Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng; là tiêu chí của tiến bộ, bình đẳng và công bằng xã hội; thể hiện sự văn minh, phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội hướng đến con người; xem đây vừa là động lực phát triển, vừa thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta được triển khai thực hiện từ năm 1945, hoạt động ban đầu dựa trên Sắc lệnh số 54_SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí, sau đó được bổ sung điều chỉnh bằng nhiều Sắc lệnh và Nghị định. Đến năm 1961, Chính phủ ban hành Nghị định số 218/CP kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức nhà nước; năm 1964, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 161-CP kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân. Có thể nói hai Điều lệ trên là hai văn bản pháp luật đầu tiên quy định 06 chế độ bảo hiểm xã hội ở nước ta là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất.

Từ chủ trương của Đảng trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006): “Đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng đa dạng hóa hình thức và phù hợp với kinh tế thị trường”, vào Kỳ họp thứ 9 ngày 29/06/2006, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007, đây là một bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Qua hơn 07 năm thực hiện, Luật bảo hiểm xã hội đã đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế, tại Kỳ họp thứ 8 ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội sửa đổi (gọi là Luật bảo hiểm xã hội năm 2014), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Có thể nói, hơn 70 năm hình thành và phát triển, chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta đã và đang hoàn thành tốt vai trò đảm bảo an sinh xã hội, đáp ứng một phần nhu cầu thiết yếu của cuộc sống cho hàng triệu người lao động, khi họ bị giảm thu nhập do ốm đau, sinh con, bị tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp hay tuổi già. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong hoàn thiện Luật bảo hiểm xã hội đã đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia bảo hiểm xã hội, là cơ sở để người lao động thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội một cách đầy đủ và được pháp luật bảo vệ khi quyền lợi của họ bị vi phạm.

Thời gian qua, việc triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, đặc biệt là công tác chi trả bảo hiểm xã hội, của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đạt nhiều kết quả tốt, từng bước đưa được chính sách bảo hiểm xã hội đi vào đời sống người lao động. Công tác quản lý quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, có hiệu quả. Công tác giải quyết và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội kịp thời, đúng quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó, chủ trương cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết nghiệp vụ, đa dạng phương thức chi trả bảo hiểm xã hội theo hướng hiện đại đã góp phần phục vụ tốt hơn đối với người lao động.

Tuy nhiên, tình trạng cố ý lợi dụng các kẻ hở của pháp luật và sự quản lý chưa tốt của các cơ quan nhà nước để trục lợi từ quỹ bảo hiểm xã hội còn xảy ra ở nhiều địa phương với số lượng ngày càng tăng, số tiền ngày càng lớn; làm ảnh hưởng đến sự công bằng trong thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội của người lao động. Trên thực tế đã xảy ra những hành vi lạm dụng quỹ bảo hiểm xã hội như: lập hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội giả; sửa chữa, mua, bán sổ bảo hiểm xã hội; “cò mồi” nhận “uỷ quyền” “làm hộ” hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội; tư vấn “lách” luật, “lách” các quy định của pháp luật để tham gia bảo hiểm xã hội và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, làm ảnh hưởng đến sự an toàn và phát triển của quỹ bảo hiểm xã hội.

Mặc khác việc gian lận, lạm dụng quỹ bảo hiểm xã hội về lâu dài sẽ làm mất cân bằng cán cân thanh toán, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.

Cũng như các quận – huyện khác, mặc dù có nhiều có gắng trong công tác quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội, tại Quận 9 – thành phố Hồ Chí Minh hoạt động này vẫn còn có một số hạn chế cần phải khắc phục. Điển hình như: tình trạng chậm đóng và nợ bảo hiểm xã hội, BHYT, BHTN kéo dài của một số doanh nghiệp; số tiền nợ bảo hiểm xã hội đã làm ảnh hưởng đến quyền thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động khi có phát sinh. Hàng năm, số lượng đơn vị và người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9 tăng lên đáng kể, đồng thời số đơn vị chậm nộp bảo hiểm xã hội và số tiền nợ đọng của các đơn vị cũng tăng lên. Việc lập hồ sơ đóng bảo hiểm xã hội với mức lương thấp hơn so với thực tế (để giảm tiền đóng bảo hiểm xã hội) làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động khi hưởng chế độ, việc báo tăng mức đóng khi người lao động sắp sinh con để được hưởng chế độ thai sản với mức cao hơn hay việc lập hồ sơ giả để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội cũng thường xuyên xảy ra.

Trước thực trạng đó, với những kiến thức đã học của chuyên ngành Quản lý công, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực bảo hiểm xã hội, từ đó đưa chính sách bảo hiểm xã hội đến với người lao động trên địa bàn Quận 9 một cách đầy đủ theo quy định của pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau về bảo hiểm xã hội cũng như chi trả bảo hiểm xã hội ở quy mô tỉnh, thành phố; quy mô quận, huyện; trước và sau khi Luật bảo hiểm xã hội được ban hành đến nay, điển hình như:

Luận án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Huy Ban (năm 1996) với đề tài “Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam – lý luận và thực tiễn”. Đây là luận án phó tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội và đánh giá thực trạng công tác xây dựng pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất mô hình xây dựng Luật bảo hiểm xã hội trong đó có đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội.

Đề tài nghiên cứu năm 1996 của TS. Nguyễn Văn Châu“Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu”. Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu một số kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới, đánh giá thực trạng về hoạt động của nghiệp vụ thu bảo hiểm xã hội trong thời kỳ trước khi thành lập hệ thống bảo hiểm xã hội (năm 1995) và trong thời kỳ từ năm 1995-1996, đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm cải tiến quản lý thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Đề tài khoa học “Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và những vấn đề cần hoàn thiện” năm 2002 do thạc sĩ Đỗ Quang Khánh làm chủ nhiệm. Đề tài đã giới thiệu đặc điểm kinh tế-xã hội của thành phố Hồ Chí Minh và cơ sở pháp lý để thực hiện công tác thu bảo hiểm xã hội. Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996-2001. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu bảo hiểm xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh.

Đề tài nghiên cứu cấp ngành của tác giả Hà Văn Chi (BHXH Việt Nam) với đề tài “Chế độ lương hưu của các đối tượng nghỉ hưu thời kỳ trước và sau năm 1995, thực trạng và giải pháp” (năm 2003). Nội dung đề tài nêu lên sự bất hợp lý trong quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong các chính sách bảo hiểm xã hội trước và sau năm 1995 từ đó đưa ra các kiến nghị về điều chỉnh tiền lương hưu đối với các đối tượng nghỉ hưu trước năm 1995.

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hồ Văn Phú (năm 2009) với đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà bước về bảo hiểm xã hội”. Nội dung luận văn chủ yếu tập trung phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trong những năm gần đây, những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo hiểm xã hội. Qua đó thấy được đây là những chủ trương, chính sách lớn, lâu dài của Nhà nước được sự đồng thuận của xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, bảo hiểm xã hội Việt Nam cần đề ra các giải pháp để phải khắc phục những mặt còn hạn chế.

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đoàn Thị Lệ Hoa (năm 2012) với đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng”. Nội dung luận văn đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng còn những hạn chế do viên chức nghiệp vụ chưa thực hiện tốt việc xét duyệt, thẩm định hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, chưa chặt chẽ trong việc theo dõi quản lý đối tượng hưởng chế độ. Tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng, chưa có chương trình liên thông số sổ bảo hiểm xã hội nên khó kiểm soát được số sổ đã hưởng chế độ, dẫn đến chi trùng. Từ những hạn chế trên tác giả luận văn đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện kiểm soát chi tại bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng.

Từ những nội dung nghiên cứu cơ sở lý luận bảo hiểm xã hội và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội của các luận văn nêu trên, trong đó có luận văn của tác giả Đoàn Thị Lệ Hoa đề cập đến nội dung chi trả bảo hiểm xã hội; luận văn của tôi sẽ kế thừa sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp. Tại Quận 9 – thành phố Hồ Chí Minh, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể vấn đề quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội; vì vậy, hướng đề tài mà tôi lựa chọn sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

3.1 Mục đích

Từ cơ sở lý luận và kết quả đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9.

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

  • Làm rõ cơ sở lý luận chi trả bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội, trong đó làm rõ sự cần thiết khách quan Nhà nước phải quản lý công tác chi trả bảo hiểm xã hội; nội dung quản lý chi trả bảo hiểm xã hội; cơ sở pháp lý và hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trong công tác chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9; đưa ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội.
  • Đưa ra một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9 trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Công tác quản lý nhà nước về chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động và người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Thời gian nghiên cứu: từ năm 2014 đến nay.
  • Không gian nghiên cứu: địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

5. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở Chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Phương pháp thu thập thông tin: từ nguồn tài liệu liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm xã hội, văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật bảo hiểm xã hội, các văn bản Luật khác có liên quan, Văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội, các Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về tình hình quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hàng năm, các Báo cáo hoạt động của ngành bảo hiểm xã hội, tham khảo ý kiến của chuyên gia; từ đó, tác giả có cái nhìn toàn diện và khách quan để phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong quản lý nhà nước đối với hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội.

  • Phương pháp định tính: phân tích tổng hợp số liệu thu thập được.
  • Phương pháp định lượng: trên cơ sở số liệu thống kê, tác giả so sánh, xử lý số liệu, đồ thị.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn làm rõ về mặt lý luận chi trả bảo hiểm xã hội, sự cần thiết khách quan QLNN về chi trả bảo hiểm xã hội; đồng thời qua việc phân tích đánh giá những mặt đạt được, những hạn chế của hoạt động quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9 để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trong thời gian tới, góp phần đảm bảo quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chi trả BHXH đối với các quận, huyện có đặc điểm phù hợp, tương đồng với Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn được chia thành ba chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2016.
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1. Một số khái niệm Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

1.1.1. Bảo hiểm  

  • Khái niệm

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu: xã hội, kinh tế, pháp lý như:

Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít [24, tr. 21].

Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn cho mình hoặc cho người thứ ba, trong trường hợp xảy ra rủi ro, sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác, đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê [24, tr. 22].

Mỗi định nghĩa nêu trên thiên về một góc độ nghiên cứu về xã hội, kinh tế và pháp luật khác nhau. Để đáp ứng cả ba khía cạnh này, có thể nêu khái quát khái niệm bảo hiểm như sau: “Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê” [24, tr. 22].

  • Phân loại

Phân loại theo phương thức quản lý: bảo hiểm được chia làm 2 hình thức là bắt buộc và tự nguyện, trong đó:

Bảo hiểm tự nguyện là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được thiết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm. Đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một dịch vụ đối với hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người.

Bảo hiểm bắt buộc được hình thành trên cơ sở luật định, nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất về người và tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp, thường là đối tượng của sự bắt buộc này. Ví dụ: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách, bảo hiểm cháy, nổ.

  • Phân loại theo mục đích hoạt động: bảo hiểm được chia làm 2 loại là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại, trong đó:

Bảo hiểm xã hội là biện pháp bảo đảm, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ sự đóng góp của người lao động. bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia.

Bảo hiểm thương mại là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua đóng phí để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

1.1.2. Bảo hiểm xã hội Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

  • Khái niệm bảo hiểm xã hội

BHXH có lịch sử khá lâu và đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới.

Năm 1850, đạo luật bảo hiểm xã hội đầu tiên được ban hành ở nước Đức dưới thời Thủ tướng Bismark. Theo đạo luật này, sự tham gia bảo hiểm xã hội là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (theo cơ chế ba bên). Năm 1935, Mỹ ban hành đạo luật đầu tiên về an sinh xã hội. Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Theo Công ước số 102, được gọi là Công ước về an sinh xã hội (tiêu chuẩn tối thiểu); do Hội toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 25/06/1952; “chế độ về an sinh xã hội gồm 9 nội dung: (1)Hệ thống chăm sóc y tế; (2)Hệ thống trợ cấp ốm đau; (3)Trợ cấp thất nghiệp; (4)Hệ thống trợ cấp tuổi già; (5)Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; (6)Trợ cấp gia đình; (7)Trợ cấp thai sản; (8)Hệ thống trợ cấp cho tình trạng không tự chăm sóc được bản thân; (9)Trợ cấp tiền tuất. Đồng thời ILO khuyến nghị các nước thành viên phải thực hiện ít nhất 05 trong số 09 nội dung nêu trên bao gồm: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất” [10, tr 306].

Tuy nhiên, cho đến nay, định nghĩa thế nào là bảo hiểm xã hội vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận vì được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau. Cụ thể như:

Từ giác độ pháp luật: bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nghỉ hưu) hoặc chết.

Từ giác độ chính sách xã hội: bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

Khái niệm bảo hiểm xã hội được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Điều 3.1 Luật Bảo hiểm xã hội đã được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XIII, Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014 như sau “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [13, tr. 9].

  • Khái niệm ba bên trong hoạt động bảo hiểm xã hội

Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động bảo hiểm xã hội là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó: Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Bên tham gia bảo hiểm xã hội là bên có trách nhiệm đóng góp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước (trong một số trường hợp).

Bên bảo hiểm xã hội là bên nhận bảo hiểm xã hội từ những người tham gia bảo hiểm xã hội. Bên bảo hiểm xã hội thường là một số tổ chức do Nhà nước lập ra và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, lập nên quỹ bảo hiểm xã hội. Bên bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được bảo hiểm xã hội khi có nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ bảo hiểm xã hội phát triển.

Bên được bảo hiểm xã hội là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh nhu cầu bảo hiểm xã hội, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro được bảo hiểm gây ra. Trong bảo hiểm xã hội, bên được bảo hiểm xã hội là người lao động tham gia bảo hiểm xã hội và thân nhân của họ, khi họ có phát sinh nhu cầu được bảo hiểm xã hội.

  • Đặc trưng của bảo hiểm xã hội

Từ việc nghiên cứu khái niệm về bảo hiểm xã hội ở trên, ta có thể thấy bảo hiểm xã hội có những đặc trưng cơ bản như sau:

BHXH là sự đảm bảo bù đắp thu nhập cho người lao động trong và sau quá trình lao động, đồng thời quyền lợi hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội chỉ được chi trả khi họ và người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội.

Các hoạt động và các chế độ bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật. Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt động bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, hoạt động bảo hiểm xã hội còn chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao động thông qua tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động thông qua tổ chức của giới chủ, theo cơ chế ba bên.

  • Nội dung của bảo hiểm xã hội

BHXH là một hệ thống đa dạng và phức tạp với những nội dung khác nhau.

Tuy nhiên, có thể tập trung vào bốn nhóm nội dung cơ bản sau:

  • Một là đối tượng bảo hiểm xã hội

Người lao động trong quan hệ bảo hiểm xã hội vừa là đối tượng tham gia, vừa là đối tượng được bảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội chiếm phần lớn trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm bảo hiểm xã hội.

Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội không chỉ có người lao động mà còn có người sử dụng lao động và Nhà nước. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội là vì họ thấy được lợi ích thiết thực cho họ, đồng thời là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua quy định của pháp luật. Đối với Nhà nước thì khác, Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội với tư cách là chủ sở hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức làm việc trong bộ máy Nhà nước, đồng thời với tư cách bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ bảo hiểm xã hội, nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự an toàn của xã hội.

Đối tượng được hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội là người lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như: cha, mẹ, vợ, chồng, con.

  • Hai là các chế độ bảo hiểm xã hội Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Theo Điều 4, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định như sau: bảo hiểm xã hội bắt buộc có 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất;bảo hiểm xã hội tự nguyện có 2 chế độ là hưu trí và tử tuất; bảo hiểm hưu trí bổ sung do Chính phủ quy định.

  • Ba là quỹ bảo hiểm xã hội

“Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước” [13, tr. 10]. Ngoài ra, nguồn hình thành quỹ còn có “Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ”, “Các nguồn thu hợp pháp khác” [13, tr. 68]. Các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội bao gồm: quỹ ốm đau và thai sản; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ hưu trí và tử tuất [13, tr 68].

  • Bốn là tổ chức, quản lý bảo hiểm xã hội

Theo khoản 1, Điều 93 và khoản 1, khoản 2, Điều 94 – Luật bảo hiểm xã hội năm 2014:

“Cơ quan bảo hiểm xã hội là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; thanh tra việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế …” [13, tr.77]. “Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội được tổ chức ở cấp quốc gia có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát hoạt động của cơ quan bảo hiểm xã hội và tư vấn chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội gồm đại diện Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và tổ chức khác có liên quan” [13, tr.77-78].

1.1.3. Chi trả bảo hiểm xã hội

  • Khái niệm

Chi trả bảo hiểm xã hội là quá trình phân phối, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội để chi các chế độ bảo hiểm xã hội và đảm bảo các hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội. Trong đó:

Phân phối quỹ bảo hiểm xã hội là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH để hình thành các quỹ thành phần như quỹ ốm đau và thai sản, quỹ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, quỹ hưu trí và tử tuất hoặc phân bổ cho các mục đích sử dụng khác nhau như quỹ đầu tư phát triển và quỹ chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội.

Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội là quá trình chi tiền của quỹ bảo hiểm xã hội đến tay đối tượng được thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể. Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội là hai quá trình khác nhau, nhưng trong thực tế, hai quá trình này thường đan xen lẫn nhau. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, từ mục đích sử dụng quỹ đòi hỏi phải tách riêng hai quá trình này theo thứ tự trước sau. Ví dụ: phải phân phối quỹ đủ cho mục đích chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, số còn lại mới phân phối vào quỹ bảo toàn và tăng trưởng,nghĩa là quỹ phải có số dư mới thực hiện đầu tư tăng trưởng.

  • Phân biệt giữa chi trả bảo hiểm xã hội với các loại hình chi trả bảo hiểm khác

Căn cứ vào mục đích hoạt động, có hai loại hình bảo hiểm là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại. Hoạt động chi trả quyền lợi cho người thụ hưởng của hai loại hình bảo hiểm này có những điểm giống và khác nhau, cụ thể ở một số tiêu chí như sau:

Giống nhau: bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi. Hoạt động chi trả quyền lợi bảo hiểm đều nhằm bù đắp tài chính cho người tham gia bảo hiểm khi gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại, trong khuôn khổ loại hình bảo hiểm họ tham gia. Phương thức hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều mang tính “cộng đồng – lấy số đông bù số ít” tức là dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người gặp phải biến cố rủi ro gây ra tổn thất.

Khác nhau:

  • Về mục tiêu, bảo hiểm xã hội nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, còn bảo hiểm thương mại là lợi nhuận.
  • Về nội dung chi trả bảo hiểm thương mại gồm nhiều lĩnh vực nhằm đảm bảo các rủi ro về con người giống như bảo hiểm xã hội, ngoài ra bảo hiểm thương mại còn đảm bảo các rủi ro khác như tài sản và trách nhiệm.
  • Hoạt động chi bảo hiểm xã hội được thực hiện bởi cơ quan bảo hiểm xã hội, là một tổ chức sự nghiệp của Nhà nước nhằm chăm lo phúc lợi xã hội, còn bảo hiểm thương mại được thực hiện bởi các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích cung cấp cho xã hội một loại hàng hóa, dịch vụ, trên cơ sở đó tìm kiếm một khoản lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm.

1.1.4. Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội

  • Quản lý

Quản lý xuất hiện trong mọi tổ chức, vì sự tồn tại và phát triển của một thực thể là tất yếu khách quan. Trong thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Theo F.W.Taylor, quản lý là “biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Henry Fayol định nghĩa “quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định trước”.

Từ các quan điểm trên, có thể tổng hợp định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước” [11, tr.22].

  • Quản lý nhà nước và đặc điểm của quản lý nhà nước
  • Quản lý nhà nước Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Theo nghĩa bao quát: quản lý nhà nước là hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước trong bộ máy Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước không bao gồm hoạt động lập pháp và tư pháp của Nhà nước, mà đó là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước (cơ quan hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội theo pháp luật.

  • Đặc điểm của quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao, tính điều chỉnh và tính mệnh lệnh đơn phương. quản lý nhà nước tác động mang tính liên tục và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội.  

Các yếu tố tạo nên hoạt động quản lý nhà nước bao gồm mục đích, nhiệm vụ của quản lý nhà nước; phương pháp quản lý nhà nước và chương trình quản lý nhà nước. Trong đó: mục đích, nhiệm vụ của quản lý nhà nước là mục tiêu hướng tới của chủ thể quản lý đối với đối tượng bị quản lý. Phương pháp quản lý nhà nước là phương thức, cách thức mà Nhà nước tác động lên khách thể quản lý nhằm đạt được những mục đích quản lý; có các phương pháp quản lý như: thuyết phục, kinh tế, kiểm tra, hành chính, cưỡng chế. Chương trình quản lý nhà nước gồm các bước: đánh giá tình hình các vấn đề cần giải quyết; chuẩn bị dự thảo quyết định; thông qua quyết định; ban hành quyết định; tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra đánh giá thực hiện các quyết định.

Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội

Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội: là sự tác động, điều hành của Nhà nước trong thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trên lĩnh vực chi trả bảo hiểm xã hội, nhằm đảm bảo chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người thụ hưởng theo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo được mục tiêu an sinh xã hội.

Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội. Nhà nước sử dụng hệ thống pháp luật và công cụ cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước để tác động và điều chỉnh hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội.

QLNN về chi trả bảo hiểm xã hội được thống nhất từ cơ quan Nhà nước cấp trung ương đến cấp địa phương. quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội cần tuân thủ đúng các nguyên tắc sau: “đúng chế độ, chính sách hiện hành, đúng người được hưởng; bảo đảm chi trả kịp thời và đầy đủ chế độ của người hưởng; thủ tục chi trả đơn giản, thuận tiện; đảm bảo an toàn tiền mặt trong chi trả; chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được quản lý thống nhất, công khai, minh bạch” [7, tr.5].

1.1.5. Một số nhân tố tác động đến chi trả bảo hiểm xã hội

  • Sự phát của nền kinh tế Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Khi nền kinh tế của đất nước phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu lao động của doanh nghiệp sẽ được mở rộng, việc tham gia bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp cũng trở thành một trong những tiêu chí cạnh tranh trên thương trường. Còn người lao động, họ cũng mong muốn được tham gia bảo hiểm xã hội với mức lương cao để được hưởng quyền lợi cao. Từ đó, số thu bảo hiểm xã hội sẽ gia tăng dẫn đến việc giải quyết chế độ và chi trả bảo hiểm xã hội cũng tăng để đáp ứng nhu cầu thụ hưởng chính sách BHXH cho người lao động.

  • Sự nhận thức của xã hội về bảo hiểm xã hội

Khi người lao động, người sử dụng lao động cũng như toàn xã hội nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, họ sẽ có ý thức chấp hành tốt pháp luật bảo hiểm xã hội. Việc tuân thủ pháp luật bảo hiểm xã hội của người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ góp phần đưa chính sách bảo hiểm xã hội vào đời sống; người lao động được hưởng chế độ theo đúng quy định; hạn chế được hành vi trục lợi quỹ bảo hiểm xã hội, bảo đảm an toàn và phát triển quỹ bảo hiểm xã hội.

  • Sự điều chỉnh về chính sách, pháp luật của nhà nước

Chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội, có thể kể ra như sau:

Chính sách tiền lương và chính sách bảo hiểm xã hội có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, vì cơ sở để tính toán mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội hiện nay phụ thuộc vào hệ thống thang bảng lương do Nhà nước ban hành, mức lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định. Như vậy, khi Nhà nước nâng mức lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng, đồng nghĩa với việc tăng mức đóng bảo hiểm xã hội. Số thu bảo hiểm xã hội và chi trả quyền lợi bảo hiểm xã hội cũng tăng lên.

Bên cạnh đó, khi Nhà nước điều chỉnh, bổ sung chính sách bảo hiểm xã hội về mở rộng đối tượng tham gia, đối tượng hưởng và mức thụ hưởng bảo hiểm xã hội cũng sẽ làm tăng quy mô quản lý về đối tượng hưởng và số tiền chi trả.

Ngoài ra, còn các chính sách khác của Nhà nước tác động đến chi trả bảo hiểm xã hội như: chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, chính sách việc làm.

1.2. Sự cần thiết khách quan và nội dung quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

1.2.1. Sự cần thiết khách quan quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội

Xuất phát từ vai trò quan trọng của hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội 

Đối với đối tượng thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội:

Theo quy định hiện hành, chủ sử dụng lao động và người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội thì người lao động mới được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Nhưng để người lao động nhận được tiền trợ cấp từ quỹ bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp, người lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội phải thực hiện hàng loạt các hoạt động thuộc nghiệp vụ quản lý chi. Không có các hoạt động này thì người tham gia bảo hiểm xã hội không nhận được các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội và do đó quyền lợi của họ không được đảm bảo.

Đối với hệ thống an sinh xã hội:

Chi trả bảo hiểm xã hội góp phần đảm bảo đời sống cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trong và sau khi ra khỏi quá trình lao động, liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của con người. Quản lý, định hướng chi trả bảo hiểm xã hội theo đúng quy định của pháp luật sẽ góp phần đảm bảo nguyên tắc công bằng, đoàn kết, chia sẻ “lấy số đông bù số ít, lấy không rủi ro bù cho rủi ro” giữa những người lao động với nhau.

Chi trả bảo hiểm xã hội là nhu cầu thiết yếu và quan trọng nhất của người lao động trong số những nhu cầu về an sinh xã hội của con người (nhu cầu tiếp cận và thoả mãn các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, kế hoạch hoá gia đình, nước sạch; nhu cầu trợ giúp xã hội thường xuyên đối với các đối tượng yếu thế; nhu cầu cứu trợ đột xuất.v.v.) mà Nhà nước và cộng đồng phải có trách nhiệm chia sẻ, cung cấp không vì mục tiêu lợi nhuận cho xã hội.

Xuất phát từ tính phức tạp của hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội

Hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội có liên quan đến nhiều đối tượng như người lao động, người sử dụng lao động, người hưởng chính sách bảo hiểm xã hội (là thân nhân của người lao động) và cơ quan bảo hiểm xã hội. Mỗi đối tượng đều có nghĩa vụ và quyền lợi về bảo hiểm xã hội khác nhau theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, chi trả bảo hiểm xã hội còn liên quan đến nhiều nghiệp vụ bao gồm thu, thẩm định hồ sơ, thực hiện chi trả .v.v. Mỗi khâu nghiệp vụ đòi hỏi tính chính xác, chặt chẽ theo quy trình. Nếu có sai sót ở bất kỳ khâu nghiệp vụ nào, cũng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động.

Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội là yêu cầu của nền kinh tế – xã hội

Chi trả bảo hiểm xã hội cho người lao động là một bước quan trọng trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội của mỗi quốc gia. Hoạt động này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội sau khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội. quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội là một trong những nhiệm vụ của Nhà nước nhằm định hướng cho hoạt động chi trả diễn ra đúng quy định của pháp luật, thể hiện được vai trò bù đắp thu nhập cho người lao động khi gặp rủi ro, giúp người lao động nhanh chóng phục hồi sức khoẻ, yên tâm làm việc, nâng cao năng suất lao động, góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển.

1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

Theo Điều 7, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội bao gồm 7 nội dung:“(1)Ban hành, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật, chiến lược, chính sách bảo hiểm xã hội. (2)Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội. (3)Thực hiện công tác thống kê, thông tin về bảo hiểm xã hội. (4)Tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội; đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực làm công tác bảo hiểm xã hội. (5)Quản lý về thu, chi, bảo toàn, phát triển và cân đối quỹ bảo hiểm xã hội. (6)Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội. (7)Hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội’ [13, tr. 12-13]. Theo đó, quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội bao gồm những nội dung sau:

Một là, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về chi trả bảo hiểm xã hội

Nhà nước xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội bao gồm Luật và các văn bản dưới luật để thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội thống nhất trong phạm vi cả nước. Đối với bảo hiểm thương mại, Nhà nước chỉ ban hành những điều, những nội dung cơ bản nhất còn các chính sách, chiến lược cụ thể là do các công ty bảo hiểm thực hiện; còn đối với bảo hiểm xã hội, Nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật rất cụ thể và chặt chẽ các nội dung của chính sách bảo hiểm xã hội, các cơ quan bảo hiểm xã hội không được tự ý đặt ra bất kỳ chế độ hay bất kỳ quy định nào.Vì vậy, xây dựng pháp luật bảo hiểm xã hội có thể coi là nội dung quan trọng nhất của quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội.

Theo phân cấp, cơ quan quản lý nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm tổ chức thực hiện, đưa chính sách vào đời sống xã hội trên cơ sở Luật bảo hiểm xã hội, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của Chính phủ, các Bộ, Ngành và Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Hai là, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội

Tuyên truyền cho người lao động và nhân dân hiểu rõ chính sách bảo hiểm xã hội là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm ổn định chính trị xã hội và phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Qua đó, đề cao tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan bảo hiểm xã hội từ trung ương đến địa phương trong việc tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội.

Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội phải theo nguyên tắc có đóng có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa người lao động với nhau, bảo đảm công bằng bền vững hệ thống bảo hiểm xã hội. Công tác tuyên truyền cần tiến hành thường xuyên, đồng bộ ở các cấp; phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, tổ. Luận văn: Quản lý nhà nước về chi trả bảo hiểm xã hội trên địa bàn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại tỉnh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993