Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: trường hợp các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1 Tổng quan về bối cảnh kinh tế Việt Nam và mô tả thực trạng của cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE

4.1.1 Tổng quan về bối cảnh kinh tế Việt Nam

Bối cảnh kinh tế Việt Nam đã trải qua những chuyển đổi sâu sắc kể từ khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình định hướng thi ̣trường. Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu được đặc trưng bởi các doanh nghiệp nhà nước (SOE), nông nghiệp và công nghiệp nặng theo mô hình kế hoạch hóa tập trung của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, việc đưa ra chương trình Đổi mới (cải cách kinh tế) vào năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, khởi xướng quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thi ̣trường. Cuộc cải cách này đã đưa Việt Nam vào kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế đáng kể, đặc trưng bởi mức tăng GDP cao và ổn định. Ngoài ra, vào năm 1993, một đề xuất về tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, được gọi là “cổ phần hóa”, đã được đưa ra và phê duyệt. Sự phát triển nhanh chóng của thi ̣trường tài chính đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong quyền sở hữu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hiện đại được quản lý bởi các nhà quản lý chuyên nghiệp, những người thường sở hữu một phần nhỏ cổ phần của doanh nghiệp. Hơn nữa, quyền sở hữu được phân tán rộng rãi, cho thấy doanh nghiệp được sở hữu chung bởi nhiều cổ đông, những người cũng nhận được một phần doanh thu của doanh nghiệp. Việc thay thế vốn nhà nước bằng sự tham gia của các cổ đông tư nhân, đặc biệt là cổ đông nước ngoài, là một trong những khía cạnh nổi bật nhất của quá trình tái cấu trúc các doanh nghiệp này.

Theo báo cáo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) năm 2024, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung, và đặc biệt là về tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế tích cực đã được duy trì trong nhiều thập kỷ, thậm chí ở mức tương đối cao trong nhiều giai đoạn, chẳng hạn như giai đoạn 2017-2020 với tốc độ tăng trưởng bình quân lên tới 6,8%/năm. Ngay cả trong thời điểm khó khăn do đại dịch COVID-19 và hậu quả của các biện pháp phòng chống dịch trong nước và nhiều thị trường đối tác, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng tích cực, phục hồi mạnh mẽ lên 8,02% vào năm 2023.

Vạch ra bức tranh hiện tại của nền kinh tế thế giới, lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu rõ thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, từ lạm phát, nợ công gia tăng, xung đột vũ trang Nga – Ukraine đến cạnh tranh địa chính trị. Hơn nữa, tần suất và mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng của các thảm họa thiên nhiên, cộng với biến đổi khí hậu, đã ảnh hưởng thêm đến an ninh lương thực toàn cầu. Tất cả những điều này dẫn đến nguy cơ suy thoái kinh tế, thậm chí là khủng hoảng.

Đối với Việt Nam, những thách thức toàn cầu này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, không chỉ để nắm bắt các cơ hội mới mà còn để vượt qua những trở ngại này và vạch ra lộ trình hướng tới phát triển bền vững và toàn diện. Nền kinh tế chia sẻ năng động của đất nước phải tiếp tục phát triển, thích ứng với thực tế mới và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Nền kinh tế số, động lực quan trọng của tăng trưởng trong tương lai, cần được giải phóng hoàn toàn bằng cách phá vỡ các rào cản hiện có và khai thác hết tiềm năng của nó. Trong khi đó, nền kinh tế xanh và tuần hoàn của Việt Nam phải đẩy nhanh nỗ lực để đảm bảo duy trì khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế, hướng đến tính bền vững để tránh bị tụt hậu trong cuộc đua hướng tới tương lai có ý thức hơn về môi trường. Nhìn chung, nền kinh tế chia sẻ năng động cần phải liên tục đổi mới. Nền kinh tế kỹ thuật số sôi động cần phát huy hết tiềm năng của mình và vượt qua các rào cản. Nền kinh tế xanh/tuần hoàn cần phải nỗ lực hết mình để không bi ̣tụt hậu. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam, trong 5 năm 2019-2023, tốc độ tăng trưởng bình quân kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 11,3%/năm. Trong giai đoạn kinh tế thế giới và trong nước chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, tài chính xuất nhập khẩu tuy có suy giảm nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng dương. Tuy nhiên, từ năm 2011 đến năm 2023, kinh tế thế giới vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, mặc dù lạm phát đã hạ nhiệt. Hiện nay, Việt Nam nằm trong số ít quốc gia có tỷ lệ lạm phát bình quân 4-6% (Biểu đồ 1). Năm 2021 đánh dấu diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, tác động mạnh đến tăng trưởng của nhiều ngành, lĩnh vực. Năm 2022, mặc dù chịu tác động của xung đột Nga-Ukraina và tình trạng tắc nghẽn chuỗi cung ứng toàn cầu trong đại dịch Covid-19, lạm phát của Việt Nam vẫn được kiểm soát tốt. Năm 2024, tỷ lệ lạm phát tăng nhẹ lên 3,25%, đạt mục tiêu đề ra.

  • Hình 4.1 Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam (ĐVT: %)

Tóm lại, nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy khả năng phục hồi và thích ứng đáng kể, đặc biệt là trước những thách thức toàn cầu phức tạp. Quá trình chuyển đổi của quốc gia từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang mô hình định hướng thi ̣trường đã thúc đẩy nhiều thập kỷ tăng trưởng ổn định và cải cách cấu trúc đang diễn ra. Tiến về phía trước, trọng tâm của quốc gia vào đổi mới, tính bền vững và tính bao trùm sẽ rất quan trọng trong việc đảm bảo thịnh vượng kinh tế lâu dài và duy trì vị thế là một trong những nền kinh tế năng động nhất châu Á.

