua, … có 36,5% số ý kiến cho là đã hực hiện.
Như vậy qua kết quả điều tra ta thấy, các biện pháp phối hợp mới chỉ mang tính lý thuyết, các hoạt động chỉ mang tính phong trào. Những biện pháp có tác động trực tiếp tới học sinh vẫn chưa được trú trọng và quan tâm nhiều.
2.3.5. Thực trạng việc kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Nghiên cứu thực trạng việc kiểm tra, đánh giá phối hợp các lực lượng giáo dục, tác giả đã tiến hành điều tra các đối tượng bao gồm: phụ huynh, cán bộ giáo viên và cán bộ quản lí. Kết quả đạt được như sau:
- Bảng 2.9. Mức độ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá việc phối hợp
Kết quả tại bảng 2.9 cho thấy: về mức độ thục hiện việc kiểm trá, đánh giá hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường còn chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục. điều này làm ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động phối hợp.
- Bảng 2.10. Đánh giá hiệu quả kiểm tra, đánh giá việc phối hợp
Qua kết quả khảo sát ta thấy:
Việc kiểm tra đánh giá kết quả phối hợp các lực lượng các ý kiến trả lời tập trung chủ yếu ở nội dung: kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chiếm tổng là 70,6% số ý kiến trả lời; kiểm tra đánh giá công tác thi đua, khen thưởng chiếm 83,3% số ý kiến trả lời. Như vậy, theo các ý kiến đánh giá, công tác kiểm tra đánh giá vẫn dựa trên lý thuyết nhiều hơn và quan tâm về việc thi đua khen thưởng và thành tích để thực hiện báo cáo trên giấy tờ.
Các nội dung: kiểm tra đánh giá việc thu hút các lực lượng xã hội chiếm tổng số ý kiến là đã thực hiện chiếm 53,9% nhưng số ý kiến trả lời chưa đồng ý cũng chiếm tỷ lệ cao là 46,1%; kiểm tra đánh giá các buổi thảo luận bồi dưỡng kinh nghiệm số ý kiến trả lời không đồng ý chiếm 51,6%. Như vậy, công tác kiểm tra đánh giá những nội dung có liên quan trực tiếp đến giáo dục học sinh bảo vệ môi trường về cơ bản vẫn chưa được quan tâm nhiều.
Để có kết quả cao trong công tác đánh giá cần có những sự thay đổi và quan tâm nhiều hơn từ phía các nhà quản lý.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh – Thường Tín Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
2.4.1. Thực trạng việc lập kế hoạch trong quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục
Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là xây dựng các kế hoạch sao cho đảm bảo thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Để tìm hiểu kế hoạch đã đặt ra việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh tách giả đã khảo sát và thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.11. Kế hoạch phối hợp
Ta thấy: việc kế hoạch hóa việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường được xây dựng cho 1 năm học chiếm tỷ lệ cao nhất là 81% số ý kiến được khảo sát; tiếp theo là kế hoạch được xây dựng theo các ngày lễ lớn của đất nước đứng vị trí thứ 2, chiếm 69,3% số ý kiến trả lời; kế hoạch được xây dựng theo từng học kỳ cũng chiếm tỷ lệ khá cao 65,9% số ý kiến trả lời xếp vị trí thứ 3; kế hoạch cho hoạt động của từng tháng cũng được quan tâm với tỷ lệ chiếm 56,3% số ý kiến trả lời; cuối cùng là kế hoạch cho từng tuần chiếm tỷ lệ nhỏ nhất 17,7% số ý kiến tán thành.
