Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: trường hợp các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Luận văn “Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: trường hợp các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)” được thực hiện nhằm phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2021–2025. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 104 doanh nghiệp, tổng cộng 520 quan sát. Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng thông qua mô hình hồi quy dữ liệu bảng, sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA) để đo lường hiệu quả tài chính. Kết quả phân tích cho thấy sở hữu nhà nước có mối quan hệ hình chữ U ngược, trong khi sở hữu nước ngoài có mối quan hệ hình chữ U với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, phản ánh tác động phi tuyến tính của các loại hình sở hữu. Từ những phát hiện này, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì tỷ lệ sở hữu tối ưu, đồng thời đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao quản trị doanh nghiệp, thu hút nhà đầu tư nước ngoài, và cải thiện hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp.
- Từ khóa: cấu trúc sở hữu, hiệu quả tài chính, HOSE, ngành công nghiệp
The thesis “The impact of ownership structure on financial performance of enterprises: the case of industrial enterprises listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE)” was conducted to analyze the relationship between ownership structure and financial performance of industrial enterprises listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) in the period of 2021-2025. Data were collected from financial statements and annual reports of 104 enterprises, a total of 520 observations. Quantitative research methods were applied through panel data regression models, using return on assets (ROA) to measure financial performance. The analysis results showed that state ownership had an inverted U-shaped relationship, while foreign ownership had a U-shaped relationship with financial performance of enterprises, reflecting the non-linear impact of ownership types. From these findings, the study emphasizes the importance of maintaining optimal ownership ratios, and provides policy implications to improve corporate governance, attract foreign investors, and improve the financial performance of enterprises.
Keywords: ownership structure, financial performance, HOSE, industry Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cấu trúc sở hữu và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã nhận được sự quan tâm đáng kể từ các nhà nghiên cứu trong những thập kỷ qua, tạo ra một cuộc tranh luận đang diễn ra trong các tài liệu về tài chính doanh nghiệp (Abu-Serdaneh và cộng sự, 2011).. Cải cách kinh tế Đổi mới năm 1986 khởi xướng quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thi ̣trường, ngoài ra, vào năm 1993, một đề xuất tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, được gọi là “cổ phần hóa”, đã được đưa ra và phê duyệt. Sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường tài chính đã mang lại những thay đổi đáng kể trong cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp. Từ năm 2021 đến 2026, kinh tế toàn cầu và Việt Nam chịu nhiều tác động sâu rộng từ đại dịch COVID-19, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, lạm phát gia tăng và lãi suất định hướng thay đổi. Phản ứng chính sách của Nhà nước Việt Nam là đẩy mạnh cải cách thể chế, thúc đẩy cổ phần hóa, và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), ghi nhận sự gia tăng cả về số lượng doanh nghiệp niêm yết và quy mô vốn hóa từ năm 2021 đến 2025, đưa HOSE trở thành một trong những trung tâm tài chính quan trọng của khu vực. Giai đoạn này cũng chứng kiến nhiều thay đổi trong cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp công nghiệp, với sự dịch chuyển rõ rệt giữa sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân trong nước và vốn đầu tư nước ngoài thông qua các đợt thoái vốn, IPO và mở room ngoại.
Trong nền kinh tế toàn cầu đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt là ở thi ̣trường cạnh tranh của Việt Nam, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã trở thành thước đo quan trọng về thành công và tính bền vững cho các doanh nghiệp và thước đo khả năng tạo ra lợi nhuận, duy trì tăng trưởng và tạo ra giá tri ̣cho cổ đông của doanh nghiệp đã được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp. Điều này đặc biệt đúng đối với các doanh nghiệp công nghiệp, ngành xương sống của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Cấu trúc sở hữu được công nhận là có tác động quan trọng nhất đến hệ thống quản trị doanh nghiệp cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo nghiên cứu trước đây, cấu trúc sở hữu là sự phân phối cổ phần giữa các chủ sở hữu (Gisbert và Navallas, 2014). Cấu trúc sở hữu có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau, nghiên cứu này tập trung vào hai loại sở hữu cụ thể là sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài, và tác động tương ứng của chúng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Sở hữu nhà nước là phần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp do chính phủ kiểm soát, trong khi sở hữu nước ngoài liên quan đến phần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ. Mỗi cấu trúc sở hữu này có ý nghĩa riêng đối với cách quản lý doanh nghiệp và cách đưa ra các quyết định chiến lược, cuối cùng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp. Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Ở các nước đang phát triển, quản trị doanh nghiệp tác động đến các mục tiêu chính sách công. Quản trị doanh nghiệp tốt làm giảm tình trạng dễ bị tổn thương của thị trường mới nổi trước các cuộc khủng hoảng tài chính, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, đồng thời dẫn đến sự phát triển của thị trường vốn. Khuôn khổ quản tri ̣doanh nghiệp yếu làm giảm niềm tin của nhà đầu tư và có thể ngăn cản đầu tư bên ngoài. Trong thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu học thuật đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quản tri ̣doanh nghiệp hiệu quả. Các nghiên cứu cho thấy các thông lệ quản tri ̣doanh nghiệp tốt đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể về giá tri ̣kinh tế của các doanh nghiệp, năng suất cao hơn và rủi ro thấp hơn về các thất bại tài chính có hệ thống trên toàn quốc (Ahmed và Hadi, 2018).
Một doanh nghiệp có thể phát triển quyền sở hữu của mình theo nhiều cách khác nhau và loại cấu trúc sở hữu mà doanh nghiệp lựa chọn để thực hiện được hình thành bởi tầm nhìn và sứ mệnh của chính doanh nghiệp. Cấu trúc này rất quan trọng đối với quản trị doanh nghiệp vì nó quyết định động cơ của người quản lý và do đó là hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp mà họ quản lý (Jensen và Meckling, 1976).
Nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đối với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp mang lại kết quả trái chiều trong các bối cảnh khác nhau. Ở các doanh nghiệp niêm yết tại Hy Lạp, cấu trúc sở hữu tập trung hơn có liên quan tích cực đến lợi nhuận cao hơn (Kapopoulos và Lazaretou, 2008). Quyền sở hữu gia đình được phát hiện có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Đài Loan (Chu, 2012) và các doanh nghiệp Hà Lan (Eelderink, 2015). Ahmed và Hadi (2018) cho rằng quyền sở hữu nội bộ ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, trong khi quyền sở hữu của cổ đông lớn có tác động tích cực đến Tobin-Q của doanh nghiệp.
Cấu trúc sở hữu tác động đáng kể đến hệ thống quản trị doanh nghiệp và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Ở các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, quản trị doanh nghiệp mạnh mẽ là rất quan trọng để giảm rủi ro khủng hoảng tài chính, tăng cường quyền sở hữu và thúc đẩy phát triển thi ̣trường vốn. Ngoài ra, các doanh nghiệp công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò là xương sống cho tăng trưởng kinh tế, chúng hiếm khi được chọn làm chủ đề nghiên cứu.
Để làm rõ mối quan hệ trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: Trường hợp các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)”. Cụ thể, nghiên cứu này tìm hiểu tác động của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên HOSE.
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu là phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2021 – 2025. Từ đó, tác giả có thể đưa ra hàm ý chính sách giúp Nhà nước và doanh nghiệp có định hướng, phán đoán, chuẩn bi ̣và ra quyết định tốt hơn.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Để đạt được mục tiêu chung của nghiên cứu, nghiên cứu thực hiện ba mục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng của cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE
- Mục tiêu 2: Phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE, đồng thời kiểm định khả năng tồn tại quan hệ phi tuyến đối với cả hai loại sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài.
- Mục tiêu 3: Đề xuất các hàm ý chính sách liên quan đến cấu trúc sở hữu nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Thực trạng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE đã diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi 2: Cấu trúc sở hữu tác động như thế nào đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE? Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
- Câu hỏi 3: Có thể đề xuất những hàm ý chính sách nào liên quan đến cấu trúc sở hữu để nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE trong tương lai?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian của nghiên cứu tập trung vào điều tra tác động của cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
Về phạm vi thời gian của dữ liệu, luận văn này sử dụng dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ trang web trực tuyến của HOSE. Trong đó, báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên HOSE từ năm 2021 đến năm 2025 là nguồn dữ liệu thứ cấp chính về chủ đề này. Phạm vi thời gian của nghiên cứu kéo dài từ năm 2021 đến 2025 nhằm đảm bảo dữ liệu được cập nhật và phản ánh chính xác tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Giai đoạn này được lựa chọn vì có nhiều sự kiện kinh tế quan trọng, đặc biệt là ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, quá trình phục hồi kinh tế sau đại dịch và những điều chỉnh chính sách của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. Việc thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian 5 năm giúp phân tích xu hướng dài hạn, giảm thiểu các tác động từ biến động ngắn hạn.
Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Phân tích dữ liệu liên quan đến sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, số năm hoạt động, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng quyền sở hữu nhà nước làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Thomsen và Pedersen, 2001; Qi và cộng sự, 2001; Pervan và Todoric, 2013). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho rằng quyền sở hữu nhà nước có thể có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Firth và cộng sự, 2009; Le và Buck, 2012; Nguyen và Nguyen, 2021). Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu trước đây đã xác định mối tương quan tích cực giữa quyền sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Pervan và Todoric, 2013; Nguyen và Dang, 2018; Nguyen và cộng sự, 2021), trong khi những nghiên cứu khác lại tìm thấy mối tương quan nghịch (Konings, 2002; Phung và Le, 2014). Hơn nữa, một số nghiên cứu đưa ra kết quả về mối quan hệ phi tuyến tính giữa sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài đối với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (Phụng và Mishra, 2017; Vo và cộng sự, 2021).
Từ các nghiên cứu trên, có thể thấy các nhóm cổ đông khác nhau sẽ có các quyền và lợi ích khác nhau, do cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định của doanh nghiệp và tác động đến hiệu quả kinh doanh. Trong khi đó, ở các quốc gia chuyển đổi, quá trình tư nhân hóa đã dẫn đến việc chuyển đổi một số doanh nghiệp nhà nước (SOE) thành doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó, do đầu tư nước ngoài tăng đáng kể, sở hữu nước ngoài ngày càng trở nên nổi bật ở các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam khi điều này vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Do đó, việc phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ góp phần giải quyết khoảng cách này trong lý thuyết tài chính doanh nghiệp.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
1.1. Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của thế kỷ 21 đã trải qua những chuyển đổi sâu sắc, dẫn đến sự phức tạp và bất ổn gia tăng. Trong nền kinh tế toàn cầu đang phát triển nhanh chóng này, các doanh nghiệp phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt để nâng cao hiệu quả, đẩy nhanh tài chính và giảm chi phí. Để phát triển, họ phải đối mặt với số lượng ngày càng tăng các thách thức phát sinh từ môi trường của mình và cũng phải tăng khả năng thích ứng của mình. Trong bối cảnh này, hiệu quả hoạt động bền vững đã trở thành mục tiêu tối quan trọng đối với bất kỳ tổ chức nào, vì nó đóng vai trò là nền tảng cho sự tăng trưởng và tiến bộ. Do đó, việc đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh có tầm quan trọng đặc biệt, vì các doanh nghiệp liên tục tìm kiếm kết quả, hiệu quả, và hiệu quả hoạt động (Taouab & Issor, 2020).
Một trong những chủ đề quan trọng nhất và thường được tranh luận trong lý thuyết tài chính và quản lý là mối quan hệ phức tạp giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Perrini và cộng sự, 2009; Demsetz & Villalonga, 2002). Sự thành công của một tổ chức gắn liền chặt chẽ với hiệu quả và hiệu quả hoạt động mà các tài chính của tổ chức đó được thực hiện. Hiệu quả tài chính cao và năng suất của nhân viên có mối tương quan tích cực với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp vượt trội, trong khi tình trạng kém hiệu quả và năng suất thấp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thành công chung của doanh nghiệp. Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày nay, nguồn nhân lực không chỉ được coi là tài sản quan trọng mà còn là yếu tố khác biệt chính trên thị trường. Hiệu quả hoạt động bền vững của nhân viên đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy thành công chung của một tổ chức. Do đó, việc hiểu và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhân viên là điều cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh và đạt được thành công lâu dài của tổ chức.