4.1.2 Đóng góp của ngành công nghiệp vào nền kinh tế Việt Nam Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Khu vực công nghiệp tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi kinh tế của quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang mô hình định hướng thi ̣trường. Nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là khu vực công nghiệp, đã tiếp tục chứng minh sự tăng trưởng đáng kể. Khu vực công nghiệp vẫn là nền tảng của nền kinh tế Việt Nam, được hưởng lợi từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đáng kể.

Theo Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV năm 2024 ước tính tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn quý IV các năm 2013-2014 và 2021-2023 và theo xu hướng tích cực, quý tiếp theo đều cao hơn quý trước (quý I tăng 3,41%, quý II tăng 4,25% và quý III tăng 5,47%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,13%, đóng góp 7,51% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; tiếp theo là khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 42,58%. Cuối cùng, khu vực dịch vụ tăng 7,29%, đóng góp 49,91%.

  • Hình 4.2 Tỷ lệ tăng trưởng GDP theo từng quý của các vùng trong năm 2024

GDP năm 2024 ước tăng 5,05% so với năm trước, chỉ cao hơn mức tăng trưởng của năm 2021 và 2022 trong giai đoạn 2012-2024. Trong tổng mức tăng giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 8,84%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,74%, đóng góp 28,87%; khu vực dịch vụ tăng 6,82%, đóng góp 62,29%.

Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh cầu toàn cầu suy giảm. Giá tri ̣gia tăng toàn ngành năm 2024 tăng 3,02% so với năm trước.

Về cấu trúc kinh tế năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,96%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,12%; khu vực dịch vụ chiếm 42,54%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,38%. Ngoài ra, khu vực công nghiệp còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tạo việc làm cho khoảng 17 triệu lao động vào năm 2024. Ngoài ra, nhóm hàng công nghiệp là một trong ba nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam (cùng với nhóm hàng nông, thủy sản và nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản thiên nhiên), mang lại giá tri ̣lớn và đóng góp quan trọng vào kết quả xuất khẩu hằng năm của Việt Nam. Xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm gần 85% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2024.

Khu vực công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và công nghiệp hóa, khu vực công nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là trong các lĩnh vực như chế tạo, chế biến và lắp ráp. Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp công nghiệp không chỉ chú trọng nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng các mô hình quản lý tiên tiến và tăng cường đầu tư nước ngoài. Là nền tảng của nền kinh tế, khu vực công nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức từ cạnh tranh toàn cầu cũng như các yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn môi trường và quản trị doanh nghiệp. Những yếu tố này đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới và nâng cao hiệu quả tài chính để duy trì tăng trưởng và phát triển bền vững.

4.2 Tổng quan về sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

4.2.1 Lịch sử hình thành

Để thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa đất nước, duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định, nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh, Việt Nam rất cần nguồn vốn đầu tư lớn. Do đó, việc xây dựng thi ̣trường chứng khoán tại Việt Nam đã trở thành nhu cầu cấp thiết để huy động vốn trung và dài hạn trong và ngoài nước vào đầu tư kinh tế thông qua chứng khoán nợ và chứng khoán vốn. Hơn nữa, việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán nhằm tạo môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh hơn. Theo báo cáo của HOSE, ngày 10 tháng 7 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghi ̣định số 48/1999/NĐ-CP về cổ phiếu và thi ̣trường chứng khoán và quyết định thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh chính thức đi vào tài chính vào ngày 20 tháng 7 năm 2001 và bắt đầu giao dịch vào ngày 28 tháng 7 năm 2001, với hai cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch. Sau 7 năm phát triển và hội nhập vào thi ̣ trường chứng khoán toàn cầu, Chính phủ đã ký Quyết định số 599/QĐ-TTG ngày 11/5/2008 chuyển Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM sang Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE). Ngày 8/8/2008, Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM chính thức khai trương. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Đến nay, Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tổng giá tri ̣vốn huy động thông qua phát hành thêm trên thi ̣trường chứng khoán từ năm 2001 đến năm 2022 ước đạt trên 330.156 tỷ đồng với 906 đợt phát hành. Đáng chú ý, trong giai đoạn tái cấu trúc kinh tế từ năm 2011 đến năm 2016, mức huy động tăng hơn 5 lần so với giai đoạn 2005-2010. Trên 90% doanh nghiệp niêm yết trên HOSE đã tăng vốn điều lệ sau khi niêm yết trên thi ̣trường chứng khoán, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính, đầu tư các dự án mới, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh và hiệu quả tài chính.

Ngay từ khi thành lập, HOSE đã liên tục phát triển. Trong giai đoạn đầu (2001 – 2006) với giá tri ̣vốn hóa thi ̣trường dưới 1% GDP, thi ̣trường đã tăng trưởng liên tục, giá tri ̣vốn hóa thi ̣trường đạt trên 30% GDP vào năm 2016. Đến cuối tháng 10 năm 2022, giá trị vốn hóa thị trường tại HOSE đã đạt 5,6 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 89% GDP năm 2021. Đến cuối tháng 5 năm 2023, danh mục cổ phiếu trên HOSE bao gồm 522 mã cổ phiếu đang được giao dịch.

Thi ̣trường chứng khoán Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và ổn định liên tục, được thúc đẩy bởi một số yếu tố chính. Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra, cùng với sự gia tăng đầu tư nước ngoài đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho thị trường chứng khoán. Ngoài ra, các sáng kiến của Chính phủ nhằm tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước và sau đó niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán dự kiến sẽ thúc đẩy hơn nữa sự tăng trưởng của thi ̣ trường. Những yếu tố kết hợp này đang góp phần vào sự phát triển của một thi ̣trường vốn năng động hơn tại Việt Nam.