Nhìn vào kết quả trên chúng ta nhận thấy các kế hoạch cho hoạt động quản lý các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường được nhà trường chú ý nhiều hơn đến các kế hoạch dài hơn như kế hoạch cho từng cả năm học và lồng ghép trong các chương trình kỷ niệm các ngày lễ lớn hoặc các đợt thi đua theo phong trào của nhà trường. Những kế hoạch cụ thể mang tính tức thời theo tháng, theo tuần ít được nhà trường chú ý. Những kế hoạch này do chủ yếu bộ phận chức năng chuyên trách đảm nhận, vì vậy tính thống nhất giữa các kế hoạch là chưa cao, đôi khi có nhiệm vụ còn chồng chéo lên nhau giữa các tổ chức và các khối, tổ bộ môn. Song tính kế hoạch của hoạt động chưa cao, mới dừng lại ở việc giải quyết các vụ việc. Chính vì vậy, hoạt động đôi khi còn bị động và phụ thuộc vào các tổ chức khác. Cho nên cần phải có những biện pháp thích hợp để việc lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch cho việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường để đạt mục tiêu giáo dục đã đề ra.
2.4.2. Thực trạng việc tổ chức trong quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Công tác tổ chức trong quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục được tác giả khảo sát theo kết quả tại bảng 2.12 như sau.
- Bảng 2.12. Đánh giá hiệu quả việc tổ chức hoạt động phối hợp
Nhận xét: Nhìn vào Bảng 2.12 tác giả nhận thấy việc tổ chức chỉ đạo xây dựng kế hoạch, nội dung phối hợp các lực lượng giáo dục được các đối tượng khảo sát đánh giá có hiệu quả nhất, đạt tổng hiệu quả và rất hiệu quả là 80,1% tổng số ý kiến trả lời. Tuy nhiên thực tế công tác này chỉ thường tổ chức vào đầu năm học, còn mạng tính hình thức với hiệu quả phối hợp chưa cao.
Việc tổ chức duyệt kế hoạch, nội dung hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục định kỳ theo thời gian đạt tổng hiệu quả và rất hiệu quả là 76,2% số ý kiến khảo sát. Việc tổ chức duyệt kế hoạch, nội dung đã được các đối tượng khảo sát cho rằng có hiệu quả nhưng hiệu quả chưa cao vì thực tế việc tổ chức xây dựng kế hoạch và nội dung phối hợp chưa được chi tiết, cụ thể theo từng tuần, từng tháng, từng học kỳ mà phần lớn vẫn chỉ thông qua sơ bộ đầu năm học. Phần lớn giáo viên chủ nhiệm, cán bộ quản lý chỉ có kế hoạch chung mang tính vĩ mô, chưa có kế hoạch cụ thể nên nội dung và hình thức tổ chức phối hợp còn hạn chế. Hầu hết công tác phối hợp với gia đình và các cán bộ quản lý xã hội chỉ khi có học sinh vi phạm những nội quy nhà trường hay vi phạm đạo đức một cách nghiêm trọng hoặc có vấn đề chưa tốt trong học tập. Các hoạt động này theo sự nảy sinh các tình huống chứ không được lãnh đạo duyệt trước.
Tổ chức điều hành, giám sát việc thực hiện kế hoạch, nội dung hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục theo đánh giá của các đối tượng khảo sát là ít hiệu quả hơn chiếm 59,9% số ý kiến khảo sát. Số ý kiến cho rằng không hiệu quả là 40,1%. Nhà trường ít quan tâm đến việc tổ chức điều hành, giám sát thực hiện kế hoạch, nội dung phối hợp, đôi khi giáo viên chủ nhiệm của trường tự phối hợp với gia đình, với cán bộ quản lý xã hội để giải quyết sự việc.
Hoạt động tổ chức xử lý việc thực hiện không đúng kế hoạch, nội dung hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục theo các ý kiến đánh giá đây là hoạt động ít hiệu chỉ đạt hiệu quả là 38%, không hiệu qủa chiếm tới 62% số ý kiến trả lời. Thực tế công việc này hầu như ít được thực hiện, trong kế hoạch và nội dung chưa đưa ra những hình thức xử lý cụ thể hành động thực hiện không đúng việc phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Qua kết quả khảo sát công tác tổ chức chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, nội dung hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục được các cán bộ quản lý quan tâm và đạt hiệu quả cao nhất. Nhưng thực tế sự quan tâm và thực hiện này chỉ diễn ra đầu năm học mà chưa được duy trì thường xuyên theo từng tuần, từng tháng xuyên suốt quá trình phối hợp giữa các lực lượng giáo dục nên chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn.
