Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của đa dạng hoá danh mục cho vay đến sự ổn định của các ngân hàng thương mai tại Việt Nam: Vai trò điều tiết của cấu trúc thị trường dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu cân bằng từ 27 ngân hàng thương mại tại Việt Nam, trong giai đoạn 2014–2023 (số quan sát cho từng biến là 270). Kết quả thống kê mô tả dữ liệu được trình bày tại Bảng 4.1. Liên quan xu hướng đa dạng hóa danh mục cho vay theo ngành kinh tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014–2023, giá trị trung bình của các biến AdjHHI là 0,7231; giá trị nhỏ nhất và lớn nhất của biến AdjHHI lần lượt là 0,2232 và 0,8671. Về thước đo sự ổn định ngân hàng là Z, giá trị trung bình của thước đo này là 19,9411, dao động từ 3,178 đến 54,0897. Về cấu trúc thị trường, biến CR5 đạt trung bình là 0,5954, nhỏ nhất là 0,5630 và lớn nhất là 0,6276; hàm ý về mặt trung bình, xấp xỉ 59,54% thị trường tín dụng Việt Nam do 5 ngân hàng nắm giữ. Đề cập các biến kiểm soát, biến khả năng sinh lời (PRO) đạt trung bình là 0,1073, dao động trong phạm vi từ –0,1314 đến 0,2638. Quy mô ngân hàng (SIZE) nhận giá trị trung bình là 14,2679, nhỏ nhất là 13,1993 và lớn nhất là 15,3618. Tăng trưởng tín dụng (LGRO) có trung bình là 0,1859; đạt lớn nhất là 0,6635. Có một số ngân hàng đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng âm, chẳng hạn Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tín dụng nhỏ nhất là –0,1422 vào năm 2014. Chi phí hoạt động (CIR) nhận trung bình là 0,4891, thay đổi từ 0,2270 đến 1,4510. Là loại hình đa dạng hóa phổ biến trong các ngân hàng thương mại, biến đa dạng hóa thu nhập (DIV) đạt trung bình là 0,3213, nhỏ nhất là 0,0128 và lớn nhất là 0,4999. Cuối cùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu đạt trung bình lần lượt là 0,0603 và 0,0287.
- Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu.
- Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến nghiên cứu.
Cũng cần thảo luận đôi chút về vấn đề đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu. Tác giả trình bày ma trận tương quan giữa các biến nghiên cứu ở Bảng 4.2. Có thể thấy tương quan từng cặp của các biến giải thích đều có giá trị không quá cao, cá biệt xuất hiện hệ số tương quan giữa biến khả năng sinh lời (PRO) và biến chi phí hoạt động (CIR) đạt giá trị khá lớn là –0,701. Tuy vậy, điều này không quá đáng lo ngại khi mà:
Tương quan giữa các biến trên 0,8 mới thực sự gây ra vấn đề đa cộng tuyến nghiêm trọng (severe multi–collinearity), làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu (Franke, 2010);
Các biến giải thích này không phải là biến chính trong mô hình, và do đó, tác giả có thể an tâm về độ tin cậy của các phát hiện trọng tâm trong nghiên cứu. Kết quả phân tích hệ số phóng đại phương sai ở Bảng 4.2 càng tăng tính thuyết phục cho các lập luận về việc đa cộng tuyến hoàn hảo không phải là mối bận tâm trong nghiên cứu này. Lý do là toàn bộ các hệ số VIF của các biến giải thích đều nhỏ hơn 10.
4.2. Phân tích tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đến sự ổn định ngân hàng Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
4.2.1. Lựa chọn phương pháp hồi quy
Phương tình (3.1) có thể được ước lượng bằng các kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng như OLS gộp, FE (hiệu ứng cố định) hoặc RE (hiệu ứng ngẫu nhiên). Khi sử dụng hồi quy OLS gộp, chúng ta ngầm giả định các hiệu ứng riêng lẻ không quan sát được (non–observable individual effects) của từng ngân hàng sẽ không hiện diện. Do đó, tính không đồng nhất (heterogeneity) này có thể làm các tham số ước lượng bị chệch. Hồi quy FE và RE có thể kiểm soát được các tác động từ các hiệu ứng riêng lẻ đến tham số ước lượng. Xét phương trình (3.1), số hạng sai số εit có thể được tách thành αi và eit (εit = αi + eit), với αi chính là các hiệu ứng riêng lẻ không quan sát được của ngân hàng. Sự khác biệt căn bản giữa hồi quy OLS gộp với các hồi quy FE (hay RE) chính ở sự tồn tại của cấu thành αi. Cụ thể, để lựa chọn giữa phương pháp hồi quy OLS gộp và FE, tác giả sử dụng kiểm định Chow. Kiểm định Chow kiểm tra sự tồn tại của các hiệu ứng riêng lẻ không quan sát được, với giả thuyết không (H0) là không tồn tại các hiệu ứng riêng lẻ không quan sát được, và giả thuyết thay thế (Ha) là tồn tại các hiệu ứng riêng lẻ không quan sát được. Nếu không thể bác bỏ giả thuyết không, chúng ta có thể kết luận không tồn tại các hiệu ứng riêng lẻ, và do đó hồi quy OLS gộp là phương pháp phù hợp để phân tích. Ngược lại, hồi quy FE sẽ được sử dụng nếu giả thuyết không bị bác bỏ. Ngoài ra, mối tương quan giữa các hiệu ứng riêng lẻ không quan sát được của ngân hàng và các biến giải thích có thể tồn tại. Khi không có mối tương quan này, hồi quy RE là phương pháp ước lượng phù hợp nhất. Ngược lại, khi có mối tương quan này, mô hồi quy FE lại là phương pháp phù hợp nhất. Để phân biệt và lựa chọn giữa hồi quy FE và RE, tác giả dựa vào kiểm định Hausman (1978). Giả thuyết không (H0) của kiểm định này là không có tương quan giữa các hiệu ứng riêng lẻ không quan sát được với các biến giải thích. Việc bác bỏ giả thuyết không đồng nghĩa việc đồng ý sử dụng hồi quy FE, và ngược lại, giả thuyết không được chấp nhận đồng nghĩa hồi quy RE được sử dụng.
