Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ-Đại học quốc gia Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Vài nét khái quát về Trung tâm Hỗ trợ sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trung tâm Nội trú sinh viên được thành lập 21/10/1995 theo quyết định số 438/QĐ – TCCB của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sát nhập 3 Ký túc xá của 3 trường Đại học (KTX Mễ Trì thuộc Trường Đại học Tổng hợp (cũ); Ký túc xá Sư phạm thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Ký túc xá Ngoại Ngữ thuộc trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội) và Trạm y tế thuộc trường Đại học Tổng hợp (cũ). Trung tâm Nội trú sinh viên là đơn vị tài khoản cấp 2, có con dấu và tài khoản riêng với cơ cấu tổ chức gồm: phòng Tổ chức – Hành chính – Quản trị; Phòng Tài vụ; Trạm y tế Mễ Trì; Ký túc xá Ngoại ngữ; Ký túc xá Mễ Trì; Ký túc xá Sư phạm.
Tháng 12/1999 Ký túc xá Sư phạm tách ra khỏi Trung tâm vì Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tách ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội. Tháng 6 năm 2014, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra Quyết định thành lập Ban Quản lý Dự án Quốc gia Hà Nội 05 trực thuộc Trung tâm Nội trú sinh viên để triển khai Dự án xây dựng Ký túc xá sinh viên tại Hòa Lạc.
Tháng 11 năm 2018, Ban Quản lý Dự án Quốc gia Hà Nội 05 chuyển về Bộ Xây dựng. Ngày 9/1/2019 Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định số 52/QĐ – TCCB về việc bổ sung chức năng nhiệm vụ và đổi tên Trung tâm Nội trú sinh viên thành Trung tâm Hỗ trợ sinh viên.
Tháng 5 năm 2022, trạm Y tế chuyển về Bệnh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngày 20 tháng 7 năm 2025, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra Quyết định số 2619/QĐ-ĐHQGHN về việc ban hành Quy định về Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Qua 21 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm Hỗ trợ sinh viên luôn nhận được sự quan tâm ủng hộ của ĐHQGHN, sự phối hợp của các đơn vị trong và ngoài ĐHQGHN. Cùng với sự nỗ lực của tập thể, của nhiều thế hệ lãnh đạo, cán bộ viên chức của Trung tâm phấn đấu vượt qua nhiều thách thức, khó khăn và đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ ĐHQGHN giao cho. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý và hỗ trợ học sinh sinh viên được dư luận xã hội và phụ huynh học sinh đánh giá cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của ĐHQGHN.
Trung tâm Hỗ trợ sinh viên có các chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý như sau:
- Chức năng của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên
Tổ chức thực hiện công tác quản lý, phục vụ học sinh, sinh viên, cao học, nghiên cứu sinh (sau đây gọi chung là Học sinh sinh viên) nội trú; cung cấp các dịch vụ nhằm nâng cao đời sống và hỗ trợ học tập, nghiên cứu khoa học cho Học sinh sinh viên; tổ chức các hoạt động tư vấn, hướng nghiệp, bồi dưỡng các kỹ năng cần thiết cho Học sinh sinh viên.
- Nhiệm vụ cụ thể của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên là:
Thứ nhất: Quản lý, phục vụ Học sinh sinh viên nội trú bao gồm:
Tổ chức đón tiếp, sắp xếp chỗ ở cho Học sinh sinh viên Việt Nam và nước ngoài vào ở trong các ký túc xá (KTX) của Trung tâm theo đúng tiêu chuẩn, chế độ quy định của cơ quan quản lý có thẩm quyền và của ĐHQGHN;
- Tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho Học sinh sinh viên;
- Đảm bảo an ninh chính trị, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; Phòng chống cháy nổ trong các Ký túc xá;
- Cung cấp thông tin về các chương trình học bổng; Tìm kiếm các nguồn tài trợ học bổng, việc làm giúp đỡ những Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn;
- Kiểm tra, đánh giá và khen thưởng, kỷ luật đối với Học sinh sinh viên nội trú;
- Quản lý cơ sở vật chất; Tổ chức cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các khu nhà ở, các công trình phục vụ công trong mặt bằng được giao quản lý.
Thứ hai: Tổ chức các hoạt động tư vấn, kinh doanh, dịch vụ bao gồm: Cung ứng dịch vụ quản lý, vận hành nhà chung cư, nhà cao tầng; Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Cung cấp các hoạt động kinh doanh, dịch vụ phục vụ đời sống sinh hoạt, học tập, nghiên cứu khoa học và giải trí cho Học sinh sinh viên;
Tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao cho Học sinh sinh viên; Tổ chức các Câu lạc bộ gắn với chuyên môn, học thuật; hợp tác trao đổi tham quan, du lịch trong khu vực và quốc tế; Các hoạt động xã hội khác của Học sinh sinh viên nhằm kết nối cô .ng đồng Học sinh sinh viên của ĐHQGHN, góp phần rèn luyện phẩm chất, đạo đức, xây dựng tình cảm gắn bó của Học sinh sinh viên với ĐHQGHN;
Tổ chức các khoá bồi dưỡng kỹ năng mềm, trợ giúp Học sinh sinh viên trong học tập, sinh hoạt và tìm kiếm việc làm, góp phần hoàn thiện sản phẩm đào tạo của ĐHQGHN;
Tổ chức các hoạt động tư vấn về tâm lý và sức khoẻ cho Học sinh sinh viên; Giới thiệu nhà ở, việc làm và hoạt động hỗ trợ khác cho Học sinh sinh viên.
Thứ ba: Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc ĐHQGHN giao.
2.1.2 Cơ sở vật chất
Toàn bộ các phòng ở của Ký túc xá đã được cải tạo nâng cấp thành phòng ở khép kín, điện nước đảm bảo 24/24. 100% phòng ở được lắp đặt bình nước nóng.
100% phòng ở được trang bị điện thoại và cung cấp dịch vụ mạng Internet. Mạng Wifi cũng đã được phủ kín khu vực 2 Ký túc xá.
KTX đã đầu tư một số phòng đủ tiêu chuẩn cho người nước ngoài đến giảng dạy và làm việc với ĐHQGHN.
Các nhà ăn phục vụ theo phương thức tự chọn, đảm bảo vệ sinh, giá cả hợp lý, đáp ứng cho nhu cầu của Học sinh sinh viên nội trú nói riêng và Học sinh sinh viên ĐQGHN nói chung đến làm việc, học tập. Có các khu tiếp khách, siêu thị mini phục vụ cho nhu cầu mua sắm của Học sinh sinh viên.
