Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng pháp luật về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa và các kiến nghị dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Nội dung các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa

2.1.1 Điều kiện hoạt động hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa

Như đã được trình bày các nội dung lý luận tại Chương I, khám bệnh, chữa bệnh là một trong những ngành nghề khá đặc thù, do đó chủ thể muốn tiến hành hoạt động khám bệnh, chữa bệnh phải đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật. Tương tự các ngành nghề hoạt động có điều kiện khác, hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa cũng cần đáp ứng các điều kiện tiên quyết theo quy định pháp luật để có đưa cơ sở này hoạt động. Căn cứ quy định Điều 42 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và của phòng khám đa khoa nói riêng bao gồm các điều kiện: Có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Có giấy phép hoạt động theo quy định.

2.1.1.1 Có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Theo đó, tại khoản 1 Điều 42 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 có quy định một trong những điều kiện để được phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và phòng khám đa khoa nói riêng đó chính là “Có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác”. Như vậy, điều kiện trước tiên để đưa phòng khám đa khoa vào hoạt động đó chính là có quyết định, giấy tờ hợp pháp về việc thành lập phòng khám đa khoa. Theo quy định của quy định pháp luật nêu trên, đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung, việc thành lập ban đầu có thể được thông qua hình thức là do Nhà nước thành lập, đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền theo hai hình thức là đăng ký giấy chứng nhận doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư.

Xem xét thực tế các phương thức thành lập của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được nêu trên, phương thức thành lập của các phòng khám đa khoa chủ yếu thông qua việc đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư. Đối với phương thức thành lập thông qua phương thức có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phương thức thành lập thông qua phương thức có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được áp dụng chủ yếu đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là bệnh viện đa khoa, … các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được sự quản lý và tổ chức của Nhà nước. Trong khi đó, hầu hết các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tồn tại dưới hình thức là phòng khám đa khoa đều mang bản chất cá nhân người Việt Nam thành lập khá lớn, do đó, hình thức chủ yếu khi thành lập của các cơ sở phòng khám đa khoa này là đăng ký thành lập doanh nghiệp và cấp giấy chứng nhận đầu tư. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Đối với trường hợp đăng ký thành lập doanh nghiệp, phòng khám đa khoa có thể được tổ chức theo các loại hình doanh nghiệp theo quy định pháp luật doanh nghiệp như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (một hoặc nhiều thành viên), công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân. Việc thành lập doanh nghiệp và tổ chức quản lý phòng khám đa khoa trong trường hợp này phụ thuộc vào lựa chọn hình thức doanh nghiệp của phòng khám đa khoa theo quy định pháp luật. Theo thống kế, các phòng khám da khoa không có vốn Nhà nước, được thành lập chủ yếu với hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn. Hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn khá phù hợp với mục đích và tiêu chí hoạt động của loại hình cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa nói chung. Theo đó, với ưu điểm hạn chế trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, kiểm soát được số lượng thành viên trong quá trình thành lập và hoạt động của công ty, loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình được lựa chọn khá nhiều trong thành lập và hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa.

Ngoài hình thức đăng ký thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký theo quy định pháp luật doanh nghiệp hiện hành, việc thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa còn được thực hiện thông qua hình thức cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Khác với các trường hợp đăng ký thành lập doanh nghiệp để cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập phòng khám đa khoa như đã được đề cập trên đây, việc thỏa mãn điều kiện thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa thông qua hình thức cấp phép đầu tư. Xem xét các quy định pháp luật đầu tư liên quan đến việc phê duyệt cấp phép đầu tư, đối với các loại hình dự án là thành lập phòng khám đa khoa nhằm mục đích khám bệnh, chữa bệnh, theo quy định pháp luật đầu tư là dự án không thuộc trường hợp phải được chấp thuận chủ trương đầu tư của các cấp có thẩm quyền. Trong trường hợp này, nếu tổ chức kinh tế là nhà đầu tư trong nước, thủ tục thành lập cần thiết phải thực hiện đó là đăng ký thành lập doanh nghiệp như đã được trình bày trên đây. Như vậy, loại trừ trường hợp là nhà đầu tư trong nước, các trường hợp còn lại nếu nhà đầu tư thành lập là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bị đối xử như nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Điều 23 Luật Đầu tư 2020. Theo đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Đầu tư 2020 quy định, các trường hợp phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bao gồm:

  • Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài
  • Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư

Điều 23. Thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

  1. Tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế khác; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế khác; đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC nếu tổ chức kinh tế đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  2. Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh; Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.
  3. Có tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ trên 50% vốn điều lệ;
  4. Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho việc thành lập của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dưới hình thức là phòng khám đa khoa phải tuân theo các quy định chung của pháp luật đầu tư. Cùng với thủ tục đăng ký cấp phép đầu tư cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa theo quy định của pháp luật đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cũng phải tiến hành đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định pháp luật doanh nghiệp.

2.1.1.2 Có giấy phép hoạt động theo quy định

Như đã được trình bày trên đây, hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và phòng khám đa khoa nói riêng là một trong những ngành nghề, hoạt động kinh doanh có điều kiện. Do đó, bên cạnh những nội dung cần đáp ứng trong giai đoạn mới được thành lập theo quy định pháp luật chung, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong đó có phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện cụ thể theo Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 42 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 thì điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm “Có giấy phép hoạt động do Bô trường Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở y tế cấp”. Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và của phòng khám đa khoa nói riêng là có sự khác nhau trong từng trường hợp cụ thể. Theo quy định tại Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 được hướng dẫn bởi Điều 42 Nghị định 109/2016 thì thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quy định như sau: Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Bộ trưởng Bộ Y tế cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, bệnh viện tư nhân hoặc thuộc các bộ khám, trừ các trường hợp quy định thuộc thẩm quyền của Sở Y tế và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sẽ được nêu dưới đây.

Giám đốc Sở Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn, trừ các trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và của phòng khám đa khoa nói riêng thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế như đã được nêu trên đây hoặc thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như sẽ được nêu dưới đây.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.

Để được cấp giấy phép hoạt động hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định pháp luật, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và phòng khám đa khoa nói riêng phải đáp ứng các điều kiện cần thiết theo quy định pháp luật. Các nội dung liên quan đến điều kiện cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa sẽ được trình bày cụ thể hơn trong phần dưới đây của luận văn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2 Điều kiện cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa

Để được cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật. Một số các điều kiện để phòng khám đa khoa được cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