Kết quả lựa chọn thống kê ở Bảng 4.3 xác nhận giá trị thống kê của kiểm định Chow là 41,21 (p–value = 0,000) và có xác suất là 0,000. Do đó, tác giả bác bỏ giả thuyết không của kiểm định Chow tại mức ý nghĩa 1%. Do đó, hồi quy FE phù hợp hơn OLS gộp để ước tính phương trình (3.1). Tiếp theo, giá trị thống kê của kiểm định Hausman là 10,07 (p–value = 0,1219) và không có ý nghĩa tại mức 10%. Do đó, tác giả không thể bác bỏ giả thuyết không của kiểm định Hausman, và xác nhận hồi quy RE phù hợp hơn hồi quy FE. Tóm lại, tác giả sử dụng hồi quy RE cho mục đích phân tích. Mặt khác, hồi quy dữ liệu bảng thông thường đều không kiểm soát các vấn đề phương sai thay đổi và tự tương quan phần dư. Nếu xảy ra các vi phạm này, các hệ số hồi quy sẽ không hiệu quả. Để kiểm chứng các vấn đề này, kiểm định Breusch và Pagan nhân tử Lagrange (gọi tắt là kiểm định Breusch–Pagan) và Wooldridge được sử dụng. Bảng 4.3 thể hiện các kiểm định Breusch–Pagan và Wooldridge có giá trị thống kê lần lượt là 621,91 (p–value = 0,000) và 285,162 (p–value = 0,000), với xác suất là 0,000. Do đó, các giả thuyết không của kiểm định Breusch–Pagan và Wooldridge đều bị bác bỏ tại mức ý nghĩa 1%. Nói cách khác, mô hình RE đều bị phương sai thay đổi và tự tương quan. Để khắc phục các vấn đề này, tác giả sử dụng hồi quy FGLS. Ngoài ra, nhằm tăng tính vững của các phát hiện, nghiên cứu cũng đồng thời sử dụng hồi quy GMM hệ thống. Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Trước khi đi vào các kết quả trọng tâm, cần chú ý đến các kết quả kiểm định liên quan đến tính phù hợp của phương pháp GMM (tham khảo Bảng 4.3). Thứ nhất, hệ số hồi quy của biến trễ biến phụ thuộc (lagged dependent variable) có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, qua đó cho thấy sự ổn định ngân hàng trong hiện tại có thể bị chi phối bởi sự ổn định trong quá khứ. Như vậy, dạng mô hình bảng động được lựa chọn là phù hợp. Thứ hai, với vấn đề tự tương quan bậc 2 trong thành phần sai số, giá trị p–value lớn hơn 10% với AR(2). Điều này chỉ ra rằng các mô hình sử dụng không có tự tương quan bậc 2. Thứ ba, kết quả kiểm định Hansen có giá trị p–value lớn hơn 10%, qua đó không thể bác bỏ giả thuyết về sự phù hợp của bộ các biến công cụ được sử dụng. Nói cách khác, các biến công cụ được sử dụng là phù hợp. Thứ tư, số lượng các biến công cụ được sử dụng (instruments) trong hồi quy đều không vượt quá tổng số ngân hàng. Điều này đảm bảo rằng nghiên cứu đã tránh được vấn đề “quá nhiều biến công cụ”–điều mà qua đó phóng đại giá trị của kiểm định Hansen và làm cho ước lượng GMM trở nên kém tin cậy. Tổng hợp tất cả các kết quả kiểm định vừa trình bày, có thể khẳng định rằng việc áp dụng mô hình GMM hệ thống 2 bước là hoàn toàn phù hợp, từ đó đem lại các ước lượng nhất quán và hiệu quả, phục vụ tốt cho vấn đề ra quyết định kinh tế.
4.2.2. Phân tích hồi quy FGLS và GMM hệ thống
Chuyển sang phân tích hồi quy, tác giả phát hiện hệ số của biến AdjHHI trong cột 1 và 2 (tương ứng mô hình FGLS và GMM hệ thống) lần lượt là 5,4732 (p–value = 0,022) và 12,2750 (p–value = 0,000), và có ý nghĩa thống kê tương ứng tại mức 5% và 1%. Do đó, tác giả khẳng định đa dạng hóa danh mục cho vay tác động cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng, ủng hộ giả thuyết H1. Phát hiện này phù hợp với các lập luận và dự đoán của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, hiệu ứng lợi thế thông tin, hiệu ứng cộng hưởng danh mục, hiệu ứng “chọn người chiến thắng”, lý thuyết sức mạnh thị trường. Cụ thể, (i) dựa vào lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại của Markowitz (1952), các ngân hàng đa dạng hóa danh mục theo nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau giúp giảm thiểu tác động của các cú sốc đặc thù (idiosyncratic shock) đến danh mục tín dụng (Berger và cộng sự, 2010). Ngoài ra, (ii) đa dạng hóa danh mục cho vay còn tạo ra tính kinh tế theo phạm vi và quy mô, góp phần củng cố sự ổn định ngân hàng (Shim, 2019).