4.2.2 Phân ngành của HOSE

Đầu năm 2017, HOSE chính thức công bố chỉ số phân ngành này dành cho các doanh nghiệp niêm yết. GICS® là hệ thống phân ngành theo thứ bậc, gồm bốn cấp. Chuẩn phân ngành GICS® có 4 cấp từ chung đến chi tiết như sau: Ngành, Nhóm ngành, Ngành và cuối cùng là Phân ngành. Ở mỗi cấp, một doanh nghiệp chỉ được phân loại vào một loại.

  • Hình 4.3 Các cấp độ tiêu chuẩn ngành GICS®

GICS® (Tiêu chuẩn phân loại ngành toàn cầu) được phát triển và là tài sản độc quyền của MSCI Inc. và Standard & Poor’s. GICS® được sử dụng để xác định tài chính kinh doanh chính của mỗi doanh nghiệp. Theo quy tắc chung, một doanh nghiệp sẽ được phân loại vào một Phân ngành nếu doanh thu từ Phân ngành đó chiếm ít nhất 60% cấu trúc doanh thu của doanh nghiệp. Trong trường hợp một doanh nghiệp tài chính trong nhiều ngành và không có Phân ngành nào đóng góp hơn 60% doanh thu, doanh nghiệp sẽ được phân loại vào Phân ngành tạo ra doanh thu chính. Trong trường hợp không có Phân ngành nào tạo ra doanh thu đáng kể, việc phân loại sẽ dựa trên phân tích cụ thể và chuyên sâu hơn dựa trên dữ liệu có sẵn và thông tin thị trường để đảm bảo thể hiện chính xác nhất bản chất tài chính kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp mới niêm yết, việc phân loại sẽ dựa trên mô tả về tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong bản báo cáo.

4.3 Mô tả thực trạng của cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên HOSE Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Kết quả ở Hình 4.4 cho thấy phần lớn các quan sát tập trung ở nhóm ROA từ 0 đến 10% với 404 quan sát, chiếm tỷ trọng áp đảo. Đây là một kết quả hợp lý trong bối cảnh ngành công nghiệp vốn đòi hỏi lượng tài sản lớn để duy trì hoạt động. Mức ROA dưới 10% vẫn phản ánh khả năng sinh lợi dương trên tài sản, đồng thời phù hợp với thực tiễn chung khi doanh nghiệp công nghiệp khó có thể đạt tỷ suất lợi nhuận quá cao do đặc thù chi phí cố định và chi phí đầu tư vốn lớn.

Bên cạnh đó, có 57 quan sát đạt ROA trong khoảng 10–20% và chỉ có 7 quan sát đạt từ 20–30%. Dù số lượng không nhiều, nhóm này cho thấy một bộ phận doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng tài sản khá tốt, vượt lên trên mặt bằng chung. Đây có thể là những công ty có lợi thế về công nghệ, quản tri ̣chi phí, hoặc sở hữu vi ̣thế cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường. Ngược lại, nhóm có ROA âm chiếm 35 quan sát, phản ánh tình trạng hoạt động chưa hiệu quả trong một số giai đoạn, nhiều khả năng do ảnh hưởng từ yếu tố chu kỳ kinh tế, dịch bệnh hoặc quản tri ̣yếu kém.

Đáng chú ý, vẫn có 14 quan sát ghi nhận ROA trên 30%, cho thấy sự tồn tại của những doanh nghiệp có khả năng tạo lợi nhuận vượt trội trên tài sản. Đây là những trường hợp đặc biệt, minh chứng rằng trong khi phần lớn doanh nghiệp duy trì mức ROA vừa phải, vẫn có những công ty tận dụng tối đa nguồn lực để đạt hiệu quả tài chính nổi bật. Điều này cho thấy sự phân hóa đáng kể giữa các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết, mở ra hướng phân tích sâu hơn về vai trò của cấu trúc sở hữu trong việc quyết định hiệu quả tài chính.

  • Hình 4.4 Giá trị ROA của các công ty trong mẫu

Kết quả ở Hình 4.5 cho thấy đa số các quan sát có ROE nằm trong khoảng 0–10%, với 324 quan sát, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong mẫu. Điều này phản ánh rằng phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết duy trì mức lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ở ngưỡng vừa phải, phù hợp với đặc thù của ngành sử dụng vốn lớn và chu kỳ kinh doanh dài. Mức ROE dưới 10% tuy không cao, nhưng vẫn cho thấy doanh nghiệp tạo ra giá tri ̣ gia tăng dương cho cổ đông, đồng thời phản ánh khả năng duy trì ổn định trong bối cảnh thị trường nhiều biến động. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Đáng chú ý, nhóm doanh nghiệp có ROE trong khoảng 10–20% chiếm 114 quan sát, cho thấy có một bộ phận đáng kể công ty đạt được hiệu quả sinh lời tốt hơn trung bình. Ngoài ra, vẫn có 24 quan sát đạt mức ROE từ 20–30% và 20 quan sát vượt trên 30%, thể hiện sự nổi bật của một số doanh nghiệp trong việc sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu. Đây thường là những công ty có chiến lược kinh doanh hiệu quả, lợi thế cạnh tranh bền vững hoặc cấu trúc vốn tối ưu, từ đó tạo ra mức sinh lời cao vượt trội so với phần lớn thị trường.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại 35 quan sát có ROE âm, phản ánh tình trạng thua lỗ trên vốn chủ sở hữu của một số doanh nghiệp. Kết quả này cho thấy sự phân hóa khá rõ rệt trong ngành công nghiệp niêm yết: trong khi đa số doanh nghiệp duy trì hiệu quả ở mức hợp lý, vẫn có một số ít công ty rơi vào tình trạng khó khăn, đối lập với nhóm doanh nghiệp đạt ROE cao vượt trội. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích cấu trúc sở hữu và các yếu tố quản trị, bởi chúng có thể đóng vai trò quyết định đến khả năng sinh lời và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

