Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Trình tự xử lý dữ liệu
Các dữ liệu thứ cấp cần thu thập của 21 Ngân hàng thương mại Việt Nam được lấy từ các BCTC đã được kiểm toán từ năm 2015 – 2024. Dữ liệu được thiết kế dưới dạng bảng với từng nhóm của mỗi Ngân hàng thương mại tương ứng theo từng năm. Phương pháp này được ước lượng thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0, trích xuất tại Phụ lục 2 và theo trình tự như sau:
3.1.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Phân tích tình hình biến động tỷ lệ nợ xấu của 21 Ngân hàng thương mại Việt Nam , thông qua giá trị trung bình được tính riêng tại mỗi năm. Sau đó mô tả rõ ràng nhất các đặc tính của các biến số trong mô hình đó là giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, trung bình và độ lệch chuẩn. Từ đó tác giả có thể đánh giá tình hình tổng quát chung của các biến số cũng như dữ liệu nghiên cứu có hay không sai lệch bước đầu.
3.1.2. Phân tích tương quan của các biến số độc lập
Một trong số các giả định của hồi quy tuyến tính là không có tương quan giữa các biến độc lập với nhau và khi giả thuyết này bị vi phạm thì hiện tượng đa cộng tuyến có thể xảy ra. Thông qua ma trận tương quan nhằm kiểm tra mối quan hệ tương quan giữa các biến số trong mô hình, kiểm tra mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau. Nếu sự tương quan giữa các cặp biến độc lập vượt qua ngưỡng 0,8 thì sẽ có khả năng xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến giữa chúng trong mô hình.
3.1.3. Phân tích hồi quy Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
Mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS): Mô hình này theo phương pháp bình phương nhỏ nhất với dữ liệu bảng, đây là mô hình giản đơn và cơ bản nhất khi hồi quy các biến số. Với phương pháp OLS này thì giả định đặt ra không tồn tại khác biệt giữa các đơn vị chéo, tung độ gốc α được dùng chung cho các đơn vị chéo. Do đó, mô hình này không phản ánh sự khác biệt giữa các đơn vị chéo tại mẫu nghiên cứu, do cả hai tham số ước lượng không thay đổi với đơn vị chéo. Nhưng phương pháp này dễ xuất hiện tự tương quan chuỗi, thể hiện qua hệ số d (hệ số Durbin Watson thấp) nên kết quả ước lượng kém chất lượng và thiếu sự tin cậy.
Mô hình tác động cố định (FEM): Để khắc phục các nhược điểm của mô hình Pooled OLS về sự không đồng nhất của các đơn vị chéo thì mô hình FEM sẽ tính đến đặc trưng riêng của các đơn vị chéo. Với FEM thì các hệ số hồi quy riêng có giả định giống nhau với các đơn vị chéo nhưng hệ số chặn lại có tính phân biệt. Đặc biệt, trong mô hình FEM thì mỗi thành phần của mẫu nghiên cứu đều có những điểm riêng thuộc các đối tượng hay thời gian khác nhau và được xem như các hằng số có khả năng tác động đến các biến độc lập. Do đó, mô hình FEM sẽ phân tích sự liên hệ giữa các phần dư với từng đơn vị của biến độc lập để kiểm soát và tách sự tác động của các đặc trưng riêng rẻ (không thay đổi với thời gian) khỏi các biến số độc lập.
Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM): Mô hình này thì lại tập trung vào việc xác định các hệ số chặn khác nhau với từng đơn vị chéo, tác động chung của các biến độc lập. Với những hệ số chặn tại các đơn vị chéo phát sinh bởi một hệ số chặn chung không thay đổi theo thời gian hay các đối tượng. Mỗi biến ngẫu nhiên là một thành phần sai số thay đổi theo đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian (với thành phần của sai số là biến số không quan sát được thể hiện các sự tác động của yếu tố không quan sát được bằng cách trực tiếp). Do đó, thay vì tiếp cận trực tiếp mỗi đặc điểm riêng của các đơn vị hay cách chúng tương quan với biến độc lập, thì REM xem xét những đặc điểm này là các biến số ngẫu nhiên không tương quan với biến độc lập và được xem là những cơ sở để giải thích sự tác động đến biến phụ thuộc. Vì vậy, tại những tình huống nghiên cứu mà có sự khác biệt với các đơn vị tác động đến biến phụ thuộc thì mô hình REM có phần tối ưu hơn mô hình FEM.
3.1.4. Kiểm định lựa chọn mô hình
3.1.4.1. Lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM
Để lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định F – test, với giả thuyết H0 là không có khác biệt giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác khau nên Pooled OLS phù hợp. Giả thuyết H1 là tồn tại sự khác biệt giữa giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác khau nên FEM phù hợp. Nếu P – value lớn hơn 5% chấp nhận H0 có nghĩa là Pooled OLS phù hợp và ngược lại. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
3.1.4.2. Lựa chọn mô hình FEM và REM
Để lựa chọn mô hình FEM và REM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định Hausman, với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là phần dư tương quan không xuất hiện với các biến độc lập trong mô hình hồi quy, tương ứng với REM được chọn. H1 là phần dư tương quan xuất hiện với các biến độc lập trong mô hình hồi quy, tương ứng với FEM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của Hausman để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình FEM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình REM.
3.1.5. Kiểm định hiện tượng khuyết tật của mô hình được chọn
Hiện tượng đa cộng tuyến: Kiểm định này nhằm phát hiện các biến số độc lập có tương quan cao với nhau hay không. Nếu các cặp biến độc lập tương quan quan cao với nhau thì mô hình xảy ra đa cộng tuyến (Hoàng Ngọc Nhậm, 2007). Hiện tượng này sẽ được kiểm định thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại đa cộng tuyến, H1 là mô hình tồn tại đa cộng tuyến. Nếu VIF của các biến số và trung bình trong mô hình thấp hơn 10 thì giả thuyết H0 được chấp nhận hay không có đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu và ngược lại.
Hiện tượng phương sai sai số thay đổi: Kiểm định nhằm xác định mô hình có xuất hiện phương sai của các phần dư khác hằng số, nó sẽ làm cho các quan sát có sự sai khác và mất đi tính phân phối ngẫu nhiên của dữ liệu. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại phương sai sai số thay đổi, H1 là mô hình tồn tại phương sai sai số thay đổi. Nếu P – Value của kiểm định Breusch – Pagan Lagrangian lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 – không tồn tại phương sai sai số thay đổi. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 – có tồn tại phương sai sai số thay đổi.
Hiện tượng tự tương quan: Kiểm định này nhằm xác định sự tự tương quan của các biến quan sát trong mẫu, nếu xuất hiện thì sẽ tạo sự sai lệch trong dữ liệu và mô hình. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại tự tương quan, H1 là mô hình tồn tại tự tương quan. Nếu P – Value của kiểm định Wooldridge lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 – không tồn tại tự tương quan. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 – có tồn tại tự tương quan.
3.1.6. Khắc phục các hiện tượng khuyết tật bằng phương pháp FGLS
Trong trường hợp mô hình gặp hiện tượng phương sai thay đổi hoặc tự tương quan hoặc thậm chí có cả hai khuyết tật này thì tiến hành khắc phục mô hình nghiên cứu bằng cách tác giả sẽ áp dụng phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square) để khắc phục mô hình, và đây cũng sẽ là mô hình cuối cùng được sử dụng để xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam. Phương pháp này sẽ tập trung vào việc khắc phục sửa sai cho các phương sai, độ lệch chuẩn và tạo tính ổn định cho sự biến thiên của dữ liệu nhằm đưa ra kết quả thỏa mãn với giả thuyết bình phương nhỏ nhất theo tiêu chuẩn. Đồng thời, sau khi khắc phục theo FGLS thì mô hình hồi quy đa biến mới được thiết lập, từ đó sẽ dựa trên hệ số hồi quy của các biến số, P – Value tương ứng và mức ý nghĩa 5% để xem xét việc kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đề xuất là phù hợp hay không? Sau đó, dựa trên kết luận giả thuyết đó tiến hành thảo luận so sánh với các nghiên cứu trước đây.
3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
3.2.1. Mô hình nghiên cứu
Qua quá trình tổng hợp lý thuyết liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại và lược khảo các công trình nghiên cứu liên quan thì tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu của Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) làm nghiên cứu gốc để kế thừa và phát triển. Việc lựa chọn nghiên cứu của Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) làm nghiên cứu gốc xuất phát từ hai lý do chính, kết hợp cả tính cập nhật và sự đầy đủ về mặt phân tích. Thứ nhất, nghiên cứu này có tính cập nhật cao do được thực hiện tại Việt Nam với dữ liệu kéo dài đến năm 2022, cung cấp một góc nhìn hiện đại và phù hợp với bối cảnh kinh tế trong nước. Thứ hai, nghiên cứu của Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) có sự phân tích sâu hơn về các yếu tố kinh tế vĩ mô mà các công trình trước đó thường ít đề cập. Điều này đặc biệt quan trọng khi xem xét tác động của lạm phát đến tỷ lệ an toàn vốn. Lạm phát thường xuyên thay đổi khiến giá cả biến động, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư và kinh doanh của ngân hàng. Khi lạm phát tăng, Ngân hàng Nhà nước có thể phải thắt chặt chính sách tiền tệ, làm lãi suất cho vay tăng cao. Điều này không chỉ gây khó khăn cho việc tìm kiếm khách hàng mà còn làm giảm chất lượng tín dụng, dẫn đến nợ xấu tăng lên. Sự gia tăng nợ xấu kéo theo chi phí dự phòng rủi ro tăng, làm giảm lợi nhuận và tổng vốn tự có của ngân hàng. Đồng thời, tài sản có rủi ro lại gia tăng, gây áp lực làm giảm tỷ lệ an toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel. Mặt khác, lạm phát cao cũng làm giảm sức mua của đồng tiền, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng và làm gia tăng rủi ro về an toàn vốn.
Vì vậy, mô hình nghiên cứu được thành lập như sau: CAR = α + β1*SIZE + β2*ROA + β3*LIQ+ β4*LLR + β5*LEV + β6*ME + β7*GDP + β8*CPI + β9*STA + β10*COVID
Trong đó: CAR là tỷ lệ an toàn vốn; SIZE là quy mô ngân hàng; ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản; LIQ là tỷ lệ thanh khoản; LLR là tỷ lệ dự phỏng Rủi ro tín dụng; LEV là tỷ lệ Vốn chủ sở hữu; ME là tỷ lệ chi phí hoạt động; GDP là tăng trưởng kinh tế; CPI là lạm phát; STA là cấu trúc sở hữu Nhà nước; COVID là đại dịch Covid 19. Các hệ số βj là hệ số góc của các biến độc lập. Nguyên nhân tác giả lựa chọn các biến độc lập này để đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn.
3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
3.2.2.1. Đối với quy mô ngân hàng
Bateni và cộng sự (2014) cho rằng các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của mình có xu hướng muốn gia tăng tài sản hay quy mô của mình để mở rộng thị phần trong nền kinh tế. Do đó, sẽ liên tục đầu tư cho các loại tài sản kể cả tài sản có thanh khoản cao hay tài sản có rủi ro cao. Chính vì điều đó là cho việc bổ sung các nguồn vốn nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn sẽ giảm xuống (Hadjixenophontos và Volos, 2018; Võ Hồng Đức và cộng sự, 2014). Quy mô ngân hàng thể hiện năng lực và sức mạnh tài chính của ngân hàng, việc phát triển quy mô cần gắn liền với việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn bền vững.Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H1: Quy mô ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.2. Đối với tỷ suất lợi nhuận
Skylly và cộng sự (2009) cho rằng ngân hàng hoạt động kinh doanh thuận lợi làm cho ROA được gia tăng. Hay nói cách khác ROA tăng cao cũng tạo điều kiện cho việc ngân hàng có thể tận dụng lợi nhuận để giữ lại bổ sung cho các nguồn vốn trong ngân hàng.