Đặc biệt, quy mô doanh nghiệp và tuổi (số năm hoạt động) của doanh nghiệp thường là đối tượng nghiên cứu vì chúng đại diện cho các đặc điểm cơ bản của một doanh nghiệp. Majumdar (1998) nhấn mạnh ảnh hưởng đáng kể của cả quy mô và số năm hoạt động đối với năng suất và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp càng nhiều số năm hoạt động thì lợi nhuận thu được càng ít, trong khi quy mô doanh nghiệp càng lớn thì lợi nhuận thu được càng cao. Quy mô doanh nghiệp luôn là yếu tố quyết định quan trọng đối với lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động chung; do đó, các doanh nghiệp liên tục có động lực mở rộng quy mô của mình (Oyelade, 2020). Các doanh nghiệp lớn luôn vượt trội hơn các doanh nghiệp nhỏ trên thị trường có sự cạnh tranh vì họ có thị phần lớn hơn và nhiều triển vọng lợi nhuận hơn (Doğan, 2014). Trong khi quy mô lớn hơn thường dẫn đến lợi nhuận tăng lên, một số doanh nghiệp lại trải qua tình trạng lợi nhuận giảm hàng năm, mặc dù quy mô của họ đang tăng lên (Oyelade, 2020). Trước những kết quả trái ngược này, Majumdar (1998) cho rằng mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào môi trường cụ thể. Hơn nữa, các yếu tố thể chế ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận
Hơn nữa, mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp cũng cần được xem xét. Nghiên cứu của Ilyukhin (2016) chứng minh rằng đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Nga, có thể là do lãi suất quá cao đối với tài trợ nợ và giám sát doanh nghiệp không hiệu quả. Nghiên cứu của Iqbal và Usman (2019) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa đòn bẩy và hiệu quả tài chính. Một mặt, đòn bẩy cao hơn có thể dẫn đến lợi nhuận được cải thiện, đặc biệt là thông qua các lợi ích về thuế. Mặt khác, đòn bẩy quá mức có liên quan đến rủi ro tài chính gia tăng, có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là trong các ngành rất nhạy cảm với biến động kinh tế. Kết quả cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp nếu số nợ không vượt quá số vốn chủ sở hữu. Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Theo nghiên cứu trước đây, ba phương pháp phổ biến nhất để đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là ROA, ROE và ROS. Trong những năm gần đây, Chiao và cộng sự (2007); Huỳnh Thi ̣Ngọc Hiền (2016); Phan Anh Tú & Trần Thi ̣Thu Uyên, (2018); Zhang & Lucey, (2023) và nhiều tác giả khác đã sử dụng ROS (Lợi nhuận trên doanh thu) để đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nó đo lường hiệu quả của một doanh nghiệp bằng cách phân tích tỷ lệ phần trăm tổng doanh thu được chuyển đổi thành lợi nhuận tài chính. Thêm vào đó đó, Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được sử dụng rộng rãi để đo lường lợi nhuận và hiệu quả của doanh nghiệp bằng cách chia thu nhập ròng cho vốn chủ sở hữu của cổ đông (Delen và cộng sự, 2014; Roy, 2017; Hoang và cộng sự, 2021). Một số cách tiếp cận đã được sử dụng để đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, dựa trên các mục tiêu nghiên cứu tương ứng của các tác giả. Lợi nhuận trên tài sản (ROA) là tỷ lệ tài chính được sử dụng để đo lường lợi nhuận trên lợi nhuận của doanh nghiệp (Fallatah & Dickins, 2013; Sukesti và cộng sự, 2022). Tóm lại, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là một khái niệm đa diện có thể được đánh giá thông qua các số liệu tài chính khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Trong số các chỉ số được sử dụng phổ biến nhất là ROS, ROE và ROA, mỗi chỉ số cung cấp những hiểu biết riêng biệt về lợi nhuận và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Trong khi các nghiên cứu trước đây sử dụng các biện pháp khác nhau, nghiên cứu này sẽ tập trung vào Lợi nhuận trên tài sản (ROA) để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, vì nó nắm bắt hiệu quả mối quan hệ giữa tài sản của doanh nghiệp và khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2 Bằng chứng thực nghiệm về sở hữu nhà nước và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Mặc dù mối quan hệ giữa quyền sở hữu nhà nước và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp đã được nghiên cứu rộng rãi, nhưng bằng chứng thực nghiệm lại đưa ra những kết quả trái chiều. Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh tác động tiêu cực của quyền sở hữu nhà nước đối với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, do sự khác biệt về mục tiêu giữa các cổ đông nhà nước và các bên liên quan khác. Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Thomsen và Pedersen (2001) đã nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đối với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Những phát hiện này chỉ ra rằng sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, được đo bằng giá tri ̣thi ̣ trường trên sổ sách của vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên tài sản. Qi và cộng sự (2001) đã tiến hành một nghiên cứu tương tự, điều tra một mẫu bao gồm các doanh nghiệp Trung Quốc được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải từ năm 1992 đến năm 1997. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng có mối quan hệ tiêu cực giữa sở hữu vốn nhà nước và hiệu quả tài chính. Gunasekarage và cộng sự (2008) đã tiếp tục bổ sung cho những phát hiện này bằng cách tiến hành một nghiên cứu sử dụng mẫu gồm 1034 doanh nghiệp niêm yết công khai tại Trung Quốc từ năm 2001 đến năm 2005. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy tác động tiêu cực của sở hữu nhà nước đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa, Pervan và Todoric (2013) đã phân tích dữ liệu từ năm 2004 đến năm 2011 về các doanh nghiệp Croatia niêm yết công khai để xem xét mối quan hệ giữa quyền sở hữu doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Những phát hiện trong nghiên cứu của họ chỉ ra rằng sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trong khi nhiều nghiên cứu đã chứng minh những tác động tiêu cực của quyền sở hữu nhà nước đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các nghiên cứu khác lại chỉ ra những lợi ích tiềm năng. Firth và cộng sự (2009) phát hiện ra rằng quyền sở hữu nhà nước có thể tạo điều kiện thu hút vốn thông qua các khoản vay ngân hàng cho các doanh nghiệp, cho thấy tác động tích cực đến tài chính kinh doanh. Theo Le và Buck (2012), các doanh nghiệp có tiềm năng hưởng lợi từ quyền sở hữu nhà nước thông qua sự giám sát của các cơ quan quản lý hoặc cổ đông tư nhân. Tương tự, Nguyễn Tiến Thông và Nguyễn Thu Hiền (2021) đã thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm 2010 đến năm 2018. Nghiên cứu của họ đã đóng góp vào các tài liệu hiện có bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tích cực của quyền sở hữu nhà nước (SOH) đối với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tại Việt Nam. Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Hơn nữa, một số nghiên cứu đã xác định mối quan hệ phi tuyến tính giữa quyền sở hữu nhà nước và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ, nghiên cứu của Kang và cộng sự (2003) đã phân tích một tập dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp niêm yết của Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 1998. Đến lượt mình, các phát hiện của họ cho thấy mối quan hệ giữa quyền sở hữu vốn nhà nước và hiệu quả thi ̣trường tuân theo mô hình hình chữ U ngược. Các phát hiện của họ cho thấy rằng mức độ sở hữu nhà nước vừa phải có thể nâng cao hiệu quả tài chính của thi ̣trường, nhưng khi quyền sở hữu nhà nước tăng vượt quá một ngưỡng nhất định, nó có thể dẫn đến tình trạng kém hiệu quả. Trong một nghiên cứu được tiến hành năm 2004, Wei và Varela đã quan sát thấy mối tương quan hình chữ U giữa quyền sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp tại các doanh nghiệp tư nhân hóa của Trung Quốc vào các năm 1995, 1996 và 1997. Trong một nghiên cứu khác, Yu (2014) đã sử dụng dữ liệu bảng, bao gồm các doanh nghiệp niêm yết của Trung Quốc trong suốt giai đoạn 2004 đến 2011, để kiểm tra mối tương quan giữa quyền sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tương tự như vậy, nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra mối tương quan hình chữ U giữa quyền sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, cho thấy sự tham gia quá mức hoặc tối thiểu của nhà nước có thể cản trở hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong khi mức độ sở hữu nhà nước cân bằng có thể nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu này cùng nhau nhấn mạnh bản chất phức tạp của mối quan hệ sở hữu nhà nước-hiệu quả hoạt động, cả quá ít và quá nhiều sự kiểm soát của nhà nước đều gây ra những tác động tiêu cực đến kết quả của doanh nghiệp
1.3 Bằng chứng thực nghiệm về sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Quyền sở hữu nước ngoài được coi là một phần quan trọng của cấu trúc sở hữu doanh nghiệp. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy quyền sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Goethals và Ooghe (1998) đã tiến hành phân tích chuyên sâu về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp do nước ngoài sở hữu tại các quốc gia công nghiệp hóa. Cụ thể, họ tập trung vào 25 doanh nghiệp Bỉ và 50 doanh nghiệp nước ngoài, là các doanh nghiệp Bỉ được các nhà đầu tư nước ngoài mua lại. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra toàn diện bằng cách tính toán tổng cộng 28 chỉ số tài chính cho cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Phân tích hồi quy đã được sử dụng để đưa ra kết luận rằng việc tiếp quản của nước ngoài có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Hơn nữa, các tác giả trước phát hiện ra rằng các doanh nghiệp do nước ngoài sở hữu thể hiện hiệu quả hoạt động vượt trội so với các doanh nghiệp do trong nước sở hữu. Ngoài ra, trong một nghiên cứu do Ghahroudi (2012) thực hiện, một mẫu gồm 3500 doanh nghiệp con nước ngoài tại Nhật Bản đã được phân tích. Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy mối liên hệ tích cực giữa quyền sở hữu nước ngoài và chuyển giao kiến thức tại các doanh nghiệp con có sự hiện diện đáng kể của các nhà quản lý và nhân viên nước ngoài. Tương tự như vậy, Nguyen và cộng sự (2021) đã nghiên cứu ảnh hưởng của quyền sở hữu và quản lý nước ngoài đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng trong khi quyền sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Họ kết luận rằng sự kết hợp giữa quyền sở hữu và quản lý nước ngoài mang lại những cải thiện hiệu quả hoạt động đáng kể nhất, cho thấy việc chuyển giao kiến thức từ các thực thể nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam.