Có thư viện và các phòng tự học. Có sân thể thao đa năng
Các hoạt động hỗ trợ Học sinh sinh viên được quan tâm triển khai ở nhiều lĩnh vực: đào tạo kỹ năng mềm, các chứng chỉ nghề ; tổ chức các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, vui chơi, giải trí cho Học sinh sinh viên nói chung và sinh viên nội trú nói riêng.
An ninh trật tự và vệ sinh môi trường trong các Ký túc xá luôn được đảm bảo tốt.
Nhà khách cho sinh viên và chuyên gia nước ngoài đã được đưa vào khai thác và hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của lưu học sinh và chuyên gia nước ngoài đến học tập, nghiên cứu khoa học tại ĐHQGHN.
2.1.3 Về cơ cấu tổ chức của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Cơ cấu tổ chức được thể hiện qua sơ đồ sau:
- Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gọn nhẹ gồm có Đảng ủy Ban giám đốc và các phòng chức năng, các đơn vị ký túc xá tham mưu từng mảng công tác.
Đảng ủy Ban giám đốc: Gồm Giám đốc và các Phó Giám đốc Trung tâm. Giám đốc là người đứng đầu, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Trung tâm (theo chế độ thủ trưởng); Các Phó Giám đốc được Giám đốc phân công phụ trách một hoặc một số mảng công tác của Trung tâm, chịu trách nhiệm báo cáo công tác với Giám đốc Trung tâm.
- Nhiệm vụ chủ yếu của các phòng như sau:
Phòng Hành chính – Tổ chức: Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc Trung tâm về các mảng công việc theo quy định của pháp luật và của ĐHQGHN phê duyệt bao gồm:
Công tác Hành chính, tổng hợp: Về lĩnh vực Tổ chức bộ máy, quản lý, sử dụng và thực hiện chế độ chính sách đối với viên chức của Trung tâm, thống kê, tổng hợp, hành chính, văn phòng và văn thư lưu trữ;
Công tác Tổ chức và cán bộ: Hằng năm, xây dựng kế hoạch, chiến lược và chính sách nguồn nhân lực, xác định vị trí việc làm của Trung tâm, báo cáo Giám đốc ĐHQGHN phê duyệt. Thực hiện công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ viên chức, người lao động theo quy định;
Công tác Thanh tra, pháp chế: Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, công tác phòng chống tham nhũng và giải quyết khiếu nại, tố cáo về các lĩnh vực công tác của Trung tâm; Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Công tác Hợp tác phát triển và truyền thông: Xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch hợp tác trong nước và quốc tế của Trung tâm theo quy định của ĐHQGHN và báo cáo ĐHQGHN phê duyệt. Xây dựng quản lý và sử dụng hạ tầng công nghệ truyền thông, cơ sở dữ liệu tích hợp về tổ chức, nhân sự, Học sinh sinh viên nội trú, hợp tác quốc tế, kế hoạch tài chính, cơ sở vật chất của Trung tâm;
Công tác Đầu tư và xây dựng cơ bản: Thực hiện việc mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng, quản lý và điều hành cơ sở vật chất và kỹ thuật của Trung tâm được giao quản lý. Thực hiện xã hội hoá hoạt động xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm;
Công tác Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất, tài sản: Cơ sở vật chất, tài sản của Trung tâm gồm: Quyền sử dụng đất, nhà cửa, công trình xây dựng (nếu có); tài sản có được từ hoạt động tư vấn, kinh doanh, dịch vụ; các trang thiết bị và các tài sản khác được nhà nước và ĐHQGHN giao cho Trung tâm quản lý và sử dụng hoặc do Trung tâm tự mua sắm, xây dựng từ các nguồn thu sự nghiệp và các nguồn khác của Trung tâm theo quy định của pháp luật. Hàng năm, Trung tâm tổ chức kiểm kê, đánh giá lại giá trị tài sản của trung tâm và thực hiện chế độ báo cáo ĐHQGHN và cấp có thẩm quyền theo quy định, chịu sự kiểm tra, thanh tra về việc quản lý và sử dụng cơ sở vật chất, tài sản của cấp có thẩm quyền và của ĐHQGHN;
Thực hiện các công việc khác do Giám đốc giao.
Phòng Kế hoạch – Tài chính: Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc Trung tâm về các mảng công việc bao gồm:
Công tác kế hoạch tài chính: Hàng năm lập kế hoach dự toán Ngân sách nhà nước, lập phương án phân bổ dự toán ngân sách cho các hoạt động của Trung tâm; Tư vấn các vấn đề về tài chính, kế toán cho các chương trình, dự án, hợp đồng liên kết, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng kinh tế của Trung tâm với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước;
Công tác tài chính, kế toán: Tổ chức thu đúng, thu đủ và quản lý mọi nguồn thu, chi của Trung tâm. Thực hiện công tác hạch toán kế toán theo đúng quy định hiện hành của nhà nước. Kiêm tra, giám sát việc mua sắm, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản, lập hồ sơ sổ sách theo đúng quy định. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ báo cáo tài chính đối với cơ quan tài chính cấp trên. Xây dựng và chịu trách nhiệm về độ chuẩn xác, các văn bản liên quan đến công tác tài chính. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, nghĩa vụ nộp thuế của tập thể và các cá nhân trong Trung tâm theo quy định hiện hành;
Thực hiện các công việc khác do Giám đốc Trung tâm giao.
Các phòng chuyên môn có Trưởng phòng, Phó phòng và viên chức chuyên môn nghiệp vụ.
- Các Ban quản lý Ký túc xá gồm có 03 ban
Ban quản lý Ký túc xá có chức năng quản lý, tổ chức phục vụ, cung ứng các dịch vụ cho Học sinh sinh viên nội trú. Tham gia tổ chức các hoạt động hỗ trợ cho Học sinh sinh viên của ĐHQGHN.