Việc đa dạng hóa cho phép ngân hàng sử dụng chung các nguồn lực như công nghệ, nhân sự, cơ sở vật chất và thông tin, từ đó giúp tiết kiệm chi phí. Drucker và Puri (2008) cũng lập luận rằng việc mở rộng hoạt động sang các ngành kinh tế mới thường tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, giúp ngân hàng phân bổ chi phí cố định và chi phí quản lý hiệu quả hơn trên danh mục ngành nghề đa dạng. Khi đa dạng hóa trong các ngành có liên quan, ngân hàng còn có thể phát huy kỹ năng quản lý và kiểm soát rủi ro tốt hơn, nhờ đó giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự ổn định (Adem, 2022). (iii) Việc cấp tín dụng cho nhiều ngành kinh tế khác nhau giúp ngân hàng khai thác lợi thế thông tin tích lũy được từ quá trình hoạt động. Điều này góp phần làm giảm các mâu thuẫn tài chính giữa ngân hàng và người đi vay, giúp khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng (Akhigbe và Stevenson, 2010). (iv) Việc mở rộng sang các ngành kinh tế mới có thể gia tăng sức mạnh thị trường và nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngân hàng, thông qua việc tạo ra các cơ hội đầu tư tốt hơn và chi phí tài trợ thấp hơn nhờ các hoạt động kinh doanh đa ngành (Shin và Stulz, 1998; Barney, 2002). Bên cạnh đó, (v) các ngân hàng tăng cường đa dạng hóa tài trợ cho các ngành kinh tế có thể hưởng lợi từ hiệu ứng “chọn người chiến thắng” (Lamont, 1997; Stein, 1997), cho phép các ngân hàng đa dạng hóa chủ động phân bổ nguồn lực nội bộ để tài trợ cho các ngành kinh tế có tiềm năng sinh lời cao, thay vì phải tìm kiếm nguồn vốn bên ngoài qua thị trường vốn, vốn thường đắt đỏ và đi kèm nhiều điều kiện ràng buộc. Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Liên hệ với bối cảnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam, thực tế hoạt động của các ngân hàng trước đây cho thấy một số ngân hàng có xu hướng mở rộng cho vay sang các ngành mang lại lợi nhuận cao nhưng lại rất rủi ro, điển hình vào các ngành phi sản xuất như kinh doanh bất động sản hay kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh ngân hàng trở nên lớn dần từ những năm 2008 khi thị trường đón nhận thêm nhiều thành viên mới, cả trong và ngoài nước, từ đó các ngân hàng buộc phải đa dạng hoá danh mục cho vay của mình để cải thiện thị phần. Năng lực quản lý không theo kịp trong giai đoạn này đã dẫn đến chất lượng tín dụng suy giảm và rủi ro chạm đỉnh vào năm 2012 (Huynh và Dang, 2021). Thời gian sau đó, các ngân hàng đã thiết kế lại danh mục cho vay của mình phù hợp hơn với năng lực quản lý và giám sát, từ đó nhiều kết quả cải thiện về chất lượng nợ đã được ghi nhận (Dang, 2020).
Nhiều nhà nghiên cứu cũng ủng hộ phát hiện lần này của tác giả. Chẳng hạn, Rossi và cộng sự (2009), Chen và cộng sự (2013), Jahn và cộng sự (2013) cho thấy đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm rủi ro của các ngân hàng thương mại. Shim (2019) nhận thấy đa dạng hóa danh mục cho vay có tác động cùng chiều đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng Mỹ. Chandramohan và cộng sự (2022) xác nhận sự ổn định ngân hàng sẽ giảm một khi các ngân hàng Ấn Độ theo đuổi chiến lược chuyên môn hóa lĩnh vực cho vay. Ece và Cadirci (2022) cho thấy đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm rủi ro phá sản trong hệ thống ngân hàng truyền thống tại các quốc gia Hồi giáo. Trong các nghiên cứu gần đây hơn, đa dạng hóa danh mục cho vay được phát hiện có quan hệ cùng chiều đến sức mạnh tài chính của các ngân hàng Việt Nam (Vương Thị Hương Giang và Trần Phạm Yến Trâm, 2024), Malaysia (Seho và cộng sự, 2024), và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng thuộc GCC (Al–kayed và Aliani, 2020). Tuy nhiên, cũng có một số nhà nghiên cứu khác đi đến kết luận ngược lại. Ví dụ, Acharya và cộng sự (2006) không tìm thấy hiệu quả vượt trội hoặc sự an toàn tài chính được cải thiện do đa dạng hóa các khoản vay mang lại cho hệ thống ngân hàng Ý. Đa dạng hóa cũng được phát hiện là làm giảm lợi nhuận và làm tăng rủi ro của các ngân hàng Nga (Berger và cộng sự, 2010). Chiến lược này cũng làm khuếch đại rủi ro vỡ nợ của các ngân hàng Brazil (Tabak và cộng sự, 2011) và làm xấu đi chất lượng danh mục tín dụng của các ngân hàng Đức (Boeve và cộng sự, 2010). Các tác động bất lợi của đa dạng hóa đối với rủi ro cũng được ghi nhận trong trường hợp của các ngân hàng thuộc GCC và Malaysia (Al–kayed và Aliani, 2020; Seho và cộng sự, 2021), các ngân hàng Việt Nam (Huynh và Dang, 2021) và các ngân hàng Indonesia (Sutrisno và cộng sự, 2023).
- Bảng 4.3: Kết quả hồi quy tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đến sự ổn định ngân hàng.