  • Hình 4.5 Giá trị ROE của các công ty trong mẫu

Hình 4.6 cho thấy cơ cấu sở hữu nhà nước trong các công ty công nghiệp niêm yết trên HOSE có sự phân bổ tương đối đa dạng, nhưng tập trung chủ yếu ở nhóm nắm giữ từ 40–60% vốn với 40 quan sát. Điều này phản ánh xu hướng phổ biến là Nhà nước vẫn duy trì tỷ lệ kiểm soát đáng kể tại nhiều doanh nghiệp công nghiệp lớn, đảm bảo quyền chi phối trong hoạt động quản trị, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong các quyết định chiến lược của doanh nghiệp.

Ở mức thấp hơn, nhóm công ty có tỷ lệ sở hữu nhà nước từ 1–20% chiếm 32 quan sát và nhóm từ 20–40% chiếm 28 quan sát. Hai nhóm này cho thấy sự tham gia của Nhà nước mang tính chất giám sát và hỗ trợ nhiều hơn là kiểm soát tuyệt đối. Điều này thường tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động hơn trong quản lý, đồng thời vẫn được hưởng lợi từ sự bảo trợ về chính sách hoặc vốn từ Nhà nước. Đây cũng là xu hướng phù hợp với chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam trong những năm gần đây.

Ngược lại, nhóm doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước trên 60% chỉ chiếm 15 quan sát, tức là số lượng không nhiều nhưng vẫn cho thấy tồn tại những công ty mà Nhà nước nắm quyền chi phối gần như tuyệt đối. Nhóm này thường là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trọng yếu, có vai trò chiến lược đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, việc sở hữu quá cao đôi khi cũng có thể làm giảm tính linh hoạt trong quản tri ̣và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh so với các doanh nghiệp có cơ cấu sở hữu đa dạng hơn. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

  • Hình 4.6 Tỷ lệ sở hữu nhà nước của các công ty trong mẫu

Hình 4.7 cho thấy tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên HOSE tập trung chủ yếu ở mức thấp, từ 1–20%, với 244 quan sát. Kết quả này phản ánh thực tế rằng phần lớn nhà đầu tư nước ngoài tham gia ở mức độ hạn chế, chủ yếu dừng ở vai trò cổ đông nhỏ để đa dạng hóa danh mục đầu tư hoặc thử nghiệm cơ hội tại thị trường Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với bối cảnh nhiều doanh nghiệp công nghiệp chưa thực sự hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài về quy mô, công nghệ hay mức sinh lời dài hạn.

Trong khi đó, số lượng quan sát ở các nhóm cao hơn như 20–40% và 40–60% tương đối hạn chế, lần lượt là 33 và 37 quan sát. Đây thường là những trường hợp doanh nghiệp đã khẳng định được uy tín, hiệu quả hoạt động ổn định và có mức độ minh bạch cao, từ đó thu hút sự tham gia mạnh mẽ hơn từ nhà đầu tư nước ngoài. Sự hiện diện của khối ngoại ở mức đáng kể thường đi kèm với kỳ vọng cải thiện quản trị công ty, áp dụng các chuẩn mực quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Đặc biệt, vẫn có 15 quan sát ghi nhận tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên 60%, phản ánh sự chi phối của nhà đầu tư ngoại trong một số doanh nghiệp. Nhóm này tuy không phổ biến, nhưng có ý nghĩa quan trọng khi cho thấy xu hướng mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng của thi ̣trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, việc khối ngoại nắm quyền kiểm soát cao cũng có thể mang lại những thay đổi đáng kể trong chiến lược phát triển, quản tri ̣và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

  • Hình 4.7 Tỷ lệ sở hữu nhà nước của các công ty trong mẫu

Bảng 4.1 trình bày thống kê mô tả của các biến trong mô hình nghiên cứu. Đối với biến phụ thuộc, giá trị ROA trung bình của các quan sát đạt khoảng 5,16%, với độ lệch chuẩn 8,82%. Giá tri ̣nhỏ nhất của ROA là -36,57%, trong khi mức cao nhất lên đến 65,37%. Kết quả này cho thấy đa số doanh nghiệp duy trì được khả năng sinh lợi dương trên tài sản, song vẫn tồn tại một số công ty thua lỗ nghiêm trọng hoặc đạt hiệu quả vượt trội, khiến độ phân tán khá lớn. Tương tự, ROE trung bình đạt 7,12%, với độ lệch chuẩn lên đến 16,95%, cho thấy sự biến động mạnh hơn so với ROA. Đặc biệt, giá tri ̣ROE thấp nhất là -233,12% phản ánh tình trạng thua lỗ nặng của một số công ty, trong khi mức cao nhất là 78,94% cho thấy sự nổi bật về khả năng tạo lợi nhuận cho cổ đông của một số doanh nghiệp khác. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Xét đến cấu trúc sở hữu, tỷ lệ sở hữu nhà nước trung bình đạt 7,99%, với độ lệch chuẩn 18,06%. Mức thấp nhất bằng 0 cho thấy có những doanh nghiệp hoàn toàn không còn vốn nhà nước, trong khi mức cao nhất đạt 86,19%, phản ánh sự khác biệt rất lớn giữa các công ty trong mức độ tham gia quản lý và kiểm soát của Nhà nước. Đối với sở hữu nước ngoài, giá tri ̣trung bình là 10,83% và độ lệch chuẩn 18,57%, cũng dao động mạnh từ 0 đến mức tối đa 90,9%. Kết quả này cho thấy sự đa dạng đáng kể trong mức độ tham gia của khối ngoại, từ không tham gia cho đến nắm giữ cổ phần chi phối, phù hợp với quan sát từ các biểu đồ phân bố ở phần trước.