2.1.2.1 Loại hình và chủ thể thành lập phòng khám đa khoa

Như đã được trình bày trên đây, hiện nay Luật khám bệnh, chữa bệnh hiện hành không quy định cụ thể hình thức doanh nghiệp của loại hình phòng khám đa khoa. Do vậy, căn cứ quy định pháp luật doanh nghiệp, việc thành lập phòng khám đa khoa có thể được lựa chọn giữa các loại hình doanh nghiệp được phép hoạt động theo quy định pháp luật bao gồm các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh. Về điều kiện thành lập đối với từng loại hình doanh nghiệp của phòng khám đa khoa sẽ tuân thủ và căn cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật doanh nghiệp về số lượng thành viên tối thiểu cũng như cách thức hoạt động nội bộ để đưa ra các quyết định liên quan đến nội dung hoạt động của các phòng khám đa khoa trên thực tế. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Trong tương quan so sánh giữa các loại hình doanh nghiệp có thể được lựa chọn để thành lập phòng khám đa khoa, các doanh nghiệp đều có những ưu điểm và khuyết điểm. Ví dụ như nếu lựa chọn hình thức là phòng khám đa khoa hoạt động dưới hình thức là doanh nghiệp tư nhân thì ưu điểm đó chính là chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tự quyết định toàn bộ các hoạt tuy nhiên hạn chế của loại hình doanh nghiệp này khi hoạt động đó chính là khó khăn trong việc huy động vốn cũng như mở rộng quy mô đầu tư của phòng khám đa khoa. Mặc khác, trong trường hợp lựa chọn hình thức là phòng khám đa khoa hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp là công ty cổ phần thì sẽ có ưu điểm là dễ dàng trong việc huy động vốn (như các hình thức trái phiếu, cổ phiếu) cũng như mở rộng phạm hoạt động và quy mô của doanh nghiệp bằng cách tăng vốn điều lệ và kết nạp thêm thành viên mới khi cần thiết, tuy nhiên đối với phòng khám đa khoa hoạt động theo doanh nghiệp này là hình thức nhiều chủ sở hữu, chính vì sẽ gặp các hạn chế trong việc đưa ra các quyết định cũng như dễ xảy ra các tranh chấp giữa các cổ đông trong phòng khám đa khoa, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các phòng khám này.

Ngoài những lưu ý về loại hình phòng khám đa khoa như đã được trình bày trên đây, trong quá trình thành lập và hoạt động phòng khám đa khoa cũng cần có những lưu ý về chủ thể thành lập phòng khám. Tương tự các quy định về loại hình phòng khám đa khoa như đã được trình bày trên đây, hiện nay pháp luật cũng chưa có các quy định cụ thể về chủ thể thành lập phòng khám đa khoa. Như vậy, chủ thể thành lập phòng khám đa khoa sẽ phụ thuộc chủ yếu vào loại hình doanh nghiệp của phòng khám đa khoa đó. Như đã phân tích, các chủ thể có quyền lựa chọn thành lập các doanh nghiệp được hoạt động hợp pháp theo quy định pháp luật như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp tư nhân. Tùy theo loại hình doanh nghiệp mà chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức, ví dụ như nếu thành lập phòng khám đa khoa dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân thì chủ thể thành lập là cá nhân mặt khác trong trường hợp là công ty cổ phần thì chủ thể thành lập có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Ngoài những điểm lưu ý về chủ thể thành lập là cá nhân hoặc tổ chức như đã được trình bày trên đây thì cũng cần một điểm lưu ý về chủ thể thành lập là chủ thể Việt Nam hay chủ thể nước ngoài. Trong trường hợp là các cá nhân, tổ chức Việt Nam thì các chủ thể này chỉ cần đáp ứng các điều kiện về năng lực pháp luật hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp bị cấm thành lập doanh nghiệp theo Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Mặt khác, nếu chủ thể thành lập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì ngoài những điều kiện cơ bản như năng lực pháp luật hành vi dân sự phù hợp, không thuộc trường hợp bị cấm thành lập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp thì việc đầu tư, thành lập của các chủ thể nước ngoài này cũng cần đáp ứng các điều kiện về pháp luật đầu tư theo quy định pháp luật hiện hành. Liên quan đến vấn đề này, căn cứ quy định tại Điều 9 Luật Đầu tư năm 2020 thì nhà đầu tư nước ngoài cần phải đáp ứng các điều kiện về đầu tư và tiếp cận thị trường ngành nghề theo quy định pháp luật. Xem xét Cam kết số 318/WTO/CK của Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về dịch vụ đối với chủ thể nước ngoài, các ngành nghề dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được ghi nhận là không hạn chế đầu tư về vốn cũng như thành viên khi hoạt động tại Việt Nam. Căn cứ theo đó, các chủ thể là cá nhân, hoặc tổ chức nước ngoài có quyền đầu tư vào các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh dưới hình thức là phòng khám đa khoa khi đáp ứng đủ điều kiện luật định. Theo đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Đầu tư năm 2020 thì các dự án kinh doanh nói chung và việc đầu tư thành lập phòng khám đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài thuộc trường hợp phải thực hiện và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trình tự và thủ tục đề nghị và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với phòng khám đa khoa do các chủ thể là cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài đầu tư tuân theo các nội dung quy định của Luật đầu tư năm 2020.

2.1.2.2 Quy mô phòng khám đa khoa

Khác với các cơ sở kinh doanh thông thường không có ràng buộc cụ thể về quy mô của địa điểm thực hiện việc kinh doanh đầu tư, đối với việc thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh để được cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa thì quy mô của phòng khám này phải đảm bảo đủ các tiêu chí theo quy định pháp luật.

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Nghị định 109/2016/NĐ-CP thì quy mô phòng khám đa khoa phải đáp ứng ít nhất các điều kiện sau:

  • Có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi;
  • Có phòng cấp cứu, phòng tiểu phẫu (nếu thực hiện tiểu phẫu), phòng lưu người bệnh;
  • Có bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh.” Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Theo quy định pháp luật trên đây, xu hướng quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến quy mô phòng khám được hiểu là mức tối thiểu mà chủ thể thành lập phòng khám đa khoa cần phải đáp ứng để được cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Như vậy, trong trường hợp này cũng có thể hiểu là, phòng khám đa khoa có thể đáp ứng nhiều hơn các điều kiện được nêu trên đây. Tuy nhiên, việc quy định như nêu trên đây dễ gây ra những khó khăn trong việc tiếp cận và thực hiện pháp luật. Nội dung hạn chế liên quan đến nội dung quy định pháp luật này sẽ được phân tích và làm rõ tại phần 2.2 luận văn này.

Ngoài việc quy định yêu cầu phòng khám đa khoa phải đáp ứng ít nhất các điều kiện được phân tích trên đây, tại điểm b khoản 1 Điều 25 Nghị định 109/2016 quy định “Trường hợp phòng khám đa khoa đáp ứng đủ điều kiện của các cơ sở dịch vụ y tế quy định tại các Điều 33, 34, 35, 36, 37 và 38 Nghị định này thì phòng khám đa khoa được bổ sung quy mô và phạm vi hoạt động chuyên môn tương ứng”. Theo đó, căn cứ quy định pháp luật này, trong trường hợp phòng khám đa khoa đã đáp ứng các tiêu chí cơ bản như đã phân tích trên đây, nếu phòng khám đa khoa này sau đó đáp ứng đủ các điều kiện cụ thể về của cơ sở y tế cụ thể như: cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; cơ sở y tế thực hiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh; cơ sở dịch vụ kinh thuốc; cơ sở dịch vụ thẩm mỹ và cơ sở dịch vụ xoa bóp (massage).