- Nhiệm vụ công tác quản lý ký túc xá Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Quản lý, bảo quản, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất được Trung tâm giao để phục vụ ăn ở, sinh hoạt, học tập và nghiên cứu khoa học của Học sinh sinh viên và cán bộ viên chức của ĐHQGHN;
Đề xuất kế hoạch về công tác cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các khu nhà ở, các công trình phục vụ công cộng trong mặt bằng được giao, báo cáo Giám đốc Trung tâm phê duyệt đầu tư;
Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở đào tạo để tổ chức đón tiếp, sắp xếp chỗ ở cho Học sinh sinh viên Việt Nam và nước ngoài vào ở trong Ký túc xá theo đúng tiêu chuẩn, chế độ quy định của ĐHQGHN;
Quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, đảm bảo an ninh chính trị, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường khu vực Ký túc xá;
Tổ chức quán triệt và triển khai các giải pháp thực hiện nội quy, quy định của Trung tâm đối với các Ký túc xá;
Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và diễn biến tư tưởng của Học sinh sinh viên, thường xuyên báo cáo Giám đốc (trực tiếp hoặc qua phòng Hành chính- Tổ chức);
Tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao, tham quan, du lịch, hỗ trợ, tư vấn và các hoạt động khác của Học sinh sinh viên theo kế hoạch được Giám đốc phê duyệt;
Trực tiếp quản lý và khai thác các cơ sở dịch vụ phục vụ; xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án cung cấp dịch vụ theo hướng xã hội hoá nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Học sinh sinh viên;
Phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị – xã hội để thực hiện các công việc liên quan đến công tác quản lý Học sinh sinh viên theo phân cấp của Giám đốc;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Trung tâm giao.
Tổ chức, nhân sự của Ký túc xá có các tổ chuyên môn (1. Tổ Hành chính -Tổng hợp; 2. Tổ QLSV; 3. Tổ Bảo vệ).
Ngoài ra trong các Ký túc xá còn có các tổ chức do chính sinh viên làm chủ để phát huy vai trò tự quản của SVNT nhằm thực hiện tốt quy chế Học sinh sinh viên nội trú và nội quy Ký túc xá còn có Ban đại diện sinh viên nội trú: Do Trưởng ban Ký túc xá và Phòng Hành chính – tổ chức đề xuất, Giám đốc Trung tâm ra quyết định thành lập. Tổ chức này do Ban quản lý Ký túc xá điều hành. Ban đại diện SVNT có nhiệm vụ: Thường xuyên đôn đốc và phối hợp với Cán bộ quản lý nhà kiểm tra việc thực hiện nội quy Ký túc xá tại phòng ở sinh viên và các khu vực khác trong khu nội trú Ký túc xá; động viên và tổ chức cho những SVNT khác tham gia làm vệ sinh môi trường trong khu nội trú; tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội.
- Cơ chế quản lý của Trung tâm Hỗ trợ sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Trung tâm Hỗ trợ sinh viên hoạt động theo phương thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm dưới sự quản lý trực tiếp của ĐHQGHN. Có sự phối hợp chặt chẽ ngang bằng với các ban chức năng, các trường thành viên và các khoa trực thuộc ĐHQGHN để giải quyết những vấn đề liên quan đến Học sinh sinh viên nội trú, ngoài ra còn có sự phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của chính quyền địa phương để quản lý Học sinh sinh viên theo địa bàn;
Giám đốc Trung tâm do Giám đốc ĐHQGHN bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của Giám đốc Đại học Quốc gia, các Phó Giám đốc Trung tâm do Giám đốc Đại học Quốc gia bổ nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Trung tâm, các Trưởng, Phó đơn vị do Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của Giám đốc Trung tâm.
2.1.4 Nhiệm vụ ký túc xá Ngoại ngữ Trung tâm Hỗ trợ sinh viên.
- Quản lý, phục vụ Học sinh sinh viên nội trú
Tổ chức đón tiếp, sắp xếp chỗ ở cho Học sinh sinh viên Việt Nam và nước ngoài vào ở trong ký túc xá (KTX) của Trung tâm theo đúng tiêu chuẩn, chế độ quy định của cơ quan quản lý có thẩm quyền và của ĐHQGHN;
Tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho Học sinh sinh viên;
Đảm bảo an ninh chính trị, an ninh trật tự; vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng chống cháy nổ trong Ký túc xá;
Cung cấp thông tin về các chương trình học bổng; tìm kiếm các nguồn tài trợ học bổng giúp những Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn;
Kiểm tra, đánh giá và khen thưởng, kỷ luật đối với Học sinh sinh viên nội trú;
Quản lý cơ sở vật chất; tổ chức cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các khu nhà ở được giao quản lý.
- Tổ chức các hoạt động tư vấn, kinh doanh, dịch vụ
Cung ứng dịch vụ quản lý, vận hành nhà chung cư, nhà cao tầng;
Cung cấp các hoạt động kinh doanh, dịch vụ phục vụ đời sống sinh hoạt, học tập, nghiên cứu khoa học và giải trí cho Học sinh sinh viên; Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho Học sinh sinh viên; tổ chức các Câu lạc bộ gắn với chuyên môn, học thuật; hợp tác trao đổi tham quan, du lịch trong khu vực và quốc tế; các hoạt động xã hội khác của Học sinh sinh viên nhằm kết nối cộng đồng Học sinh sinh viên của ĐHQGHN, góp phần rèn luyện phẩm chất, đạo đức, xây dựng tình cảm gắn bó của Học sinh sinh viên đối với ĐHQGHN;
Tổ chức các khóa bồi dưỡng kỹ năng mềm, trợ giúp Học sinh sinh viên trong học tập, sinh hoạt và tìm kiếm việc làm, góp phần hoàn thiện sản phẩm đào tạo của ĐHQGHN;
- Tổ chức các hoạt động tư vấn về tâm lý và sức khỏe cho Học sinh sinh viên;
- Giới thiệu nhà ở, việc làm và hoạt động hỗ trợ khác cho Học sinh sinh viên.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do ĐHQGHN giao.
2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Để tìm hiểu hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học của của sinh viên nội trú tại Ký túc xá Ngoại Ngữ, chúng tôi đã tiến điều tra, khảo sát thực trạng này:
Nội dung khảo sát: Nhận thức của cán bộ quản lý, của giáo viên và của sinh viên về hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học của SV nội trú.
Đối tượng khảo sát: Trưng cầu ý kiến của 10 cán bộ quản lý, 15 giáo viên chủ nhiệm lớp và 250 SV đang nội trú trong Ký túc xá Ngoại Ngữ.
- Phương pháp điều tra, khảo sát:
Quan sát hoạt động tự học của SV nội trú trong khoảng thời gian từ tháng 9/2025 đến tháng 6/2026.
Phỏng vấn bằng phiếu trưng cầu ý kiến (bằng các phiếu theo Mẫu 1, Mẫu 2 và Mẫu 3), sau đó thống kê, tính toán và công bố kết quả.