Về các biến kiểm soát, quy mô doanh nghiệp có giá tri ̣trung bình ở mức 28,31 (theo logarit tự nhiên của tổng tài sản), dao động trong khoảng từ 25,74 đến 32,09, với độ lệch chuẩn 1,40. Điều này phản ánh sự khác biệt đáng kể về quy mô giữa các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết. Số năm hoạt động trung bình đạt 28,14 năm, với độ lệch chuẩn 13,23, cho thấy có sự phân hóa giữa các công ty có lịch sử phát triển lâu dài và các doanh nghiệp còn non trẻ. Cuối cùng, đòn bẩy tài chính trung bình đạt 44,32% với độ lệch chuẩn 25,17%, dao động từ mức gần như bằng 0 cho đến hơn 129%. Sự khác biệt này phản ánh chính sách vay nợ và cấu trúc vốn rất khác nhau giữa các doanh nghiệp trong ngành, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính và khả năng chịu đựng rủi ro.

  • Bảng 4.1 Thống kê mô tả

4.4. Phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên hose

Bảng 4.2 trình bày kết quả kiểm định đa cộng tuyến thông qua chỉ số VIF (Variance Inflation Factor) của các biến độc lập trong mô hình. Kết quả cho thấy tất cả các biến đều có giá trị VIF rất thấp, dao động từ 1.01 đến 1.34. Cụ thể, biến đòn bẩy tài chính và quy mô doanh nghiệp có VIF cao nhất với cùng mức 1.34, trong khi các biến khác như sở hữu nước ngoài (1.07), sở hữu nhà nước (1.02) và số năm hoạt động (1.01) đều tiệm cận 1. Giá trị trung bình VIF chỉ ở mức 1.16, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng cảnh báo 10 theo tiêu chuẩn của Gujarati (2005), thậm chí còn thấp hơn cả ngưỡng thận trọng 5 được nhiều nghiên cứu khuyến nghi ̣

  • Bảng 4.2 Giá trị VIF Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Vì dữ liệu trong nghiên cứu này là dữ liệu bảng (panel data) nên việc sử dụng các mô hình hồi quy theo hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) được xem là phù hợp hơn so với mô hình OLS gộp. Khác với OLS, dữ liệu bảng kết hợp cả đặc trưng chuỗi thời gian và chéo không gian, tức là mỗi doanh nghiệp được quan sát qua nhiều năm liên tiếp. Mô hình OLS thường bỏ qua sự khác biệt này nên có thể dẫn đến kết quả hồi quy kém tin cậy. Do đó, luận văn tiến hành kiểm định Hausman nhằm lựa chọn mô hình thích hợp nhất giữa FEM và REM.

Kiểm định Hausman là một kiểm định giả thuyết trong kinh tế lượng, được sử dụng để so sánh hai phương pháp ước lượng FEM và REM. Giả thuyết gốc (H0) cho rằng mô hình REM là phù hợp hơn, trong khi giả thuyết đối (H1) cho rằng FEM là thích hợp. Kết quả tại Bảng 4.3 cho thấy với Mô hình 1 (bao gồm ROA, sở hữu nhà nước, bình phương sở hữu nhà nước và các biến kiểm soát), giá tri ̣Prob > chi2 = 0,5112 lớn hơn 0,05, nên chấp nhận H0 và kết luận rằng REM phù hợp hơn. Tương tự, với Mô hình 2 (ROA, sở hữu nước ngoài, bình phương sở hữu nước ngoài và các biến kiểm soát), giá trị Prob > chi2 = 0,5991 cũng lớn hơn 0,05, nên REM tiếp tục được lựa chọn.

Đối với Mô hình 3, khi xem xét toàn bộ biến độc lập với biến phụ thuộc ROA, kết quả Prob > chi2 = 0,2347 vẫn lớn hơn 0,05, do đó mô hình REM được xác định là thích hợp hơn FEM. Cuối cùng, ở Mô hình 4, giá tri ̣Prob > chi2 = 0,3395 cũng cho kết luận tương tự. Như vậy, trong cả bốn mô hình hồi quy, kiểm định Hausman đều cho kết quả thống nhất rằng REM là phương pháp ước lượng phù hợp nhất.

Tóm lại, sau khi thực hiện kiểm định Hausman, luận văn lựa chọn mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) làm phương pháp hồi quy chính thức. Kết quả này cho thấy các yếu tố ngẫu nhiên giữa các công ty có ảnh hưởng nhưng không gây ra tương quan với các biến giải thích, do đó việc sử dụng REM sẽ cho kết quả ước lượng hiệu quả và tin cậy hơn trong bối cảnh nghiên cứu.

  • Bảng 4.3 Kiểm định Hausman

Để phát hiện hiện tượng phương sai thay đổi, tác giả sử dụng kiểm định Breusch & Pagan với lệnh xttest0 để ước lượng REM. Bảng 4.5 trình bày kết quả kiểm định phương sai thay đổi cho bốn mô hình hồi quy. Với giả thuyết H0 “phương sai không đổi”, các giá trị p–value của cả bốn mô hình đều bằng 0,000 (< 0,05), vì vậy H0 bị bác bỏ. Kết luận thống nhất là dữ liệu tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi tất cả các mô hình. Kết quả phù hợp với bối cảnh dữ liệu bảng của các doanh nghiệp công nghiệp: mức độ biến động lợi nhuận và cấu trúc vốn khác nhau theo công ty và theo thời gian thường tạo ra phương sai thay đổi.