Như vậy, về pháp lý, phòng khám đa khoa được cho phép mở rộng tối đa quy mô hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của mình. Trên cơ sở các quy định này, có thể nhận định rằng, khác với sự hạn chế về quy mô của phòng khám chuyên khoa, phòng khám đa khoa được pháp luật cho phép tối ưu hóa các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện tại cơ sở phòng khám với điều kiện việc mở rộng quy mô này phải đáp ứng và đảm bảo các điều kiện theo yêu cầu của quy định pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

2.1.2.3 Cơ sở vật chất

Để đáp ứng được yêu cầu hoạt động của phòng khám đa khoa khi thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, pháp luật hiện hành đòi hỏi khi thành lập và xin cấp giấy phép hoạt động, phòng khám đa khoa cần có sử đảm bảo về mặt các cơ sở vật chất.

Trước đây theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định 109/2016/NĐ-CP chưa được sửa đổi, bổ sung thì Nghị định này quy định các điều kiện liên quan đến vấn đề cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa cần phải đáp ứng như:

  • Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình, bảo đảm đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa, làm vệ sinh;
  • Có nơi tiếp đón, phòng cấp cứu, phòng lưu người bệnh, phòng khám chuyên khoa và phòng tiểu phẫu (nếu thực hiện tiểu phẫu). Các phòng khám trong phòng khám đa khoa phải đáp ứng các yêu cầu ít nhất về diện tích như sau:
  • Phòng cấp cứu có diện tích ít nhất là 12m2;
  • Phòng lưu người bệnh có diện tích ít nhất là 15m2; có ít nhất từ 02 giường lưu trở lên, nếu có từ 03 giường lưu trở lên thì diện tích phải bảo đảm ít nhất là 05m2 trên một giường bệnh;
  • Các phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu có diện tích ít nhất là 10m2;
  • Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
  • Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.”

Tuy nhiên qua thời gian thực hiện và áp dụng các quy định pháp luật về điều kiện cơ sở vật chất cơ sở khám bệnh, chữa bệnh này vào thực tiễn, một số điều kiện về cơ sở vật chất đã bị bãi bỏ theo Nghị định 155/2018/NĐ-CP, các điều kiện về cơ sở vật chất bị bãi bỏ bao gồm: Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Thứ nhất, điều kiện về địa điểm, theo đó, yêu cầu địa điểm của phòng khám đa khoa phải là địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình, bảo đảm đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa, làm vệ sinh đã bị bãi bỏ. Điều kiện liên quan đến địa điểm này được quy định khá chung, không đưa ra bất kỳ tiêu chí cụ thể nào để thực hiện. Do vậy, việc triển khai áp dụng nội dung điều kiện được nêu trên đây không còn khả thi trên thực tế.

Thứ hai, điều kiện về không gian phòng khám đa khoa. Nội dung quy định liên quan đến việc “bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật”. Tương tự như điều kiện về địa điểm như đã được trình bày trên đây, nội dung điều kiện về không gian này là không cụ thể và không khả thi khi áp dụng vào thực tế vì chưa cụ thể được các nội dung tiêu chí để tuân thủ. Thêm vào đó, các quy định pháp luật chuyên ngành cũng chưa quy định cụ thể và riêng biệt đối với các điều kiện về an toàn bức xạ, phòng cháy chữa cháy.

Thứ ba, bên cạnh hai nội dung được nêu trên đây, nội dung thứ ba được bãi bỏ là “bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh”. Đối với quy định này, cũng rất khó xác định khi nào là “đủ” điện, nước và các điều kiện khác cho mục đích chăm sóc người bệnh. Việc xác định có đủ hay không đủ những điều kiện này cũng rất khó để được xác định khi xem xét tại thời điểm để cấp Giấy phép hoạt động.

Nội dung nêu trên trình bày cụ thể các nội dung vấn đề liên quan đến điều kiện về cơ sở vật chất để được cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định pháp luật hiện hành. Như vậy, bên cạnh nội dung quy mô, các yếu tố về cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa cũng tác động và đóng vai trò lớn trong việc xem xét phòng khám đa khoa có đủ điều kiện để cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh hay không. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, để có thể được xem xét đầy đủ các điều kiện để cấp giấy phép hoạt động, bên cạnh điều kiện kiện quy mô và cơ sở vật chất còn có những yếu tố điều kiện tác động khác. Nội dung dưới đây của luận văn sẽ phân tích các điều kiện liên quan đến thiết bị y tế để được cấp giấy phép hoạt động.

2.1.2.4 Thiết bị y tế

Thiết bị y tế là một trong điều kiện quan trọng trong việc xem xét việc cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa. Về khái niệm, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 98/2021/NĐ-CP quy định trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, vật tư cấy ghép, dụng cụ, vật liệu, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) đáp ứng đồng thời các yêu cầu sau đây:

Được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây: Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

  • Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương;
  • Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý;
  • Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống;
  • Kiểm soát sự thụ thai;
  • Khử khuẩn trang thiết bị y tế;
  • Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người.

Không sử dụng cơ chế dược lý, miễn dịch hoặc chuyển hóa trong hoặc trên cơ thể người hoặc nếu có sử dụng các cơ chế này thì chỉ mang tính chất hỗ trợ để đạt được mục đích đã được nêu trên đây.”

Trang thiết bị y tế hay thiết bị y tế đóng vai trò quan trọng cho quá trình hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong đó có các phòng khám đa khoa. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 25 Nghị định 109/2016/NĐ-CP, để được cấp phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, phóng khám đa khoa phải đáp ứng điều kiện về trang thiết bị y tế là “Có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa”. Tuy nhiên, việc quy định thiết bị y tế như trên là quá đơn giản và không cụ thể, không xác định được việc đáp ứng về trang thiết bị y tế để tiến hành các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa trên thực tế.

Trước đây, khi chưa bị sửa đổi bởi Nghị định 155/2018/NĐ-CP, Nghị định 109/2016/NĐ-CP còn quy định thêm một điều kiện về thiết bị y tế là “Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký”. Việc loại bỏ quy định này đã gây ra những thiếu sót khá lớn trong quá trình kiểm soát chất lượng và đảm bảo theo yêu cầu của các phòng khám đa khoa.

2.1.2.5 Nhân sự Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công của nhiều sự việc, trong trường hợp này yếu tố nhân sự là yếu tố then chốt và là một trong những yếu tố để xác định có đủ điều kiện để cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa hay không.

Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định 109/2016/NĐ-CP quy định, liên quan đến vấn đề nhân sự, phòng khám đa khoa chỉ được cấp giấy phép hoạt động khi:

  • Số lượng bác sỹ khám bệnh, chữa bệnh hành nghề cơ hữu phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa.
  • Số lượng người làm việc, cơ cấu, chức danh nghề nghiệp của phòng khám đa khoa thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa các đối tượng khác làm việc trong phòng khám đa khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề, việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.

Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, pháp luật hiện hành quy định phòng khám đa khoa phải có số lượng bác sĩ cơ hữu phải chiếm tỷ lệ quá bán trong tổng số các bác sĩ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh chữa bệnh. Những người thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện hoạt động cá nhân theo quy định pháp luật. Theo đó, những người thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh này phải đáp ứng đủ các tiêu chí để được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định pháp luật hiện hành.