Một số nghiên cứu đã đưa ra kết quả cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa quyền sở hữu nước ngoài và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Trong một nghiên cứu do Konings (2002) thực hiện, một cuộc điều tra đã được tiến hành để xem xét tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến hiệu quả năng suất của các doanh nghiệp ở ba nền kinh tế đang phát triển: Bulgaria, Romania và Ba Lan. Bộ dữ liệu bao gồm 2.321 doanh nghiệp tại Bulgaria từ năm 1994 đến năm 1998, 3.844 doanh nghiệp tại Romania từ năm 1995 đến năm 1998 và 262 doanh nghiệp tại Ba Lan từ năm 1994 đến năm 1998. Trái ngược với giả định phổ biến, các phát hiện chỉ ra rằng các doanh nghiệp nước ngoài nhìn chung không cho thấy hiệu quả hoạt động vượt trội so với các đối tác trong nước của họ, ngoại trừ trường hợp đặc biệt của Ba Lan, nơi các doanh nghiệp nước ngoài chứng minh năng suất vượt trội. Điều này cho thấy rằng lợi ích của FDI có thể không được nhận ra phổ biến trong mọi bối cảnh và có thể bị ảnh hưởng bởi các điều kiện địa phương cụ thể, chẳng hạn như khuôn khổ thể chế và thi ̣trường. Bên cạnh đó, Phung và Le (2014) đã xem xét tác động của quyền sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng dữ liệu từ năm 2009 đến năm 2012. Nghiên cứu của họ cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa quyền sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, cho rằng sự suy giảm này là do thiếu các chiến lược đầu tư tập trung của các chủ sở hữu nước ngoài. Các phát hiện cho thấy rằng quyền sở hữu nước ngoài, nếu không có cách tiếp cận chiến lược và phù hợp, có thể dẫn đến tình trạng kém hiệu quả và cản trở tăng trưởng của doanh nghiệp. Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Mặt khác, một số nghiên cứu đưa ra kết quả không tuyến tính. Greenaway và cộng sự (2015) đã khám phá mối quan hệ không tuyến tính giữa quyền sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một nghiên cứu toàn diện về 21.582 doanh nghiệp Trung Quốc chưa niêm yết từ năm 2001 đến năm 2006. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi quyền sở hữu nước ngoài tăng trong khoảng 47-61%, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ được cải thiện tương ứng. Vượt quá ngưỡng này, việc tiếp tục gia tăng quyền sở hữu nước ngoài có thể dẫn đến lợi nhuận giảm dần hoặc thậm chí là hiệu quả tài chính giảm. Trong một nghiên cứu do Phung và Mishra (2017) thực hiện, sử dụng mô hình hồi quy GMM, đã chỉ ra rằng quyền sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ hình chữ U ngược. Họ thấy rằng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng lên khi quyền sở hữu nước ngoài tăng lên đến mức 43 phần trăm rồi giảm xuống. Tương tự như vậy, Duong và cộng sự (2022) đã tiến hành một cuộc điều tra thực nghiệm về mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong bối cảnh các doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam. Họ thấy rằng sở hữu nước ngoài và hiệu quả tài chính có mối liên hệ hình chữ U ngược. Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tăng lên khi sở hữu nước ngoài lớn hơn lên đến phạm vi 36,26%, nhưng sau bước ngoặt này, sở hữu nước ngoài nhiều hơn bắt đầu có tác động tiêu cực đến doanh nghiệp. Ngoài ra, Phung và Hoang (2014) đã khám phá mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp hình thành hình chữ U. Kết quả này cho thấy khi sở hữu nước ngoài trở nên tập trung, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ kích hoạt vai trò giám sát của họ trong các doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
2.1.1. Sở hữu nhà nước
Sở hữu nhà nước, còn được gọi là sở hữu công hoặc sở hữu của chính phủ, là quyền sở hữu của một ngành công nghiệp, tài sản, bất động sản hoặc doanh nghiệp do chính phủ quốc gia của một quốc gia hoặc tiểu bang, hoặc một cơ quan công đại diện cho một cộng đồng, trái ngược với một cá nhân hoặc một bên tư nhân (OECD, 2025). Bên cạnh đó, tài sản do nhà nước sở hữu thường được quản lý và điều hành dưới dạng các doanh nghiệp cổ phần trong các nền kinh tế thị trường, trong đó chính phủ sở hữu toàn bộ hoặc một phần cổ phần chi phối của doanh nghiệp. Loại hình này thường được gọi là doanh nghiệp nhà nước (SOE). Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
SOE đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong các ngành được coi là quan trọng về mặt chiến lược hoặc những ngành đòi hỏi đầu tư vốn đáng kể có thể không hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tư nhân. Hơn nữa, sở hữu nhà nước cho phép chính phủ tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy các chính sách xã hội và kinh tế mà có thể không đạt được chỉ thông qua doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, hiệu quả và hiệu quả hoạt động của SOE thường là chủ đề gây tranh cãi, với các cuộc thảo luận tập trung vào sự cân bằng giữa lợi ích công cộng và cạnh tranh trên thị trường. Theo Wong (2005), việc theo đuổi nhiều mục tiêu xung đột, sự can thiệp của chính tri ̣và thiếu minh bạch là những vấn đề trong quản tri ̣doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, khi được quản lý tốt, các doanh nghiệp nhà nước có thể đóng góp đáng kể vào sự ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia.
2.1.2 Sở hữu nước ngoài
Sở hữu nước ngoài là khái niệm về việc kiểm soát hoặc sở hữu một phần tài sản của một quốc gia – chẳng hạn như doanh nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, bất động sản, trái phiếu và cổ phiếu – bởi các cá nhân không phải là công dân của quốc gia đó hoặc bởi các doanh nghiệp có trụ sở chính đặt bên ngoài quốc gia đó (Yi và cộng sự, 2025). Hình thức sở hữu này là một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế hiện đại, hội nhập toàn cầu, phản ánh sự kết nối giữa các thị trường quốc gia và dòng vốn ngày càng tăng qua biên giới.
Sở hữu nước ngoài có thể có nhiều hình thức, ví dụ như liên quan đến việc một doanh nghiệp mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác có trụ sở chính ở nước ngoài, mua bất động sản hoặc cơ sở hạ tầng, có được quyền tiếp cận hoặc đầu tư vào các tài sản khác trong một quốc gia nước ngoài. Khi một doanh nghiệp đa quốc gia mua lại ít nhất 50% một doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp đó sẽ trở thành doanh nghiệp mẹ và doanh nghiệp nước ngoài nhận được khoản đầu tư sẽ trở thành doanh nghiệp con của doanh nghiệp đó. Hình thức đầu tư này được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thường được theo đuổi vì nhiều lý do chiến lược khác nhau, chẳng hạn như mở rộng tiếp cận thi ̣trường, tiếp nhận công nghệ mới hoặc tối ưu hóa chi phí sản xuất. Quyền sở hữu nước ngoài cũng được chứng minh là làm tăng sản lượng, việc làm và tiền lương của các doanh nghiệp mục tiêu so với các doanh nghiệp được mua lại trong nước, nguyên nhân này là do sự cải thiện về điều kiện tài chính có thể giúp các doanh nghiệp tăng doanh số và thi ̣phần so với các đối thủ cạnh tranh (Wang & Wang, 2016).