2.4.3. Thực trạng việc chỉ đạo trong quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục
Đối với cán bộ quản lý giáo dục, bên cạnh công tác tổ chức thì sự chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường cho chặt chẽ và thường xuyên để đạt được mục tiêu giáo dục.
Kết quả điều tra như sau: Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Bảng 2.13. Đánh giá công tác chỉ đạo hoạt động phối hợp
Theo ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát ta thấy hoạt động chỉ đạo triển khai văn bản chỉ đạo của cấp trên về kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục đạt tổng hiệu quả là 76,2% số ý kiến trả lời. Nhà trường triển khai các văn bản có liên quan tới công tác phối hợp tới các cá nhân và các lực lượng khác về kế hoạch, nội dung và mục tiêu của việc phối hợp.
Hoạt động hướng dẫn tổ chức cách thức hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục được đánh giá ít hiệu quả hơn chiếm 62,8% số ý kiến trả lời, ý kiến cho rằng không hiệu quả chiếm 37,2%. Công tác này ở trường có thực hiện nhưng hiện nay vẫn còn mang tính hình thức. Chỉ dừng lại ở việc quy định liên lạc với phụ huynh và các nhà quản lý xã hội nhiều hơn. Trên thực tế chưa đáp ứng được nhu cầu và điều kiện cho sự thực hiện có hiệu quả cao.
Công tác chỉ đạo định kỳ liên lạc với gia đình theo các cách liên lạc (sổ liên lạc, gọi điện, gặp mặt,…) được cho là hiệu quả nhất bới số ý kiến khảo sát cho là hiệu quả chiếm tới 82,9%. Đây cũng là công tác được các đối tượng khảo sát cho rằng được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả.
Công tác thống nhất hình thức, phương pháp phối hợp các lực lượng giáo dục cũng là công tác được đánh giá là có hiệu quả nhưng không cao. Số ý kiến trả lời đạt 71,4%.
Công tác chỉ đạo tổ chức các buổi hội thảo, hướng dẫn, bồi dưỡng kinh nghiệm được coi là công tác hình thức, phối hợp ít hiệu quả nhất. Tổng số ý kiến cho là hiệu quả chỉ đạt 42,9% số ý kiến trả lời. Số ý kiến cho rằng không hiệu quả chiếm tới 57,1%. Công tác này về cơ bản là ít được thực hiện, nếu có cũng chỉ mang tính hình thức.
Như vậy, công tác chỉ đạo việc phối hợp các lực lượng giáo dục có thực hiện nhưng chưa tích cực vì vậy hiệu quả việc phối hợp chưa cao, chưa đáp ứng được công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Công tác hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động phối hợp có lúc được tiến hành nhưng chưa thực sự hiệu quả; công tác tổ chức các buổi hội thảo hướng dẫn, bồi dưỡng kinh nghiệm là công tác có ý nghĩa và rất hiệu quả nhưng việc thực hiện còn rất hạn chế. Điều này chưa phát huy được kinh nghiệm thực tế trong quá trình phối hợp làm cho chất lượng của việc phối hợp các lực lượng vào công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường vẫn chưa được thực hiện.
2.4.4. Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá trong quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Để đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý giám sát, kiểm tra, đánh giá việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thông qua kết quả khảo sát tại bảng 2.14 như sau:
- Bảng 2.14. Đánh giá hiệu quả quản lý giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp
Từ bảng 2.14 ta thấy:
Các nội dung đánh giá được các đối tượng khảo sát đưa ra ý kiến cho rằng đã thực hiện có hiệu quả bao gồm: nội dung giám sát, kiểm tra, điều chỉnh hoạt động trong công tác phối hợp đạt tổng của rất hiệu quả và hiệu quả là 83,4% tuy nhiên công tác kiểm tra này chỉ mới thẻ hiện ở việc nhà quản lý yêu cầu báo cáo số lượng phụ huynh tham gia việc phối hợp chứ chưa quan tâm đến kết quả phối hợp. Hiệu trưởng cũng chỉ yêu cầu Đoàn thanh niên báo cáo về những việc làm mà địa phương phối phối hợp cần lực lượng học sinh tham gia giúp đỡ chứ chưa kiểm tra việc xây dựng kế hoạch phối hợp thường xuyên.