Sau khi được sửa đổi, bổ sung, khoản 4 Điều 25 Nghị định 109/2016/NĐ-CP đã lược bỏ điều kiện liên quan đến nhân sự của phòng khám đa khoa về điều kiện của người quản lý và chịu trách nhiệm quản lý chuyên môn của phòng khám đa khoa, cụ thể:

Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà phòng khám đa khoa đăng ký;
  • Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
  • Là người hành nghề cơ hữu tại phòng khám đa khoa

Quy định này đã được bãi bỏ bởi Nghị định 155/2018/NĐ-CP, tuy nhiên việc loại bỏ nội dung quy định nêu trên gây ra những vướng mắc khi áp dụng pháp luật vào thực tế, đặc biệt là trong quá trình kiểm tra chất lượng và trình độ của bác sĩ phụ trách chuyên môn tại phòng khám đa khoa. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Có thể thấy, pháp luật đã quy định các điều kiện về quy mô, thiết bị y tế, nhân sự và cơ sở vật chất là những điều kiện cơ bản trong việc xem xét cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám đa khoa. Tuy nhiên, đối với các phòng khám đa khoa khám bệnh, chữa bệnh về y học gia đình sẽ tuân theo các điều kiện khác với những nội dung được trình bày trên đây. Phần dưới đây của luận văn sẽ trình bày cụ thể hơn về các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa về y học gia đình.

2.1.2.6 Quy định liên quan đến phòng khám hoạt động khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình

Bên cạnh những nội dung liên quan đến điều kiện về quy mô, cơ sở vật chất, thiết bị y tế và nhân sự, các phòng khám đa khoa hoạt động khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình cần tuân thủ những quy định riêng biệt về thí điểm hoạt động y học gia đình của Bộ Y tế. Cụ thể, quy định tại Thông tư 21/2019/TT-BYT liên quan đến các nội dung thí điểm về hoạt động y học gia đình, nhìn chung chủ yếu và tập trung nhận định liên quan đến các nội dung về chuyên môn của những người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở phòng khám đa khoa hoạt động y học gia đình. Theo đó, tại Điều 4 Thông tư 21/2019/TT-BYT quy định về chuyên môn và giấy chứng nhận đào tạo về y học gia đình yêu cầu:

Bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa hệ lâm sàng đã được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trước và sau ngày Thông tư này có hiệu lực được khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình ngay sau khi đáp ứng một trong các trường hợp sau đây:

  • Có một trong các văn bằng bác sĩ nội trú, chuyên khoa I, chuyên khoa II, thạc sĩ, tiến sĩ về chuyên ngành y học gia đình;
  • Có giấy chứng nhận đã được đào tạo, bồi dưỡng về y học gia đình tối thiểu 03 tháng;
  • Có giấy chứng nhận theo học từng đợt học có các nội dung ghi trong giấy xác nhận hoặc tín chỉ hoặc chương trình đào tạo, bồi dưỡng về y học gia đình với tổng thời gian tối thiểu 3 tháng

Như vậy, yếu tố nhân sự của các phòng khám đa khoa thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình được yêu cầu bổ sung thêm so với các điều kiện về nhân sự của các phòng khám đa khoa thông thường khác. Thêm vào đó, tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa còn có các chức danh bác sỹ y học dự phòng. Theo đó, tại khoản 3 Điều 4 Thông tư 21/2019/TT-BYT quy định “Bác sĩ y học dự phòng đã được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trước và sau ngày Thông tư này có hiệu lực, có giấy chứng nhận đào tạo, bồi dưỡng về y học gia đình tối thiểu 03 tháng được tham gia khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình tại trạm y tế xã, phường, thị trấn (tuyến 4)”. Như vậy, quy định pháp luật hiện hành đang tạo những điều kiện lớn cho việc phát triển nhân sự tại các phòng khám đa khoa về y học gia đình. Sự thuận lợi này sẽ tạo ra những bước ngoặc lớn cho việc phát triển khám bệnh, chữa bệnh đa khoa theo nguyên lý y học gia đình cho cá nhân, hộ gia đình. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

2.2 Những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa

Luật khám bệnh, chữa bệnh được ban hành từ năm 2009, đến nay đã trải qua giai đoạn hơn 10 năm áp dụng vào thực tiễn. Các nội dung quy định liên quan đến điều kiện khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và của phòng khám đa khoa nói riêng phát sinh nhiều hạn chế, bất cập trên thực tế.

Một là, chưa có sự đồng bộ giữa điều kiện thành lập phòng khám đa khoa theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh so với quy định Luật doanh nghiệp và Luật Đầu tư.

Như nội dung phân tích đã được trình bày trên đây, việc thành lập của các cơ khám bệnh, chữa bệnh nói chung và của phòng khám đa khoa nói riêng trước tiên phải đáp ứng được các điều kiện để thành lập theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hoặc pháp luật đầu tư. Tuy nhiên, nội dung quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 không thể hiện được sự đồng bộ giữa quy định này so với các quy định pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư. Sự chưa đồng bộ này thể hiện ở những nội dung như sau:

Thứ nhất, Luật khám bệnh và chữa bệnh quy định việc thành lập tuân thủ đúng quy định của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư. Tuy nhiên, quy định này không thể hiện được cụ thể được nội dung khi nào chủ đầu tư sẽ phải tuân thủ pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư. Việc không quy định cụ thể và rõ ràng các nội dung cần thiết phải thực hiện bước đầu trong quá trình thành lập phòng khám đa khoa sẽ dẫn dến những khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng pháp luật của các chủ đầu tư là nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh xã hội nước ta ngày càng hòa nhập sâu và rộng.

Thứ hai, theo pháp luật đầu tư, đối với lĩnh vực đầu tư liên quan đến hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là lĩnh vực đầu tư có điều kiện. Việc không đề cập nội dung này tại Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 đã tạo nên sự không đồng bộ với những quy định của Luật Đầu tư mới được ban hành. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Hai là, chưa có quy định rõ ràng về quy mô phòng khám.

Như đã được phân tích trong nội dung các phần trên đây của luận văn, các quy định về quy mô của phòng khám đa khoa hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế trong cách thức hiểu và áp dụng pháp luật trên thực tế. Một số hạn chế trong quy định pháp luật về quy mô của phòng khám đa khoa theo Nghị định 109/2016/NĐ-CP, cụ thể:

Việc quy định cho phép các phòng khám đa khoa được thực hiện quy mô “có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi” sẽ gây việc khó khăn trong công tác quản lý nhà nước của các phòng khám đa khoa. Bởi lẽ, số lượng khoa của bệnh viện được quy định tại khoản 4 Điều 23 Nghị định 109/2016/NĐ-CP cũng được xác định là ít nhất là 02 trong 04 khoa nội, ngoại, sản, nhi. Việc quy định một cách giống nhau giữa cơ cấu của bệnh viện và của phòng khám đa khoa sẽ gây nên sự mâu thuẫn không cần thiết trong quá trình áp dụng pháp luật, tạo sự khó phân biệt và đồng nhất một số điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa; Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Quy định cho phép phòng khám đa khoa mở rộng tối đa các dịch vụ y tế theo quy định pháp luật tại điểm b khoản 1 Điều 25 Nghị định 109/2016/NĐ-CP sẽ tạo sự pha loãng các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám da khoa. Đồng thời, việc quy định cho phép các phòng khám đa khoa tăng cường các khoa được hoạt động sẽ gây khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về chất lượng khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở này trên thực tế.

Ba là, chưa có những quy định về các điều kiện về điện, nước, xử lý chất thải y tế đối với điều kiện về cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa.