  • Bảng 4.4 Kiểm định phương sai thay đổi Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan trong mô hình, nghiên cứu áp dụng kiểm định Wooldridge thông qua lệnh xtserial. Giả thuyết gốc (H0) của kiểm định là “không có hiện tượng tự tương quan”. Kết quả được trình bày trong Bảng 4.6 cho thấy giá tri ̣ p–value của tất cả các mô hình đều lớn hơn 0,05, cụ thể: Mô hình 1 có p = 0,0521; Mô hình 2 có p = 0,0528; Mô hình 3 có p = 0,9011; và Mô hình 4 có p = 0,9089.

Với các giá tri ̣p này, giả thuyết H0 không bi ̣bác bỏ ở mức ý nghĩa 5%. Điều này đồng nghĩa với việc các mô hình không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong phần dư. Đây là kết quả tích cực vì tự tương quan có thể làm cho hệ số ước lượng kém hiệu quả và dẫn đến việc diễn giải sai ý nghĩa thống kê.

  • Bảng 4.5 Kiểm định tự tương quan

Thông qua kết quả kiểm định ở mỗi phần trên, tác giả nhận thấy cả bốn mô hình được ước lượng bằng REM đều có hiện tượng phương sai không đồng nhất và tự tương quan. Sự hiện diện của những hiện tượng này trong các mô hình có thể làm giảm đáng kể độ tin cậy của các ước lượng hồi quy.

Để giải quyết những vấn đề này, phương pháp bình phương nhỏ tổng quát (GLS) được sử dụng trong nghiên cứu này. Phương pháp này được Alexander Aitken mô tả lần đầu tiên vào năm 1935 và được sử dụng để cải thiện hiệu quả thống kê và giảm thiểu rủi ro rút ra các suy luận sai. Điều này có nghĩa là phương pháp GLS sẽ được áp dụng để khắc phục hiện tượng phương sai không đồng nhất và tự tương quan của ba mô hình trong nghiên cứu này.

Bằng cách áp dụng phương pháp GLS, nghiên cứu này nhằm mục đích hiệu chỉnh các sai số do phương sai không đồng nhất và tự tương quan gây ra trong 4 mô hình. Cách tiếp cận này đảm bảo rằng kết quả mô hình đáng tin cậy và mạnh mẽ hơn, giảm thiểu rủi ro suy luận sai và tăng cường tính hợp lệ của các kết luận rút ra từ phân tích. Và kết quả ước lượng GLS được trình bày trong Bảng 4.7 dưới đây.

Kết quả hồi quy GLS trong Bảng 4.7 cho thấy các biến sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê cao đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, được đo lường bởi cả ROA và ROE. Cụ thể, trong Mô hình 1 và 2 với biến phụ thuộc là ROA, hệ số sở hữu nhà nước lần lượt là 0.000802 và 0.000801, đều có ý nghĩa ở mức 1%. Trong khi đó, sở hữu nước ngoài cũng tác động tích cực với hệ số 0.000468 ở Mô hình 1 và 0.00170 ở Mô hình 2. Kết quả này khẳng định rằng việc gia tăng tỷ lệ vốn góp của Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài đều góp phần cải thiện khả năng sinh lợi trên tài sản của doanh nghiệp công nghiệp niêm yết. Với các mô hình 3 và 4, khi hiệu quả tài chính được đo lường bằng ROE, xu hướng tương tự cũng được ghi nhận: cả sở hữu nhà nước (0.000704 và 0.00105) và sở hữu nước ngoài (0.000647 và 0.00203) đều mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Tuy nhiên, khi bổ sung thành phần bình phương, kết quả cho thấy tồn tại quan hệ phi tuyến giữa sở hữu và hiệu quả tài chính. Với Mô hình 2, biến bình phương của sở hữu nhà nước có hệ số âm (-0.00000361) nhưng không có ý nghĩa, trong khi ở Mô hình 4 thì đạt ý nghĩa ở mức 10% (-0.00000785). Như vậy, sở hữu nhà nước có tác động hình chữ U ngược đến ROE, nhưng không có tác động hình chữ U ngược đến ROA mà chỉ có tác động tuyến tính tích cực. Sở hữu nước ngoài thể hiện mối quan hệ phi tuyến rõ rệt hơn: cả hai mô hình có ROA và ROE đều cho hệ số bình phương âm và có ý nghĩa thống kê cao (-0.192 và -0.242). Như vậy, tác động của sở hữu nước ngoài đến hiệu quả tài chính mang hình chữ U ngược, tức là tỷ lệ sở hữu nước ngoài chỉ cải thiện hiệu quả đến một mức tối ưu, sau đó hiệu quả giảm dần khi nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ tỷ lệ quá cao.

Đối với các biến kiểm soát, đòn bẩy tài chính luôn mang dấu âm và có ý nghĩa ở tất cả các mô hình, cho thấy doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều thì hiệu quả tài chính càng giảm, phản ánh chi phí lãi vay và rủi ro tài chính cao có thể làm giảm lợi nhuận. Quy mô doanh nghiệp không có ý nghĩa trong các mô hình với ROA, nhưng lại mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê trong các mô hình với ROE. Kết quả này hàm ý rằng doanh nghiệp quy mô lớn không phải lúc nào cũng mang lại lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao, có thể do hiệu quả sử dụng vốn chưa tối ưu. Số năm hoạt động có tác động âm và có ý nghĩa đến ROA nhưng không có ý nghĩa khi đo lường bằng ROE, cho thấy doanh nghiệp lâu năm có thể chịu ảnh hưởng từ bộ máy cồng kềnh và ít linh hoạt, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả trên tài sản.