2.1.3 Định nghĩa về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, các doanh nghiệp Việt Nam đang tài chính trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Để đảm bảo tính bền vững lâu dài, các doanh nghiệp phải liên tục nỗ lực nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đóng vai trò là chuẩn mực quan trọng để đánh giá vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đã trở thành một khái niệm then chốt trong nghiên cứu quản lý chiến lược và thường được sử dụng như một biến phụ thuộc. Mặc dù được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu học thuật, nhưng có rất ít sự đồng thuận về định nghĩa và cách đo lường.
Vào những năm 1950, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được coi là hiệu quả của tổ chức, tức là mức độ mà một tổ chức – một cấu trúc xã hội có nguồn lực và phương tiện hạn chế, đạt được mục tiêu của mình mà không yêu cầu các thành viên phải nỗ lực quá mức. Tiêu chí được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động là năng suất, tính linh hoạt và căng thẳng giữa các tổ chức (Georgopoulos & Tannenbaum, 1957). Các tổ chức bắt đầu tìm hiểu các phương pháp tiếp cận mới để đánh giá hiệu quả hoạt động vào cuối những năm 1960 và 1970. Hiệu quả hoạt động vào thời điểm này được mô tả là khả năng của một tổ chức trong việc tận dụng môi trường xung quanh để có được và sử dụng các nguồn lực hạn chế (Yuchtman & Seashore, 1967). Bên cạnh đó, Harrison (1974) định nghĩa hiệu quả hoạt động là kết quả của việc đánh giá. Vào những năm 1980, Cherrington (1989) định nghĩa hiệu quả hoạt động là khái niệm về thành công hoặc hiệu quả của một tổ chức, cũng như là chỉ số về mức độ tài chính tốt của tổ chức để đạt được các mục tiêu của mình. Sau đó, Adam (1995) tin rằng chất lượng hiệu quả hoạt động của nhân viên có tác động đáng kể đến thành công của tổ chức. Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, định nghĩa về hiệu quả hoạt động tổ chức chủ yếu tập trung vào năng lực và khả năng của tổ chức trong việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả phù hợp với các mục tiêu đã đặt ra của doanh nghiệp (Peterson, Gijsbers & Wilks, 2004). Theo Verboncu và Zalman (2006), hiệu quả hoạt động là kết quả cụ thể đạt được trong quản lý, kinh tế và tiếp thị, mang lại các đặc điểm về khả năng cạnh tranh, hiệu quả và hiệu quả hoạt động cho tổ chức cũng như các thành phần cấu trúc và quy trình của tổ chức. Hiệu quả hoạt động là một từ thông dụng theo Colase (2010) vì nó bao gồm rất nhiều ý tưởng khác nhau như tăng trưởng, lợi nhuận, lợi tức, năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
Bartoli và Blatrix (2016) tin rằng khái niệm hiệu quả hoạt động nên đạt được thông qua các mục như thí điểm, đánh giá, chất lượng, hiệu quả và hiệu quả hoạt động. Trong những năm gần đây, Taouab và Issor (2020) đã nhấn mạnh khái niệm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, trong đó nêu bật việc sử dụng chiến lược các nguồn lực để nâng cao năng lực và đạt được các mục tiêu của tổ chức. Hiệu quả hoạt động kinh doanh, là một khía cạnh quan trọng của hiệu quả hoạt động tổ chức, bao gồm hiệu quả hoạt động và tài chính của tổ chức.
Tóm lại, hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp có thể được định nghĩa là một biện pháp so sánh, đánh giá mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra hoặc giữa chi phí kinh doanh và kết quả thu được để đánh giá hiệu quả của các tài chính kinh doanh trong suốt quá trình tài chính. Ngoài ra, nó phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực hạn chế để đạt được mục tiêu của tổ chức và tối đa hóa lợi nhuận.
2.2 Cơ sở lý thuyết Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
2.2.1 Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện được coi là cơ bản liên quan đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Berle và Means (1932) đề cập về sự tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát trong các tập đoàn hiện đại và lập luận rằng sự tách biệt này dẫn đến xung đột giữa lợi ích của các cổ đông và các nhà quản lý của một tập đoàn. Các tác giả cho rằng sự suy giảm quyền sở hữu vốn chủ sở hữu dẫn đến khoảng cách ngày càng lớn giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát của các tổ chức lớn. Jensen và Meckling (1976) đã đề xuất một lý thuyết khác gọi là lý thuyết đại diện. Họ đã mở rộng lý thuyết này bằng cách giải thích mối quan hệ giữa các đại lý (thường là ban quản lý của doanh nghiệp) và các bên chủ sở hữu (các cổ đông hoặc chủ sở hữu). Cốt lõi của lý thuyết đại diện nằm ở các xung đột lợi ích tiềm ẩn phát sinh khi mục tiêu của các đại lý không hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của các bên chủ sở hữu. Các nhà quản lý có thể hành động chống lại lợi ích và sở thích của các cổ đông bằng cách sử dụng sai thông tin bí mật vì lợi ích của riêng họ. Trong khi các nhà quản lý được giao nhiệm vụ đưa ra các quyết định quan trọng cho các doanh nghiệp, họ không hoàn toàn được hưởng lợi từ lợi nhuận tạo ra. Do đó, các nhà quản lý có thể ưu tiên lợi ích của riêng họ thay vì lợi ích của các cổ đông, có khả năng tham gia vào các hành vi phục vụ bản thân như di dời tài sản của doanh nghiệp, sử dụng các nguồn lực để đạt được lợi ích cá nhân hoặc theo đuổi việc xây dựng đế chế riêng. Loại chủ nghĩa cơ hội quản lý này, trong đó các nhà quản lý sử dụng sự không trung thực để thúc đẩy lợi ích của riêng họ có thể cản trở việc tối đa hóa sự giàu có của cổ đông. Tuy nhiên, việc tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu do các nhà quản lý nắm giữ có thể giúp điều chỉnh lợi ích của họ phù hợp với lợi ích của các cổ đông, do đó giảm mức độ xung đột này và giảm thiểu chi phí đại diện phát sinh. Dựa trên lý thuyết đại diện, sự tập trung sở hữu dẫn đến việc giám sát và lợi nhuận hiệu quả hơn, và giá tri ̣của doanh nghiệp tăng lên khi có sự sở hữu của những người trong cuộc.
