Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

Đánh giá post

Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc. Bạn đang chuẩn bị làm bài báo cáo thực tập nghề nghiệp, hay bạn đang làm đồ án tốt nghiệp, nhưng các bạn lại chưa biết lựa chọn đề tài nào cho phù hợp với trường hợp của bạn, giờ đây các bạn không còn phải lo lắng về vấn đề đó nữa, vì dưới đây Dịch Vụ Viết Luận Văn sẽ chia sẻ đến các bạn sinh viên một bài Đồ Án Tốt Nghiệp: Thiết kế quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc các bạn có thể tham khảo thử nhé.

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay khoa học kỹ thuật càng ngày càng phát triển và hoàn thiện .Nền kinh tế của nước ta đang đổi mới ,chuyển mình theo nhịp độ chung của toàn thế giới ,nó đòi hỏi phải vận dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật một cách linh hoạt nhất .Trong đó ngành cơ khí đóng vai trò then chốt ,có tính chất quyết định đến công cuộc đổi mới đất nước .Chúng ta không thể phát triển toàn diện được nếu thiếu vắng sự lớn mạnh của ngành cơ khí mà điển hình là công nghẹ chế tạo máy .

Đây là một lĩnh vực rất rộng ,phức tạp và không ít khó khăn khi chúng ta đI sâu vào nghiên cứu nó nhưng bằng sự sáng tạo ,trí thông minh và tính coần cù của con người chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong những năm gần đây để đáp ứng được những nhu cầu của xã hội có thể dễ dàng hoà nhập với công nghệ mới đòi hỏi mỗi kĩ sư thực hành ngành chế tạo máy phải biết vận dụng mọi kiến thức được học trong trường để áp dụng có hiệu quả . Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

Trong khuôn khổ đồ án tốt nghiệp của ngành ché tạo máy chúng em đã góp một phần nhỏ bé của mình vào việc : “ Tính toán thiết kế quy trình công nghệ gia công chi tiết cần lắc con cóc”.

Nội dung tính toán gồm những phần chính sau :

  • Phần I : Thiết kế đồ án công nghệ chế tạo máy .
  • Phần II : Công nghệ gia công trên máy CNC .
  • Phần III : Bản vẽ

Trong thời gian làm đồ án chúng em đã cố gắng học hỏi và ứng dụng kiến thức của mình đã được học và thực tế ,với lỗ lực của bản thân và sự hướng dẫn của các thầy ,các cô trong bọ môn công nghệ chế tạo máy ,đặc biệt là GS.TS Trần Văn Địch chúnh em đã hoạn thành đồ án được giao đủ và đúng thời hạn .Tuy nhiên do thời gian có hạn nên bản đồ án của chúng em không tránh khỏi những sai sót ,chúng em mong các thầy cô giáo trong bộ môn chỉ bảo ,giúp đỡ chúng em hoàn thiện bản đồ án này tốt hơn

Cuối cùng chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong bộ môn .Đặc biệt là GS.TS Trần Văn Địch đã tạo điều kiện tốt cho chúng em làm đồ án .

CHƯƠNG VII TỔNG QUÁT VỀ MÁY CNC Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

VII.1 Lịch sử phát triển của máy CNC.

– Điều khiển số NC (Numerical contol) trong ba mươi năm qua đã tác động tới ngành cơ khí chế tạo, đã tạo ra những máy mới và công cụ tự động hoá cơ khí mới. Ngày nay máy điều khiển số NC là thành phần cơ bản của thiết bị gia công linh hoạt, để có thể đáp ứng các yêu cầu cao, từng kiểu máy phải có khả năng đảm nhận những chức năng điều khiển nhất định.

– Trong thời kì đầu chưa có máy điều khiển số phù hợp,người ta chưa thể biết được các yêu cầu phụ phát sinh khi lắp đặt điều khiển số NC vào máy thường và phải thay đổi gì về kết cấu máy. Do vậy người ta bắt đầu từ các máy phay, tiện những máy này đã được chế  tạo phù hợp với phương thức điều khiển theo chương trình hoặc được trang bị  cơ cấu  chép hình trên cơ sở  đó trang bị cho  chúng các  hệ  thống   đo và  hệ thống khởi động dùng cho chế  độ điều  khiển  số NC .Nhờ  đó chỉ  sau  một năm một thế  hệ máy mới ra  đời, đó là máy điều khiển  số (Numerical contol Machine).