  • Bảng 4.6 Kết quả GLS

4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Kết quả cho thấy các biến kiểm soát có tác động đáng chú ý. Đòn bẩy tài chính mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê rất cao trong tất cả các mô hình, cho thấy việc sử dụng nợ vay quá mức làm giảm hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Kết quả này phù hợp với lý thuyết đại diện của Jensen & Meckling (1976) và các nghiên cứu trước đây (Berger et al., 2007), khi đòn bẩy cao làm tăng rủi ro tài chính và hạn chế khả năng đầu tư. Quy mô doanh nghiệp không có ý nghĩa trong các mô hình với ROA, nhưng lại mang dấu âm và có ý nghĩa ở mức 1% khi biến phụ thuộc là ROE. Điều này gợi ý rằng các doanh nghiệp quy mô lớn có thể đối mặt với tình trạng kém hiệu quả trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu do bộ máy cồng kềnh và chi phí quản lý cao, phù hợp với quan sát của Klapper & Love (2005). Trong khi đó, số năm hoạt động có tác động âm và có ý nghĩa đến ROA, song lại không có ý nghĩa khi đo lường bằng ROE, cho thấy kinh nghiệm tích lũy chưa chắc đảm bảo hiệu quả tài chính cao hơn.

Đối với sở hữu nhà nước, kết quả ở cả hai mô hình với ROA và ROE đều cho thấy hệ số tuyến tính dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Tuy nhiên, biến bình phương của sở hữu nhà nước lại không có ý nghĩa trong mô hình với ROA và chỉ đạt mức ý nghĩa 10% trong mô hình với ROE. Kết quả này gợi ý rằng sở hữu nhà nước nhìn chung có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, nhưng chưa tìm thấy bằng chứng rõ ràng cho mối quan hệ phi tuyến. Điều này có thể phản ánh rằng phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết hiện nay, dù vẫn còn tỷ lệ vốn nhà nước, nhưng được quản tri ̣theo cơ chế thi ̣trường hiện đại và minh bạch hơn, nhờ đó vốn nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả thay vì cản trở hoạt động.

Đối với sở hữu nước ngoài, kết quả hồi quy khẳng định tác động tích cực nhưng mang tính phi tuyến. Hệ số tuyến tính của sở hữu nước ngoài đều dương và có ý nghĩa thống kê cao trong tất cả các mô hình, cho thấy sự tham gia của nhà đầu tư ngoại có lợi cho hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, biến bình phương của sở hữu nước ngoài lại có hệ số âm và có ý nghĩa ở mức 1%, phản ánh mối quan hệ hình chữ U ngược. Nói cách khác, tỷ lệ sở hữu nước ngoài chỉ cải thiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp đến một ngưỡng tối ưu nhất định, sau đó hiệu quả suy giảm khi nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ quá nhiều cổ phần. Tính toán từ hệ số hồi quy cho thấy ngưỡng tối ưu này rất thấp, chỉ vào khoảng 0,4% vốn. Điều này cho thấy trong mẫu nghiên cứu, các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết chưa thực sự phát huy được lợi thế của vốn ngoại ở mức cao, có thể do hạn chế về minh bạch thông tin, khác biệt về chiến lược quản trị, hoặc đặc thù ngành nghề chưa đủ hấp dẫn để khối ngoại tham gia sâu.

Tóm lại, kết quả từ Bảng 4.7 khẳng định rằng cả sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài đều có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp công nghiệp niêm yết, nhưng tác động của sở hữu nước ngoài thể hiện mối quan hệ phi tuyến rõ rệt hơn. Đồng thời, các biến kiểm soát như đòn bẩy tài chính, quy mô và số năm hoạt động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lý giải sự khác biệt hiệu quả tài chính giữa các công ty.

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

5.1 Kết luận Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng của các doanh nghiệp công nghiệp có vốn hóa lớn nhất niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2021–2025, nhằm phân tích tác động của cấu trúc sở hữu, bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài, đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Trên cơ sở mô hình hồi quy GLS với nhiều biến kiểm soát, kết quả thực nghiệm cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa vai trò của hai loại hình sở hữu này.

Trước hết, sở hữu nhà nước có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, được đo lường bởi cả ROA và ROE. Tuy nhiên, bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả tài chính chưa thực sự rõ ràng, khi biến bình phương chỉ có ý nghĩa ở mức 10% trong một mô hình với ROE. Điều này gợi ý rằng vốn nhà nước hiện diện ở một tỷ lệ nhất định vẫn có thể tạo tác động tích cực, chủ yếu nhờ yếu tố ổn định và sự bảo trợ trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, do quá trình cổ phần hóa đã làm giảm tỷ trọng vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp lớn, tác động của sở hữu nhà nước nhìn chung không còn mang tính chi phối mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ.

Ngược lại, sở hữu nước ngoài thể hiện mối quan hệ phi tuyến rõ rệt hơn. Kết quả hồi quy cho thấy tác động tuyến tính của sở hữu nước ngoài đối với hiệu quả tài chính đều dương và có ý nghĩa cao, nhưng hệ số bình phương mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Điều này phản ánh một mối quan hệ hình chữ U ngược: hiệu quả tài chính tăng lên khi tỷ lệ sở hữu nước ngoài gia tăng, song chỉ đến một ngưỡng tối ưu nhất định, sau đó hiệu quả suy giảm khi nhà đầu tư ngoại nắm giữ tỷ lệ quá lớn.