Trò chuyện, trao đổi trực tiếp với sinh viên, giáo viên và cán bộ quản lý (chú trọng đến cán bộ quản lý Ký túc xá và giáo viên chủ nhiệm) để làm rõ hơn kết quả điều tra.
Kết quả thu được như sau:
2.2.1 Nhận thức về hoạt động tự học
Chúng tôi đã sử dụng câu hỏi 1 cho cả hai mẫu phiếu: Mẫu 1 và Mẫu 2 để khảo sát nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tự học, kết quả như sau:
- Bảng 2.1: Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tự học
Từ bảng thống kê trên thấy rằng tất cả GV + Cán bộ quản lý và SV đều nhận thức tầm quan trọng của hoạt động tự học trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Cụ thể có đến 80% GV+CBQL và 74% SV nhận định Hoạt động tự học là rất quan trọng; 20% GV và 26% SV nhận định Hoạt động tự học là quan trọng. Không có GV + Cán bộ quản lý và SV nhận định Hoạt động tự học là bình thường và không quan trọng. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Trao đổi với một số Cán bộ quản lý và GV, các thầy cô cho rằng ở thời đại nền khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão ngày nay người học không xác định được tầm quan trọng của việc tự học sẽ bị lạc hậu. Tự học có tác dụng giúp SV rèn luyện kỹ năng học tập, làm việc độc lập và hình thành ý thức kỷ luật. Hoạt động tự học làm tăng thêm khả năng tự đánh giá về năng lực bản thân, hình thành và hoàn thiện các phẩm chất nhân cách.
Trao đổi với các SV nội trú, các em cho rằng tự học giúp SV nắm vững, mở rộng và hiểu sâu sắc hơn những kiến thức đã học trên lớp; hình thành và phát huy tính độc lập, sáng tạo trong học tập. Những kiến thức mà thầy cô giảng dạy trên lớp rất quan trọng, nhưng chỉ là những định hướng, gợi mở các vấn đề lớn. Muốn hiểu rõ hơn những vấn đề đó SV phải nỗ lực trong việc tự học ở nhà.
Sử dụng câu hỏi 2 của Mẫu 1 và Mẫu 2, chúng tôi khảo sát thời gian ngoài giờ học chính khóa SV thường làm gì, nhận định của Cán bộ quản lý và GV về việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của SV, kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.2: Thực trạng thời gian ngoài giờ lên lớp của SV nội trú
Từ bảng số liệu điều tra trên chúng tôi thấy hầu hết các SV đã sử dụng thời gian ngoài giờ học một cách hợp lý. SV thường xuyên ở nhà ngồi chơi chiếm một lượng rất ít (0% ý kiến của SV, nhưng 4% ý kiến của GV+CBQL); 22,8% ý kiến SV và 24% ý kiến GV+CBQL là thường xuyên tham gia các phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao và các hoạt động xã hội khác, trên 60% thường xuyên và thỉnh thoảng ở nhà học bài.
Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng cho thấy có hơn 50% SV sau giờ học là thường xuyên hoặc thỉnh thoảng đi làm thêm. Trao đổi với SV, các em cho biết đa số các em đi làm thêm là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, làm thêm để kiếm tiền phụ thêm cho việc học tại trường, còn một số SV cho biết các em muốn tự lập đi làm thêm để khẳng định mình.
2.2.2 Mục tiêu tự học của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Các hoạt động của các chủ thể đều phải có mục tiêu riêng, hoạt động tự học của sinh viên cũng vậy, các em cũng phải có mục tiêu trong việc tự học của mình. Để tìm hiểu thực trạng này chúng tôi đã sử dụng câu hỏi số 3 của hai Mẫu 1 và Mẫu 2, kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.3: Mục tiêu của hoạt động tự học đối với bản thân cá nhân SV
- Bảng 2.4: Ý kiến của Cán bộ quản lý và GV về mục tiêu hoạt động tự học của SV
Từ các số liệu điều tra trên, chúng tôi thấy:
Có 75,6 % SV cho biết mục tiêu tự học của các em là do yêu thích ngành nghề đang học.
Có 72,8% SV mục tiêu tự học là để có tấm bằng tốt nghiệp ra trường xin việc, mục tiêu này là hoàn toàn chính đáng. Đây cũng chính là lựa chọn của đa số Học sinh sinh viên hiện nay, đó là học những ngành ra trường dễ xin được việc làm.
Các ý kiến của SV về hai mục tiêu của tự học trên phù hợp với ý kiến của 76% GV+CBQL cho rằng đại đa số SV đang học tại trường là do yêu thích ngành nghề và với mục tiêu là để có tấm bằng tốt nghiệp ra trường xin việc. Với những mục tiêu này SV sẽ nỗ lực ý chí, khắc phục khó khăn, để vươn lên trong học tập. Kết quả điều tra còn cho thấy có 16% ý kiến SV cho rằng mục tiêu của tự học là để có học bổng; để ra trường xin được việc làm tốt, có thu nhập cao 19,2 %; để cập nhật các kiến thức liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp 22,4%. Trao đổi với các SV này, chúng tôi thấy phần lớn các em có mục tiêu được học bổng, cũng có mục tiêu ra trường xin được việc làm tốt, có thu nhập cao, đây là những SV có khả năng học tốt, xuất thân từ những vùng quê nghèo hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn, chính sách. Vậy nên các em cố gắng học để có học bổng để giúp một phần nào đó trong việc chi tiêu, tiết kiệm cho gia đình.
Tuy nhiên, còn có 52% SV mục tiêu tự học để không phải thi lại môn học. Trao đổi với những SV này, chúng tôi nhận thấy hầu hết các em có học lực trung bình, các em cố gắng học để thi qua các môn học, để tốt nghiệp ra trường.
2.2.3 Hình thức tự học của SV
Muốn Hoạt động tự học có hiệu quả, SV phải biết lựa chọn những hình thức tự học phù hợp với năng lực bản thân, cũng như của điều kiện thực tế. Để biết các hình thức tự học của SV nội trú, chúng tôi đã dùng câu hỏi số 4 của Mẫu 1 và Mẫu 2. Kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
- Bảng 2.5: Các hình thức tự học của sinh viên
Theo bảng số liệu trên chúng tôi thấy có 75,2% ý kiến của SV và 76% ý kiến của GV+CBQL cho biết và nhận định SV nội trú thường sử dụng hình thức ngồi ở nhà (KTX) để học bài là chính. Chỉ một số ít 18,4% ý kiến của SV và 16% ý kiến của GV+CBQL cho biết là sử dụng hình thức lên thư viện, phòng tự học để học. Số lượng SV tìm gặp thầy, cô và bạn bè để trao đổi nội dung bài học thì chỉ có 11,6% ý kiến của SV và 8% ý kiến của GV+CBQL cho biết và nhận định là sử dụng hình thức này.