Sau đó, lý thuyết đại diện được Fama và Jensen (1983) phát triển thêm, họ đã mở rộng các khái niệm ban đầu do Jensen và Meckling giới thiệu. Fama và Jensen nhấn mạnh vai trò của các quy trình ra quyết định và hệ thống kiểm soát trong các tổ chức, đặc biệt tập trung vào cách tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát có thể tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Fama và Jensen (1983) đã đưa ra những phát hiện trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động, báo cáo rằng sự gia tăng tập trung sở hữu làm giảm giá tri ̣doanh nghiệp. Họ lập luận rằng khi quyền sở hữu được phân tán rộng rãi, chủ sở hữu (cổ đông) giao trách nhiệm ra quyết định cho các nhà quản lý vì các nhà quản lý sở hữu chuyên môn và kỹ năng cần thiết để điều hành doanh nghiệp.
Tuy nhiên, có thể có xung đột lợi ích vì cả hai tổ chức này đều hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của họ. Để giảm xung đột này và cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp, chủ sở hữu phải chấp nhận chi phí đại diện (Jensen & Meckling, 1976). Có ba loại chi phí đại diện phổ biến bao gồm (i) chi phí giám sát, là chi phí trả cho các kiểm soát viên để thông báo cho các cổ đông khi các giám đốc điều hành có tài chính kiếm lời vì lợi ích của riêng họ, (ii) chi phí liên kết liên quan đến việc điều chỉnh lợi ích của các tác nhân với lợi ích của các bên chủ quản thông qua các chương trình khuyến khích, kế hoạch bồi thường hoặc hợp đồng dựa trên hiệu quả hoạt động và (iii) chi phí tổn thất còn lại do thiệt hại lợi ích giữa các bên chủ quản và các tác nhân không thể loại bỏ thông qua các cơ chế giám sát hoặc liên kết.
2.2.2 Lý thuyết sở hữu Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Lý thuyết sở hữu đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như thương mại quốc tế, hành vi bỏ phiếu, giao tiếp kinh doanh, toàn cầu hóa tài chính, tiếp thị, phương tiện truyền thông xã hội. Lý thuyết sở hữu cho rằng sự thay đổi trong cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đáng kể đến động lực và hành vi của chủ sở hữu, nhà quản lý và nhân viên (Alchian & Demsetz, 1973). Lý thuyết này cho rằng quyền sở hữu tập trung, đặc biệt là dưới hình thức sở hữu tư nhân, tạo ra động lực mạnh hơn cho ban giám đốc để nâng cao hiệu quả kinh doanh so với quyền sở hữu công cộng phân tán.
Theo Alchian và Demsetz (1973), quyền sở hữu tư nhân thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ hơn giữa lợi ích của chủ sở hữu, giám đốc điều hành và nhân viên, dẫn đến việc ra quyết định hiệu quả hơn và hiệu quả tài chính. Ngược lại, quyền sở hữu bên ngoài, được đặc trưng bởi cơ sở sở hữu rộng hơn và phân tán hơn, thường thiếu sự rõ ràng này, điều này có thể dẫn đến động lực yếu hơn cho các giám đốc điều hành, việc ra quyết định không tối ưu và những thách thức trong việc giải quyết hậu quả của các quyết định được đưa ra theo hình thức sở hữu tập thể.
Do đó, lý thuyết sở hữu cho rằng sở hữu tư nhân đóng vai trò là cơ chế hiệu quả hơn để điều chỉnh lợi ích của tất cả các bên liên quan trong một doanh nghiệp, do đó góp phần vào kết quả kinh doanh tốt hơn. Khung lý thuyết này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu động lực của các cấu trúc sở hữu và tác động của chúng đối với quản tri ̣ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ở bối cảnh rộng hơn, lý thuyết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trung sở hữu trong việc thúc đẩy hiệu quả và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong các môi trường mà việc ra quyết định và trách nhiệm giải trình là rất quan trọng đối với thành công.
Trong luận văn này, lý thuyết đại diện được sử dụng nhằm làm rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu và nhà quản lý trong bối cảnh tồn tại sự tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát, từ đó lý giải cách thức các dạng sở hữu khác nhau có thể làm gia tăng hoặc giảm thiểu chi phí đại diện, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính. Cụ thể, mức độ tập trung sở hữu, đặc biệt là sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài, có thể đóng vai trò như một cơ chế giám sát, nhưng đồng thời cũng có thể tạo ra xung đột lợi ích nếu quyền kiểm soát trở nên quá tập trung hoặc theo đuổi các mục tiêu ngoài lợi nhuận. Bên cạnh đó, lý thuyết sở hữu được vận dụng để giải thích sự khác biệt về động lực quản tri ̣giữa các loại hình sở hữu, trong đó quyền sở hữu tập trung và có định hướng lợi ích rõ ràng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy cơ chế ra quyết định hiệu quả hơn. Việc kết hợp hai khung lý thuyết này cho phép nghiên cứu không chỉ phân tích tác động tuyến tính đơn thuần mà còn xem xét khả năng tồn tại quan hệ phi tuyến giữa sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và hiệu quả tài chính, từ đó làm nền tảng lý luận cho việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu.