Đóng góp lý thuyết quan trọng của nghiên cứu là cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam. Khác với nhiều nghiên cứu trước, kết quả này cho thấy tác động tích cực nhưng hạn chế của sở hữu nhà nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò “hai mặt” của sở hữu nước ngoài vừa mang lại lợi ích, vừa tiềm ẩn rủi ro nếu vượt quá mức tối ưu. Kết quả này góp phần bổ sung vào kho tàng nghiên cứu về quản tri ̣công ty tại các thị trường mới nổi, nơi mà quá trình cải cách thể chế, cổ phần hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra song song.

5.2 Hàm ý chính sách

Từ kết quả thực nghiệm, một số hàm ý chính sách quan trọng có thể rút ra cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.

Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc sở hữu đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trên HOSE. Trong đó, sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài thể hiện những tác động khác nhau, qua đó đưa ra những gợi ý chính sách cụ thể. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

Thứ nhất, sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Kết quả thống kê cho thấy tỷ lệ vốn nhà nước trong các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết trung bình chỉ còn khoảng 8%, phần lớn doanh nghiệp đã giảm tỷ lệ chi phối của Nhà nước xuống mức thấp sau quá trình cổ phần hóa. Tuy nhiên, kết quả hồi quy chỉ ra rằng ngay cả ở mức sở hữu không nhiều, sự hiện diện của Nhà nước vẫn tạo hiệu ứng tích cực, giúp ổn định hoạt động và nâng cao khả năng sinh lợi. Điều này phản ánh vai trò “chất lượng” hơn là “số lượng” của vốn nhà nước. Từ đó, gợi ý chính sách đặt ra là Nhà nước nên tiếp tục duy trì một tỷ lệ sở hữu hợp lý trong những doanh nghiệp then chốt của ngành công nghiệp không cần chi phối nhưng đủ để tạo sự bảo đảm ổn định và định hướng chiến lược dài hạn. Đồng thời, cần tránh tình trạng nắm giữ vốn quá cao vì dấu hiệu phi tuyến (dù yếu) cho thấy tác động tích cực có thể suy giảm khi sở hữu vượt quá một ngưỡng nhất định. Do đó, chính sách cổ phần hóa cần đi kèm với cải thiện cơ chế giám sát và minh bạch, để Nhà nước đóng vai trò “nhà điều tiết” thay vì “nhà quản lý trực tiếp”.

Thứ hai, sở hữu nước ngoài thể hiện mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược với hiệu quả tài chính. Thống kê mô tả cho thấy tỷ lệ sở hữu nước ngoài trung bình khoảng 10,8%, nhưng phân bố không đồng đều: phần lớn doanh nghiệp có tỷ lệ dưới 20%, chỉ rất ít công ty có khối ngoại nắm trên 60%. Kết quả hồi quy khẳng định rằng sự tham gia của nhà đầu tư ngoại giúp doanh nghiệp cải thiện quản trị, tiếp cận công nghệ và mở rộng thị trường, nhưng khi tỷ lệ sở hữu tăng quá cao, tác động tích cực giảm dần, thậm chí gây hiệu ứng ngược. Nguyên nhân có thể đến từ sự khác biệt trong văn hóa quản trị, mâu thuẫn lợi ích giữa nhà đầu tư ngoại và nội, hoặc áp lực chi phối quá lớn từ phía cổ đông ngoại khiến chiến lược phát triển không phù hợp với điều kiện trong nước.

Từ đó, gợi ý chính sách cho thấy cần thiết phải quản lý theo hướng chất lượng thay vì số lượng. Nhà nước nên ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có năng lực công nghệ, quản tri ̣và thi ̣trường, thay vì chỉ mở rộng trần sở hữu cho các nhà đầu tư tài chính ngắn hạn. Khung pháp lý cần đảm bảo hai mục tiêu song song: tạo môi trường minh bạch, ổn định để khối ngoại gắn bó dài hạn, đồng thời bảo vệ sự cân bằng lợi ích giữa cổ đông ngoại và nội. Ở cấp độ doanh nghiệp, các công ty cần chủ động nâng cao năng lực hấp thụ bằng cách cải thiện minh bạch thông tin, áp dụng chuẩn mực quản tri ̣quốc tế và xây dựng chiến lược hợp tác bền vững với nhà đầu tư ngoại, nhằm khai thác tối đa giá tri ̣gia tăng thay vì phụ thuộc.

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Luận văn vẫn tồn tại một số hạn chế cần được nhìn nhận để định hướng cho các nghiên cứu sau.

Thứ nhất, khoảng thời gian phân tích chỉ kéo dài 5 năm (2021–2025), trong khi những thay đổi về cấu trúc sở hữu và hiệu quả tài chính có thể chịu tác động mạnh từ các yếu tố chu kỳ kinh tế và chính sách vĩ mô. Việc mở rộng khung thời gian trong các nghiên cứu sau sẽ giúp kiểm định tính ổn định của mối quan hệ, cũng như phát hiện những thay đổi mang tính dài hạn.

Thứ hai, nghiên cứu chỉ tập trung vào hai loại sở hữu chính là sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài. Trong khi đó, các yếu tố khác như sở hữu cá nhân, sở hữu tổ chức hoặc sở hữu nội bộ của ban điều hành cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tài chính. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phân tích để so sánh tác động của các loại hình sở hữu đa dạng hơn, hoặc thực hiện so sánh chéo giữa nhiều quốc gia đang phát triển để đánh giá tính phổ quát của kết quả. Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x