Liên quan các yếu tố kiểm soát, (i) hệ số của biến CR5 trong cột 1 và 2 lần lượt là –16,9618 (p–value = 0,313) và –24,0000 (p–value = 0,000), và chỉ có ý nghĩa trong cột 2. Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Do đó, tác giả đi đến kết luận sự tập trung ngân hàng tác động ngược chiều đến sự ổn định tài chính, phù hợp với quan điểm “tập trung–mong manh”. Kết quả này trái ngược với giả thuyết H2a. Một số học giả lập luận rằng các ngân hàng ở các thị trường tập trung hơn có thể áp mức lãi suất cho vay cao hơn, điều này có thể khuếch đại vấn đề rủi ro đạo đức đối với người đi vay, khiến họ đầu tư vào các dự án rủi ro hơn, có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống ngân hàng khi tổn thất xảy ra (Boyd và De Nicoló, 2005). Ngoài ra, các ngân hàng lớn có khả năng nhận được các gói giải cứu từ chính phủ, vì các nhà quản lý chính sách lo ngại về hậu quả kinh tế vĩ mô tiềm tàng nếu các ngân hàng lớn đổ vỡ (O’Hara và Shaw, 1990). Điều này có thể tạo ra động cơ khuyến khích các nhà quản lý ngân hàng tham gia vào các ngành kinh tế và các hoạt động phi truyền thống rủi ro cao, và cuối cùng làm tăng tính mong manh tài chính của hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, (ii) tác giả quan sát được hệ số của biến khả năng sinh lời (PRO) dương và chỉ có ý nghĩa trong cột 2. Do đó, khả năng sinh lời tác động cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng, ủng hộ giả thuyết H3. Phát hiện này phù hợp với các phát hiện trước đây của Ozili (2018), Tran và cộng sự (2022), Saif–Alyousf và cộng sự (2020). Các ngân hàng sinh lời lành mạnh có thể hình thành “tấm đệm vốn” dày hơn, giúp bảo vệ các ngân hàng tránh khỏi các cú sốc kinh tế vĩ mô, tổn thất cho vay và cú sốc thanh khoản, và cuối cùng, làm tăng giá trị điều lệ hoặc nhượng quyền của ngân hàng, và do đó, làm giảm khả năng vỡ nợ (Berger và Bouwman, 2013). Tiếp theo, (iii) hệ số của biến LGRO đều âm và có ý nghĩa trong các cột 1 và 2; do đó, tăng trưởng tín dụng làm giảm sự ổn định của các ngân hàng, ủng hộ giả thuyết H5. Foos và cộng sự (2010) cho rằng tăng trưởng tín dụng cũng là nguồn cơn phát sinh rủi ro tiềm năng của ngân hàng. Tăng trưởng tín dụng nóng có thể làm giảm chất lượng tín dụng, tăng rủi ro hệ thống và làm xấu đi sức khỏe của ngân hàng (Igan và Pinheiro, 2011). Bên cạnh đó, (iv) chi phí hoạt động được tìm thấy ảnh hưởng ngược chiều đến sự ổn định ngân hàng, ủng hộ giả thuyết H6, khi hệ số của biến CIR đều âm và có ý nghĩa tại mức 1%. Theo giả thuyết “quản lý kém”, do năng lực quản lý yếu kém, các ngân hàng kém hiệu quả có thể không ngăn cản được sự phát sinh quá mức của chi phí hoạt động, xuất phát từ việc sàng lọc, đánh giá cũng như giám sát khách hàng đi vay thiếu chặt chẽ; điều này dẫn đến rủi ro ngân hàng tăng cao (Berger và Deyoung, 1997). Ngoài ra, giả thuyết “kém may mắn” lập luận rằng các nhà quản lý phải nỗ lực gấp nhiều lần để vực dậy ngân hàng thoát ra khỏi các sự kiện không thể dự đoán (chẳng hạn khủng hoảng kinh tế), vốn làm suy kiệt sự ổn định cũng như chất lượng tài sản của các ngân hàng, dẫn đến chi phí hoạt động tăng thêm. Thêm nữa, theo giả thuyết “chi phí tiết kiệm” (skimping costs hypothesis), các ngân hàng giảm chi phí hoạt động bằng cách giảm tải các hoạt động giám sát để thu hút hiệu quả hoạt động ngắn hạn, dẫn đến chất lượng tín dụng xấu đi và rủi ro gia tăng (Adem, 2022). Đây là 3 lập luận khả dĩ nhằm giải thích cho phát hiện lần này của tác giả.
Liên quan các yếu tố kinh tế vĩ mô, (v) hệ số của biến GDPG dương và có ý nghĩa tại mức 10% trong cột 1 và 1% trong cột 2. Do đó, tác giả kết luận tăng trưởng kinh tế thúc đẩy sự ổn định ngân hàng, phù hợp với kỳ vọng của giả thuyết H8. Tăng trưởng GDP, thể hiện sự cải thiện về điều kiện kinh tế và mức sống của người dân, sẽ có tác động cùng chiều đến tính ổn định ngân hàng (Adem, 2022). Fofack (2005), Rajan và Dhal (2003) xác nhận khả năng hoàn trả khoản vay của khách hàng được cải thiện trong giai đoạn kinh tế khởi sắc, điều này làm giảm rủi ro tín dụng cũng như gia tăng tính ổn định ngân hàng. Cuối cùng, (vi) hệ số của biến INF âm và có ý nghĩa thống kê duy nhất trong cột 2 (phương pháp GMM hệ thống). Do đó, lạm phát tác động ngược chiều đến sự ổn định ngân hàng, ủng hộ giả thuyết H9. Tỷ lệ lạm phát cao là nguồn gốc của các biến động về mức giá, đẩy nhanh sự bất cân xứng thông tin và làm thay đổi quá trình ra quyết định của các ngân hàng (Liu và Wilson, 2013). Hơn nữa, nếu không được điều chỉnh hợp lý trong tỷ lệ tiền lương, lạm phát sẽ khiến tiền lương thực của người đi vay giảm. Điều này làm suy giảm khả năng trả nợ thực tế của các khoản vay, là nguyên nhân chính tạo ra nợ xấu, và là mầm móng cho sự đổ vỡ ngân hàng trong tương lai.