Điều này giúp hạn chế việc đi vay nợ các tổ chức khác nhằm giảm thiểu được áp lực thanh toán và nâng cao tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng để đối mặt trước những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai (Đào Thị Thanh Bình và Nguyễn Ánh Kiều, 2020). Tỷ suất lợi nhuận cao cho thấy khả năng sinh lời tốt, tạo điều kiện thuận lợi để tăng vốn chủ sở hữu, từ đó làm tăng tử số trong công thức tính CAR. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H2: Tỷ suất lợi nhuận ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.3. Đối với tỷ lệ thanh khoản Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
Skylly và cộng sự (2009) cho rằng khi tỷ lệ vốn đầu tư bằng tiền mặt hoặc tiền mặt tương đương tăng, nguy cơ thanh khoản của ngân hàng sẽ giảm và ngược lại khi tỷ lệ vốn đầu tư bằng tiền mặt hoặc tiền mặt tương đương giảm thì nguy cơ thanh khoản ngân hàng tăng lên. Khi nguy cơ thanh khoản của ngân hàng giảm sẽ dẫn đến phí bảo hiểm thanh khoản thấp hơn trong lãi suất ròng. Do đó, sự gia tăng thanh khoản của ngân hàng có thể có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ vốn (Võ Hồng Đức và cộng sự, 2014). Tỷ lệ thanh khoản cao làm giảm nguy cơ mất khả năng thanh khoản, qua đó đảm bảo an toàn vốn. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H3: Tỷ lệ thanh khoản ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.4. Đối với tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Hadjixenophontos và Volos (2018) cho rằng chất lượng tín dụng được biểu đạt thông qua tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Tỷ lệ này càng gia tăng thì ngân hàng càng bị đe dọa rủi ro hoạt động, các dòng lợi nhuận của ngân hàng thay vì giúp ngân hàng mở rộng kinh doanh hay bổ sung nguồn vốn tự có thì phải dành để dự phòng cho các khoản nợ quá hạn hay nợ không thu hồi được của khách hàng. Mặt khác, chi phí dự phòng rủi ro so với tổng dư nợ của ngân hàng trong bảng cân đối kế toán, đại diện cho khoản dự phòng đủ để bù đắp các khoản lỗ ước tính trong danh mục cho vay. Do đó, tỷ lệ an toàn vốn tại ngân hàng từ đó sẽ suy giảm và không đảm bảo. Tỷ lệ này ảnh hưởng đến lợi nhuận và khả năng bổ sung vốn tự có của ngân hàng, từ đó tác động đến tỷ lệ an toàn vốn.Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H4: Tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.5. Đối với tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Bateni và cộng sự (2014) cho rằng các Ngân hàng thương mại đa phần sẽ tập trung vào các nguồn vốn từ huy động của các đối tượng trong nền kinh tế, để thực hiện chức năng trung gian tài chính của mình. Tuy nhiên, các nguồn vốn này buộc các Ngân hàng thương mại phải cam kết chi trả các khoản gốc lãi khi đến hạn. Do đó, ngoài các khoản từ huy động thì các Ngân hàng thương mại thường mong muốn làm dồi dào nguồn vốn từ các cổ đông hay chủ sở hữu thật sự từ công ty. Đây được xem là các nguồn vốn dài hạn và giúp Ngân hàng thương mại thuận tiện trong việc sắp xếp hoạt động kinh doanh và tạo sự an toàn về vốn. Tỷ lệ nợ vay cao có thể làm tăng rủi ro tín dụng nếu không được sử dụng hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng bổ sung vốn tự có và tỷ lệ an toàn vốn. Do đó, các Ngân hàng thương mại cần tập trung vào nguồn vốn từ các cổ đông hay chủ sở hữu nhằm gia tăng sự an toàn. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