Một trong những hạn chế, vướng mắc còn bất cập trong cách thức xây dựng các quy định pháp luật liên quan đến điều kiện cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa đó chính là, hiện nay Nghị định 109/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 155/2018/NĐ-CP, theo đó lược bỏ các quy định về cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa như:

  • Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
  • Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh

Có thể nhận định rằng, việc lược bỏ những điều kiện nêu trên liên quan đến cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa đã gây ra những thiếu sót cơ bản trong quá trình xem xét điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa. Theo đó, quan điểm tác giả cho rằng, các điều kiện liên quan xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy hay những điều kiện về việc bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh là những điều kiện cần thiết và rất cơ bản để xác định một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung và phòng khám đa khoa nói riêng có đủ điều kiện để tiến hành các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở của mình hay không. Việc lược bỏ các quy định này hoàn toàn mà không có bất kỳ quy định pháp luật nào khác thay thế, bổ sung những điều kiện này là hoàn toàn không phủ hợp, hạ thấp tiêu chuẩn để các phòng khám đa khoa được cấp giấy phép hoạt động, Trong trường hợp một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không đáp ứng đủ các điều kiện được nêu trên, như không có đủ điện, nước, không đủ điều kiện xử lý chất thải y tế thì sẽ gây ra những tác động xấu đến việc điều trị, khám bệnh, chữa bệnh của người dân. Do vậy, cần thiết quy định bổ sung các điều kiện về cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa theo hướng bổ sung thêm các quy định điều kiện về điện, nước, cách thức xử lý chất thải. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Bốn là, chưa có quy định cụ thể điều kiện tối thiểu cần có đối với các trang thiết bị y tế của phòng khám đa khoa.

Như nội dung đã được phân tích trên đây, đối với điều kiện về các trang thiết bị y tế, hiện nay phòng khám đa khoa chỉ quy định điều kiện đơn giản đối thiết bị y tế của phòng khám đa khoa đó là “có hộp thuộc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa”. Việc quy định một cách đơn giản như trên không làm nổi bật được công năng cũng như nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa trong hệ thống y tế nói chung. Việc cho phép một phòng khám đa khoa hoạt động liên quan đến các vấn đề như nội, ngoại, sản, nhi chỉ có những thiết bị y tế cơ bản bao gồm hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa là chưa đủ để bao quát tất cả các vấn đề về trang thiết bị y tế cần thiết cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa nói chung. Để đảm bảo phòng khám đa khoa thực hiện đúng chức năng cũng như nhiệm vụ của mình trong các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh và cũng nhằm đảm bảo sức khỏe của người dân luôn được kiểm tra và bảo vệ bởi các cơ sở vật chất, trang thiết bị đúng chuẩn và tốt nhất, cần thiết có những quy định ràng buộc về điều kiện tối thiểu về thiết bị y tế mà phòng khám đa khoa cần phải đáp ứng. Do vậy, có thể nhận định rằng, việc loại bỏ quy định “Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký” là chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa nói riêng và tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nói chung. Đặc biệt là việc loại bỏ không có sự thay thế của quy định này còn làm tăng thêm tính bất hợp lý trong việc xây dựng các nội dung là điều kiện về thiết bị y tế để được cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa.

Năm là, chưa có quy định hạn chế về số lượng người thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa với tư cách là bác sĩ không thường trực. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa nói chung, việc đảm bảo các điều kiện nhân sự là một trong những nội dung then chốt và có ý nghĩa quan trọng. Mặc dù vậy, hiện nay các quy định pháp luật hiện hành về số lượng bác sĩ không cơ hữu tại phòng khám đa khoa không được giới hạn con số tối đa. Sở dĩ quan điểm tác giả nhận định rằng việc không quy định hạn chế số lượng tối đa bác sĩ không cơ hữu tại phòng khám đa khoa là một trong những điểm hạn chế của quy định pháp luật hiện hành liên quan đến điều kiện cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa là bởi lẽ:

Thứ nhất, nếu không quản lý về số lượng tối đa bác sĩ không cơ hữu làm việc tại phòng khám đa khoa sẽ gây ra tình trạng khó kiểm soát được tiêu chuẩn của những cá nhân thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa. Việc không quy định số lượng tối đa cũng như không khống chế danh sách, báo cáo các cá nhân thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa cho cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lý sẽ gây ảnh hưởng đến công tác quản lý y tế của Nhà nước ta nói chung.

Thứ hai, bên cạnh hạn chế trên đây, việc không quy định hạn chế tối đa số lượng bác sĩ không cơ hữu được phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa sẽ gây ra tình trạng một bác sĩ nhưng tham gia thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại rất nhiều cơ sở phòng khám đa khoa. Việc này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng khám bệnh, chữa bệnh của các bác sĩ cũng như khó có khả năng đảm bảo được sự chất lượng của hệ thống y tế nói chung.

Sáu là, chưa có quy định rõ ràng về chức năng khám sức khỏe của phòng khám đa khoa so với các bệnh viện.

Nghị định 155/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 109/2016/NĐ-CP đã lược bỏ nội dung quy định về khám sức khỏe của phòng khám đa khoa. Theo đó, mặc dù đã quy định cụ thể về lược bỏ những quy định chung liên quan đến lĩnh vực khám sức khỏe của phòng khám đa khoa, tuy nhiên chưa có bất kỳ văn bản hoặc quy định pháp luật nào hiện hành quy định cụ thể các nội dung liên quan đến việc không cho phép phòng khám đa khoa thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là khám sức khỏe của người dân. Do những quy định không cụ thể này đã khiến cho việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn còn nhiều vướng mắc và chồng chéo. Thực tế, tâm lý đến phòng khám đa khoa để khám sức khỏe của người dân hiện này là vẫn tồn tại. Chính vì vậy, những nội dung quy định không rõ ràng này liên quan đến chức năng khám sức khỏe của phòng khám đa khoa cần có phương hướng khắc phục và hoàn thiện phù hợp.

Các nội dung được nêu trên đây của khóa luận trình bày các vấn đề còn hạn chế, vướng mắc theo quy định pháp luật liên quan đến điều kiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa. Bên cạnh những hạn chế, vướng mắc về mặt quy định pháp luật, những hạn chế về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa còn thể hiện trên thực tiễn.