4.3. Phân tích vai trò điều tiết của cấu trúc thị trường đến mối quan hệ đa dạng hóa danh mục cho vay và sự ổn định ngân hàng Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
4.3.1. Lựa chọn phương pháp hồi quy
Tương tự cách phân tích ở Bảng 4.3, tác giả thực hiện các kiểm định Chow và Hausman trước tiên nhằm lựa chọn phương pháp tối ưu trong các phương pháp OLS gộp, RE và FE. Kết quả từ Bảng 4.4 cho thấy giá trị thống kê của kiểm định Chow có xác suất bác bỏ nhỏ hơn 1%, trong khi của kiểm định Hausman có xác suất bác bỏ lớn hơn 10%. Do đó, hồi quy RE được sử dụng để ước lượng phương trình (3.2). Tuy nhiên, các kiểm định Breusch–Pagan và Wooldridge đều có xác suất bác bỏ là 0,000 (nhỏ hơn 1%). Do đó, mô hình RE thêm lần nữa mắc phải các vấn đề phương sai thay đổi và tự tương quan. Tương tự Bảng 4.3, tác giả sử dụng hồi quy FGLS và GMM hệ thống nhằm khắc phục các sai phạm, và đồng thời, tăng tính vững cho các kết quả hồi quy. Bảng 4.4 thể hiện phương pháp GMM mà nghiên cứu lựa chọn là phù hợp. Nhận định này có được thông qua: (i) Hệ số hồi quy của biến trễ biến phụ thuộc (lagged dependent variable) có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, qua đó chỉ ra hành vi rủi ro của ngân hàng là kéo dài theo thời gian (persistence); (ii) Mô hình hồi quy không có tự tương quan bậc 2, khi mà giá trị p–value của AR(2) lớn hơn 10%; (iii) Các biến công cụ được sử dụng là phù hợp, thể hiện bởi kết quả kiểm định Hansen có giá trị p–value lớn hơn 10%; (iv) Vấn đề “quá nhiều biến công cụ” được kiểm soát, khi mà số lượng các biến công cụ được báo cáo không vượt quá tổng số ngân hàng.
4.3.2. Phân tích hồi quy FGLS và GMM hệ thống
- Chuyển sang các kết quả hồi quy FGLS (cột 3) và GMM hệ thống (cột 4):
Thứ nhất, tác giả tìm thấy hệ số của biến AdjHHI trong cột 3 và 4 lần lượt là 92,4637 (p–value = 0,083) và 147,3634 (p–value = 0,021); tất cả đều có ý nghĩa. Do đó, một lần nữa, tác giả khẳng định đa dạng hóa danh mục cho vay tăng cường sự lành mạnh tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam, ủng hộ giả thuyết H1. Các lập luận và bằng chứng ủng hộ kết quả này được tìm thấy ở Phần 4.2 (Bảng 4.3). Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Thứ hai, tác giả phát hiện hệ số của biến CR5 trong các cột kết quả lần lượt là 101,6975 (p–value = 0,135) và 151,3688 (p–value = 0,046); và duy nhất có ý nghĩa trong cột 4. Do đó, kết quả này ủng hộ quan điểm “tập trung–ổn định” và giả thuyết H2a, nhưng trái ngược với các kết quả phát hiện từ Bảng 4.3 (kết quả ủng hộ quan điểm “tập trung–mong manh” khi hệ số của biến CR5 âm). Sự trái ngược trong phát hiện này có thể xuất phát từ cách thiết lập phương trình (3.2) khác biệt với phương trình (3.1), khi bổ sung thêm hệ số của biến tương tác giữa đa dạng hóa danh mục cho vay và mức độ tập trung thị trường.