- Các nội dung được các đối tượng khảo sát đánh giá là thực hiện ít có hiệu quả bao gồm:
Nội dung đánh giá việc phối hợp thường xuyên và theo định kỳ có tổng của rất hiệu quả và hiệu quả là 52,4% tổng số ý kiến. Kết quả này cho thấy thực trạng chưa thường xuyên đánh giá việc phối hợp theo định kỳ, hiệu quả công tác đánh giá chưa cao, chưa làm động lực cho việc phối hợp tốt hơn.
Nội dung đánh giá thông qua kết quả đạt được trong hoạt động phối hợp có tổng rất hiệu quả và hiệu quả là 61,1% số ý kiến trả lời, không hiệu quả là 38,9% số ý kiến trả lời, điều này cho thấy việc đánh giá chưa dựa vào kết quả đạt được để đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Vì vậy cán bộ quản lý chưa phát huy các thành quả đã đạt được, để kịp thời động viên các lực lượng tham gia phối hợp nên chưa nâng cao được chất lượng của việc phối hợp. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Nội dung đánh giá thông qua nhận xét của phụ huynh và các lực lượng ngoài xã hội có tổng hiệu quả và rất hiệu quả là 54,7% số ý kiến trả lời, không hiệu quả là 46,3%. Nội dung đánh giá này theo ý kiến chung là chưa được quan tâm nhiều đến việc phối hợp, chưa kích thích được hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội được tốt hơn.
Đặc biệt nội dung xác định các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá, theo đánh giá cho rằng tổng hiệu quả chỉ đạt 39,7% số ý kiến, không hiệu quả chiếm tới 60,3% số ý kiến trả lời. Điều này chứng tỏ hiện nay chưa có các tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá việc phối hợp giữa các lực lượng nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Vì vậy chưa có cơ sở để đánh giá việc phối hợp, điều này làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động phối hợp các lực lượng.
Qua phân tích kết quả điều tra cho thấy, hiện nay ở trường chưa thực hiện tốt khâu quản lý việc kiểm tra, đánh giá việc phối hợp, dẫn đến thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội còn lỏng, có tính chất đơn điệu, rập khuôn chưa thu hút các lực lượng cùng tham gia vào hoạt động phối hợp. Để đảm bảo cho công tác phối hợp được tốt, nhà quản lý cần tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá nghiêm túc hoạt động phối hợp, nhằm động viên, khuyến khích, thúc đẩy và điều chỉnh đội ngũ cán bộ, các lực lượng để hoạt động phối hợp ngày càng đạt hiệu quả như mong muốn.
2.4.5. Đánh giá và phân tích nguyên nhân thực trạng
Để có nhận xét chính xác về thực trạng quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tác giả tiến hành điều tra về mức độ hiệu quả của quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.15. Mức độ hiệu quả của hoạt động phối hợp và quản lý hoạt động phối hợp
Các kết quả đạt được và nguyên nhân
- Những kết quả đạt được
Qua bảng kết quả khảo sát ta thấy: 64,3% đối tượng thực hiện khảo sát cho rằng hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục mang hiệu quả thiết thực.
Về cơ bản, phần lớn học sinh trong nhà trường có gắng vươn lên trong học tập, nhiệt tình tham gia các câu lạc bộ, các phong trào thi đua của lớp, của trường đặc biệt ý thức bảo vệ môi trường được quan tâm đáng kể. Nhiều học sinh nỗ lực, không ngừng phấn đấu vươn lên nâng cao phẩm chất, nhân cách, năng lực để trở thành người công dân toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. điều này thể hiện rõ ở kết quả các kỳ thi học phần và kết quả xếp loại hai mặt học tập và rèn luyện mỗi học kỳ và mỗi năm học đồng thời cũng là tấm gương sáng trong phong trào giữ gìn môi trường “Xanh – Sạch – Đẹp” của nhà trường và ở địa phương.