Để hiểu rõ thực trạng này, chúng tôi đã trao đổi với một số GV và Cán bộ quản lý, các thầy, cô cho rằng thư viện nhà trường, phòng tự học Ký túc xá chưa tách biệt và yên tĩnh; số lượng đầu sách còn nghèo chưa phong phú về chủng loại; một số sách về chuyên môn còn quá ít; SV học theo vở ghi trên lớp là chủ yếu. Do đó, SV thường ngồi ở nhà để học là chính. Các thầy, cô còn cho biết ít khi thấy SV tìm gặp ngoài giờ học để trao đổi, giải đáp thắc mắc, và thường thấy SV học xong là về Ký túc xá.
Trao đổi với SV, các em cho biết thư viện nhà trường chỉ mở cửa theo giờ hành chính, không mở cửa những ngày nghỉ, nên các em không thường xuyên lên thư viện. Việc các em ít gặp GV ngoài giờ học để trao đổi, giải đáp thắc mắc, một phần các em mắc tâm lý ngại ngần, một phần thấy thời gian lên lớp của các thầy, cô quá nhiều sợ không có thời gian để giải đáp. Do đó ngồi ở nhà học là phương án tối ưu nhất, bạn bè có thể trao đổi thêm nội dung bài học. Trao đổi thêm với SV và GV+CBQL chúng tôi được biết một số SV (9,2% ý kiến SV và 8% ý kiến của GV+CBQL) chọn một số hình thức tự học khác như: tham gia các buổi hội thảo, báo cáo chuyên đề, lên giảng đường để học…
2.2.4 Thời gian dành cho việc tự học của sinh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Thời gian học trên lớp của SV bình quân chỉ hơn 4 giờ/ngày (buổi sáng từ 7h – 11h15, buổi chiều từ 13h -17h15, nghỉ ngày thứ 7 và chủ nhật), khoảng thời gian còn lại của ngày SV tự học, hoặc tham gia các hoạt động phong trào, TDTT, rèn luyện sức khỏe.
Để tìm hiểu thực trạng sử dụng thời gian cho Hoạt động tự học của SV, chúng tôi sử dụng câu hỏi số 5 của Mẫu 1 để khảo sát SV nội trú. Kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.6: Ý kiến của sinh viên nội trú về thời gian tự học của bản thân
Theo kết quả điều tra trên cho thấy có 8,8% SV cho biết các em tự học vào những lúc rảnh rỗi (ngoài thời gian học trên lớp, về nhà là các em tự học). Nếu đối chiếu với mục tiêu của cá nhân SV, thì những em này có mục tiêu học để ra trường xin được việc làm tốt.
Có 32% SV cho rằng thời gian tự học của bản thân là vừa đủ.
Có 42,4% SV cho biết thời gian tự học của bản thân là không nhiều lắm. Trao đổi với các em, chúng tôi được biết một số SV vì hoàn cảnh gia đình nên tranh thủ đi làm thêm ngoài giờ học, một số đi học thêm, tham gia các hoạt động phong trào…
Có 13,6% SV cho biết sự tự học của các em tùy thuộc vào hứng thú của bản thân cá nhân, thời gian dành cho tự học không cố định: ngày học nhiều (trên 8 giờ), ngày học ít và có ngày không học.
Dùng câu hỏi số 5 của Mẫu 2 để lấy ý kiến nhận định của GV và Cán bộ quản lý về thời gian dành cho tự học của SV nội trú, chúng tôi có kết quả như sau:
- Bảng 2.7: Ý kiến của Cán bộ quản lý và GV về thời gian tự học của sinh viên
Theo bảng kết quả 2.7 cho thấy nhận định của GV và Cán bộ quản lý về thời gian dành cho tự học của SV là đúng với thực trạng của SV của nhà trường. Theo nhiều GV cho biết SV bây giờ thời gian dành cho tự học là không nhiều lắm (48% ), không như ngày xưa, thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn, cuộc sống của người dân còn nhiều vất vả, SV học ở trường xong về nhà lại lao vào để tự học, đọc sách, đọc tài liệu…
2.2.5 Phương pháp tự học của sinh viên
Phương pháp tự học có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học của sinh viên. Để biết các em thường sử dụng các phương pháp tự học như thế nào và nhận định của Cán bộ quản lý, GV về việc sử dụng các phương pháp tự học của SV. Chúng tôi đã dùng câu hỏi 6 của hai Mẫu 1 và Mẫu 2, kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.8: Ý kiến của SV về mức độ thực hiện các phương pháp tự học
- Bảng 2.9: Ý kiến của GV và Cán bộ quản lý về mức độ thực hiện các phương pháp tự học của SV
Theo số liệu điều tra (bảng 2.8 và 2.9), chúng tôi thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Hầu hết các phương pháp tự học trên đều được SV sử dụng và phương pháp học thuộc bài giảng của giáo viên trên lớp được SV sử dụng nhiều nhất (ý kiến SV 52% thường xuyên, 28% thỉnh thoảng và ý kiến của GV+CBQL 52% đại đa số, 24% một số). Đây là cách học truyền thống, khá phổ biến. Mặt tích cực của cách học này là SV thu được những kiến thức cơ bản trọng tâm đã được GV lựa chọn và định hướng. Tuy nhiên đây là cách học thụ động như thế đã vô tình trở thành rào cản khiến SV có thể tự mình lĩnh hội được kiến thức, sẽ làm mất đi tính tích cực chủ động, sáng tạo của SV trong quá trình học tập. Vì vậy chất lượng hoạt động học tập của SV chưa cao.
Tiếp đến là các phương pháp kết hợp việc học lý thuyết trên lớp vào thực hành chuyên môn, nghề nghiệp và thông qua các phương tiện thông tin được nhiều SV sử dụng (trên 62% ý kiến của SV và GV+CBQL).
Số SV sử dụng các phương pháp tự học khác như: 54,4% SV thường xuyên và thỉnh thoảng sử dụng phương pháp học các ý chính, cơ bản, trọng tâm của bài học (56% GV+CBQL cùng nhận định); 55,4% thường xuyên và thỉnh thoảng sử dụng phương pháp tham dự các buổi hội thảo, báo cáo chuyên đề và 56,4% SV thường xuyên và thỉnh thoảng sử dụng phương pháp thảo luận theo tổ, nhóm các vấn đề giáo viên nêu (54% GV+CBQL cùng nhận định). Các phương pháp này giúp SV hiểu được bản chất vấn đề từ đó đem lại kết quả và chất lượng trong học tập. Tuy nhiên tỷ lệ số lượng SV thường xuyên sử dụng phương pháp này không cao.