2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

2.3.1 Thực tiễn thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với việc đáp ứng và tuân thủ các điều kiện hành nghề khám bệnh chữa bệnh của phòng khám đa khoa, trong những năm vừa qua, Sở Y tế thành phố đã chủ động và nỗ lực tiến hành các hoạt động đánh giá chất lượng các phòng khám đa khoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Theo thống kê, số lượng trung bình các phòng khám đa khoa được cấp giấy phép hoạt động tại thành phố Chí Minh đến nay đã chiếm hơn 200 phòng khám, hoạt động ở những địa bàn quận khác nhau trên thành phố Hồ Chí Minh (theo thống kê năm 2019). Số lượng các hồ sơ không đủ điều kiện để mở phòng khám đa khoa đến nay cũng khá nhiều, chủ yếu tập trung với lý do không đảm bảo về điều kiện cơ sở vật chất và nhân sự làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Thêm vào đó, công tác hậu kiểm tra đối với việc đáp ứng các điều kiện khám bệnh chữa bệnh theo quy định pháp luật. Theo đó, Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 883/SYT-NVY về việc cập nhật “Tiêu chí chất lượng áp dụng cho phòng khám đa khoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Cụ thể, việc kiểm tra và đánh giá chất lượng của phòng khám đa khoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh dựa vào các tiêu chí cụ thể:

  • Tuân thủ các quy định về nhân sự tham gia hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
  • Tuân thủ các quy định về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế
  • Tuân thủ các quy định về danh mục kỹ thuật
  • Xây dựng và tuân thủ hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh
  • Bảo đảm các điều kiện cấp cứu người bệnh kịp thời
  • Áp dụng và tuân thủ hướng dân chẩn đoán và điều trị
  • Tuân thủ quy chế hồ sơ bệnh án
  • Tuân thủ các quy định về sử dụng thuộc án toàn, hợp lý
  • Triển khai hệ thống báo cáo, phân tích sự cố y khoa
  • Bảo đảm xác định đúng người bệnh khi cung cấp dịch vụ
  • Thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn trong phẫu thuẫn, thủ thuật
  • Phòng ngừa nguy cơ người bệnh bị trượt ngã
  • Đảm bảo an toàn phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp;
  • Tuân thủ quy định về khám sức khoẻ
  • Tuân thủ các quy định về tiêm chủng, đảm bảo an toàn tiêm chủng
  • Tuân thủ các quy định về hoạt động xét nghiệm
  • Tuân thủ các quy định về biển hiệu, quảng cáo và truyền thông
  • Tuân thủ các quy định về công khai, minh bạch trong áp dụng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
  • Tuân thủ quy định về phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn
  • Tuân thủ quy định về quản lý chất thải y tế
  • Tuân thủ quy định về quản lý an toàn bức xạ đối với phòng X-quang
  • Tuân thủ các quy định về công tác an toàn và vệ sinh lao động
  • Ứng dụng công nghệ thông tin
  • Triển khai các dịch vụ tiện ích phục vụ người bệnh Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Các tiêu chí đánh giá chất lượng nêu trên được Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đưa ra trong giai đoạn đầu năm 2022, có thể nhận định rằng các căn cứ và tiêu chí đánh giá của Sở Y tế đối với chất lượng phòng khám đa khoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nội dung khác với các quy định pháp luật về điều kiện hoạt động hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa theo quy định pháp luật như đã được phân tích trên đây. Cụ thể, trong các tiêu chí đánh giá chất lượng phòng khám đa khoa như đã được nêu trên đây của Sở Y tế có những điều kiện đã bị bãi bỏ theo quy định pháp luật hiện hành như: quản lý chất thải y tế, an toàn bức xạ, an toàn và vệ sinh lao động, công nghệ thông tin, tiện ích phục vụ người bệnh, v.v.

Trên cơ sở các nội dung quy định cụ thể về quản lý chất lượng phòng khám đa khoa được nêu trên đây, Sở Y tế cùng các cơ quan chức năng có thẩm quyền tại thành phố Hồ Chí Minh đã có những chỉ đạo sâu sát việc kiểm tra chất lượng liên quan đến các điều kiện chất lượng của các phòng khám đa khoa trên địa bàn thành phố. Cụ thể, công tác kiểm tra do Công văn 883/SYT-NVY được trình bày trên đây mới được ban hành, do vậy kết quả qua rà soát sự tuân thủ các quy định về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ có trong giai năm 2019 (giai đoạn 3.0). Theo “Tiêu chí chất lượng áp dụng cho phòng khám đa khoa trên địa bàn TP.HCM, phiên bản 3.0” do Sở Y tế xây dựng với thang điểm tối đa là 5 điểm, các mức chất lượng được phân loại như sau: Dưới 2 điểm: đạt mức chất lượng kém; từ 2 đến dưới 2,5 điểm: đạt mức chất lượng trung bình; Từ 2,5 đến dưới 3 điểm: đạt mức chất lượng trung bình – khá; Từ 3 đến dưới 4 điểm: đạt mức chất lượng khá; Từ 4 điểm trở lên: đạt mức chất lượng tốt. Cụ thể các danh sách phòng khám đa khoa đánh giá chất lượng đáp ứng các điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thể hiện tại các phụ lục 1 và phụ lục 2 bảng biểu dưới đây của luận văn. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Một trong những cách thức thể hiện của quá trình kiểm tra các điều kiện của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa tại thành phố Hồ Chí Minh còn được thể hiện thông qua các cuộc kiểm tra, thanh tra đột xuất đối với các phòng khám kém chất lượng, vi phạm pháp luật trên địa bàn Thành phố. Cuối năm 2022 vừa qua, Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh kết hợp với nhiều ban ngành tại địa phương đã tổ chức các cuộc kiểm tra, thanh tra một số phòng khám đa khoa không đảm bảo chất lượng trên địa bàn. Theo đó, thanh tra Sở Y tế cùng các chuyên gia của ngành đã tiến hành kiểm tra đột xuất việc chấp hành các quy định pháp luật trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại 12 phòng khám đa khoa đã từng bị xử lý vi phạm hành chính trước đây, trong đó 4 phòng khám có đăng ký người hành nghề là người nước ngoài (PKĐK Âu Á – Quận 6, PKĐK Hoàn Cầu – Q5, PKĐK Hồng Phong – Quận 5, PKĐK Thăng Long – Quận 10). Qua kiểm tra, Thanh tra SYT ghi nhận tại các Phòng khám này ít nhiều đều có vi phạm các quy định hành nghề khám chữa bệnh, cụ thể như: bố trí thêm phòng điều trị, bổ sung trang thiết bị y tế nhưng chưa báo cáo Sở Y tế;  không đảm bảo điều kiện vệ sinh, không đủ dụng cụ để thực hiện các thủ thuật sản phụ cho người bệnh; Nhân sự tham gia khám bệnh, chữa bệnh chưa đăng ký hành nghề theo quy định, nhân sự đã đăng ký hành nghề tại phòng khám nhưng không có mặt đầy đủ theo thời gian đã đăng ký hành nghề với Sở Y tế. Như vậy, có thể nhận thấy rằng, việc kiểm tra hậu kiểm các phòng khám đa khoa tùy từng thời điểm sẽ phát hiện ra những sai phạm trong quá trình hoạt động của các phòng khám đa khoa này, chủ yếu nổi bật là những vi phạm về việc không đáp ứng, không duy trì hoặc không tuân thủ các điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan có thẩm quyền trước đó xem xét phê duyệt cấp Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Việc vi phạm xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân coi trọng lợi nhuận của phòng khám mà không chú trọng đảm bảo các điều kiện khám bệnh, chữa bệnh theo quy định pháp luật.