Trong thời gian gần đây, hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường đã được nhà trường chú ý và quan tâm nhiều hơn, Các lực lượng đang dần nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giáo dục dục học sinh bảo vệ môi trường sống, môi trường tự nhiên.
Nhà trường từng bước thu hút được sự hỗ trợ, quan tâm từ các các doanh nghiệp, cá nhân tạo nguồn vốn đầu tư thêm trang thiết bị hiện đại, quỹ học bổng, khen thưởng kịp thời tới giáo viên, học sinh thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, khuyến khích học sinh tham gia bảo vệ môi trường. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Nguyên nhân
Sự cố gắng, nỗ lực của nhà trường trong đó có đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm. Sự quan tâm từ phía gia đình học sinh và các cán bộ quản lý xã hội trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường làm cho chất lượng công tác giáo dục học sinh ngày càng được được nâng lên rõ rệt trong những năm gần đây.
Lãnh đạo nhà trường và Lãnh đạo địa phương luôn quan tâm, và có chủ trương, chính sách đúng đắn cho sự phát triển giáo dục. Bên cạnh đó cũng có những động viên, khuyến khích kịp thời đối với những thành tích của nhà trường, của giáo viên, các cán bộ quản lý và cả tấm gương học sinh tốt từ đó khích lệ các lực lượng cùng chung tay chăm lo phát triển giáo dục học sinh của nhà trường.
- Những hạn chế và nguyên nhân
- Những hạn chế
Kết quả khảo sát ở bảng 2.15 cho thấy: có tới 26,2% số ý kiến cho rằng hiệu quả mang lại còn hạn chế. Đặc biệt có tới 9,5% số ý kiến cho việc phối hợp còn mang tính hình thức. Kết quả này cho thấy vẫn còn những hạn chế, yếu kém của hoạt động phối hợp giữa các lực lượng tham gia vào công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Đôi khi, nhà trường chưa thực sự coi trọng công tác phối hợp, chưa thực sự nghiêm túc xây dựng kế hoạch để thực hiện việc phối hợp. Chủ yếu nhà trường vẫn quan tâm tới sự phối hợp vẫn là để gia đình và xã hội để khen thưởng đối với học sinh giỏi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn,… hoặc khi cần thảo luận về những học sinh có học lực yếu kém hay khi học sinh có những vi phạm đạo đức nghiêm trọng.
Nhận thức về mục tiêu phối hợp chưa được các lực lượng giáo dục hiểu rõ và quan tâm. Vì vậy hoạt động phối hợp giữa các lực lượng giáo dục còn yếu, chưa được tiến hành đồng bộ, thiếu sự nhất quán, việc phối hợp đôi khi chỉ mang tính hình thức, hành chính đơn điệu, kém hiệu lực nhất là sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình, giữa nhà trường và các lực lượng xã hội.
Các hình thức và nội dung phối hợp nhìn chung còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ, chưa nhất quán làm hiệu quả của hoạt động phối hợp chưa được như mong muốn.
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, đánh giá chưa được tiến hành thường xuyên, việc khen thưởng, kỷ luật chưa đủ lớn để động viên kịp thời các lực lượng cùng tham gia phối hợp trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường nên chất lượng, hiệu quả chưa thực sự cao. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
- Nguyên nhân
Từ những hạn chế nêu trên, đâu là nguyên nhân dẫn đến hạn chế của hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường? Xác định được những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế đó có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là một trong những cơ sở để chúng ta đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phối hợp.