Thứ ba, hệ số của biến tương tác AdjHHIxCR5 lần lượt là –148,8806 (p–value = 0,097) và –241,8542 (p–value = 0,024); và đều có ý nghĩa thống kê. Như vậy, cấu trúc thị trường mà cụ thể ở đây là sự tập trung thị trường thật sự có ảnh hưởng (điều tiết) đến mối quan hệ giữa đa dạng hóa danh mục cho vay và sự ổn định ngân hàng, ủng hộ giả thuyết H2b. Tuy nhiên, hệ số của biến tương tác mang dấu âm và trái dấu với các biến đa dạng hóa danh mục cho vay; do đó, tác giả có thể đi đến kết luận chi tiết hơn, đó là “sự ổn định của các ngân hàng đa dạng hóa được tăng cường trong thị trường ít tập trung” (Seho và cộng sự, 2024); hay nói cách khác, “các ngân hàng đa dạng hóa trong thị trường tập trung cao có thể có sức khỏe tài chính thấp hơn so với trong thị trường ít tập trung” (Meutia và Chalid, 2021). Một thị trường tập trung cao (ít cạnh tranh) do các ngân hàng “quá lớn để sụp đổ” thống trị có thể khuyến khích các nhà quản lý thực hiện các hoạt động rủi ro hơn. Các ngân hàng này, nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể, có thể áp đặt lãi suất cho vay cao hơn; điều này có khả năng thúc đẩy người đi vay tham gia vào các khoản đầu tư rủi ro hơn, làm tăng các khoản vay kém chất lượng và rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng (Boyd và De Nicolo, 2005; Caminal và Matutes, 2002). Demsetz và Strahan (1997) cũng có quan điểm tương tự; các ngân hàng lớn trong thị trường tập trung cao thường có xu hướng là lấn sân sang nhiều mảng kinh doanh phi truyền thống (đa dạng hóa cao) nhờ vào ưu thế biên chi phí quản lý rủi ro thấp hơn; điều này cho phép các ngân hàng đa dạng hóa tham gia hoạt động với đòn bẩy cao và chấp nhận nhiều rủi ro hơn. Meutia và Chalid (2021) lập luận thêm rằng tâm lý ỷ lại sự giải cứu từ chính phủ và cơ quan quản lý tiền tệ có thể là động cơ không nhỏ thúc đẩy các ngân hàng lớn trong thị trường tập trung cao tham gia vào các hoạt động đầu tư cực kỳ rủi ro và làm tăng bất ổn tài chính sau này. Phát hiện lần này của tác giả cũng trái với các kết quả trước đây của Shim (2019) hay Mensi và Labidi (2015). Cụ thể, Shim (2019) chứng minh các ngân hàng đa dạng hóa tại Mỹ thể hiện sự ổn định tài chính tốt hơn ở các thị trường tập trung cao so với các thị trường ít tập trung. Quan điểm này được Mensi và Labidi (2015) xác nhận, khi phát hiện các ngân hàng ít đa dạng hóa ở các quốc gia MENA trở nên kém ổn định hơn khi phải chịu sự cạnh tranh cao (thị trường ít tập trung). Tương tự, trong nghiên cứu bao gồm 206 quốc gia, Munoz–Mendoza và cộng sự (2020) phát hiện mức độ tập trung thị trường và đa dạng hóa thu nhập ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng.
- Bảng 4.4: Kết quả hồi quy vai trò điều tiết của cấu trúc thị trường đến mối quan hệ đa dạng hóa danh mục cho vay và sự ổn định ngân hàng.
4.4. Tổng hợp các kết quả Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Tổng hợp các kết quả từ các mô hình 1 và 2 (Bảng 4.3), và mô hình 3 và 4 (Bảng 4.4), tác giả rút ra một số kết luận sau:
Đa dạng hóa danh mục cho vay tác động cùng chiều đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Phát hiện này ủng hộ giả thuyết H1. Kết quả cho thấy các ngân hàng đa dạng hóa danh mục cho vay có thể giảm thiểu hiệu quả rủi ro mất khả năng thanh toán hơn so với các ngân hàng tập trung cho vay vào lĩnh vực chuyên biệt. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng ủng hộ phát hiện này của tác giả. Chẳng hạn, Rossi và cộng sự (2009), Chen và cộng sự (2013), Jahn và cộng sự (2013) cho thấy đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm rủi ro của các ngân hàng thương mại. Shim (2019) nhận thấy đa dạng hóa danh mục cho vay có tác động cùng chiều đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng Mỹ. Chandramohan và cộng sự (2022) xác nhận sự ổn định ngân hàng sẽ giảm một khi các ngân hàng Ấn Độ theo đuổi chiến lược chuyên môn hóa lĩnh vực cho vay.
Sự tập trung thị trường điều tiết ngược chiều mối quan hệ giữa đa dạng hóa danh mục cho vay và sự ổn định ngân hàng. Cụ thể, hệ số của biến tương tác (β3) đều mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê trong 2 mô hình 3 và 4, cung cấp hỗ trợ cho giả thuyết Kết quả chỉ ra rằng các ngân hàng đa dạng hóa ở các thị trường ít tập trung (cạnh tranh cao) có khả năng ổn định hơn về mặt tài chính so với các ngân hàng đa dạng hóa ở các thị trường tập trung cao (ít cạnh tranh). Kết quả này trái ngược với phát hiện gần đây của Shim (2019) cho bối cảnh ngân hàng Mỹ, nhưng lại ủng hộ các bằng chứng của Meutia và Chalid (2021) cho bối cảnh hệ thống ngân hàng Indonesia.
Liên quan các biến giải thích khác, tác động của cấu trúc thị trường đến sự ổn định ngân hàng là chưa thật sự rõ ràng, khi các hệ số của biến CR5 mang cả dấu âm và dương (đều có ý nghĩa thống kê) trong các Bảng 3 và 4.4. Do đó, giả thuyết H2a chưa được xác nhận. Ngoài ra, khả năng sinh lời và tăng trưởng kinh tế được tìm thấy tác động cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng, ủng hộ giả thuyết H3 và H8. Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng, tỷ số chi phí hoạt động và lạm phát tác động ngược chiều đến sức khỏe tài chính của các ngân hàng. Do đó, các giả thuyết H5, H6 và H9 được xác nhận. Còn lại, các giả thuyết H4 và H7 không được xác nhận do các hệ số hồi quy của biến quy mô tài sản và đa dạng hóa thu nhập đều không có ý nghĩa thống kê.
- Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả nghiên cứu.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN
5.1. Kết quả chính Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Nghiên cứu hiện tại phân tích tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu cũng làm rõ vai trò điều tiết của cấu trúc thị trường ngân hàng (cụ thể là mức độ tập trung thị trường) đến mối quan hệ này. Mẫu dữ liệu bao gồm 27 ngân hàng thương mại, trải dài trong giai đoạn 2014–2023. Sử dụng phương pháp hồi quy FGLS và GMM hệ thống, nghiên cứu phát hiện một số kết quả chính sau đây:
Đa dạng hóa danh mục cho vay tác động cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng. Lấn sân sang nhiều ngành kinh tế khác nhau giúp ngân hàng tăng cường sức khỏe tài chính. Kết quả này ủng hộ giả thuyết H1 và phù hợp với nhiều lý thuyết khác nhau: lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, hiệu ứng lợi thế thông tin, tính kinh tế theo phạm vi, hiệu ứng “chọn người chiến thắng”, lý thuyết sức mạnh thị trường. Ngoài ra, kết quả cũng đóng góp vào luồng tài liệu thực nghiệm gần đây của Shim (2019), Chandramohan và cộng sự (2022), Ece và Cadirci (2022), Vương Thị Hương Giang và Trần Phạm Yến Trâm (2024), Seho và cộng sự (2024). Các tác giả trên đều kết luận rằng đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm rủi ro, tăng cường sự ổn định của các ngân hàng thương mại. Do đó, kết quả này khuyến khích các ngân hàng nên theo đuổi chiến lược đa dạng hóa danh mục cho vay trong thời gian tới.
Cấu trúc thị trường quả thực điều tiết tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đến sự ổn định ngân hàng. Cụ thể hơn, sự ổn định của các ngân hàng đa dạng hóa được tăng cường trong thị trường ít tập Kết quả này ủng hộ giả thuyết H2 và phù hợp với các phát hiện gần đây của Meutia và Chalid (2021), Seho và cộng sự (2024). Do đó, cơ quan quản lý tại Việt Nam nên chú trọng và định hình thị trường ngân hàng cạnh tranh hơn trong thời gian tới, nhằm tăng cường hơn nữa hiệu ứng tích cực mà đa dạng hóa danh mục cho vay mang lại đối với sức khỏe của hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy khả năng sinh lời và tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều, trong khi tăng trưởng tín dụng, tỷ số chi phí hoạt động và lạm phát tác động ngược chiều đến sức khỏe tài chính của các ngân hàng.
5.2. Hàm ý quản trị
5.2.1. Hàm ý chính sách đối với Ngân hàng Nhà nước Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Từ các phát hiện chính về hiệu ứng tích cực của đa dạng hoá danh mục cho vay, cơ quan quản lý cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc triển khai đa dạng ngành kinh tế trong danh mục cho vay tại các ngân hàng. Họ cần chủ động và quyết liệt với chủ trương đa dạng hoá ngân hàng trong thời gian tới. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng cần giám sát chặt chẽ hơn các trường hợp mà ngân hàng tiến hành mở rộng và phân bổ vốn vay sang nhiều ngành nghề kinh tế, vì nếu không đáp ứng đủ nguồn lực khi đa dạng hoá tại các ngân hàng có thể gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của họ, từ đó kéo theo mất ổn định tài chính cho thị trường. Ngoài ra, các nhà quản lý cần tiếp tục theo dõi và thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, khi một số ngân hàng nhỏ hoạt động chưa thực sự hiệu quả trên thị trường; các nhà hoạch định cũng cần có chính sách thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới, nhằm mang lại lợi ích tối đa cho hoạt động đa dạng hóa của các ngân hàng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tìm thấy ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP và lạm phát) đến sự ổn định của khu vực ngân hàng thương mại. Do đó, cơ quan quản lý cần dụng linh hoạt các công cụ (như lãi suất điều hành, tỷ lệ dự trữ bắt buộc) để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu. Môi trường lạm phát cao làm xói mòn giá trị thực của các khoản vay và giảm khả năng trả nợ, do đó, giữ lạm phát ổn định là ưu tiên hàng đầu để bảo vệ chất lượng tài sản ngân hàng. Bên cạnh đó, chính phủ cần tập trung vào các chính sách tài khóa và cải cách cơ cấu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực chất, thay vì tăng trưởng dựa trên tín dụng. Nền kinh tế khỏe mạnh sẽ cải thiện sức khỏe của doanh nghiệp và hộ gia đình, từ đó trực tiếp nâng cao khả năng sinh lời và giảm rủi ro cho hệ thống ngân hàng.
5.2.2. Hàm ý quản trị đối với ngân hàng thương mại
Các ngân hàng cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc xây dựng danh mục cho vay đa dạng, tránh tập trung dư nợ cho vay vào một số ngành kinh tế nhất định (chẳng hạn ngành bất động sản). Thực tế, sự tập trung vào các khoản cho vay bất động sản thương mại là một trong các yếu tố góp phần dẫn đến tình trạng đóng cửa ngân hàng trước đây ở tất cả các bang tại Mỹ (Cole và White, 2012). Đó là bài học cho các ngân hàng và nhà quản lý ngân hàng tại Việt Nam. Trong năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã cảnh báo 21 ngân hàng thương mại có tỷ trọng dư nợ cho ngành bất động sản quá cao vào cuối năm 2007. Dưới góc độ chiến lược kinh doanh, các ngân hàng dù được khuyến khích nhưng cũng nên cẩn trọng với việc cơ cấu danh mục cho vay theo hướng dàn trải vốn vay ra nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là những ngành mà tại đó họ thiếu đi kinh nghiệm và kiến thức đánh giá, quản lý và giám sát. Việc phân bổ dư nợ luôn đảm bảo nguyên tắc an toàn và hiệu quả cho từng đồng vốn cho vay, tránh chạy theo xu thế cạnh tranh trên thị trường mà không kiểm soát tốt được danh mục cho vay đang mở rộng của mình. Để phát triển nền tảng kinh doanh cốt lõi này, các ngân hàng Việt Nam cần đặc biệt chú trọng và quan tâm đến việc xây dựng danh mục cho vay của ngân hàng mình một cách khoa học và hiệu quả. Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Nghiên cứu hiện tại cũng phát hiện ảnh hưởng từ khả năng sinh lời, tăng trưởng tín dụng và tính hiệu quả chi phí đến sức khỏe tài chính của các ngân hàng. Do đó, tác giả cũng đề xuất thêm một số hàm ý liên quan hoạt động ngân hàng.