Hiện nay, nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra các điều kiện về hành nghề khám bệnh chữa bệnh trong, Sở Y tế kết hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền khác đã chủ động tích cực tuyên truyền các quy định pháp luật và chủ trương của Nhà nước liên quan đến các điều kiện này. Theo đó, để đảm bảo rằng việc kiểm tra các điều kiện hoạt động hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện toàn diện, các cấp chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh chủ động coi trọng việc đóng góp và chủ động của người dân trong việc giám sát, khiếu nại và phản ánh. Trong thời đại mà các phương tiện truyền thông phát triển nhanh chóng, Sở Y tế đã vận dụng các bối cảnh này để kiểm tra, giám sát các điều kiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa. Theo đó, Với những sai phạm trên, Thanh tra Sở Y tế tiếp tục làm rõ và kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, kết quả xử lý sẽ được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Sở Y tế để người dân được biết và cùng giám sát. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Sở Y tế kêu gọi người dân khi gặp tình huống các phòng khám “vẽ bệnh, moi tiền” hãy gọi ngay số điện thoại nóng 0989401155 hoặc vào app “Y Tế Trực Tuyến” để phản ánh trực tiếp đến Thanh tra Sở Y tế. Việc tạo điều kiện này đã góp phần thuận lợi trong quá trình tham gia của người dân vào công tác kiểm tra tính phù hợp của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa qua đó tăng cao và nâng cao hiệu quả phòng ngừa những sai phạm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh nói chung.

Có thể nhận định rằng, việc kiểm tra chất lượng và độ đảm bảo điều kiện hoạt động khám bệnh của phòng khám đa khoa trên địa bản thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện khá đồng bộ. Mặc dù vậy, những kết quả được đưa ra trên đây chỉ tập trung đối với việc hậu kiểm, đánh giá các vấn đề liên quan đến công tác tuân thủ và đáp ứng các điều kiện trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa. Trên thực tế, quá trình thực hiện pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần hoàn thiện.

2.3.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Qua công tác kiểm tra, thanh tra chất lượng và điều kiện của phòng khám đa khoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2019 (giai đoạn 3.0) vừa qua, các hạn chế vẫn còn tồn đọng trong công tác áp dụng pháp luật về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại các phòng khám trên địa bàn có thể kể đến bao gồm:

Các phòng khám đa khoa vẫn còn tình trạng thực hiện quảng cáo dịch vụ khám chữa bệnh khi chưa được Sở Y tế xác nhận nội dung quảng cáo theo qui định; quảng cáo vượt quá phạm vi chuyên môn mà phòng khám được phép thực hiện. Hành vi này chủ yếu xảy ra tại các phòng khám loại kém và trung bình. Việc quảng cáo gian dối, không đáp ứng được các điều kiện về hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa gây tác động và làm ảnh hưởng xấu đến sự uy tín của nền y tế, khiến niềm tin của nhân dân đối với hoạt động khám bệnh, chữa bệnh bị suy yếu.

Các phòng khám chưa chú trọng vào đầu tư công tác kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm; chưa đảm bảo các điều kiện về an toàn sinh học; chưa tuân thủ quy chế ghi chép hồ sơ bệnh án; chưa đảm bảo tuân thủ việc đăng ký hành nghề về Sở Y tế khi có thay đổi nhân sự; nhân viên y tế chưa đảm bảo đào tạo liên tục đủ số tiết theo quy định.

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát thành những nguyên nhân chủ yếu sau đây: Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Thứ nhất, các phòng khám đa khoa chưa chủ động tiếp cận, nắm bắt và hiểu những quy định pháp luật trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh; các văn bản pháp luật của cơ quan quản lý chưa đến được với các phòng khám một cách đầy đủ và kịp thời, dẫn đến các phòng khám không triển khai thực hiện và tuân thủ đúng quy định. Đây chính là nguyên nhân lớn dẫn đến việc vi phạm pháp luật của đa số các phòng khám đa khoa hiện nay. Từ việc thiếu hiểu biết các quy định pháp luật này, nhiều phòng khám đa khoa sai phạm và bị xử phạt, trong đó nhiều phòng khám đã bị cơ quan chức năng có thẩm quyền rút giấy phép hoạt động[6]. Một trong những hạn chế dẫn đến nhiều sai phạm đó chính là mức phạt đối với các cơ sở phòng khám đa khoa có hành vi vi phạm vẫn còn khá nhẹ, điều này dẫn đến tình trạng các phòng khám đa khoa tiếp tục có những hành vi tái phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác quản lý về y tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, qua kiểm tra, thanh tra chất lượng của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có thể nhận thấy rằng công tác quản lý chất lượng của các phòng khám đa khoa còn dàn trải, chưa đi vào chiều sâu, chỉ chú trọng nhiều hình thức mà không có sự quan tâm và chú trọng nhất định về chất lượng và chuyên môn của phòng khám đa khoa. Đa số phòng khám chưa có nhân viên chuyên trách về quản lý chất lượng hoặc nhân viên chưa được đào tạo về quản lý chất lượng do đó chưa hiểu hoặc chưa quan tâm sâu đến cải tiến chất lượng bệnh viện. Nguồn nhân lực còn quá mỏng, sự kiểm tra đầu vào các nguồn nhân lực trực tiếp thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa là chưa đảm bảo đủ.

Thứ ba, thực tế nhiều phòng khám chưa quan tâm đến việc đảm bảo và nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; chưa có kiến thức về quản lý hoạt động phòng khám. Việc thiếu ý thức, kiến thức và chưa có kỹ năng trong công tác quản lý chất lượng, đảm bảo các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện theo quy định pháp luật đã dẫn đến tình trạng các phòng khám đa khoa có điểm trung bình chất lượng khá thấp.

Thứ tư, đa số các phòng khám có chủ đầu tư là người ngoài ngành y tế, người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật chưa chú trọng đến hoạt động cải tiến chất lượng chuyên môn, chưa chủ động nắm bắt các quy định pháp luật trong hoạt động khám chữa bệnh. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, trong nhiều trường hợp phòng khám đa khoa được tổ chức dưới hình thức công ty có một hoặc nhiều chủ sở hữu, có rất nhiều trường hợp những chủ sở hữu này không phải là người hoạt động trong ngành y tế nói chung và không có nhiều kinh nghiệm, am hiểu về các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại các phòng khám đa khoa nó riêng. Chính vì điều này đã dẫn đến những chính sách không phù hợp với quy định pháp luật nhà nước, xem nhẹ việc đáp ứng các điều kiện liên quan đến hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa.

Thứ năm, công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của một số phòng Y tế quận – huyện đối với hoạt động của các phòng khám đa khoa trên địa bàn phụ trách còn hạn chế. Công tác thanh tra, xử phạt vi phạm chưa đủ sức răn đe đối với cơ sở cố tình vi phạm. Có thể khẳng định rằng, việc phổ biến pháp luật của các cơ quan ban ngành liên quan đến hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Thêm vào đó, việc thanh tra, xử phạt vẫn chưa mang lại được những hiệu quả đáng mong đợi trong quá trình khắc phục những vi phạm đang diễn ra trên thực tế.