Để tìm hiểu rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động phối hợp và quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, tác giả khảo sát về nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động phối hợp. Kết quả thể hiện tại bảng 2.16
- Bảng 2.16. Nhận xét về nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động phối hợp và quản lý hoạt động phối hợp
Kết quả tại bảng 2.16 cho thấy: ý kiến đồng ý chiếm tỷ lệ cao nhất là 83,3%. Như vậy nguyên nhân 1 trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế là do: “Nhà trường – gia đình – xã hội chưa nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động phối hợp để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh”. Chúng ta biết rằng lứa tuổi học sinh Trung học Cơ sở là lứa tuổi nhạy cảm, tò mò, đang dần khẳng định mình là người lớn và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động từ phía xã hội. Nếu không được quan tâm thường xuyên, các em có thể mắc sai phạm, vi phạm pháp luật dẫn đến hư hỏng. Từ việc nhận thức như vậy, các lực lượng giáo dục cần thấy rõ tầm quan trọng của việc phối hợp, cần chặt chẽ, thường xuyên trong công tác giáo dục thế hệ trẻ. Nhưng trên thực tế nhiều gia đình và các tổ chức xã hội chưa nhận thức điều này.
Khi nhận thức của đội ngũ làm công tác giáo dục chưa thật đầy đủ và đúng đắn, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo chưa đầy đủ đối với việc phối hợp với gia đình trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thì dẫn đến họ còn thiếu quan tâm đến mảng quản lý việc phối hợp này, chưa có kế hoạch chỉ đạo, chưa phân cồn cho các thành viên liên quan, chưa bố trí thời gian phù hợp, chưa có những nội dung và biện pháp cụ thể hay việc kiểm tra đôn đốc thường xuyên đến việc phối hợp. Nhận thức chưa đầy đủ của của các bậc phụ huynh cũng là một trở ngại lớn cho việc phối hợp, đặc biệt là tư tưởng khoán trắng cho nhà trường về công tác giáo dục học sinh, cha mẹ ít quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của con em mình ở nhà trường. Nguyên nhân “Gia đình hoàn toàn phó thác cho nhà trường, do mải công tác và làm kinh tế” chiếm tới 48,6% số ý kiến được khảo sát đồng ý. Nhận thức chưa đầy đủ của của các lực lượng giáo dục khác ngoài xã hội coi giáo công tác giáo dục là của nhà trường, của gia đình và xã hội chỉ cung cấp cơ sở vật chất, xây dựng trường lớp,… cũng góp phần làm giảm hiệu quả việc phối hợp. Nguyên nhân “Các tổ chức xã hội ít quan tâm đến nhà trường, coi việc giáo dục học sinh là trách nhiệm của nhà trường” chiếm 57,1% số ý kiến khảo sát đồng ý. Tất cả các yếu tố trên đã làm cho hoạt động phối hợp ở nhà trường với gia đình và xã hội còn nhiều hạn chế. Để khắc phục những nguyên nhân còn hạn chế về nhận thức cần có những biện pháp nâng cao trình độ cho cán bộ, giáo viên, cần có những biện pháp tuyên truyền tới cha mẹ sinh viên, tuyên truyền trong các lực lượng giáo dục ngoài xã hội để học hiểu và phối hợp tốt với nhà trường trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.
Những nguyên nhân được xếp thứ 2 làm ảnh hưởng tới công tác giáo dục sinh viên được các đối tượng khảo sát đánh giá là do “Nhà trường chưa chủ động làm tốt công tác tham mưu”, nguyên nhân này chiếm 80,2% số ý kiến trả lời. Đây là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất. Công tác chăm sóc giáo dục trẻ em là nhiệm vụ của toàn xã hội trong đó nhà trường là cơ quan chuyên trách. Vì vậy nhà trường cần chủ động tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, gia đình trong việc xây dựng kế hoạch liên kết, phối hợp, nhà trường cần đóng vai trò chủ đạo trong việc thực thi kế hoạch.