Thay vì chạy đua tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá, các ngân hàng cần chú trọng vào chất lượng tín dụng. Điều này đòi hỏi phải thắt chặt quy trình thẩm định, đánh giá rủi ro và sàng lọc khách hàng đi vay cẩn thận.
Các ngân hàng cũng nên chú trọng nâng cao hiệu quả chi phí (kiểm soát tỷ số chi phí hoạt động), bằng cách tối ưu hóa quy trình vận hành (rà soát và cải tiến các quy trình nội bộ để loại bỏ các bước thừa thãi, giảm chi phí hành chính và giấy tờ), đầu tư vào công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số để tự động hóa các tác vụ lặp đi lặp lại (việc này không chỉ giúp giảm chi phí nhân sự vận hành mà còn cải thiện trải nghiệm khách hàng và tăng tốc độ xử lý giao dịch), quản lý chi phí trên cơ sở hiệu quả (áp dụng các mô hình quản trị chi phí tiên tiến, đảm bảo mọi khoản chi đều mang lại giá trị tương xứng).
Ngoài ra, các nhà quản lý ngân hàng cũng cần nỗ lực cải thiện và duy trì khả năng sinh lời, nhằm tăng cường sự ổn định tài chính. Mặc dù nghiên cứu không tìm thấy tác động đáng kể nào của đa dạng hóa thu nhập đến sự ổn định ngân hàng. Tuy nhiên, việc gia tăng thu nhập ngoài lãi, giảm sự phụ thuộc vào thu nhập lãi thuần, thông qua việc triển khai các dịch vụ phi tín dụng, dịch vụ thanh toán, quản lý tài sản và ngân hàng đầu tư giúp ngân hàng ổn định dòng thu nhập. Ngoài ra, các ngân hàng chú trọng việc ứng dụng công nghệ để tăng thu nhập. Chẳng hạn, sử dụng phân tích dữ liệu lớn (big data) và AI để đưa ra các quyết định cho vay chính xác hơn (đánh giá rủi ro tốt hơn) và cung cấp các sản phẩm tài chính phù hợp, từ đó có thể tối ưu hóa biên độ lãi suất.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Mặc dù đã rất nỗ lực để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đề ra dựa trên nguồn lực hiện có được khai thác tối ưu, nhưng phải thừa nhận rằng nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế:
Vấn đề dữ liệu hạn chế được xem là điểm quan trọng nhất mà các nghiên cứu trong tương lai có thể khai thác để cải thiện các kết quả nghiên cứu. Dữ liệu hạn chế là nguyên nhân quan trọng khiến cho việc nghiên cứu toàn diện về chủ đề đa dạng hoá danh mục cho vay tại Việt Nam cho tới nay mới được triển khai trong nghiên cứu hiện tại (Dang và Huynh, 2021). Tuy nhiên, yếu điểm này vẫn chưa khắc phục triệt để trong nghiên cứu này. Cụ thể hơn, do việc công bố thông tin báo cáo tài chính của các ngân hàng hoặc chưa đầy đủ, hoặc không thống nhất, đã khiến cho dữ liệu thu thập và đánh giá mức độ đa dạng hoá danh mục cho vay chưa đảm bảo hiệu quả cao nhất. Việc thiếu dữ liệu này cũng khiến cho việc phân tích chưa thể bao quát hết toàn bộ các ngân hàng trong hệ thống (kể cả nhóm ngân hàng nước ngoài), từ đó, các hàm ý chưa đảm bảo tính toàn diện. Với những đổi mới theo hướng chuẩn hoá dữ liệu trong tương lai, kỳ vọng các nghiên cứu sắp tới có thể khắc phục được hạn chế này, qua đó cải thiện số lượng và chất lượng các quan sát để gia tăng tính hiệu quả của các ước lượng hồi quy.
Nghiên cứu đã cố gắng tìm kiếm các yếu tố điều tiết tác động của đa dạng hóa danh mục cho vay đến sự ổn định ngân hàng, cụ thể là sự tập trung thị trường. Tuy nhiên, như vậy vẫn còn quá ít, khi mối quan hệ này vẫn còn chịu kiểm soát bởi nhiều yếu tố điều tiết khác, chẳng hạn mô hình kinh doanh của các ngân hàng, quy mô hoạt động của từng ngân hàng, cấu trúc sở hữu của các ngân hàng, v.v. Do đó, việc bổ sung và phân tích các mô hình kiểm soát vai trò điều tiết của các yếu tố kể trên sẽ cung cấp các hàm ý toàn diện hơn cho các bên liên quan. Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy bản chất phi tuyến trong mối quan hệ đa dạng hóa–rủi ro (hoặc lợi nhuận) ngân hàng, chẳng hạn Kusi và cộng sự (2020), Seho và cộng sự (2023, 2024). Nghiên cứu hiện tại của tác giả chỉ tìm hiểu mối quan hệ trong mẫu hình tuyến tính. Do đó, tác giả kỳ vọng các nghiên cứu sắp tới có thể mở rộng và bổ sung phạm vi nghiên cứu, khi đề cập mẫu hình phi tuyến trong mối quan hệ giữa đa dạng hóa danh mục cho vay và sự ổn định ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: KQNC đa dạng hoá đến sự ổn định của ngân hàng […]