2.4 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Trên cơ sở các nội dung phân tích được nêu trên đây liên quan đến những vướng mắc, bất cập liên quan đến các quy định pháp luật về điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, tác giả đưa ra các đề xuất hoàn thiện như sau:

Thứ nhất, ban hành các quy định pháp luật tạo sự đồng bộ giữa các quy định pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư và luật khám bệnh, chữa bệnh liên quan đến cách thức thành lập phòng khám đa khoa. Như đã được phân tích trên đây, Luật khám bệnh và chữa bệnh là văn bản pháp luật được ban hành năm 2009 so với các quy định mới được cập nhật của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư (đều được ban hành vào năm 2020) có nhiều điểm khác biệt, chưa đồng bộ. Sự khác biệt và chưa đồng bộ như đã được phân tích trên đây liên quan đến thủ tục và điều kiện thành lập các phòng khám đa khoa. Do vậy, cần thiết ban hành các quy định pháp luật bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành Luật khám bệnh, chữa bệnh mới để tạo được sự đồng bộ và phù hợp với các quy định pháp luật mới hiện hành liên quan đến pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư. Theo đó, quy định cụ thể hơn điều kiện để được mở và kinh doanh các phòng khám đa khoa đối với tổ chức và cá nhân nước ngoài. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Thứ hai, quy định rõ hơn nội dung quy định pháp luật về quy mô phòng khám đa khoa. Như đã được phân tích trên đây, các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến quy mô của phòng khám đa khoa vẫn còn nhiều điểm bất cập và hạn chế. Quan điểm tác giả cho rằng, việc cho phép các phòng khám đa khoa tối đa hóa các lĩnh vực được phép thực hiện sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan nhà nước liên quan đến lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh nói riêng và hoạt động y tế nói chung. Thêm vào đó, việc mở rộng và cấp phép thực hiện nhiều hoạt động sẽ dễ dàng gây ra những thiếu xót, bất cập và không tuân thủ quy định về chất lượng, điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa. Do vậy, cần thiết xem xét sửa đổi quy định pháp luật hiện hành, theo đó hạn chế số lượng tối đa các hoạt động chuyên môn của phòng khám đa khoa. Để phù hợp với tiêu chí đa khoa của phòng khám, việc hạn chế số lượng chuyên môn hoạt động của phòng khám đa khoa cũng phải phù hợp. Theo đó, tác giả đề xuất số lượng tối đa chuyên khoa của phòng khám đa khoa nên dừng lại ở bốn chuyên khoa, đồng thời cho phép phòng khám đa khoa lựa chọn các hình thức chuyên khoa phù hợp.

Thứ ba, bổ sung các quy định về các điều kiện về điện, nước, xử lý chất thải y tế đối với điều kiện về cơ sở vật chất của phòng khám đa khoa. Như đã được trình bày trên đây, thực tiễn áp dụng pháp luật của các phòng khám đa khoa tại phố Hồ Chí Minh cho thấy, công tác kiểm tra chất lượng và việc tuân thủ các quy định về điều kiện hành nghề khám bệnh chữa bệnh của các phòng khám đa khoa vẫn phải xem xét đến các nội dung liên quan đến chất lượng, phương thức xử lý chất thải y tế, điều kiện điện, nước và khả năng đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân. Do vậy, việc Nghị định 155/2018/NĐ-CP lược bỏ các nội dung liên quan đến vấn đề này trong các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa là chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật như đã được nêu trên đây. Do vậy, tác giả đề xuất bổ sung lại các nội dung trên trong các điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết cho việc cấp giấy phép hoạt động của phòng khám đa khoa.

Thứ tư, xem xét bổ sung và xây dựng các quy định cụ thể điều kiện tối thiểu cần có đối với các trang thiết bị y tế của phòng khám đa khoa. Như đã được phân tích tại nội dung nêu trên, việc đáp ứng được các điều kiện về thiết bị y tế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc có thực hiện tốt các công tác và hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa. Tuy nhiên, các nội dung quy định của pháp luật hiện hành cho thấy, hiện nay pháp luật không quy định bất kỳ các nội dung nào liên quan đến việc đáp ứng các điều kiện tối thiểu về trang thiết bị y tế của cơ sở phòng khám đa khoa để được cấp giấy phép hoạt động theo quy định. Điều này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa cho người dân. Do vậy, tác giả đề xuất bổ sung thêm các quy định pháp luật những yêu cầu tối thiểu liên quan đến các trang thiết bị y tế cần thiết của phòng khá đa khoa đủ để những phòng khám đa khoa này đảm bảo được những hoạt động cơ bản khi khám bệnh, chữa bệnh. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Thứ năm, quy định hạn chế về số lượng người thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa với tư cách là bác sĩ không thường trực. Vai trò của những cá nhân thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh nói chung và các bác sĩ nói riêng là vô cùng to lớn. Tuy nhiên, để đảm bảo được chất lượng khám bệnh và chữa bệnh của các bác sĩ, cần thiết phải bổ sung, sửa đổi các quy định liên quan đến việc hạn chế số lượng tối đa những người thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám đa khoa với tư cách là bác sĩ không thường trực. Theo đó, cần thiết quy định số lượng tối đa các bác sĩ không thường trực tại phòng khám đa khoa bên cạnh việc quy định số lượng các bác sĩ thường trực bắt buộc là 50% tổng số bác sĩ làm việc tại phòng khám. Điều này sẽ góp phần đáng kể trong việc bảo vệ được chất lượng khám bệnh, chữa bệnh của những người thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, đảm bảo chất lượng khám bệnh, chữa bệnh của các phòng khám đa khoa cũng như các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

Thứ sáu. quy định rõ ràng về chức năng khám sức khỏe của phòng khám đa khoa so với các bệnh viện. Hiện nay, Nghị định 155/2018/NĐ-CP đã lược bỏ quy định cho phép phòng khám đa khoa thực hiện các hoạt động khám sức khỏe. Tuy nhiên, các nội dung quy định liên quan đến vấn đề này chưa thể hiện được sự đồng bộ và hiệu quả khi áp dụng trên thực tiễn. Có thể nhận thấy rằng, trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến việc phòng khám đa khoa có được cấp giấy phép khám sức khỏe cho các cá nhân hay không. Sự không rõ ràng của quy định này có thể dẫn đến những tình trạng sai phạm, không cụ thể khi người dân thực hiện việc khám sức khỏe. Do đó, cần thiết có quy định rõ ràng về việc không cho phép các phòng khám đa khoa thực hiện các hoạt động liên quan đến chuyên khoa khám sức khỏe. Việc quy định như trên để đảm bảo rằng, tránh tình trạng vi phạm khi cho rằng tổ chức và cá nhân được thực hiện các hành vi mà pháp luật không cấm tồn tại khá nhiều như hiện nay. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

Thứ bảy, tăng mức hình phạt khi các phòng khám đa khoa vi phạm các điều kiện về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Mặc dù không được phân tích trên đây, tuy nhiên có thể nhận định rằng, căn cứ theo các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các phòng khám đa khoa không tuân thủ đúng các điều kiện liên quan đến hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là còn quá thấp. Cụ thể căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 39 Nghị định 117/2020/NĐ-CP thì phòng khám đa khoa không bảo đảm một trong các điều kiện sau khi đã được cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh thì mức phạt tối đa là 40.000.000 đồng. Mức xử phạt này là quá thấp so với những khoản lợi mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là phòng khám đa khoa đã thu được trong suốt quá trình hoạt động không đủ điều kiện hành nghề của mình. Do đó, tác giải đề xuất, cần thiết phải tăng mức xử phạt vi phạm hành chính đối với những trường hợp phòng khám đa khoa không đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Thêm vào đó, cần thiết bổ sung chế tài tịch thu toàn bộ khoản lợi trong suốt quá trình mà phòng khám đa khoa không đủ điều kiện này hoạt động có được. Luận văn: Thực trạng PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Kiến nghị PL về điều kiện hành nghề khám chữa bệnh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993