Nguyên nhân được xếp thứ 3 là do nhà trường chưa chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục, nguyên nhân này có 74,6% số ý kiến trả lời đồng ý. Đồng thời do mục tiêu, nội dung và biện pháp phối hợp giáo dục của nhà trường và các lực lượng giáo dục chưa thống nhất, cùng chiều, chiếm 65,1% số ý kiến trả lời. Đây rõ ràng cũng là nguyên nhân quan trọng hạn chế hiệu quả của việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục. Để có được sự thống nhất đó, nhà trường phải đóng vai trò chủ đạo. Cụ thể, nhà trường phải chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp các hoạt động giáo dục của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Thống nhất về mục tiêu, nội dung, biện pháp giáo dục, cách thức tiến hành, thời gian thực hiện để các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường có thể tham gia được. Qua phân tích trên tác giả cũng nhận thấy một số chức năng quản lý sự phối hợp chưa được lãnh đạo nhà trường thực sự quan tâm nhiều, thực hiện một cách đầy đủ và thường xuyên dẫn đến hiệu quản lý việc phối hợp chưa được tốt vì vậy cần có những biện pháp nâng cao trình độ quản lý cũng như tinh thần trách nhiệm cho giáo viên và cán bộ quản lý là việc làm cần thiết. Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Nguyên nhân tiếp theo “Các lực lượng giáo dục chưa chủ động trong hình thức liên hệ phối hợp” chiếm 62,8% số ý kiến trả lời. Điều đó chưa tạo ra được sợi dây gắn kết thường xuyên, chưa có nhiều hoạt động giáo dục để tạo các mối liên hệ giữa nhà trường với gia đình và xã hội cố điều kiện phối hợp với nhau hiệu quả hơn. Để khắc phục điều này cần có biện pháp làm đa dạng hóa các hình thức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
Nguyên nhân tiếp theo được các đối tượng khảo sát đánh giá làm hạn chế hiệu quả việc phối hợp là “Cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện phục vụ cho sự phối hợp chưa đáp ứng” chiếm 65,1% số ý kiến trả lời. Nguyên nhân này làm ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả việc phối hợp. Kinh phí còn hạn chế làm ảnh hưởng đến điều kiện về vật chất trong công tác quản lý. Ngoài ra các điều kiện cơ sở vật chất khác làm phương tiện cho hoạt động phục vụ việc phối hợp còn ít cũng làm ảnh hưởng đến việc phối hợp. Vì vậy cần có các biện pháp tận dụng và phát huy hết các ảnh hưởng từ các lực lượng bên ngoài để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý việc phối hợp.
Một trong số những nguyên nhân góp phần làm ảnh hưởng tới hiệu quả của việc phối hợp là công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc phối hợp còn chưa tích cực, chiếm 59,4% số ý kiến trả lời.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
Công tác giáo dục và quản lý việc phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục tại trường Trung học Cơ sở Tân Minh đã được tiến hành trong thời gian khá dài và đạt được nhiều kết quả nhất định. Các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đã nhận thức được ý nghĩa của việc phối hợp trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, các chủ thể giáo dục đã tích cực chủ động tổ chức phối hợp với nhau trong công tác giáo dục cho học sinh nhà trường. Có nhiều giáo viên, các cán bộ quản lý trục tiếp của nhà trường đã thực hiện nhiều biện pháp phối hợp giáo dục thành công. Bên cạnh việc sử dụng và hoàn thiện các phương pháp phối hợp truyền thống, các chủ thể giáo dục đã không ngừng tìm kiếm những biện pháp mới để góp phần nâng cao hiệu quả việc phối hợp. Bên cạnh đó nhà trường đang thí điểm việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho mối liên hệ phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội được dễ dàng, thuận lợi và nhanh chóng hơn.
Song thực tế kết quả của sự phối hợp này vẫn còn một số bất cập, yếu kém, mang lại hiệu quả chưa cao, còn mang tính hình thức nhất là việc phối hợp giữa nhà trường và xã hội. Để khắc phục được những hạn chế đã phân tích không chỉ cần đòi hỏi có sự chuyển biến về nhận thức trong đội ngũ những người làm công tác giáo dục mà cần có sự đổi mới căn bản trong công tác tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong việc giáo dục cho học sinh bảo vệ môi trường. Những nội dung này được tác giả thể hiện rõ tại Luận văn: Thực trạng QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