2.3 Các giả thuyết Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
2.3.1 Tác động của sở hữu nhà nước đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Douma và cộng sự (2007) khẳng định rằng khi có nhiều chủ sở hữu, mỗi chủ sở hữu có mục tiêu khác nhau, thì cấu trúc sở hữu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Để chứng minh cho khẳng định này, Konijn và cộng sự (2012) đã tiến hành phân tích toàn diện để xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và giá tri ̣doanh nghiệp. Khi so sánh dữ liệu từ các quốc gia khác, bao gồm Hoa Kỳ, Châu Âu và Châu Á, các phát hiện của họ cho thấy sự khác biệt đáng kể. Điều này ngụ ý rằng các địa điểm địa lý khác nhau có thể có kết quả khác nhau từ mối quan hệ này. Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy, trái ngược với các nền kinh tế đang phát triển hoặc chuyển đổi khác, tỷ lệ sở hữu nhà nước của Việt Nam có tác động rõ rệt đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Cho đến nay, các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra những phát hiện không nhất quán về mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Một số nghiên cứu cho rằng sở hữu nhà nước đóng vai trò tích cực trong hiệu quả tài chính của doanh nghiệp do những lợi thế đặc quyền của nó. Theo nghiên cứu do Firth và cộng sự (2009) thực hiện, các tác giả đã xác định được rằng sở hữu nhà nước giúp doanh nghiệp dễ dàng huy động vốn thông qua các khoản vay ngân hàng hơn. Các doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ với chính phủ có thể xử lý các yêu cầu hành chính hiệu quả hơn và nhận được sự đối xử ưu đãi từ chính phủ. Vì quyền sở hữu nhà nước có những lợi ích cố hữu nên nó có thể có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. So sánh quyền sở hữu nhà nước với các loại hình sở hữu khác, Borisova và cộng sự (2013) khẳng định rằng quyền sở hữu nhà nước có nhiều lợi thế, chẳng hạn như tăng cường ảnh hưởng chính tri ̣và tiếp cận các nguồn lực. Ví dụ, chính phủ có khả năng tạo ra vốn hiệu quả, tác động đến doanh nghiệp thông qua các biện pháp quản lý và có lợi thế thông tin khác biệt. Các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu được hưởng lợi rất nhiều từ các mạng lưới với chính phủ nước ngoài, quyền độc quyền tài chính trong các ngành hoặc khu vực cụ thể và các nguồn lực khác mà các doanh nghiệp tư nhân thường không có (Lazzarini & Musacchio, 2019).
Tuy nhiên, quyền sở hữu nhà nước vẫn là một vấn đề gây tranh cãi do nó khác biệt so với lợi ích của các cổ đông khác. Trong khi mục tiêu chính của các cổ đông thông thường là tối đa hóa sự giàu có và tích lũy tài sản, thì quyền sở hữu nhà nước thường được thúc đẩy bởi các mục tiêu riêng biệt. Những mục tiêu này có thể bao gồm các mục tiêu xã hội, chẳng hạn như tạo việc làm hoặc động cơ chính tri ̣đòi hỏi phải bảo vệ các nhà sản xuất trong nước và hạn chế ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài. Những mục tiêu này thường xung đột với mục tiêu bao quát là tối đa hóa giá tri ̣doanh nghiệp. Borisova và cộng sự (2013) lập luận rằng, trong các hệ thống luật chung, sự hiện diện của quyền sở hữu nhà nước chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo sự ổn định của thị trường, thay vì cho phép chính phủ can thiệp trực tiếp, như được áp dụng trong các hệ thống luật dân sự. Tuy nhiên, khi quyền sở hữu nhà nước trở nên quá tập trung, nó có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh do sự can thiệp vào các mục tiêu chính tri ̣mà chính phủ theo đuổi. Trong bối cảnh Việt Nam, một nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa quyền sở hữu nhà nước và hiệu quả kinh doanh do Pham và Carlin (2009) thực hiện, cho thấy lợi nhuận của các doanh nghiệp trước đây thuộc sở hữu nhà nước có khả năng giảm. Dựa trên các lập luận được nêu ở trên, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau:
Giả thuyết 1: Quyền sở hữu nhà nước có mối quan hệ hình chữ U ngược với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên HOSE.
2.3.2. Tác động của sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
Ở các nền kinh tế mới nổi, quyền sở hữu nước ngoài được coi là một phần thiết yếu của khuôn khổ sở hữu doanh nghiệp. Phần lớn các nghiên cứu cho thấy quyền sở hữu nước ngoài ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp do khả năng của các cổ đông nước ngoài đảm nhận các chức năng giám sát trong quản trị doanh nghiệp nội bộ của các doanh nghiệp tài chính tại các nền kinh tế mới nổi (Douma và cộng sự, 2007). Nghiên cứu do Yudaeva và cộng sự thực hiện (2004) đã chứng minh rằng các doanh nghiệp Nga do nước ngoài sở hữu thể hiện mức năng suất cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, Pervan và Todoric (2013) đã thực hiện một nghiên cứu để điều tra mối tương quan giữa quyền sở hữu doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh Croatia. Phát hiện của họ chỉ ra rằng các doanh nghiệp đại chúng do các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu thể hiện hiệu quả hoạt động vượt trội so với các doanh nghiệp trong nước. Nguyen và Dang (2018) đã tiến hành một nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 30 doanh nghiệp lớn nhất niêm yết trên HOSE để điều tra tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong giai đoạn 2013-2019. Thông qua phân tích dữ liệu bảng, nghiên cứu cho thấy sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến cả Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Những phát hiện này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài có thể góp phần nâng cao hiệu quả tài chính tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam này.
Hơn nữa, Huang & Shiu, 2010; Gurbuz & Aybars, 2011 cho rằng sở hữu nước ngoài tập trung có thể tác động tích cực đến hiệu quả tài chính kinh doanh do khả năng chuyển giao các nguồn lực tài chính, công nghệ và chuyên môn của các nhà đầu tư nước ngoài cho các doanh nghiệp đang xem xét. Ngoài ra, Phung và Hoang (2014) đã khám phá mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp hình thành hình chữ U. Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu đều phát hiện ra tác động tích cực của sở hữu nước ngoài đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, trong khi một số nghiên cứu lại phát hiện ra mối quan hệ hình chữ U, bao gồm tác động tích cực và bước ngoặt làm thay đổi hướng tác động. Do đó, với cách tiếp cận toàn diện, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau:
Giả thuyết 2: Sở hữu nước ngoài có mối quan hệ hình chữ U với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên HOSE.
Từ các lập luận trên và dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước đây, mô hình nghiên cứu được thể hiện trong Hình 2. Mô hình này bao gồm các biến độc lập và kiểm soát. Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính […]