Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở á vùng nam bộ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Khí hậu là yếu tố gắn liền với lịch sử phát triển của Trái Đất và nó tác động đến tất cả các lĩnh vực sản xuất cũng như đời sống con người.

Thật vậy, ở những vùng địa lý khác nhau thì hình thành các dạng địa hình, các loại đất, chế độ thủy văn hay các thảm thực vật khác nhau và điển hình cho từng vùng. Tại sao lại như vậy? Tất cả đều do một yếu tố gây ra: đó là khí hậu.

Và trong quá trình phát triển của xã hội loài người, thì những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất là những nơi có điều kiện khí hậu ôn hòa, không quá khắc nghiệt chính là những nơi con người tập trung đông nhất.

Xã hội loài người đã và đang trải qua các nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và bây giờ là nền văn minh hậu công nghiệp với sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ. Tuy nhiên, dù là nền văn minh nào đi nữa, con người và xã hội loài người cũng không thể tách rời và không chịu tác động của các yếu tố khí tượng khí hậu (mây, mưa, nắng,…). Vì con người của chúng ta cần phải thở,… nông nghiệp thì cần có nắng, mưa,…công nghiệp thì cần có nước để làm dung môi,…ngay cả trong kiến trúc xây dựng thì ở mỗi vùng miền địa lý khác nhau cũng có các kiểu kiến trúc khác nhau do tác động của yếu tố khí hậu.

Chính vì sự tác động và tầm ảnh hưởng quan trọng của khí hậu như vậy, mà từ lâu nay khí hậu vẫn luôn là yếu tố được quan tâm nghiên cứu, từ nông dân cho đến các nhà khoa học. Nếu trước đây việc nghiên cứu khí hậu chưa có sự gắn kết với việc nghiên cứu mối liên hệ giữa khí hậu với các cơ thể sống, thì ngày nay, việc xem xét tác động khí hậu đến đời sống con người và các hoạt động sản xuất, các nhà khoa học thường kết hợp với quan điểm sinh thái. Chính sự kết hợp này, đã làm cho việc nghiên cứu khí hậu được toàn diện và đầy đủ hơn, thiết thực và cụ thể hơn, mang đậm tính sinh thái hơn và phục vụ trực tiếp cho những mục đích chuyên sâu. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Nói một cách ngắn gọn nghiên cứu khí hậu ứng dụng trên quan điểm sinh thái học chính là nghiên cứu sinh khí hậu (bioclimate).

Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người đã từng bước làm nên những ngôi nhà từ thô sơ đến phức tạp để chống lại những điều kiện bất lợi của thời tiết và thoả mãn nhu cầu sống ngày càng cao. Từ đó, dẫn đến việc xuất hiện các loại hình nhà khác nhau trên những khu vực có điều kiện khí hậu khác nhau. Đặc biệt, các loại hình nhà này đã không ngừng được cải tiến, biến đổi và hoàn thiện để (thích nghi) tận dụng tối đa những thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất những bất lợi của điều kiện khí hậu, thời tiết khu vực mà con người sinh sống.

Ngày nay, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kiến trúc, khí hậu và con người vẫn đang được các kiến trúc sư tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi nhằm thiết kế và xây dựng nên những công trình kiến trúc hiện đại và giàu bản sắc dân tộc. Các công trình này phải vừa thoả mãn được nhu cầu của con người vừa tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường,… thể hiện qua các xu hướng kiến trúc tiêu biểu hiện nay như Kiến trúc có hiệu quả năng lượng (Energy efficient building), Kiến trúc bền vững (Sustainable Architecture), Kiến trúc xanh (Green Architecture),… Hạt nhân của các xu hướng này chính là Kiến trúc Sinh Khí hậu (Bioclimatic Architecture).

Còn trong nông nghiệp, thì thể hiện rõ nhất trong bài thơ “Đi Cấy”: ….Trông trời, trông đất, trông mây; Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm….Như vậy, trong nông nghiệp thì yếu tố khí hậu càng đóng quan trò quan trọng, mang tính quyết định thời vụ, năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Hoạt động du lịch thì sự ảnh hưởng của yếu tố khí hậu cũng là rất lớn, nhất là đối với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch chữa bệnh,…

Và một mối quan hệ không thể tách rời, đó chính là diễn biến thời tiết với sức khỏe cũng như tâm trạng tâm lý con người. Những điều kiện thời tiết diễn biến khác nhau, có thể gây nên những biến đổi sinh lý trong cơ thể người ta khác nhau.

Điều này ngay từ thời xa xưa con người đã nhận ra và ngày nay đã được khoa học chứng minh.

Ngày nay y học đã chứng minh sự thay đổi thời tiết có thể kích thích hàng loạt người gây ra những ảnh hưởng đến tuần hoàn máu ở não, nhức đầu, đau lưng, nhức xương, mệt mỏi, đau nhói vùng tim. Ở những người đứng tuổi có bệnh mạn tính thì thời tiết thay đổi làm cho tình trạng bệnh tăng lên. Các công trình nghiên cứu trên thế giới 100 năm gần đây cho thấy có sự liên quan giữa thời tiết nóng bức với sự gia tăng các loại tội phạm hình sự. Con người ta trở nên hung hăng hơn khi thời tiết quá nóng. Còn ở Mỹ, một số nhà khoa học nước này nhận xét: sự chuyển mùa, thay đổi thời tiết có thể ảnh hưởng đến tâm lý, đến hành vi cư xử của hơn 27% dân Mỹ. Ngoài những ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe, tâm trạng và tâm lý con người như trên, khí hậu còn có một số tác dụng có thể chữa một số bệnh như: diệt khuẩn trên da,….Và chính điều này đã thôi thúc các nhà y học nghiên cứu ứng dụng của khí hậu vào việc chữa một số bệnh. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Như vậy, khí hậu ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động sản xuất từ nông nghiệp, công nghiệp cho đến hoạt động du lịch, y tế,….Việc nghiên cứu sinh khí hậu trong các lĩnh vực sản xuất cũng như sinh khí hậu người hiện nay rất được quan tâm. Đã có nhiều bài báo, nhiều quyển sách viết về sinh khí hậu phục vụ trong nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, mối quan hệ giữa khí hậu với vấn đề lao động,….hay những đề tài về sinh khí hậu của một quốc gia, sinh khí hậu Việt Nam, sinh khí hậu vùng biển,….Tuy nhiên, sinh khí hậu từng vùng của Việt Nam thì chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, đặc biệt là sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh (sinh khí hậu người). Nhận thấy, đây là một hướng đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam và khá hay, có tính ứng dụng thực tiễn cao, nhưng với khả năng cũng như thời gian có hạn, tôi chọn đề tài: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở á vùng nam bộ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Lịch sử các vấn đề nghiên cứu

Sinh khí hậu đã được các nhà khoa học các nước trên thế giới nghiên cứu từ rất lâu. Còn ở Việt Nam thì đây là lĩnh vực khá mới mẻ, còn non trẻ; tuy vậy, việc nghiên cứu sinh khí hậu ứng dụng cũng đã được nghiên cứu khá đầy đủ và trong nhiều lĩnh vực.

  • Trên thế giới

Cơ sở sinh khí hậu phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng – điển hình ở Ba Lan của Giáo sư Krzysztof  Blazejczyk, Khoa Địa lý và nghiên cứu vùng thuộc đại học Warsaw, Ba Lan. Bài báo nói về sự đánh giá của tác giả đối với tài nguyên sinh khí hậu đối với việc nghỉ dưỡng ở Ba Lan. Tác giả đưa ra các tiêu chuẩn về các thành phần trong khí quyển đối với việc chăm sóc sức khỏe của người Ba Lan, cũng như bảng phân loại thời tiết nhiệt sinh học.

Sự so sánh đơn giản về điều kiện sinh khí hậu người trong thời kì nóng/lạnh ở một số thành phố của Mexico của A.Têjêda-Martinez (Đại học Veracruzana) và O.R.Garcia-Cueto (Đại học Autónama de Baja). Để so sánh sinh khí hậu giữa các thành phố, 2 tác giả đưa ra 4 chỉ số: DI (Discomfort Index – chỉ số bất tiện nghi), ET (Effective temperature – Nhiệt độ phù hợp), I (Enthalpy Index – chỉ số bức xạ nhiệt), và HIS (Heat Strain index – chỉ số nhiệt căng thẳng). Trên cơ sở tính toán các chỉ số trên, so sánh các chỉ số này giữa 2 thành phố, trong 2 thời kì nóng/ lạnh, các tác giả đã đưa ra kết luận về sự thuận lợi và khó khăn của sinh khí hậu giữa các thành phố của Mexico.

  • Ở Việt Nam Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Trong sách Địa lý du lịch Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) và những người khác, cũng có đưa ra các chỉ số sinh khí hậu người nhưng chưa đưa ra kết quả nghiên cứu sinh khí hậu người đối với hoạt động du lịch của từng vùng cụ thể.

Một nghiên cứu khá đầy đủ và là tài liệu tham khảo rất quan trọng về sinh khí hậu, đó là Giáo trình cơ sở sinh khí hậu của PGS.TS.Nguyễn Khanh Vân. Tác giả đã trình bày một cách khái quát nhất về sinh khí hậu thảm thực vật tự nhiên, sinh khí hậu vật nuôi và sinh khí hậu người, cũng như mối quan hệ giữa sinh khí hậu với các khoa học khác.

Nguyễn Khanh Vân ngoài Luận án Tiến sĩ “ Phân loại sinh khí hậu thảm thực vật tự nhiên Việt Nam (trên cơ sở nguồn gốc phát sinh)”, 1993 – Liên Bang Nga, cùng  những người khác cũng thực hiện các đề tài về sinh khí hậu như: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ công tác điều dưỡng ở miền núi Việt Nam (năm 1995 – Đề tài cấp Viện Địa lý); Điều kiện sinh khí hậu hậu dải ven biển Việt Nam (1998); Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của việc xây dựng bản đồ sinh khí hậu ở Việt Nam (1991); Xây dựng bản đồ sinh khí hậu Việt Nam tỉ lệ 1:1.000.000 (1992); Sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu cho phát triển sản xuất và cho dân sinh, du lịch vùng hồ Hòa Bình (1993); Nghiên cứu sinh khí hậu người phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng và dân sinh ở Việt Nam (2015); Classification and assessment of  bioclimatic conditions for tourism, health resort and some weather therapies in Viet Nam (2021). Gần đây nhất, Nguyễn Khanh Vân-Hoàng Bắc và Hoàng Thị Kiều Oanh đã thực hiện bài báo: Nghiên cứu đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch các khu vực biển – đảo bờ đông và bờ tây vùng Nam Bộ Việt Nam; bài báo này các tác giả một mặt đánh giá các tác động riêng rẽ của các yếu tố khí hậu đến sức khỏe con người, mặt khác sử dụng các chỉ số sinh khí hậu tổng hợp. Qua bài báo, các tác giả đã chỉ ra sự khác biệt về một số điều kiện sinh khí hậu giữa bờ đông (Vũng Tàu, Côn Đảo) và bờ tây (Rạch Giá, Phú Quốc), chỉ sự khác biệt đó đã ảnh hưởng tới tính mùa vụ có khác nhau của hoạt động du lịch của bờ đông – tây của Nam Bộ.

Bài báo khoa học: Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên – Huế của Nguyễn Thám và Nguyễn Hoàng Sơn, đánh giá sinh khí hậu phục vụ du lịch ở Thừa Thiên – Huế và trong bài báo này 2 tác giả sử dụng Chỉ số bất tiện nghi – DI, để đánh giá sinh khí hậu.

Nghiên cứu ứng dụng thông tin khí hậu phục vụ y tế và du lịch – Tạp chí khí tượng thủy văn tháng 5/2024, cũng đưa ra các chỉ số: TCI (Tourism Climate Index – Chỉ số khí hậu du lịch); RSI (Relative Strain Index).

Như vậy, qua lịch sử nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, học viên thấy rằng: việc nghiên cứu sinh khí hậu phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở á vùng Nam Bộ (Việt Nam) là chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách cụ thể.

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

3.1 Mục đích của đề tài:

  • Tìm hiểu sâu hơn về điều kiện sinh khí hậu con người, mối quan hệ giữa khí hậu với sức khỏe con người, giữa khí hậu với du lịch.
  • Tìm ra những khoảng thời gian, những địa phương có điều kiện sinh khí hậu thuận lợi nhất, tương đối thuận lợi và ít thuận lợi ở á vùng Nam Bộ đối với hoạt động du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.
  • Kiến nghị một số giải pháp để quy hoạch và phát triển du lịch bền vững ở á vùng Nam bộ trên cơ sở sinh khí hậu.

3.2 Nhiệm vụ của đề tài:

  • Làm rõ mối quan hệ giữa khí hậu với sức khỏe con người và các hoạt động du lịch trên các cơ sở lý luận và thực tiễn.
  • Thông qua việc đánh giá sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở vùng Nam Bộ, đề tài đưa ra những điểm du lịch có sinh khí hậu tốt và thời gian du lịch tốt nhất đối với loại hình du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở vùng Nam Bộ.
  • Sử dụng các chỉ số tính toán sinh khí hậu tại một số điểm du lịch ở vùng Nam Bộ.

4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Không gian: nghiên cứu sinh khí hậu phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở vùng Nam Bộ (Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long); mỗi tiểu vùng, tác giả chỉ đánh giá sinh khí hậu ở một vài địa điểm chứ không đánh giá tất cả các địa điểm du lịch trong mỗi tiểu vùng. (Cụ thể, trong luận văn này học viên sẽ tính toán số liệu của 10 trạm khí tượng; riêng tỉnh Bình Phước học viên lấy số liệu tại trạm Phước Long – mỗi tiểu vùng là 5 trạm đại diện).

Nội dung: 2 chỉ số khí hậu tổng hợp thống kê, phân tích, đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh. Bên cạnh đó, học viên cũng sử dụng các kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan trước đó để so sánh và làm hoàn thiện nội dung của bài luận văn tốt nghiệp.

Thời gian: Đề tài sử dụng các số liệu quan trắc khí tượng trong 5 năm gần đây nhất và sẽ được thực hiện kể từ khi đề cương được hội đồng khoa học thông qua.

5. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Hệ thống các quan điểm Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống và được xem là đặc trưng của địa lý học. Đó là khi xem xét các sự vật hiện tượng địa lý phải đặt chúng trong mối quan hệ về không gian. Quan điểm này luôn được sự đồng thuận cao bởi trong thực tế các sự vật và hiện tượng địa lý luôn có sự phân hóa về mặt không gian, làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luôn đặt các tỉnh thành phố trong vùng và các vùng trong quan hệ không gian với các vùng khác trong cả nước.

Quan điểm hệ thống: Khí hậu, con người và hoạt động du lịch, cũng như các quá trình vận động của tự nhiên, kinh tế – xã hội không phải là một quá trình đơn lẻ, độc lập mà còn gắn kết với các quá trình vận động tự nhiên, xã hội khác. Chúng là bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế – xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, do đó, phải xem xét trên quan điểm hệ thống.

Quan điểm lịch sử – viễn cảnh: Các sự vật hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển của mình không chỉ biến đổi về mặt không gian mà còn có sự thay đổi theo thời gian. Đặc biệt là vấn đề khí hậu, con người và nhu cầu của con người luôn có sự đa dạng và biến đổi phức tạp. Sự phát triển con người từ quan niệm, nhận thức, bản chất, thái độ đối xử,…với vấn đề này trong quá khứ luôn có sự ảnh hưởng nhất định đến quá trình đánh giá trong hiện tại và tương lai. Nhất là, trong bối cảnh hiện nay, tình trạng biến đồi khí hậu đang diễn ra rất căng thẳng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài luôn được xem xét trong mối liên hệ quá khứ-hiện tạitương lai để làm rõ hơn bản chất vấn đề theo thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác.

Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Quá trình phát triển con người luôn chịu ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài. Đồng thời con ngời cũng có những tác động làm biến đổi môi trường xung quanh. Trong tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra và tác động xấu đến cuộc sống loài người. Do đó, để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu, con người trong quá trình phát triển của mình cần phải quán triệt quan điểm sinh thái và phát triển bền vững khi nghiên cứu vấn đề này. Phát triển con người phải đi đôi với phát triển kinh tế, công bằng xã hội và phát triển môi trường bền vững, mục đích cuối cùng là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, Trên cơ sở sưu tầm nhiều nguồn tài liệu có liên quan, chúng ta tiến hành lựa chọn và xử lý nguồn thông tin, số liệu đáng tin cậy nhất phục vụ hiệu quả cho đề tài.

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dựa trên việc phân tích nguồn tài liệu đã có cũng như nhận định từ quan sát thực tế, chúng ta mới có cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu. Từ đó, rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy đủ nhất đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đặt ra. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Phương pháp thống kê các số liệu thu thập nhằm lượng hóa các thông tin, làm tăng tính định lượng trong khi lập luận nghiên cứu các sự vật hiện tượng địa lý, sẽ là giảm đi sự suy đoán định tính.

Phương pháp dự báo: Đề tài sử dụng phương pháp dự báo trên cơ sở tính toán từ các số liệu đã thu thập được và sự phát triển có tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo tính khoa học và đưa ra những dự báo chính xác, hợp lý,…cần phải tham khảo ý kiến của các chuyên gia, những nhà nghiên cứu có liên quan với nội dung của đề tài.

6. Những đóng góp của luận văn

  • Góp phần là phong phú thêm cơ sở lý luận về nghiên cứu sinh khí hậu sức khỏe con người nói chung cũng như mối quan hệ giữa khí hậu – sức khỏe – du lịch.
  • Xác định rõ điều kiện khí hậu và tài nguyên sinh khí hậu đối với sức khỏe con người, đối với du lịch và nghỉ dưỡng ở á vùng Nam Bộ.
  • Tạo cơ sở tham mưu cho các nhà quản lý hoạch định chính sách phát triển kinh tế vùng, nhất là chính sách phát triển kinh tế du lịch.
  • Góp phần vào định hướng phát triển du lịch bền vững của á vùng.

7. Cấu trúc của luận văn

NỘI DUNG: Gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh khí hậu và du lịch nghỉ dưỡng, du lịch chữa bệnh.
  • Chương 2: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở á vùng nam bộ
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp để phát triển du lịch bền vững á vùng nam bộ dựa vào điều kiện sinh khí hậu.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KHÍ HẬU, DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG, DU LỊCH CHỮA BỆNH.

1.1. TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU DU LỊCH

Khí hậu là một loại tài nguyên sớm được khai thác để quy hoạch phát triển du lịch. Từ cuối thế kỷ XVIII đến những năm đầu thế kỷ XX đã có nhiều dự án quy hoạch phát triển du lịch ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ở những nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ như: Dovos, Crans-Montan, Lesyin ở Thụy Sĩ, Kitzibunel,…ở Đức, Shimla, Dazilung, Neinitan ở Ấn Độ, núi Thái Sơn ở Trung Quốc; Sapa, Đà Lạt, Bạch Mã, Ba Vì, Mẫu Sơn, Bà Nà, Tam Đảo ở Việt Nam. Các điều kiện của tài nguyên khí hậu khai thác phục vụ cho các mục đích phát triển du lịch khá đa dạng như: tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe của con người; tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng; tài nguyên khí hậu phục vụ cho các hoạt động thể thao mùa đông; tài nguyên khí hậu thích hợp cho các hoạt động du lịch tắm, lặn biển và thể thao biển,….

  • Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe con người: Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt.

Các yếu tố khí hậu thay đổi theo không gian từ xích đạo đến 2 cực, theo độ cao, theo thời gian (tính theo mùa), có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình, vị trí địa lý, thủy văn và sinh vật, hoạt động sản xuất và đời sống của con người.

Vì vậy, các yếu tố của khí hậu ở nhiều nơi trong từng thời gian nhất định có thể tạo ra những điều kiện sống thoải mái, dễ chịu, tốt cho sức khỏe của con người, hấp dẫn du khách, tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai nhiều loại hình du lịch. Ngược lại, có nhiều địa phương, quốc gia, các yếu tố khí hậu có những ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe con người, giảm sức hấp dẫn du khách, gây khó khăn cho việc triển khai các hoạt động du lịch.

Nhiều nhà khí hậu trên thế giới đã xây dựng các chỉ tiêu khí hậu sinh học để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người (sinh khí hậu người). Các nhà nghiên cứu du lịch cũng như các nhà quản lý kinh doanh du lịch thường vận dụng các chỉ tiêu khí hậu, sinh học để đánh giá những thuận lợi, khó khăn, mức độ phù hợp với sức khỏe con người của khí hậu hoạt động du lịch. Trong thực tế, những điều kiện khí hậu ôn hòa thường hấp dẫn khách du lịch. Du khách thường không thích những nơi có các yếu tố khí hậu quá lạnh, quá nóng, độ ẩm quá cao hoặc quá thấp, tốc độ gió mạnh, ít ánh nắng. Những người ở xứ nóng trong những ngày hè oi bức thường thích đi nghỉ mát ở các vùng biển hoặc ở các vùng núi, cao nguyên có khí hậu mát mẻ, khả năng chịu lạnh kém hơn. Những người sống ở xứ lạnh thường đi nghỉ đông ở những vùng ấm áp và khả năng chịu lạnh tốt hơn.

  • Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng

Khí hậu là một trong những loại tài nguyên quan trọng để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh, an dưỡng. Một số loại bệnh như huyết áp, tim mạch, thần kinh, hô hấp rất cần được điều trị, có sự kết hợp giữa các liệu pháp y học với tài nguyên du lịch tự nhiên thuận lợi, đặc biệt là điều kiện khí hậu trong lành, mát mẻ. Các điều kiện thuận lợi về áp suất không khí, nhiệt độ, độ ẩm, ánh nắng, độ trong lành của không khí có tác dụng tốt cho việc chữa lành bệnh và phục hồi sức khỏe của con người.

Ngoài việc phân bố ở những nơi có nguồn tài nguyên khác nhau như nước khoáng, bãi biển đẹp, có nhiều ánh nắng, nơi có phong cảnh đẹp, các điểm du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng ở Việt Nam cũng như trên thế giới thường được xây dựng, phát triển ở những nơi có khí hậu tốt, thích hợp với sức khỏe của con người như ở ven các hồ, ven biển và các vùng núi, cao nguyên.

Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải trí.

Các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải trí như bơi thuyền, lướt ván, bơi lội, lặn, tắm biển, hồ, thường được triển khai ở những vùng ven biển, hồ có các điều kiện về tốc độ gió và nhiệt độ của nước phù hợp và nhiều ánh nắng.

  • Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch

Những điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động du lịch và hấp dẫn du khách được coi là tài nguyên du lịch như: có nhiều ngày thời tiết tốt, số ngày mưa ít, nhiều ánh nắng, tốc độ gió không quá lớn, độ ẩm không khí không quá cao cũng không quá thấp, không có hoặc ít thiên tai và những diễn biến thời tiết đặc biệt. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch của khí hậu, ở các địa phương, các quốc gia trong nhiều thời kỳ trong năm còn có những yếu tố khí hậu không thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động du lịch như: những thời kỳ mưa nhiều, nhiệt độ, độ ẩm quá cao hoặc quá thấp, tốc độ gió lớn, có nhiều thiên tai. Để khắc phục được tính mùa vụ, những hạn chế của khí hậu đối với các hoạt động du lịch cần phải nghiên cứu, đánh giá cả những điều kiện thuận lợi và không thuận lợi để có những định hướng, giải pháp khai thác có hiệu quả các điều kiện thuận lợi, hạn chế những tác động tiêu cực của khí hậu với các hoạt động du lịch.

1.2. SINH KHÍ HẬU VÀ SINH KHÍ HẬU SỨC KHỎE CON NGƯỜI Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

1.2.1. Khái niệm về sinh khí hậu

Theo Từ điển Bách Khoa Nông nghiệp. Trung tâm quốc gia biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1991, tr.365: “SKH là bộ môn khoa học liên ngành giữa Khí hậu học và Sinh thái học, nghiên cứu các ảnh hưởng của khí hậu đối với cơ thể sống. sinh khí hậu chú trọng nghiên cứu tác động của các yếu tố khí hậu (bức xạ, nhiệt độ, độ ẩm,…) trong thời gian dài và theo dõi tác động của thời tiết trong phạm vi từng vùng và trong từng khu vực nhỏ (vi khí hậu), trong cảnh quan và thiết bị chuồng trại do con người tạo nên cho cây trồng vật nuôi. Nghiên cứu sinh khí hậu là cơ sở cho việc nghiên cứu tính thích nghi của sinh vật để nâng cao sức sản xuất của một môi trường nhất định”.

Theo nhận định của học viên: “SKH là việc nghiên cứu khí hậu ứng dụng trong các lĩnh vực: lâm nghiệp, nông nghiệp, y học, du lịch, xây dựng trên quan điểm sinh thái”.

Hình 1.1: Sơ đồ về sinh khí hậu

Như vậy, sinh khí hậu ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực đời sống và việc nghiên cứu sinh khí hậu cũng là cơ sở cho việc phát triển bền vững về lâm nghiệp, nông nghiệp, du lịch,…

1.2.2. Sinh khí hậu sức khỏe con người

SKH sức khỏe con người nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu-thời tiết lên cơ thể người (các cơ quan cảm thụ, sức khỏe con người nói chung) phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế du lịch, điều dưỡng cũng như các hoạt động sản xuất khác của con người.

1.2.3. Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết đối với cơ thể người

1.2.3.1. Bức xạ Mặt Trời

Hình 1.2: Bức xạ Mặt Trời đến Trái Đất

Bức xạ Mặt Trời gồm một dãy phổ từ khoảng 108 đến 1010cm. Tuy nhiên, chỉ có một ít tia có thể lọt qua được một số “cửa ngăn” nhất định trong khí quyển. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Mắt người có thể cảm thụ được ánh sáng và phân biệt được màu sắc trong phạm vi từ 302μm đến 780μm nhưng nhạy cảm nhất với các tia có bước sóng 550μm.

Các bức xạ của Mặt Trời và của tia hồng ngoại có bước sóng dài và được phát mạnh hay yếu đều gây ra những tác động quang hóa. Những tia này không phản xạ hắt lại, nhưng có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta qua da và mắt. Những tia phản xạ được trên bề mặt của lớp da người bao gồm các tia nhìn thấy được (đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím) và các tia gần sát với tia hồng ngoại. Da trắng phản xạ được trên 40% bức xạ Mặt Trời, khả năng phản xạ của da màu thấp hơn da trắng. Mức độ phản xạ đó thực tế đã làm giảm nhẹ gánh nặng nhiệt cho người da trắng. Mức độ phản xạ đó đối với tia tử ngoại cũng tương tự như tia hồng ngoại nhỏ. Các tia nhìn thấy được và các tia gần sát với tia hồng ngoại có thể lọt qua lớp thượng bì, nên sức nóng của bức xạ Mặt Trời có thể lưu lại một phần trong lớp bì và các lớp mô ở sâu hơn. Tia tử ngoại và tia hồng ngoại được hấp thụ chủ yếu ở lớp sừng của da.

Trong điều kiện môi trường nóng quá hoặc ẩm quá, nhiệt lượng sẽ cộng thêm vào tải trọng nhiệt toàn phần làm cho chúng ta bị râm nắng hoặc say nắng. Ở các vùng như sa mạc nhiệt đới hoặc ở các khu rộng lớn phủ đầy tuyết, gặp lúc quang mây, ánh sáng Mặt Trời thường có độ chói sáng đến lóa mắt, vì thế những người sống ở các vùng đó cần có kính râm để bảo vệ mắt.

Về tác dụng quang hóa xảy ra trên da, trong tự nhiên người ta thường thấy các tia có bước sóng khoảng 0,3μ thúc đẩy việc tạo ra vitamin D và làm cho da bị xạm màu. Những hậu quả như hình thành các sắc tố da, làm dày lớp sừng ở da, sớm lão hóa da và cuối cùng gây ung thư da là kết quả thường thấy do tác động ban đầu của hiện tượng da sạm. Các tia tử ngoại có bước sóng khoảng 0,36μ gây hiện tượng sắc tố hóa tức thời.

Người da trắng chưa thích nghi với với nắng vào giữa trưa tháng VI phơi nắng ở vùng vĩ độ 50 sẽ bị nổi những vết đỏ đầu tiên sau 3-20 phút phơi nắng, da bị rám đổ bão hòa sau 30-70 phút phơi nắng. Các tia chiếu mạnh hơn sẽ dẫn đến hiện tượng da bị rám đỏ đau rát, phù nề và cuối cùng phồng rộp, ta thường gọi là cháy nắng cáp. Người da đen hầu như miễn dịch, không mẫn cảm với da mẫn đỏ.

Tia tử ngoại gây đỏ da có tác động thay đổi tùy theo độ cao của Mặt Trời và độ che phủ của mây. Khi Mặt Trời lên cao tới 600 trên đường chân trời, và độ cao 350m so với mực nước biển, tác động gây đỏ da của tia tử ngoại lớn hơn 45%. Khi Mặt Trời ở vào khoảng 40-600 trên đường chân trời tác động này sẽ tăng gấp đôi.

Tuyết là vật phản xạ tự nhiên quan trọng duy nhất đối với tia tử ngoại, tia này thường gây nên rám nắng phần da dưới mũi, cằm và giác mạc mắt. Kính thủy tinh không màu, quần áo ở trạng thái rất khô và thực vật có tác dụng làm giảm tác động của tia tử ngoại. Các loại chất dẻo làm kính thường vẫn để cho tia tử ngoại lọt qua do đó không có tác dụng bảo vệ đôi mắt chúng ta.

Da thường xuyên bị tác động của tia tử ngoại sẽ sớm bị già, xuất hiện nhiều nếp nhăn, kém tính đàn hồi, không phục hồi lại được. Các phần thường xuyên bị lộ ra ngoài (mặt, cổ) dễ bị ảnh hưởng của tia tử ngoại, sinh ra ung thư.

Trong khi chịu tác động của các tia bức xạ, ở cơ thể chúng ta, một số thuộc tính của da có thể thay đổi, ví dụ như tăng cường lớp sừng ở da, lớp sừng này có tác dụng hấp thụ các tia hồng ngoại. Các tuyến nhờn ở da hoạt động tiết ra các chất làm mềm da, hoặc ở da xuất hiện các sắc tố đen có tác dụng cản và hấp thụ bớt các tia bức xạ.

Bức xạ Mặt Trời còn có tác  dụng tiêu diệt mầm của một số loài kí sinh trùng gây bệnh, tiêu diệt trứng giun.

Hàng năm tùy theo từng nơi lãnh thổ Việt Nam có thể nhận được một lượng bức xạ Mặt Trời trung bình từ 100 đến 160kcal/cm2/năm, lượng bức xạ này được phân bổ tương ứng với số giờ nắng vào khoảng 1500 đến 2800giờ nắng/năm. Cán cân bức xạ ở nước ta quanh năm dương kể cả trong tháng I là tháng lạnh nhất. Chúng ta cần tận dụng triệt để hơn nữa nguồn bức xạ Mặt Trời tự nhiên phong phú này trong cuộc sống, trong thiết kế xây dựng công trình nhà ở, các công trình công cộng như nhà trẻ, bệnh viện, trường học, các khu điều dưỡng. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

1.2.3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ

  • Yếu tố nhiệt độ và trạng thái chịu đựng:

Trạng thái dễ chịu là trạng thái mà cảm giác khi chúng ta thấy không cần tăng hoặc giảm sự tiếp xúc cơ thể với nhiệt độ bên ngoài. Chúng ta thường thấy thoải mái và dễ chịu khi ở trong phòng hoặc trong chăn có nhiệt độ không khí khoảng 30-310C, hoặc khi lớp không khí giữa bề mặt da và quần áo mặc có thể giữ cho da có nhiệt độ 31-320C. Chúng ta vẫn cảm thấy dễ chịu khi một phần cơ thể lộ ra ngoài có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ trung bình một chút, như trường hợp nhiệt độ ở bàn chân (250C), bàn tay, mũi và tai (280C) có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ ở da (31-320C).

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng người sống ở vùng nhiệt đới có vùng dễ chịu ở mức cao hơn về nhiệt độ và độ ẩm không khí so với vùng ôn đới. Những người quen làm việc ngoài trời chịu được nhiệt độ cao hơn so với những người làm việc thường xuyên trong nhà, trong văn phòng.

Sự mất cân bằng nhiệt: Những thay đổi tốc độ chuyển hóa trong cơ thể hoặc những thay đổi về nhiệt độ môi trường thường dẫn đến sự mất cân bằng nhiệt. Khi những thay đổi này vượt quá giới hạn người ta sẽ mất đi sự thoải mái và con người lúc này cần có sự điều chỉnh sinh lí.

Những biểu hiện sinh lí dễ thấy nhất trong nhiệt độ cao hoặc nhiệt độ thấp là hoạt động của tim mạch, hệ thần kinh.

Sự rèn luyện thích nghi và quen khí hậu: Khi gặp điều kiện môi trường bên ngoài thay đổi hoặc khi thay đổi địa điểm sống có sự chênh lệch nhiệt độ rõ rệt, cơ thể con người sẽ tự động tạo ra một loạt các điều chỉnh nội tại. Giai đoạn đầu – điều chỉnh quá trình điều hòa thân nhiệt và kiểm soát hệ mạch máu: thông thường mất 4- 5 ngày. Các điều chỉnh nội tiết cũng bắt đầu trong thời gian này và đạt tới mức mới trong vòng 2-3 tuần. Tuy vậy, muốn thích ứng tới mức “dễ chịu thoải mái mới” thì cần phải tới nhiều năm.

  • Tác động của nóng và sự thích nghi với nóng:

Cảm giác trong vùng nóng: Khi tiếp xúc với nóng lứa tuổi trẻ chịu đựng tốt hơn người đứng tuổi, người đồng bằng chịu đựng nóng tốt hơn so với người vùng núi, ngoài ra, tác động này có mức độ khác nhau tùy theo giới, tuổi, tình trạng sức khỏe và khả năng thích nghi riêng ở từng người.

Các kết quả đánh giá sinh lí trong phòng thí nghiệm nóng ẩm đã cung cấp những kết quả ban đầu có tính gợi ý như bảng 1.1 sau: Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Bảng 1.1: Một số giới hạn sinh lí liên quan đến nhiệt độ

Nhiệt độ không khí Giới hạn sinh lí
27-28,90C Bình thường
33-34,90C Còn chịu đựng được
37-38,90C Nguy hiểm

(Nguồn: Giáo trình Cơ sở sinh khí hậu, Nguyễn Khanh Vân, tr.95, NXB ĐHSP, 2019)

Các kết quả nghiên cứu của Đào Ngọc Phong, Lê Thành Uyên, 1976 cho thấy, ở điều kiện nghỉ ngơi, nhiệt độ dưới lưỡi phải ≤ 37,50C, khi nhiệt độ dưới lưỡi thay đổi từ 37 đến 37,50C thì lượng mồ hôi được bài tiết tăng lên rất nhanh, đó là do cơ thể đào thải mồ hôi để chống nóng. Nhưng khi nhiệt độ dưới lưỡi tăng vọt lên từ 38,2 đến 38,40C thì lượng mồ hôi tăng lên không nhiều. Điều đó chứng tỏ cơ thể không những không đào thải được nhiệt qua đường bài tiết mồ hôi, mà trái lại còn tích trữ nhiệt trong cơ thể gây nên nguy cơ say nóng. Như vậy, giới hạn sinh lý mà chúng ta có thể chịu đựng được là khi nhiệt độ dưới lưỡi là ≤ 37,50C. Giới hạn sinh lý nguy him là 38,20C.

Trong điều kiện nhiệt độ cao, con đường thải nhiệt ra ngoài cơ thể chủ yếu là sự bài tiết và thoát mồ hôi. Khả năng bốc hơi của mồ hôi lại do độ ẩm của không khí quyết định. Khí hậu nóng ẩm gây ra các điều kiện căng thẳng đối với sinh lý con người, nhất là tác động lên cơ chế cân bằng nhiệt và hàng loạt các chức năng khác của cơ thể.

 Đánh giá khả năng thích nghi với nóng: Khi vào nơi có nhiệt độ cao, nóng, chúng ta thấy hồng cầu tăng lên đáng kể, điều đó chứng tỏ tình trạng mất nước qua mồ hôi và hô hấp. Bạch cầu cũng tăng rất rõ và mức tăng này không những chỉ do tình trạng máu khô của cơ thể mà cũng thể còn do phản ứng tự vệ tăng bạch cầu của cơ thể.

Thực nghiệm đối với các thanh niên ở các cấp nhiệt độ khác nhau từ 4 giờ đến nhiều ngày liền trong chế độ nóng ẩm, gió, ăn uống và vận động có kiểm soát, đã tiến hành nâng nhiệt độ lên cao đến 35-400C trong 4 giờ liền, và liên tiếp trong 5 ngày cho các kết quả như sau:

  • Điểm trung hòa nhiệt độ là 180C đối với những người mặc quần áo mỏng và chổ lặng gió.
  • Nhiệt độ môi trường tăng cao hoặc giảm thấp so với điểm trung hòa đều lập tức trong vòng từ 5 đến 30 phút làm tăng chuyển hóa năng lượng.

Tác động của lạnh

Khi gặp lạnh mạch của chúng ta tăng (tăng nhanh hơn trong mùa hè), huyết áp tối thiểu tăng, nhiệt độ da giảm đi rõ rệt. Lạnh cũng làm tăng chuyển hóa, tuy nhiên khi tiếp xúc với lạnh càng lâu thì cơ thể người càng thích nghi dần với lạnh – lượng chuyển hóa thấp dần.

  • Đánh giá khả năng thích ứng chịu lạnh: Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Sau khi kích thích lạnh cục bộ, nhiệt độ da trán của các đối tượng tham gia thí nghiệm giảm đi rõ rệt, tuy nhiên sau khi được rèn luyện trong 4 tháng chịu lạnh thì nhiệt độ da trán cũng giảm đi ít hơn so với trước khi được rèn luyện. Cụ thể nhiệt độ da trán từ 32,10C (trước khi áp lạnh) xuống 21,50C (sau khi áp lạnh).

Khi thôi áp lạnh nhiệt độ da trán dần dần trở lại bình thường. Sau khi được rèn luyện, thời gian phục hồi nhanh hơn và rõ rệt hơn so với lúc chưa được rèn luyện.

Sự thích nghi của đặc điểm cơ thể với nhiệt độ 

  • Tuổi tác và giới tính:

Tuổi  tác và giới tính có ảnh hưởng tới sự ưa thích nhiệt: Người già nhiệt sinh lý chậm hơn nên thường ưa thích nhiệt độ cao hơn. Phụ nữ cũng có quá trình trao đổi chất chậm hơn ít nhiều nên họ cũng thích nhiệt độ cao hơn nam giới khoảng 10P C.P                

  • Hình dạng, kích thước cơ thể:

Hình dạng, kích thước cơ thể, nghĩa là tỉ lệ giữa diện tích và thể tích cơ thể cũng có ảnh hưởng đến cảm giác nhiệt. Người cao có diện tích hơn người thấp khi họ có cùng trọng lượng, vì vậy họ tỏa nhiệt nhiều hơn nên thích nhiệt độ cao hơn.

  • Mức độ béo:

Béo hay gầy, nghĩa là có nhiều hay ít lớp mỡ dưới da – một lớp cách nhiệt tốt. Người béo cần một nhiệt độ mát hơn để cùng thoát một lượng nhiệt như người gầy.

  • Trạng thái sức khỏe:

Trạng thái sức khỏe có ảnh hưởng đến nhu cầu nhiệt. Một người bệnh nặng, quá trình trao đổi chất có thể tăng lên, tính chuẩn xác của hoạt động của cơ chế điều hòa nhiệt bị suy kém. Phạm vi nhiệt độ có thể chịu đựng được sẽ bị thu hẹp.

  • Thức ăn, đồ uống:

Một số loại thức ăn, đồ uống có thể ảnh hưởng đến nhiệt sinh lý. Điều này là lý do giải thích sự khác nhau về thức ăn hàng ngày của người vùng nhiệt đới và vùng Bắc cực.

  • Màu da: Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Màu da có ảnh hưởng đến sự bức xạ. Người ta chứng minh được rằng da màu sáng phản xạ bức xạ gấp 3 lần màu da đậm nhất. Nhưng da màu sáng lại bị tổn thương rõ rệt về sạm da, lở da, ung thư da và các tác hại khác của tia mặt trời. Da đen có chứa sắc tố màu nhiều hơn đáng kể, ngăn cản được sự xâm nhập của các tia tử ngoại. Da đen tăng bức xạ nhiệt của cơ thể cũng như hiệu quả thu nhận nhiệt .

Như vậy, màu da không có ảnh hưởng đến sự ưa thích nhiệt nhưng có khả năng chống lại tác dụng xấu của tia mặt trời.

  • Áo quần và nhiệt độ

Một trong những yếu tố quyết định điều kiện tiện nghi nhiệt là áo quần. Áo quần có khả năng cách nhiệt nhất định, có thể làm thay đổi cơ bản sự mất nhiệt cơ thể và do đó có ảnh hưởng đến điều kiện tiện nghi.

Khả năng cách nhiệt của áo quần có thể đánh giá theo đơn vị clo (từ chữ Anh: clothing = áo quần). Đó là đơn vị nhiệt trở của áo quần. 1clo = 0,155m2. 0C/W = 0,88ft2.hr.0F/Btu

Bảng 1.2:Nhiệt trở chung của bộ áo quần

1.2.3.3. Ảnh hưởng của độ ẩm

Độ ẩm không khí đóng vai trò quan trọng trong cân bằng nhiệt cũng  như trong việc xác định phản ứng của cơ thể đối với sự thay đổi của môi trường. Cơ thể người có những thay đổi dễ nhận thấy về không khí ẩm và không khí khô ở nhiệt độ vào khoảng 18-250C. Không khí lạnh và khô làm cho người không mặc quần áo rét run nhiều hơn và cảm thấy rét lạnh hơn là ở nơi có không khí lạnh ẩm.

Cũng cần phân biệt độ ẩm thời tiết và độ ẩm có nguồn gốc từ đất (độ ẩm đặc trưng cho lớp thấp của khí quyển và của nước không được lớp đất hấp thu rút xuống dưới mặt đất).

  • Độ ẩm đất rất nguy hiểm đối với những người bị bệnh lao, bệnh hen.
  • Độ ẩm thời tiết liên quan tới tần suất mưa và sương mù, gây tác hại với những người viêm phế quản, viêm phổi và bệnh thấp khớp.

Ủy ban Kiến thiểt cơ bản và Trường Đại học Y khoa nghiên cứu về cảm giác nóng – lạnh trong mối quan hệ với các yếu tố khí tượng như độ ẩm cao tới 90% và tốc độ gió là 0,5-0,6m/s đã cho các kết quả khá khác biệt, đó là:

  • Dễ chịu, mát 250C
  • Dễ chịu hoàn toàn 270C
  • Nóng 280C

Trường Đại học Xây dựng cũng đã tiến hành thí nghiệm về cảm giác nóng lạnh trong điều kiện độ ẩm cao tới 80% và tốc độ gió 0,3-0,5m/s đã cho kết quả gần tương tự: Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy cơ thể người Việt Nam chịu đựng được độ ẩm cao hơn so với người nước ngoài. Trong điều kiện nhiệt độ và sự chuyển động không khí bình thường thì độ ẩm không khí mà người Việt Nam có thể thích nghi được là 79,5 ± 5,2%.

Nhìn chung, có thể sơ bộ tổng kết một số phân loại ảnh hưởng của độ ẩm đối với con người theo bảng 1.3.

Bảng 1. 3: Tổng hợp phân loại ảnh hưởng của độ ẩm

Các tác giả Liên Xô, Mĩ Vũ Tự Lập
Kiểu thời tiết Độ ẩm (%) Kiểu thời tiết Độ ẩm (%)
Khô lạnh 50 Rất khô 50
Bình thường 50-60 Khô 70
Ẩm thấp 60-75 Ẩ m 90
Rất ẩm thấp ˃   75 Ẩm ướt ˃   90

(Nguồn: Giáo trình Cơ sở sinh khí hậu, Nguyễn Khanh Vân, tr.98, NXB ĐHSP, 2019)

1.2.3.4. Ảnh hưởng của gió

Gió có tác động lưu thông không khí, điều chỉnh tự nhiên nhiệt độ môi trường. Gió thiên nhiên còn góp phần làm sạch môi trường, xua tan khói bụi công nghiệp và những khí thải ô nhiễm. Tuy nhiên, gió cũng có thể gây nên những bất lợi đối với sức khỏe con người, gió thổi mạnh làm không khí đối lưu mạnh và đột ngột gây nên sự mất nhiệt trong cơ thể.

Gió ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể con người bằng cách làm tỏa nhiệt ở ngoài mặt thân thể. Về phương diện sinh lý học, có thể chia gió thành các cấp:

  • Gió mát, tốc độ tới 3,5m/s; Gió lạnh, tốc độ tới 3,6-6m/s; Gió kích thích, tốc độ trên 6m/s.

Bảng1. 4: Phản ứng của cơ thể với tốc độ gió

Vận tốc gió (m/s) Phản ứng của cơ thể
0-0,05

0,05-0,25

0,25-0,50

0,50-1,00

1,00-1,50

>1,50

Có cảm giác không khí tù đọng.

Dễ chịu. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Cảm thấy có gió, cảm giác dễ chịu, cảm thấy như nhiệt độ thấp hơn 1,1-1,70C.

Cảm thấy có gió thường xuyên, nói chung cảm thấy dễ chịu, cảm thấy như nhiệt độ thấp hơn 2,2-2,80C.

Than phiền về giấy, tàn thuốc bay và những bực mình khác, cảm giác như nhiệt độ thấp hơn 2,8-3 , 9 0C.

Yêu cầu giảm bớt để dễ dàng làm việc và có lợi cho sức khỏe, cảm thấy như nhiệt độ thấp hơn 2,8-3,90C.

(Nguồn: Kiến trúc sinh khí hậu, Phạm Đức Nguyên, tr.80, NXB Xây dựng, 2024 .)

Sự điều tiết nhiệt và các cảm giác bắt đầu ảnh hưởng khi tốc độ gió quá 0,5m/s. Ở các nước Âu, Mỹ  người ta coi vận tốc gió tiện nghi là 1,5m/s. Ở Việt Nam do nhu cầu cần gió, và có lẽ đã trở thành thói quen được quạt gió, các nhà khoa học về kiến trúc đã đề nghị nên lấy vận tốc gió tiện nghi là 2m/s.

Bảng 1.5: Bảng phân loại khí hậu tốt – xấu đối với sức khỏe 

Mức độ đánh giá Số  tháng có nhiệt độ ≥27° C Số tháng có độ  ẩm ≥ 90°C Số giờ nắng toàn năm Số ngày trời đầy mây Tốc độ gió trung bình m/s
Rất xấu 5 4 1000 100 1
Bình thường 4-5 3 1200 80 1-1,5
Tốt 2-3 2 1200 80 1,5
Rất tốt 0 0 1500 50 2-3

(Nguồn: “Nghiên cứu đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch các khu vực biển đảo bờ đông và bờ tây vùng Nam Bộ Việt Nam”, Nguyễn Khanh Vân, Hoàng Bắc, Hoàng

Thị Kiều Oanh, Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học Biển toàn quốc lần thứ 5, 20- 22/10/2024, Viện KHCN Việt Nam,  tr.4)

Trong sinh khí hậu gió là một đối tượng rất được chú ý vì nó ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển của một số bệnh.

Các số liệu kết quả nghiên cứu bước đầu ở Việt Nam cho thấy người Việt Nam chịu đựng nóng và ẩm cao hơn người ở các vùng ôn đới châu Âu, Bắc Mĩ:

  • Vùng dễ chịu về mùa hè người Việt Nam: 27-290P C (trong điP ều kiện độ ẩm trên 80% và tốc độ gió là 0,3-0,6m/s).
  • Vùng dễ chịu của người Liên Xô (cũ): 25-300P C, đPộ ẩm 30-60%.
  • Vùng dễ chịu của người Mĩ: 21,6-270P C, đPộ ẩm 35-65%.

Như vậy, ta thấy rằng tất cả các yếu tố khí hậu-thời tiết (bức xạ Mặt Trời, nhiệt độ, độ ẩm và gió) đều tác động trực tiếp lên cơ thể con người, và con người ở mỗi khu vực khí hậu, ở mỗi giai đoạn phát triển sẽ thích ứng với các điều kiện khí hậu – thời tiết khác nhau. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng, con người có thể phòng tránh được một số bệnh do thời tiết khí hậu khi chúng ta biết được các quy luật hoạt động của chúng. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

1.2.3.5. Các yếu tố khí tượng, khí hậu đối với một số loại bệnh

Qua kinh nghiệm sống, từ lâu đời, loài người đã phát hiện ra những ảnh hưởng của thời tiết đối với đời sống. Những thầy thuốc cổ xưa của Trung Quốc đã chứng minh rằng khí hậu, thời tiết có một tầm quan trọng đặc biệt trong việc gây bệnh và làm cho bệnh trầm trọng hơn. Những thầy thuốc cổ Ai Cập (3600-1500 trước Công nguyên) đã biết việc thay đổi thời tiết nóng lạnh có ảnh hưởng tới cơ thể. Những thầy thuốc cổ Ấn Độ (1860-1800 trước Công nguyên) đã phân loại khí hậu (là chế độ thời tiết trong nhiều năm) và tác động của nó tới sức khỏe con người. Ngành y học cổ Tây Tạng cũng đã từng đề cập mối liên quan khí hậu, bệnh tật và cách chữa trị. Hippocrate (thế kỷ 5 trước Công nguyên) – ông tổ của nền y học phương Tây đã nghiên cứu tác động của khí hậu tới các bệnh dịch và sức khỏe con người.

Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, người Việt Nam xưa cũng đã phát hiện ra những ảnh hưởng của thời tiết tác động tới đời sống. Hải Thượng Lãn Ông (danh y nước ta thế kỷ 18) cũng đã đúc kết thành cơ sở lý luận các nhận xét và kinh nghiệm về mối quan hệ giữa khí hậu và đời sống, sức khỏe trong cuốn “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”.

Ngày nay y học đã chứng minh sự thay đổi thời tiết có thể kích thích hàng loạt người gây ra những ảnh hưởng đến tuần hoàn máu ở não, nhức đầu, đau lưng, nhức xương, mệt mỏi, đau nhói vùng tim. Ở những người đứng tuổi có bệnh mạn tính thì thời tiết thay đổi làm cho tình trạng bệnh tăng lên.

Với hàng ngàn năm tiến hóa, chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài, con người đã tự biến đổi (quá trình biến đổi trong các tổ chức, trong hệ thần kinh, hệ bạch huyết và hệ tuần hoàn) để thích nghi. Với những người khỏe mạnh thì hình như sự phản ứng lại rất ít và hầu như không nhận thấy có phản ứng với những thay đổi của hoàn cảnh khí tượng bên ngoài. Nhưng với những người yếu, đặc biệt với những người mắc bệnh thì sự thích nghi với thời tiết gặp nhiều khó khăn.

Trong bài thơ hay (trước 1945) của một nhà thơ được nhiều người ưa thích có câu: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…”. Buồn không bởi chuyện gì gây ra, buồn vô nguyên cớ, rất có thể đó là do hiệu ứng tâm lý thời tiết. Mối quan hệ giữa thời tiết và tâm trạng con người đã được chú ý từ lâu.

Khi ở Anh trời sương mù, hoặc ở dãy núi Anpơ có gió nóng thì người ta cho đó là “thời kỳ tự tử”.

Các công trình nghiên cứu trên thế giới 100 năm gần đây cho thấy có sự liên quan giữa thời tiết nóng bức với sự gia tăng các loại tội phạm hình sự. Con người ta trở nên hung hăng hơn khi thời tiết quá nóng. Còn ở Mỹ, một số nhà khoa học nước này nhận xét: sự chuyển mùa, thay đổi thời tiết có thể ảnh hưởng đến tâm lý, đến hành vi cư xử của hơn 27% dân Mỹ. Những năm trước đây, một nhóm nhà khoa học thuộc Viện Tâm thần quốc gia Washington đã nghiên cứu về vấn đề này: Có một phụ nữ Mỹ, rất hay buồn bã vào những ngày hè nóng nực và đã bị như vậy trong suốt 15 năm. Các nhà nghiên cứu đã để bà ta sống một mình trong một căn phòng mát mẻ suốt 5 ngày và tắm nước lạnh 1-2 lần/ngày. Đến ngày cuối cùng thì tâm trạng buồn bã của người phụ nữ đó biến mất, bà ta trở nên hào hứng, vui vẻ. Sau cuộc thử nghiệm họ kết luận: sự nóng lên của thời tiết mùa hè làm cho con người dễ buồn bực; mặt khác, sự nóng bức còn hạn chế cả khả năng tư duy sáng tạo của con người.

Người ở thành phố phụ thuộc vào thời tiết nhiều hơn người ở nông thôn. Có thể là ở thành phố con người ít liên hệ với thiên nhiên, phần lớn thời gian họ ở trong nhà (với đầy đủ các tiện nghi) và trong các phương tiện giao thông. Ngay cả người khỏe mạnh cũng dễ phản ứng với những thay đổi thời tiết. Những người đa cảm bỗng thấy mình có nỗi buồn vô cớ, dễ bị kích động, dễ gây gổ. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Khí hậu tác động đến sự hình thành và phát triển một số dạng bệnh, thông thường người ta lưu ý đến hai loại khí hậu nóng-khô và khí hậu nóng-ẩm. Những loại khí này thường gây nên rối loạn quá mức về điều hòa nhiệt độ dẫn đến ngất do quá nóng, co rút, say nóng, suy kiệt do mất nhiều nước trong cơ thể. Khí hậu nóng ẩm gây tổn thương tới da, gây hậu quả lâu dài lên hệ tim mạch, thận.

Vùng khí hậu lạnh không gây hậu quả gắt gao như vùng khí hậu nóng. Khí hậu lạnh gây cước tím các đầu ngón tay, ngón chân, da tím tái, chân cứng đờ, thân thể cóng lạnh,…Hàng năm khi xuất hiện những đợt rét kéo dài, nhiệt độ không khí thay đổi quá lớn (5-60C) và quá nhanh ở miền Bắc nước ta thường là mối lo ngại cho sức khỏe của người già, tỉ lệ tử vong của người già tăng lên rõ rệt.

Khí hậu vùng núi cao với sự có mặt của điều kiện thiếu ôxy trong không khí thường gây cho người ta mắc bệnh nhức đầu, mất ngủ, rối loạn nhịp tim, rối loạn thông khí phổi, tăng hồng cầu, tăng tần số tim. Tuy nhiên, bệnh tăng cao huyết áp và bệnh thiếu máu ít gặp ở vùng cao và bệnh phù phổi cấp thường xuất hiện đối với những người từ núi cao xuống vùng thấp đột ngột và quy trở lại ngay vùng núi ban đầu.

Ngoài ra, còn một số loại bệnh dễ cảm ứng với thời tiết như viêm khớp mãn tính, bệnh gan, mật, những bệnh liên quan đến hệ thống mạch, bệnh phổi (lao, ho ra máu), bệnh thận (nước tiểu có anbumin), bệnh về nội tiết (tắt kinh), bệnh về tiêu hóa (loét dạ dày).

Những cơn đau thấp khớp, những người bị chấn thương cũ, đau gan,…thường có thể cảm nhận trước sự thay đổi của thời tiết tối đa 6-12giờ. Cơn động kinh thường xảy ra và có thể biết trước được 48 giờ, trong những đợt khô nóng.

Ngoài một số loại bệnh sản sinh theo mùa của thời tiết người ta còn thấy những bệnh xảy ra khi liên quan đến thay đổi thời tiết. Hội chứng này sinh ra do tác động của những khối không khí nóng, nguồn gốc từ xích đạo và những khối không khí lạnh, nguồn gốc cực đới. Có một số bệnh tật sinh ra trong thời điểm này như viêm thanh quản rít, những cơn co giật khí quản, chứng giật ở trẻ nhỏ,…các bệnh co huyết quản, loét hành tá tràng, viêm ruột thừa, viêm đường mật, hội chứng hô hấp sau khi mổ, những cơn đau sau khi mổ thường được biểu hiện rõ nét khi thời tiết thay đổi.

1.2.3.6. Các yếu tố khí tượng, khí hậu đối với chữa bệnh

Từ rất xa xưa người ta cũng đã biết lợi dụng các yếu tố thời tiết khí hậu để cải thiện điều kiện sống hàng ngày và nhất là trong việc chữa một số bệnh dựa trên nguyên tắc sử dụng các loại khí hậu khác nhau. Phương pháp dùng khí hậu để chữa bệnh được gọi là khí hậu liệu pháp (climatotherapy). Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • Khí hậu vùng núi và cao nguyên

Trong khí hậu liệu pháp người ta phân biệt ba loại khí hậu độ cao khác nhau:

  • Khí hậu độ cao thấp tới 600m.
  • Khí hậu độ cao trung bình, từ 600 đến 1200m.
  • Khí hậu độ cao lớn, trên 1200m.

Tuy nhiên cũng cần hiểu rằng chiều cao trên mặt nước biển không đủ để tượng trưng cho một khí hậu miền núi, còn nhiều yếu tố khác tác động vào. Tuy nhiên, khí hậu miền núi cũng có những ưu điểm chính sau:

Ở vùng núi và cao nguyên, khí quyển, không khí trong sạch, nhẹ, rất ít bụi, chan hòa ánh nắng mặt trời nhưng không rát bỏng, độ chiếu sáng rất lớn, ngay cả trong các tháng mùa đông.

Nhiệt độ giảm cùng với áp suất không khí giảm làm tăng hồng cầu và tỉ lệ huyết sắc tố trong máu.

Sự giảm độ ẩm không khí và sự khô ráo của không khí (đặc biệt trong mùa đông), ở vùng núi nhịp thở tăng lên làm hưng phấn hệ thần kinh giao cảm và tuyến nội tiết.

Tuy nhiên gió ở miền núi thường rất nặng nề và  “độc” như trong dân gian người dân thường nói.

Có thể thấy trong tự nhiên, từ độ cao 1200-1500m trở lên khí hậu có những chuyển biến nhất  định, khá rõ nét. Nhiệt độ không khí ở độ cao này thường thấp hơn ở vùng đồng bằng đến 8-90C, mưa nhiều hơn cả về số lượng cũng như số ngày mưa, tuy nhiên không thiếu những khi trời tạnh ráo, se lạnh.

Thời gian cần thiết để thích nghi được với khí hậu miền núi là khoảng từ 810 ngày. Thời gian đầu mới tiếp xúc cơ thể con người có những cảm giác khó thở, đánh trống ngực nhiều, mất ngủ, có biểu hiện suy nhược kèm theo chóng mặt nhức đầu. Sau thời gian này, mọi rối loạn sẽ dần dần mất đi, tình trạng sức khỏe dễ chịu, sảng khoái lên nhiều, dễ thở một cách đặc biệt, cơ thể lâng lâng, nhẹ nhõm.

  • Khí hậu miền núi có những lợi ích cụ thể như sau:

Tác dụng đối với máu: Ta thấy có tăng hồng cầu kèm theo tăng tỉ lệ huyết sắc tố và những biến động hình thái học của huyết cầu. Bên cạnh đó, bạch cầu giảm đi, limphô (khả năng miễn dịch) tăng tương đối, tiểu cầu tăng, thời gian đông máu thu ngắn lại, độ nhớt của máu tăng lên, tỉ lệ anbumin trong huyết thanh tăng lên toàn bộ. Những thay đổi sẽ biến đi hoàn toàn khi ta xuống đồng bằng. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • Tác dụng đối với tim mạch: Huyết áp thay đổi, mạch sau một giai đoạn tăng nhanh sẽ trở lại bình thường.
  • Tác dụng đối với cơ quan hô hấp: Lúc mới tiếp xúc với khí hậu miền núi, số lần thở tăng lên đáng kể, nhịp độ và biên độ thở tăng lên ngay từ bắt đầu lên núi cao. Sau một thời gian để thích nghi, cơ chế hô hấp trở lại bình thường. Người ta đã chứng minh rằng khí hậu miền núi làm giảm áp lực của O2 và CO2 trong phế nang, có tác dụng đến sự tuần hoàn, hô hấp, các khí hòa tan trong máu, trên pH của máu và trên dung tích hô hấp.
  • Tác dụng đối với sự dinh dưỡng: khí hậu miền núi được ví như một cái roi quất lên cơ thể, kích thích chuyển hóa cơ bản, làm tăng mạnh khả năng tiêu hóa, gây cảm giác muốn ăn nhiều, thèm ăn. Đôi khi người ta cảm thấy hơi bị gầy đi ở những ngày đầu khi mới lên ở vùng cao.
  • Tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương: Ở độ cao trung bình hệ thần kinh bị kích thích. Ngược lại, ở những độ cao rất cao, hệ thần kinh lại bị ức chế.

Ngưỡng tối đa bệnh lý là “bệnh núi cao”.

Tác dụng đối với hệ thần kinh phó giao cảm và các tuyến nội tiết: Cả hai hệ thống có liên quan mật thiết với nhau này đều bị hưng phấn, còn hệ thần kinh thực vật bị tác động theo chiều vượng cảm.

Trong khí hậu điều trị học (climatotherapy), người ta thường lợi dụng khí hậu núi cao để xây dựng những nhà nghỉ, trại an dưỡng bệnh, chủ yếu là để bồi bổ và kích thích. Có nghĩa là khí hậu miền núi chỉ phù hợp với những bệnh nhân cần được kích thích, các đối tượng bệnh sau nếu được điều trị ở vùng núi sẽ rất tốt: bệnh thiếu máu xanh xao ở các phụ nữ, người mới ốm dậy, mệt mỏi về trí óc và thể lực, những người làm việc quá sức ở mọi thể loại, người thiếu máu tiên phát, thứ phát, thiếu máu sau chảy máu, thiếu máu do các bệnh kí sinh trùng. Tuy nhiên, khí hậu miền núi chỉ tốt cho những cơ thể còn hơi khỏe để đủ sức chịu đựng một trị liệu kích thích ca núi cao.

Ngược lại, đối với những người thiếu máu nặng, thiếu máu ác tính thì khí hậu núi cao lại rất nguy hiểm.

Các bệnh nhân bị lao ở dạng lao hạch lao da, lao phúc mạc, lao xương, lao khớp, lao phổi ở giai đoạn đầu và bệnh nhân còn trẻ tuổi thường lợi dụng được tốt khí hậu trị liệu núi cao. Nhưng cũng phải tránh gửi lên những vùng núi có độ cao rất cao những người lao khái huyết, sốt nhiều.

Lợi dụng khí hậu núi cao để trị bệnh hen, ho gà vì ở đó có điều kiện tăng cường thông khí phổi, tăng cường lưu thông máu ngoại biên, kích thích sản sinh hóc môn tuyến thượng thận, giúp cân bằng điều hòa thân nhiệt.

Các bệnh nhân sẽ được gửi lên trị liệu ở khí hậu vùng núi nếu mắc bệnh phổi kinh diễn: phổi sơ cứng, viêm phế quản mãn, những bệnh nhân khí thũng với điều kiện tim của họ chưa bị tổn hại. Những người ho lợi dụng tốt khí hậu khô ở độ cao vừa. Những bệnh nhân mắc bệnh hen được điều trị ở điều kiện khí hậu núi cao rất tốt, những bệnh nhân giãn phế quản cũng rất thích hợp với khí hậu độ cao trung bình.

Đối với bệnh nhân thần kinh, chống chỉ định với những người bệnh bị kích thích ở khí hậu độ cao, nhưng lại rất tốt đối với bệnh nhân suy nhược thần kinh, loạn thần kinh, chức năng suy giảm. Người ta phát hiện thấy có sự giảm nhanh nhịp tim và giảm chuyển hóa cơ bản ở những người bị bệnh Badơđô khi tiếp xúc với khí hậu núi cao.

Tuy nhiên khí hậu núi cao cũng rất nguy hiểm đối với các bệnh nhân bị bệnh phổi kích thích, bệnh nhân đang ốm nặng, người gia, người bị bệnh ung thư. Những bệnh nhân mắc bệnh tim, huyết áp cao không nên sống ở những vùng núi rất cao, song lại được điều trị rất tốt đối với các bệnh sau: bệnh thiếu máu thứ phát, bệnh lao, bệnh hen, bệnh ho gà, bệnh tiểu dường, bệnh viêm da, bệnh chàm ở trẻ em. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Qua tổng kết các tác dụng của khí hậu trị liệu ở vùng núi có thể tóm tắt những nét chính như sau:

Vùng thấp gồm những thung lũng sông và một số máng trũng ở độ cao dưới 200m. Đặc trưng khí hậu độ cao này có nhiều điều bất lợi đối với sức khỏe. Mùa hè ở đây nóng hơn đồng bằng, thậm chí rất oi bức, mùa đông lạnh hơn, rét thấu thịt da. Thời tiết biến động luôn vì biên độ nhiệt hàng ngày rất lớn. Độ ẩm cao, gió yếu, độ cao mây thấp đều là những tác nhân ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cư dân vùng núi. Đây là vùng tập trung dân cư đông đúc của miền núi nên phải được chú ý phòng bệnh hơn cả vùng đồng bằng.

Vùng có độ cao trung bình gồm những thung lũng và cao nguyên núi thấp từ 200 đến 600m. Đặc trưng khí hậu vùng này có nhiều điểm tốt hơn khí hậu vùng thấp, trước hết do số ngày nóng giảm đi nhiều, tốc độ gió trung bình tăng lên ít nhiều, đỡ bị oi bức. Tuy nhiên, những điểm bất lợi ở đây là mưa nhiều hơn, đã có những ngày nhiệt độ xuống thấp, có khi xuống tới 00C trong mùa đông. Đây là độ cao mà cuộc sống của người dân phải được phòng rét trong mùa đông.

Vùng núi cao hơn bao gồm những dãy núi cao từ 500 hay 600m trở lên, khí hậu nơi đây trong mùa hè đã dịu đi nhiều, nhiệt độ trung bình thấp hơn vùng đồng bằng từ 3 đến cả chục độ C. Mùa hè so với vùng thấp, khí hậu vùng núi ở những độ cao này rất dịu mát, song lượng mưa và số ngày mưa cũng nhiều hơn vùng cao trung bình, mùa đông có nhiệt độ dưới 00 Điển hình của khí hậu vùng núi độ cao này là Sa Pa – nơi nghỉ mát rất tốt trong mùa hè, tuy nhiên đây cũng là vùng cần được phòng chống rét tốt trong mùa đông.

Đối với khí hậu núi cao trên 1000m, không chỉ định điều dưỡng đối với các loại bệnh sau: bệnh thiếu máu nặng và thiếu máu ác tính, bệnh lao khái huyết, dãn phế quản, phổi kích thích, bệnh thần kinh kích thích, người bệnh bị ốm nặng, người già, người bị bệnh ung thư.

Đối với các đai khác (đai trung bình và thấp) có thể sử dụng khí hậu liệu pháp để điều trị theo tác dụng bệnh lý như đã phân tích ở trên.

  • Khí hậu vùng đồng bằng

Khí hậu vùng đồng bằng bao gồm những vùng thấp có độ cao dưới 300m.

Khí hậu ở đây có những thay đổi về nhiệt độ, áp suất không khí và độ ẩm, tuy nhiên không có một chống chỉ định nào trong khí hậu liệu pháp đối với khí hậu đồng bằng. Nhìn chung khí hậu vùng đồng bằng có tác dụng rõ ràng là làm dịu bệnh tật. Người ta thường tìm thấy sự yên lặng nghỉ ngơi ở những vùng quê đồng bằng. Những bệnh nhân cao huyết áp, những người đau tim, những người thần kin bị kích thích, những người mất sức, bệnh nhân phổi kinh diễn, những người xung huyết đều tìm thấy hiệu quả điều trị tốt ở vùng đồng bằng. Các bệnh nhân lao phổi không chịu được độ cao, nhất là bệnh nhân lao đang tiến triển, bệnh nhân lao khái huyết, khó thở và sốt đều có thể điều trị tốt ở khí hậu đồng bằng. Vùng đồng bằng thường là nơi chuyển tiếp điều trị bệnh nhân trước khi chuyển họ lên những trạm điều dưỡng ở vùng núi cao.

Khí hậu vùng trung du – đồng bằng đồi, không phải khác biệt lắm so với khí hậu vùng đồng bằng tuy nhiên về mặt sinh khí hậu vùng đồng bằng đồi tương đối ít thuận lợi so với vùng đồng bằng bằng phẳng do dao động nhiệt ở đây thường lớn hơn, nồng độ ion dương cao, lượng mưa giảm một cách tương đối và gió yếu.

  • Khí hậu vùng ven biển Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Miền ven biển có nhiệt độ tương đối ổn định, mát về mùa hè, dễ chịu trong mùa đông, độ ẩm không khí tương đối cao, nhưng thay đổi tùy theo từng vùng, không khí luôn chứa một lượng nhất định iốt và muối. Áp lực không khí cực đại và rất ổn định. Trời sáng hơn do bầu trời luôn trong, sạch, do biển và bãi cát phản chiếu lại bức xạ Mặt Trời. Không khí ít bụi và ít mầm bệnh, gió đôi khi  mạnh và rất mạnh gây bất lợi về mặt bệnh tật.

Về mặt sinh lí khí hậu miền biển có tác dụng kích thích làm tăng sự tạo huyết, kích thích chức phận dinh dưỡng và thần kinh trung ương. Nhờ có bức xạ Mặt Trời, ozôn và iốt dồi dào, khí hậu vùng biển có tác dụng tiệt trùng, loại trừ được nhiều mầm bệnh. Về mặt  trị liệu, những bệnh nhân bị giảm trao đổi chất, đang có hiện tượng thoái hóa mạnh về các chất khoáng, những bệnh nhân tinh thần mệt mỏi, trẻ em tuổi dậy thì, trẻ mất sức, bị còi xương, trẻ mắc tạng bạch huyết, lao khớp, lao xương, lao hạch, lao phúc mạc,…đều có thể tìm thấy ở khí hậu biển nhiều “liều thuốc nhiệm màu”.

Những cơ thể quá suy nhược về lao phổi, lao xương, lao khớp, những bệnh nhân thần kinh, khớp, những người bị kích thích, bệnh nhân tim, huyết áp cao sẽ bị nặng bệnh lên khi tiếp xúc với khí hậu biển. Tuy nhiên, những bệnh này vẫn có thể lợi dụng khí hậu vùng biển hơi nóng, tương đối khô, và khuất gió như một số vùng bờ biển cực Nam Trung Bộ: Phan Rang, Phan Thiết, Mũi Né điều trị.

Nước ta có trên 3200km đường bờ biển, có rất nhiều khu nghỉ mát, an dưỡng ven biển, ở vùng nhiệt đới đặc biệt là vùng ven biển phía nam nước ta nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước biển luôn nằm ở vùng dễ chịu (20-250C), không khí khu vực ven biển thường rất thoáng gió và khá trong lành, thích hợp cho việc xây dựng nhiều khu du lịch, nghỉ dưỡng điều trị bệnh. Tuy nhiên, nồng độ muối, hơi nước cao hơn bình thường cũng là những hạn chế nhất định đối với việc điều trị một số bệnh, đặc biệt là những bệnh nhân bị bệnh thấp khớp, đường hô hấp, bệnh hen,….

Bảng 1.6:  Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người

Hạng Ý nghĩa Nhiệt độ  trung bình năm (0C) Nhiệt độ TB tháng ( 0C) Biên độ nhiệt TB năm Lượng mưa năm (mm)
1 Thích nghi 18-24 24-27 <60 1250-1990
2 Khá thích nghi 24-27 27-29 6-80 1900-2500
3 Nóng 27-29 29-32 8-140 >2550
4 Rất nóng 29-32 32-35 14-190 <1250
5 Không thích nghi >32 >35 >190 <650

(Nguồn: Bùi Thị Hải Yến – Phạm Hồng Long, Tài nguyên du lịch, tr.87, NXB Giáo dục 2022)

1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá điều kiện sinh khí hậu Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

1.2.4.1. Chỉ số bất tiện nghi (DI – Discomfort Index)

Chỉ số bất tiện nghi (DI: Discomfort Index) được đưa ra bởi Thom, 1959. Chỉ số này cho thấy rằng cảm giác của con người khi độ ẩm tương đối vào khoảng 50%. Chỉ số DI ổn định khi tốc độ gió dưới 1m/s (ở Việt Nam là ≤ 2m/s), không có sự chiếu sáng trực tiếp của các bức xạ Mặt Trời. Điều quan trọng là chỉ số này có sự tương quan về tỷ lệ mồ hôi khi nghỉ ngơi và tập thể dục, phản ánh đầy đủ trạng thái sinh lý. DI= 0,4 (tk + tu) + 4,8

Trong đó, thông số tk là nhiệt độ không khí khô và tu là nhiệt độ không khí ướt.

Căn cứ vào việc nghiên cứu trên những nhóm người rộng lớn và các điều kiện khí hậu khác nhau, những tiêu chuẩn sau được thành lập biểu hiện sự căng thẳng nhiệt môi trường với cảm giác nhiệt.

Bảng 1.7: Mức cảm giác nhiệt của con người

DI Sự cảm giác của con người
<21°C Không có sự căng thẳng về nhiệt.
21°C≤DI<24°C Cảm giác thời tiết ôn hòa.
24°C≤DI<26°C Không tới 50% dân số cảm giác thời tiết nóng
26°C≤DI<28°C Sức nóng của nhiệt cao hơn, con người cảm thấy rất nóng, cơ thể uể oải và làm một số việc khó khăn hơn.
≥28°C Cảm giác nhiệt gay gắt, con người cảm giác rất mệt mỏi và có thể bị bệnh về nhiệt.

Công thức trên, các dữ liệu có thể tính cho tháng, mùa hoặc thậm chí tất cả các ngày trong một năm.

1.2.4.2. Chỉ số tương đối căng thẳng (RSI – Relative Strain Index)

Chỉ số căng thẳng tương đối (Relative Strain Index) được đưa ra bởi Burton (1944), với các điều kiện chuẩn (người mặc áo màu sáng, đi bộ với vận tốc 4km/giờ, và tốc độ gió là 0,5m/s).

Theo Lee và Henschel (1966), có 3 nhóm điều kiện khác nhau để đánh giá tác động của nhiệt lên cơ thể người, đó là: điều kiện môi trường; các yếu tố con người (tuổi, giới tính, sự trao đổi chất,…); và các phản ứng của cơ thể con người với các tác động (sự cảm giác, sức chịu đựng,…). Từ 3 nhóm trên có thể chia thành 6 yếu tố khác nhau: nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, sự chuyển động của các khối khí, bức xạ nhiệt, tỷ lệ trao đổi chất và quần áo.

Trong đó: Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • e là sức trương hơi nước  trong không khí (N/m2 hoặc mbar; mmHg)
  • T là nhiệt độ không khí (0C)
  • H là độ ẩm không khí (%)

Lee và Henschel đã chia sự căng thẳng tương đối thành các mức độ sau:

  • Tiện nghi: nhiệt độ ôn hòa, cảm giác thoải mái, không lo lắng.
  • Bất tiện nghi: cảm giác nóng và lạnh, không thoải mái, bực bội.
  • Khốn khổ: trạng thái căng thẳng; thiếu tập trung, loạng choạng, đi đứng không vững vàng; tinh thần uể oải, mệt mỏi.
  • Thất vọng: mất thăng bằng sinh lý; làm thay đổi nhịp tim, khả năng gây suy nhược cơ thể và bệnh tật.

Bảng 1.8: Các mức cảm giác RSI

Cảm giác Người bình thường Người đã thích nghi khí hậu Người già
Tiện nghi <0,1 <0,2 <0,1
Bất tiện nghi 0,2-0,3 0,3-0,5 0,1-0,2
Khốn khổ 0,4-0,5 0,6-1,0 0,3
Thất vọng >0,5 >1,0 >0,3

1.3. DU LỊCH  Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

1.3.1. Khái niệm 

Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí. Ở đây sự giải trí là động cơ chính”.

Năm 1930, ông Glusman, người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”.

Định nghĩa về du lịch trong cuốn từ điển bách khoa quốc tế về du lịch do Viện hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch xuất bản:

“Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch…Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khở hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”.

Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

>Như vậy, du lịch là hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội.

Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước chẳng những đã đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội,…Ở nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội.

1.3.2. Các loại hình du lịch Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Khái niệm: Theo tác giả Trương Quý Sỹ; “Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó”. 

Dựa và các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân du lịch thành các loại du lịch khác nhau. Trong các ấn phẩm về du lịch đã được phát hành, khi phân loại các loại hình du lịch các tiêu thức phân loại thường được sử dụng như sau:

  1. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa.
  2. Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành những loại hình sau: du lịch quá cảnh; du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương; du lịch thương gia; du lịch công vụ; du lịch văn hóa; du lịch thể thao; du lịch nghỉ ngơi, giải trí và du lịch chữa bệnh.
  3. Căn cứ vào đối tượng khách du lịch: du lịch thanh, thiếu niên; du lịch dành cho những người cao tuổi; du lịch phụ nữ, du lịch gia đình.
  4. Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi: du lịch theo đoàn; du lịch cá nhân.
  5. Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng: du lịch bằng xe đạp; bằng xe máy; bằng ô tô; bằng tàu hỏa; bằng tàu thủy; bằng máy bay.
  6. Căn cứ vào phương tiện lưu trú được sử dụng: du lịch ở khách sạn (hotel), du lịch ở khách sạn ven đường (motel), du lịch ở lều, trại (camping); du lịch ở làng du lịch (toursim village).
  7. Căn cứ vào thời gian du lịch: du lịch dài ngày, du lịch ngắn ngày.
  8. Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch: du lịch nghỉ núi; du lịch nghỉ biển, sông, hồ; du lịch thành phố; du lịch đồng quê.

Thường một người đi du lịch với nhiều nhu cầu nảy sinh khác nhau nên ta thường gặp sự kết hợp của một vài loại hình du lịch cùng một lúc. Ví dụ: du lịch nghỉ ngơi, giải trí với du lịch văn hóa;….

1.3.3. Du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Đây là hình thức đi du lịch kết hợp với nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, chữa bệnh.

Là hình thức đi du lịch kết hợp với việc chữa bệnh. Chữa bệnh có thể là việc đến các trung tâm y tế, bệnh viện chuyên sâu, nổi tiếng hoặc cũng có thể đến các điểm có suối khoáng nóng hoặc là lợi dụng khí hậu miền núi, miền biển để chữa một số bệnh. Ở đây, tôi nhấn mạnh đến việc du lịch chữa bệnh dựa vào các điều kiện khí hậu.

Dựa trên các nguyên tắc sử dụng các yếu tố khí hậu tự nhiên ở các vùng khác nhau, khoa khí hậu liệu pháp đã đưa ra một số phương pháp chữa bệnh căn bản thông qua các kỳ nghỉ dưỡng, điều dưỡng dài ngày cho người bệnh. Người bệnh có thể lợi dụng những vùng núi cao để chữa một số bệnh như hen, ho gà, lao phổi, viêm phế quản mạn tính… Khi lên núi cao – nơi có không khí loãng và áp suất thấp, lượng hồng cầu và tỉ lệ huyết sắc tố trong máu tăng, lượng bạch cầu giảm đi, thời gian đông máu cũng ngắn hơn. Áp suất không khí thấp có tác dụng rất tốt trên hệ tuần hoàn và cơ quan hô hấp, giúp cơ thể có cảm giác nhẹ nhõm. Khí hậu miền núi cũng kích thích sự chuyển hóa, thích hợp với các bệnh nhân mới bình phục, những người làm việc quá sức, thiếu máu thứ phát, thiếu máu sau chảy máu hay thiếu máu do các bệnh ký sinh trùng. Những người mắc bệnh tiểu đường, một số bệnh da liễu như viêm da chảy nước, ngứa, đặc biệt là trẻ em bị chàm, sẽ cảm thấy dễ chịu với khí hậu miền núi.

Với khí hậu vùng biển thường mát mẻ, nhiều ánh nắng mặt trời, bầu không khí có áp suất cực đại lại chứa một lượng muối và iốt, có khả năng kích thích mạnh các quá trình đồng hóa, trao đổi chất trong tế bào, gia tăng sự tạo huyết và kích thích hệ thần kinh. Về mặt trị liệu, những bệnh nhân đang có hiện tượng thoái hóa khoáng chất, tinh thần mệt mỏi sẽ cảm thấy dễ chịu ở miền biển. Trẻ em còi xương hay mắc bệnh bạch huyết, lao khớp, lao xương đều có thể điều trị có kết quả ở miền biển.

Nắm vững và am hiểu mối quan hệ, tác động giữa khí hậu và sức khỏe, chúng ta sẽ điều chỉnh và sắp xếp các chuyến du lịch, nghỉ dưỡng thích hợp cho mình vào từng thời điểm nhất định trong năm nhằm thu được nhiều mối lợi từ khí hậu và tránh những tổn hại cho sức khỏe!

Ở  Nam Bộ, có đầy đủ các dạng địa hình núi, biển nên việc lợi dụng các điều kiện khí hậu vào phục vụ du lịch chữa bệnh cũng đã được các địa phương tiến hành khai thác. Luận văn: Đánh giá du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993