- H5: Tỷ lệ Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.6. Đối với tỷ lệ chi phí hoạt động
Đào Thị Thanh Bình và Nguyễn Ánh Kiều (2020) cho rằng chi phí hoạt động của Ngân hàng thương mại tăng cao nghĩa là nó sẽ làm giảm trực tiếp lợi nhuận ròng của ngân hàng. Lợi nhuận ròng là nguồn chính để bổ sung vào vốn chủ sở hữu, đặc biệt là lợi nhuận giữ lại, một thành phần cốt lõi của vốn cấp 1. Do đó, lợi nhuận giảm sẽ làm suy yếu khả năng tự tăng vốn của ngân hàng, trực tiếp làm giảm tử số trong công thức tính CAR (Vốn tự có / Tài sản có rủi ro). Tóm lại, sự kém hiệu quả trong việc quản lý chi phí sẽ làm giảm lợi nhuận, từ đó làm giảm khả năng tích lũy vốn tự có, dẫn đến hệ số CAR sụt giảm. Chi phí hoạt động cao thể hiện hiệu quả kém, làm giảm lợi nhuận và từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến an toàn vốn.Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H6: Tỷ lệ chi phí hoạt động ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.7. Đối với tăng trưởng kinh tế
Yahaya và cộng sự (2016) cho rằng trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khả quan, rủi ro thấp và các ngân hàng giữ tỷ lệ vốn thấp và đầu tư nhiều hơn vào các ngành tài chính khác, trong khi đó ngân hàng có thể cần vốn tương đối cao hoặc có thể phải đối mặt với tổn thất kinh tế đột xuất, để phòng ngừa rủi ro mà các ngân hàng duy trì tỷ lệ vốn cao (Đỗ Hoài Linh và cộng sự, 2019). Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho ngành ngân hàng, giúp đảm bảo nguồn vốn và tỷ lệ an toàn vốn.Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H7: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.8. Đối với lạm phát Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
Yahaya và cộng sự (2016) cho rằng lạm phát có dấu hiệu tiêu cực đến nền kinh tế khi sức mua đồng tiền giảm xuống, sự tiêu thụ hàng hóa trở nên trì trệ, hoạt động ngân hàng từ đó cũng sẽ chậm lại hay gặp nhiều khó khăn hơn. Lạm phát cao dẫn đên lãi suất thực giảm và ngược lại nhưng lãi suất danh nghĩa lại tăng là sự phát triển tiêu cực của người vay vì họ có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán hóa lãi suất cao hơn. Lãi suất cao hơn làm tăng nguy cơ vỡ nợ của người đi vay; do đó, đây là nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng vốn tự có của ngân hàng nhằm nâng cao tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng bị hạn chế. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H8: Lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2.2.9. Đối với cấu trúc sở hữu Nhà nước
Hiện nay tại Việt Nam có hai loại hình nhóm Ngân hàng thương mại phổ biến đó là chiếm trên 51% vốn sở hữu Nhà nước và tư nhân chiếm đa số. Do đó, khi Nhà nước có nguồn vốn sở hữu nhiều hơn sẽ ảnh hưởng lớn đến Ngân hàng thương mại về các chính sách, chiến lược hay thắt chặt về các quy định liên quan đến hoạt động trong đó có tỷ lệ an toàn vốn. Đặc biệt, các Ngân hàng thương mại có vốn sở hữu Nhà nước lớn thường sẽ xu hướng duy trì sự ổn định trong hoạt động, do đó tỷ lệ an toàn vốn thường được yêu cầu cao hơn nhóm các Ngân hàng thương mại tư nhân. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H9: Các Ngân hàng thương mại Việt Nam sở hữu Nhà nước có tỷ lệ an toàn vốn cao hơn các Ngân hàng thương mại tư nhân.
3.2.2.10. Đối với đại dịch Covid 19
Từ năm 2020 – 2022 trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì đại dịch Covid 19 xuất hiện tạo ra sự ảnh hưởng tiêu cực và tổn hại lớn cho nền kinh tế. Vì thế, các đối tượng giao dịch với ngân hàng đều gặp sự trở ngại nên kéo theo các Ngân hàng thương mại cũng vậy. Nên để tạo sự ổn định trong hoạt động kinh doanh thì các Ngân hàng thương mại buộc phải gia tăng tỷ lệ an toàn vốn nhằm đối phó với các tình huống khó khăn hay bất trắc. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:
- H10: Đại dịch Covid 19 xuất hiện làm cho tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam cao hơn.
Sau quá trình lập luận và đề xuất các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam thì bảng dưới đây sẽ tổng hợp lại cách thức đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu và kỳ vọng tương quan.
- Bảng 3.1: Phương pháp đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu
3.3. Dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
3.3.1. Xác định mẫu nghiên cứu
Đối với phân tích hồi quy đa biến thì cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là 50 + 8 x m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 2007) thì với nghiên cứu này thì 114 mẫu là tối thiểu. Dữ liệu thu thập 21 Ngân hàng thương mại Việt Nam từ 2015 – 2024 (10 năm) nên mẫu nghiên cứu có tổng cộng 288 quan sát, đáp ứng được số mẫu tối thiểu.
3.3.2. Thu thập dữ liệu nghiên cứu
Trong số các Ngân hàng thương mại Việt Nam thì đề án lựa chọn 21 ngân hàng, không tính đến các Ngân hàng thương mại có vốn sở hữu nước ngoài 100% hay đặt trụ sở đại diện tại Việt Nam. Mặt khác, tổng tài sản của 21 Ngân hàng thương mại này chiếm trên 70% thị phần của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam, do đó có thể đại diện cho các Ngân hàng thương mại. Đồng thời, đây là ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, ít bị chi phối bởi các yếu tố chính trị hoặc thực hiện một số nhiệm vụ đặc biệt của Nhà nước. Do đó, phản ánh một cách gần như chính xác các đặc điểm, tính chất của ngành trong giai đoạn nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu được tác giả sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các BCTC hợp nhất đã kiểm toán, Báo cáo thường niên của 21 Ngân hàng thương mại Việt Nam. Nguồn số liệu tổng hợp vào cuối mỗi năm trong giai đoạn 2015 – 2024 cho nên nghiên cứu gồm tổng cộng 210 quan sát.
Đối với các chỉ số kinh tế vĩ mô mỗi năm như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng được thu thập từ các trang web uy tín như World Bank, Ourworldindata, IMF. Số liệu được thu thập và sắp xếp theo dữ liệu bảng, cấu trúc dữ liệu bảng được kết hợp từ hai thành phần: thành phần dữ liệu chéo và thành phần dữ liệu thời gian. Trong khoảng thời gian này, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều biến động, từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến các vấn đề chính trị trên thế giới, hay gần đây nhất là những tác động nặng nề bởi dịch bệnh, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, lạm phát nghiêm trọng trong 2022 – 2023, chiến tranh giữa Nga và Ukraina,…. Do đó, khoảng thời gian này sẽ có những tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam. Dữ liệu này được trình bày tại Phụ lục 1.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Từ cơ sở lý thuyết của chương 2 về tỷ lệ an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, đồng thời kế thừa những mặt đạt được và xem xét những hạn chế của những nghiên cứu trước đó, tác giả xác định mô hình cần sử dụng để phân tích và các biến trong mô hình. Chương 3 đã tổng hợp kiến thức về phân tích phân tích hồi quy dữ liệu bảng theo các phương pháp OLS, FEM, REM, FGLS và các kiểm định đảm bảo mô hình lựa chọn mang tính vững, phù hợp. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