Ngoài ra, còn có 60,4% SV không lập kế hoạch tự học cho từng môn cụ thể (64% GV+CBQL cùng nhận định); 58,4% SV không sử dụng phương pháp phát hiện và lựa chọn vấn đề tự học (60% GV+CBQL cùng nhận định; 52,8% SV không trao đổi thắc mắc với thầy cô và bạn bè; 52,8 SV không sử dụng phương pháp tham vấn kinh nghiệm của những người đã đi trước. Đây là những số liệu không nhỏ làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của SV. Như vậy, theo kết quả điều tra trên chúng tôi thấy hầu hết SV mới chỉ sử dụng các phương pháp tự học thụ động đã có truyền thống từ lâu. Các phương pháp học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác của người học chưa được sử dụng nhiều. Điều này đòi hỏi Cán bộ quản lý và GV của nhà trường cần phải có các biện pháp để giúp SV thay đổi phương pháp tự học của mình phù hợp với các yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong xu thế toàn cầu hóa.
2.2.6. Các kỹ năng tự học của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Chúng ta đã biết hiệu quả của các hành động học tập tự học cao hay thấp tùy thuộc vào kỹ năng thực hiện các hành động đó. Vậy nên chúng tôi rất quan tâm đến kỹ năng tự học của SV.
Dùng câu hỏi số 7 của hai Mẫu 1 và Mẫu 2 để khảo sát kỹ năng tự học của SV và ý kiến của GV+CBQL về kỹ năng tự học của SV, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.10: Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học của sinh viên
Theo kết quả điều tra bằng phiếu hỏi (bảng 2.10) và quá trình quan sát, trao đổi với SV, GV và Cán bộ quản lý, chúng tôi nhận thấy trong Hoạt động tự học hầu hết SV đều thực hiện các kỹ năng tự học. Nhưng việc sử dụng thành thạo các kỹ năng trên chỉ có số ít SV thực hiện được.
Về việc thực hiện thành thạo các kỹ năng: Chỉ duy nhất kỹ năng ghi chép bài trên lớp đầy là có 45,6% SV thực hiện thành thạo (44% GV+CBQL cùng chung ý kiến). Tiếp đến là kỹ năng giải bài tập nhận thức, có 22,4% SV thực hiện thành thạo (20% GV+CBQL cùng chung ý kiến). Thấp nhất là kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học, chỉ có 6,8% SV thực hiện thành thạo (8% GV+CBQL cùng chung ý kiến).
Về việc không thực hiện các kỹ năng: Có đến 38,4% SV không thực hiện việc lập đề cương, dàn ý của bài học sau khi học trên lớp (36% GV+CBQL cùng chung ý kiến). Tiếp đến là kỹ năng đọc giáo trình, tài liệu liên quan đến bài học trước và sau khi học, có 36% ý kiến SV và 36% ý kiến GV+CBQL là không thực hiện.
Còn lại đại đa số SV có tham gia thực hiện các kỹ năng nhưng chỉ ở mức độ lúng túng, tỷ lệ SV được đánh giá ở mức độ này vào khoảng 40% – 62%.
Kết quả điều tra trên cho thấy SV chưa nắm chắc và sử dụng tốt các kỹ năng tự học, ngay cả kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá việc học của bản thân và một kỹ năng rất quan trọng và cần thiết cho các môn học là đọc giáo trình, tài liệu liên quan đến bài học trước và sau khi học thì tỷ lệ thành thạo còn thấp, thậm chí có SV không thực hiện được.
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại ký túc xá Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
2.3.1 Về tổ chức bộ máy quản lý tự học của sinh viên
Xác định đúng đắn tầm quan trọng của hoạt động tự học có vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách của SV. Nhiều năm qua Ký túc xá Ngoại Ngữ luôn quan tâm chỉ đạo công tác quản lý, giáo dục Học sinh sinh viên trong đó có quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho sinh viên.
Ngày 9/1/2019 Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định số 52/QĐ – TCCB về việc bổ sung chức năng nhiệm vụ và đổi tên Trung tâm Nội trú sinh viên thành Trung tâm Hỗ trợ sinh viên.
Từ đây Ký túc xá có chức năng nhiệm vụ mới ngoài việc chăm lo đời sống, sinh hoạt cho Học sinh sinh viên còn tăng cường công tác hỗ trợ, phối hợp với các phòng ban chức năng nhà trường để quản lý Học sinh sinh viên nâng cao chất lượng học tập SV nội trú.
Ban quản lý Ký túc xá phối hợi với các khoa, giáo viên chủ nhiệm, lực lượng ngoài Ký túc xá là Công an phường Dịch Vọng Hậu và chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục, rèn luyện Học sinh sinh viên ở trong khu nội trú: thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện nội quy Ký túc xá, kết hợp kiểm tra điểm danh Học sinh sinh viên; ngăn chặn và xử lý kịp thời các biểu hiện vi phạm đạo đức, nếp sống trong Học sinh sinh viên nội trú nhằm tạo một môi trường tốt, lành mạnh cho SV học tập và rèn luyện.
Tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Ký túc xá thành lập Ban đại diện sinh viên là cầu nối giữa Học sinh sinh viên với Ban quản lý nhằm nắm bắt tâm tư nguyện vọng của HSSV nội trú và hỗ trợ Ban quản lý Ký túc xá trong việc đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện nội quy.
Tăng cường đầu tư trang thiết bị, Cơ sở vật chất để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về Cơ sở vật chất, trang thiết học tập của SV.
2.3.2 Về kế hoạch quản lý Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Để nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường cần phải xây dựng kế hoạch quản lý tự học của Học sinh sinh viên nội trú và đây là một trong những biện pháp có hiệu quả. Vấn đề này đã được BGĐ và Cán bộ quản lý các Ký túc xá nhận thức rõ.
Thực tế cho thấy, việc xây dựng kế hoạch quản lý tự học của SV nội trú chưa được chặt chẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động tự học của SV chưa cao. Cụ thể chưa hướng dẫn và kiểm tra SV xây dựng kế hoạch tự học, cho từng học kỳ, cho từng tháng, từng tuần và từng môn học cụ thể. Phần lớn SV chưa xây dựng được kế hoạch tự học, giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn cũng không thường xuyên kiểm tra đôn đốc chấn chỉnh kịp thời.
2.3.3 Về chỉ đạo, giám sát thực hiện và đánh giá
Chúng tôi sử dụng câu hỏi số 8 của Mẫu 1 và Mẫu 2 để đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động tự học của SV nội trú, kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.11: Ý kiến của sinh viên nội trú về quản lý hoạt động tự học
- Bảng 2.12: Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV về việc quản lý hoạt động tự học của SV
Từ các bảng số liệu trên, chúng tôi thấy:
- Về tạo ra phong trào tự học, tự rèn luyện trong sinh viên
Có đến 48,8% ý kiến của sinh viên và 52% ý kiến của Cán bộ quản lý+GV cho rằng: việc tạo ra phong trào tự học, tự rèn luyện trong sinh viên là tương đối tốt, thậm chí có 40,8% ý kiến của sinh viên và 36% ý kiến của Cán bộ quản lý+GV cho rằng chưa tốt.
Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã trao đổi trực tiếp với một số Giáo viên chủ nhiệm và sinh viên cho biết: các phong trào tự học, tự rèn luyện trong Học sinh sinh viên mới dừng ở bề nổi như các hoạt động tuyên truyền “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, hay là các hoạt động “đăng ký giờ dạy tốt, giờ học tốt, buổi thi kiểm tra tốt” nhân chào mừng kỷ niệm ngày 20/11 hàng năm, trao quà, học bổng cho các Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vượt khó trong học tập và rèn luyện nhân ngày 26/3. Các phong trào hoạt động này còn mang tính thời vụ, chưa được
tổ chức thường xuyên. Nhà trường cần phải thường xuyên phát động tổ chức, định hướng cho các phong trào đi vào chiều sâu và cần có sự phối hợp đồng bộ giữa CB, GV, Học sinh sinh viên và các tổ chức đoàn thể trong trường trong các hoạt động. Cần huy động nguồn lực của các tổ chức, đơn vị ngoài trường trong việc tạo phong trào này.
- Về quản lý hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch tự học
Khảo sát cho thấy 55,6% ý kiến của SV và 52% ý kiến của Cán bộ quản lý + GV cho rằng việc quản lý hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch tự học chưa tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã tiếp xúc với một số sinh viên là cán bộ lớp phụ trách học tập thì được biết một số giáo viên nhiều tuổi, có kinh nghiệm thường hay hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch tự học, còn các giáo viên trẻ, mới ra trường thì ít hướng dẫn. Tiếp xúc với một số GV + Cán bộ quản lý, các thầy, cô lại cho rằng trong các hội nghị triển khai kế hoạch đào tạo đầu năm học, cũng như tại các buổi giao ban họ không được chỉ đạo phải hướng dẫn SV lập kế hoạch tự học, nên hầu hết SV không có kế hoạch tự học cho bản thân, mà các em thích học thế nào thì học.
- Về quản lý nội dung tự học
Có 58,4% ý kiến SV và 52% ý kiến của GV+CBQL cho rằng việc quản lý nội dung tự học của SV chưa tốt.
Tiếp xúc với GV+CBQL, các thầy, cô cho rằng hàng ngày sau khi dạy xong tiết học, buổi học thường cho SV các nội dung tự học, nhưng kiểm tra hoạt động tự học của SV còn hạn chế, mỗi buổi dạy chỉ kiểm tra được khoảng 5-6 SV.
Tiếp xúc với SV, các em cho rằng nội dung tự học chủ yếu do giáo viên giảng dạy trên lớp giao cho, hầu hết trong khuôn khổ nội dung chương trình bài học, môn học. Chưa có nội dung tự học ngoài chương trình bài học, môn học trên lớp của SV. Còn lực lượng cán bộ quản lý Ký túc xá và đội SV Ban đại diện chỉ quan tâm ngoài giờ học chính khóa về Ký túc xá SV có ngồi tự học hay không, chứ họ không có chuyên môn để kiểm tra nội dung tự học của SV.
- Về quản lý việc hướng dẫn cho SV các phương pháp tự học
Qua điều tra cho thấy 55,6% ý kiến SV và 52% ý kiến của GV+CBQL cho rằng chất lượng quản lý hướng dẫn cho SV các phương pháp tự học chưa tốt.
Trao đổi với GV, chúng tôi được biết đa số GV lên lớp chỉ thực hiện việc dạy, việc hướng dẫn SV các phương pháp tự học còn hạn chế hoặc chưa hướng đẫn vì điều kiện thời gian lên lớp không cho phép. Tiếp xúc với SV, chúng tôi được thông tin SV ít được hướng dẫn phương pháp tự học các môn học. Các lớp không tổ chức được hội nghị bàn về các phương pháp học tập. Việc tổ chức tọa đàm bàn về phương pháp tự học của các khoa chưa tạo thành một hoạt động thường xuyên, ít được tổ chức. Còn cán bộ quản lý Ký túc xá và đội SV Ban đại diện họ không có chuyên môn và chức năng trong công việc này.
- Về quản lý thời gian tự học của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Có 24% ý kiến của SV và 16% ý kiến của GV+CBQL đánh giá việc quản lý thời gian cho tự học của SV là chưa tốt.
Tuy nhiên, khi trao đổi với một số GV và Cán bộ quản lý, chúng tôi được biết họ chỉ chịu trách nhiệm quản lý SV khi SV đang học tại lớp, tại trường, còn ngoài thời gian này họ không có trách nhiệm. Ở Ký túc xá SV làm gì, tự học, đi làm thêm hay đi chơi… đó là trách nhiệm của cán bộ quản lý Ký túc xá.
Trao đổi với SV, chúng tôi thấy việc quản lý thời gian tự học của SV nội trú chỉ thực hiện vào các buổi tối, vào những thời gian đó cán bộ quản lý Ký túc xá và đội TNTN thường hay đi kiểm tra, nhắc nhở. Còn buổi ngày, việc sử dụng thời gian dành cho tự học tùy thuộc vào ý thức tự giác của mỗi SV, có SV đi làm thêm, có SV tự học, có SV đi chơi Trao đổi với cán bộ quản lý Ký túc xá, chúng tôi được biết việc quản lý thời gian tự học của SV buổi ngày là rất khó khăn. Bởi vì lịch học chính khóa của SV mỗi lớp khác nhau là khác nhau, lớp học buổi sáng, lớp học buổi chiều nên ảnh hưởng đến công tác quản lý; tiếp đến, ngoài giờ học, SV có thể phải tham gia một số hoạt động phong trào của nhà trường, của các tổ chức đoàn thể, tham gia các hội thảo, báo cáo chuyên đề. nên cũng khó quản lý; ngoài ra, SV có thể lên giảng đường, thư viện để học bài nên cũng không quản lý được.
- Về quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị
Khảo sát cho thấy số ý kiến đánh giá về điều kiện cơ sở vật chất rất tốt và tương đối tốt chiếm trên 75,6%, tuy nhiên vẫn có 24,4% ý kiến của SV và 20% ý kiến của GV+CBQL đánh giá là chưa tốt. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã tiếp xúc với một số GV, Cán bộ quản lý và SV để trao đổi về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường và Ký túc xá. Các ý kiến cho rằng về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc tự học của SV còn hạn chế. Một số đầu sách chuyên môn, chuyên ngành còn thiếu và chưa có, dung lượng mạng máy tính còn thấp, số lượng nhân viên phục vụ còn thiếu và chưa chuyên nghiệp. Thời gian mở cửa phục vụ của thư viện còn theo giờ hành chính.
Khảo sát điều kiện ở của SV nội trú trong Ký túc xá, chúng tôi thấy số phòng ở khép kín mới chiếm 100%, số lượng SV trong một phòng tương đối đông (từ 8 SV/phòng, cá biệt có những phòng lớn chứa đến 10 SV). Các phòng ở chưa có chỗ để kê bàn học. Giường nằm của SV được gắn thêm bàn học ở cuối giường, nhưng qua thời gian sử dụng đã bị hỏng gần hết, SV phải tự mua bàn gấp nhỏ đặt lên giường để học. Số lượng SV trong một phòng ở tương đối đông và tính cách mỗi người mỗi khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tự học của SV trong Ký túc xá.
- Về quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viên
Đánh giá quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả tự học của SV, có 64% ý kiến của SV và 64% ý kiến của GV+CBQL cho rằng chất lượng quản lý chưa tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
Trao đổi với một số giảng viên, chúng tôi được biết việc kiểm tra đánh giá kết quả tự học của SV được GV tiến hành trong quá trình lên lớp bằng các bài kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ.
Tiếp xúc và trao đổi với một số Cán bộ quản lý và SV chúng tôi được biết, hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính mới được áp dụng đối với một số môn. Các môn chuyên môn, hầu hết thi, kiểm tra bằng hình thức tự luận hoặc vấn đáp. Đề thi, kiểm tra tự luận chưa làm cho SV phải vận dụng tổng hợp tri thức, kỹ năng đã có để giải quyết vấn đề, chưa khuyến khích SV tìm tòi sáng tạo, chưa buộc SV phải tích cực hơn nữa trong hoạt động tự học. Còn hình thức thi vấn đáp, nhiều lúc chưa đánh giá được thực chất kiến thức của SV, còn có GV cho điểm theo mối quan hệ.
2.3.4 Đánh giá chung về thực trạng
2.3.4.1 Điểm mạnh, mặt hạn chế.
- Điểm mạnh:
Đảng ủy, Ban giám hiệu, thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào tạo của nhà trường nói chung và quản lý hoạt động tự học nói riêng.
Sự phối hợp đồng bộ, có hiệu quả của các đơn vị phòng, khoa, trung tâm trong công tác quản lý giáo dục Học sinh sinh viên.
Nhà trường có đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm thực tế, nhiệt tình, tâm huyết và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và quản lý.
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo dục Học sinh sinh viên nội trú có nhiều kinh nghiệm lâu năm trong công tác quản lý, có trách nhiệm cao với công việc.
- Mặt hạn chế:
Cơ sở vật chất tuy được đầu tư hàng năm, nhưng 100% dựa vào nguồn ngân sách của nhà nước nên vẫn chưa đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi để nâng cao chất lượng dạy và học.
Trang thiết bị phòng ở của SV khu nội trú phục hoạt động tự học còn thiếu và chưa đáp ứng nhu cầu.
Ý thức thái độ học tập của một bộ phận SV còn yếu kém, không có ý thức vươn lên trong học tập và rèn luyện. Nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động tự học còn chưa đều.
Một số giáo viên chủ nhiệm còn ít kinh nghiệm và chưa có trách nhiệm cao với công việc.
Công tác kiểm tra đánh giá còn nặng về học lý thuyết thuộc lòng ghi nhớ máy móc; công tác thi cử chưa thực sự nghiêm túc, còn để hiện tượng SV gian lận trong làm bài. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
2.3.4.2 Nguyên nhân của hạn chế
Muốn SV tự học tốt thì ngoài việc dạy tốt thì giáo viên phải hướng dẫn cho SV cách học tốt nhất. Tuy nhiên sự quan tâm của thầy và trò của nhà trường đến việc tạo phong trào tự học, tự rèn luyện, quản lý xây dựng kế hoạch tự học, quản lý việc hướng dẫn các phương pháp tự học và quản lý thời gian tự học chưa đúng mức. Việc kiểm tra đánh giá kết quả tự học chưa thường xuyên và kịp thời.
Sự phối, kết hợp giữa các đơn vị chức năng của nhà trường trong việc quản lý Hoạt động tự học cho SV nội trú thiếu đồng bộ và chưa chặt chẽ.
Tiểu kết chương 2
Công tác quản lý hoạt động tự học của Học sinh sinh viên bước đầu đã được quan tâm, nhà trường đã đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động tự học phù hợp với điều kiện thực tế. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong nhà trường nhiều lúc chưa nhịp nhàng, việc quản lý kế hoạch tự học, quản lý nội dung tự học, quản lý phương pháp tự học, quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ việc học tập của Học sinh sinh viên nói chung và của SV nội trú nói riêng còn hạn chế, chưa được quan tâm thường xuyên. SV đã nhận thức được một cách đúng đắn tầm quan trọng của hoạt động tự học, nhưng các em chưa thường xuyên sử dụng các phương pháp tự học có hiệu quả. Phần lớn SV chưa tự lực thực hiện các kỹ năng tự học, cho nên việc tự học của các em rất vất vả mà chất lượng không cao, kết quả học tập của các em còn hạn chế.
Từ kết quả nghiên cứu về thực trạng hoạt động tự học của SV nội trú tại Ký túc xá Ngoại Ngữ cho thấy cần phải có các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