– Ý tưởng điều khiển  máy bằng  câu lệnh nhớ như ngày nay đã thực hiện ở  máy CNC, đã có từ thế kỷ 14 kỹ thuật ngày nay bắt đầu từ  các  trò chơi đánh  chuông được điều khiển  bằng trục quay có cắm các  tăm điều  khiển chạm  vào chuông.

– Quá trình phát triển về kkỹ thuật điều khiể số bắt đầu từ rất sớm.Năm 1808 jóephM.jaqard đã dùng bìa tôn có đục lỗ để điều khiều khiển số các máy dệt. Vật mang tin có thể thay thế được dùng để điều khiển máy đã dược phát minh chính là bìa tôn có đục các lỗ. Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Đến năm 1863M.Fzorueaux đã sáng chế ra đàm dương cầm tự  động ,có  tên gọi nổi tiếng thế giới là  pianola, có  dùng một băng giấy  khổ rộng 30cm với các lỗ  tương ứng để điều tiết các khí  nén,tác động lên hệ pím ấn  cơ  khí tạo  ra nhiều  nhạc điệu.  Phương pháp này đã được tiếp tục phát triển để sau đó có thể điều khiển được cả âm lượng,áp lực ấn các  phím và tốc độ của  cuộn băng giấy.Băng giấy trở thành vật mang tin và kỹ thuật điều khiển các chức năng phụ đã được phát minh.

– Năm 1938 ClaudeE.Shannon đã đạt được thành công với luận án tiến sĩ của mình ở viện công nghệ M.I.T tính toán và chuyển giao  nhanh dữ  liệu ở  dạng nhị  phân (birary data )có  thể  vận  dụng lý thuyết đại số BOOL(BoolAlgebra) và xác  nhận  công tác điện tử là thành phần hiện  thực duy nhất cho  giải pháp này.Những nền tảng cơ sở của  máy tính ngày nay,  kể cả kỹ thuật điều khiển số  dã được chuẩn bị .

– Năm  1964 tiến sĩ jonh W.Mauchly và tiến sĩ j.PréperEckert đã cung cấp máy tính số điện tử đầu tiên có tên là ENIACcho quân đội Mỹ ,cơ sởcủa kỹ thuật xử lý số liệu điện tử đã  được thành lập .

– Năm 1949-1952jonh parson và viện  công  nghệ MIT đã nghiên cứu hợp đồng  của không quân Mỹ một hệ thống dùng cho  các máy công cụ để  diều khiển trực  tiếp vị trí  của các  trục vít me bằng đầu ra của một máy tính và thông qua chức năng thông qua gia công một chi tiết.PARON đã đưa ra 4 tiền đề cơ bản cho ý tưởng này: Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

  • 1. Những vị trí được tính ra trên một  biên  dạng được  ghi nhớ  vào các đục lỗ .
  • 2. các đục lỗ được đọc ở trên máy một cách tự động .
  • 3. Những vị trí đã đọc ra được liên tục chuyển đi và bổ xung  thêm tính toán cho các  giá trị trung gian nội tại .
  • 4. Các động cơ servo(vô cấp tốc độ )có thể điều khiển được chuyển động của các  tục .

– Các chi tiết thích hợp ngày  càng  phức tạp dùng trong công nghiệp máy cần  được chế tạo, với máy này,những chi tiết  này một phần  đã được mô tả chính xác với các dữ liệu  toán  học,nhưng  rất khó gia công  thủ công. mối  liên kết giữa máy tính và kỹ thuật NC là tiền đề khi khởi đầu quá trình phát triển  này .

– Năm  1952 trong viện công nghệ  MIT đã  vận  hành máy  công cụ điều khiển số đầu tiên. Đó là máy CINCINATIHYDOTEL, có trục vít me thẳng đứng. Hệ điều khiển có cấu tạo gồm nhiều đèn điện tử , tạo  khả năng chuyển  động đồng  thời ba trục, và nhận  dữ liệu thông qua băng đục lỗ mã nhj phân .

– Năm 1954 bendixddax mua các bản quyền phát minh của parsons và chế tạo ra hệ điều khiển NC hoàn chỉnh đầu tiên có dùng các  đèn  điện tử. Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Năm 1957 không quân mỹ đã lắp đặt những máy phay NC đầu tiên ton các xưởng của  mình.

– Năm 1958 ngôn ngữ  lập  trình biểu tượng  đầu  tiên là APT (automaticcally programed tool= công cụ lập trình tự động ) đã được giới thiệu trong quan hệ liên kết với máy tính IBM704.

– Năm 1960 các  hệ điều khiển NC trong kỹ thuật đèn bán  dẫn ,đã thay thế các hệ đèn kiểu cũ (dùng  đèn điện  tử).

– Năm 1965 đã giải pháp thay dụng cụ tự  động ATC, đã nâng cao tự động hoá khâu gia công.

– Năm 1968 kỹ thuật mạch thích  hợp IC đã làm cho hệ điều khiển nhỏ gọn và tin cậy hơn.

– Năm 1969 những giải pháp đầu tiên về điều khiển liên  kết chung từ một máy tính trung tâm DNC( tức là DỉECT NUMERICAL CONTROL).Đã được thiết lập tại Mỹ bằng hệ điều khiển sundstran ommicontrol và máy IBM.

– Năm 1970 giải pháp thay thế hệ phiến gá phôi tự động .

– Năm 1972 những hệ điều khiển NC đầu tiên có lắp đặt máy tính nhỏ ,chế  tạo  hàng loạt đã tạo ra một thế hệ mới có tiềm lực mạnh hơn đó là hệ điều khiển số bằng máy tính nhỏ CNC , nhưng thế hệ máy mới này lại bị thay thế nhanh bằng thế hệ mới hơn đó là điều khiển số dùng máy  vi tính có hệ  vi xử lý (microprocessor-CNC)  sau này .

– Năm 1976 các hệ vi xử lý tạo ra  một  cuộc cách  mạng trong  kỹ thuật CNC.

– Năm 1978các hệ thống gia công linh hoạt được tạo  lập hiện thực .

– Năm 1979 những khớp nối liên hoàn CAD/CAM( computer Aided Desygn/computer Aided Manufacturing= thiết kế và chế tạo có sự  trợ giúp của máy tính )đầu tiên xuất hiện . Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Năm 1980 những công cụ trợ giúp lập trình tích hợp trong hệ điều khiển CNC đã tạo ra cuộc tranh cãi về  quan điểm xoay  quanh vấn đề cần  hay không cần giải pháp điều  khiển có dùng cách  nạp dữ liệu  trực tiếp bằng tay.

– Năm 1984 các hệ điều khiển CNC mạnh  có các công cụ trợ giúp lập trình đồ hoạ, đã đạt chuẩn mực mới cao hơn đối với việc lập trình tai xưởng sản xuất.

– Năm 1985/1986 những hệ điều khiển CNC với các  lập trình tương tác đồ hoạ, đã tạo ra cho việc  lập trình tại xưởng sản xuất hấp dẫn  hơn.

– Năm 1986/1987 những giao diện tiêu  chuẩn hoá ,mở  ra con đừơng tiến  tới công xưởng tự  động hoá trên cơ sở chao đổi thông tin liên  thông, nghĩa  là tiến tới tạo lập giải pháp tích  hợp hoá và tự động hoá sản xuất CIM (computerIntergrated Manufaces) giữa các hệ điều khiển NCvà hệ khởi động cải thiện  độ  chính xác và đáp ứng điều khiển của các trục NC và ttrục chính của máy.

  • – Năm 1992 các hệ thống CNC hở , tạo khả năng  và điều khiển biến đổi thích ứng  theo  yêu cầu xử dụng .
  • – Năm 1993 sử  dụng  (theo tiêu chuẩn ) đầu tiên cá hệ khởi động (động cơ) tuyến tính ở các trung tâm gia công MC(Manufacturing centes). Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Năm 1994 khép kín chuỗi  qúa trình CAM/ CAD/CNC  bằng cách sử  dụng  hệ NURBS (notunifomerationae B-Spnines) làm phương pháp  nội  suy trong các  hệ  CNC. Nurbs là phương pháp dùng để diễn tả toán học  các  bề mặt thông  thường và các bề mặt đặc biệt, ví  dụ mặt trụ,mặt cầu, mặt  xuyên… Bằng các điểm (poinst) và các thông số tạo thành mô hình lưới  gồm nhiều nút để  diễn tả bề mặt đạt độ mịn và độ sắc nét cao. – Những hệ thống CAD/CAM mới  xử lý trực  tiếp NURBS đ ược truy cập từ  hệ  CAD trong hệ CNC  giải  pháp  này giảm  được  dữ liệu nâng độ  chính  xác và tốc độ  xử lý tạo ra chuyển  động  đều  đặn của máy, nâng tuổi thọ  của  máy và dụng cụ .

– Năm 1996 điều khiển bộ khởi động số (digital motor control) và nội  suy chính  xác (fine interpolation) với  độ phân giải nhỏ hơn một phần nghìn micromet (<0,001m) và lượng tiến dao đạt tới giá trị 100m/phút.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Đồ Án Tốt Nghiệp

VII.2 Phạm vi ứng dụng Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Thông thường khi gia công trên máy CNC có độ  chính xác cao  hơn máy thường tỷ lệ phế phẩm rất ít hoặc không có, sự khác biệt về quá trình gia công chi tiết cơ khí trên máy CNC so với máy thường chính là thay thế hệ điều khiển trực tiếp của thợ đánh máy bằng việc lập chương trình gia công CNCtheo ngôn ngữ lập trình quy định và máy CNC thông qua  hệ điều khiển bằng số cùng đạt hiệu quả cao trên các mặt định hình phức tạp (3D).

– Vì máy CNC có ưu điểm sau  đây nên máy CNC trở nên cần thiết trong sản  xuất .

  • + Toàn bộ quá trình gia công (cắt vật liệu ) được thực hiện tự động nên đạt độ  chính xác cao không phụ thuộc  vào tay nghề của hợ vận hành máy .
  • + Gia công chi tiết đạt độ chính xác cao sai lệch kích thước có thể nhỏ hơn 0,001mm.
  • + Tạo được biên dạng phức tạp (mặt cong lồi, lõm phức tạp) nhờ dạng điều khiển phù hợp 3D,4D, 5D…
  • + Động cơ điều khiển vô cấp (Servomtor) cho phép gia công với chế độ cắt ưu đãi .
  • + Có chức năng hiệu chỉnh bù dao trong quá trình cắt, hạn chế ảnh hưởng của lượng mòn dao,đảm bảo tạo ra biến dạng của bề  mặt gia công phức tạp theo kích thước lập trình CNC.
  • + Các trung tâm gia công, tế bào gia công CNC còn có thêm các chức năng cung ứng, thay đổi dụng  cụ và gá phôi tự động  linh hoạt .

– Vấn đề cần phải xem xét cẩn thận  ở đây là hiệu quả thực tế do kỹ thuật gia công CNC mang lại nếu nó được ứng dụng trong sản  xuất là hoàn toàn tuỳ thuộc vào những điều kiện  sau : Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

+ Độ lớn linh hoạt phạm vi ứng dụng của kỹ thuật CNC thường là trong phạm vi 5…500 chi tiết / loạt .Các chi phí chính phải chịu khi gia công trên máy thường như phí tổn về thời gian sử dụng máy, phí tổn về gá lắp và dụng cụ chuyên dùng thường có gia trị  lớn , nhưng  lại có giá trị thấp hơn nhiều khi gia công trên máy CNC.

Độ phức tạp của chi tiết gia công.

– Chi tiết gia công cơ khí có độ phức tạp cao, được gia công dễ dàng hơn và nhanh hơn trên máy CNC.Các tiến trình  công nghệ CNC chỉ   cần lập trình một lần nhưng lại có thể sử  dụng lăp lại nhiều lần một cách  chính xác trên máy gia công CNC tương ứng.

Những thay đổi của kết cấu chi tiết .

– Khi gia công rên máy thường, chi tiết thay đổi sẽ gây ra chi phí cao về điều chỉnh và chuyển đổi công nghệ và tổ chức sản xuất.Ngược lại  khi gia công trên máy CNC nếu kết cấu chi tiết thay đổi chỉ cần thay đổi  vật mang tin ( phương tiện ghi nhận và chuyển tiếp chương trình gia côngCNC) ví dụ  băng  lỗ, đĩa mềm. đĩa CD còn gá lắp và dụng  cụ thường không bị thay đổi .

Thời gian chuẩn bị sản xuất.

– Khâu chuẩn  bị sản xuất cho  một  sản phẩm mới được thực hiện  nhanh hơn nếu dùng máy gia công CNC. Như vậy sẽ tạo điều kiện  để sản phẩm mới chiếm lĩnh  thị trường nhanh hơn, nhờ đó tạo ra sức cạnh tranh mạnh hơn cho hàng sản phẩm

+ Chi phí dụng cụ dùng máy gia công CNC có thể giảm chi phí về  dụng cụ  cắt nhờ ứng dụng giải pháp tối ưu hoá tuổi  bền dụng cụ  cắt. Ở máy CNC giải pháp nghỉ tối ưu tốc độ quay của trục chính máy và tốc độ tiến dao trong phạm vi đặc biệt được vận  dụng . Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

*Chi phí đắt tiền .

– Các chi tiết  cơ khí phải được chế tạo từ vật liệu đặc biệt đắt tiền ví dụ : kim loại màu, hợp kim cao cấp, có tỉ lệ cắt gọt cao (tới 95%) đặt ra yêu cầu là : khi giá cong phải đảm  bảo độ tin cậy cao bởi vì khi có chế phẩm không những chỉ gây ra lãng phí về tiền mà còn  kèm theo nhiều phiền phức khác như không đảm bảo thời gian sản xuất .

– Các hệ thông giám sát hữu hiệu được lắp ở các máy gia công CNC tạo khả  năng gia công đạt độ an toàn và tin cậy tối đa.

*Kiểm tra chất lượng khi gia công.

– Trên máy thường khâu kiểm ta chất lượng gia công nhiều phép đo phức tạp, tốn thời gian và chi phí cao, kém tin cậy. Khi gia công tên máy CNC nhờ tiến trình gia công được hệ CNC đảm bảo đều đặn thực hiện, tin cậy mà khâu chất lượng gia cong được giới hạn và đảm bảo tin cậy trong phạm vi thực hiện các phép thử. Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

*Diện tích sản xuất.

– Khi dùng máy CNC thì diện tích được tận dụng tối đa và số lượng chi tiết được chế tạo trên 1m diện tích sản xuất mà không cần có giải pháp xây dựng tốn kém. Mặt khác dùng máy CNC còn có lợi là không phải xây dựng mở rộng kho dụng cụ và gá lắp.

*Hợp tác và phối hợp sản xuất.

– Các cơ sở hợp tác liên kết sản xuất bên ngoài hoặc các phân xưởng vệ tinh ở xa có thể phối hợp với nhau một cách dễ dàng hơn nhiều khi dùng máy CNC bởi vì nhờ giải pháp sử dụng các vật tin (đĩa mềm, đĩa CD…) được phân phối từ trung tâm có thể đảm bảo cung cấp và đáp ứng tốt các chi tiết đạt kích thước yêu cầu với tỉ lệ chi phí hợp lý.

* Gia công thử trước khi chế tạo hàng loạt .

– Công việc này thực hiện với máy CNC là kinh tế hơn máy thường.trước hết khi sản xuất hàng loạt bắt đầu nền sản xuất được triển khai trên các máy Transfer.Bên cạnh sự ưu tiên duy trì hoạt động của các máy Transfer là khả năng có thể gia công các chi tiết thay thế với độ lớn bạt nhỏ nhất, trên cơ sở các vật mang tin dùng cho gia công mẫu trong nhiều năm với hiệu quả đặc biệt .

* Thời gian gia công .

– Thời gian gia cong được xác định chính xác ở máy CNC. Như vậy có xác định chính thời gian cho các khâu gia công tiếp theo và cho tiến trình kiểm tra qua đó có thể đạt hiệu quả sử dụng hợp lý. Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc 

*Nhiều thao tác, bước trên một lần gá phôi .

– Khả năng thực hiện nhiều thao tác, bước công nghệ trên một lần gá phôi gia công, là thực hiện trên máy CNC đặc biệt là các trung tâm gia công, thao tác chuyển đổi điều chỉnh tốn kém và kho chứa trung gian là không cần thiết khi dùng máy CNC. Đây là tiêu chuẩn quyết định đối với các hệ thống gia công linh hoạt.

*Chi tiết có chất lượng tốt hơn .

– Dùng máy CNC nhgiã là thực hiện khâu gia công chi tiết cơ khí trên dây chuyền gia công mà ảnh hưởng của con người hầu như bị loại trừ làm cho chi phí được đảm bảo tốt hơn ,nghĩa là có thể giảm được thời gian lắp ráp sản phẩm, vì khối lượng công việc sửa lại chi tiết lắp giáp  không nhiều có khi không cần thiết nữa .

*Thời gian lưu thông ngắn hơn.

– Thời gian lưu thông gia công trên dây truyền công nghệ là ngắn hơn khi dùng máy CNC, do giảm được thời gian chờ đợi và lưu kho của các chi tiết gia công , còn khi dùng máy thường các thành phần thời gian này chiếm tới 95% tổng thời gian lưu thông

* Xử lý trực tiếp . Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Hệ Nurbs(Not Uniforme Rational B-Spline) của các hệ thống CAD dùng cho các bề mặt định hình phức tạp (lồi , lõm …) tạo điều kiện lập trình NC nhanh hơn vì sử lý trực tiếp các dữ liệu thiết kế kết cấu chi tiết cơ khí trong giải pháp liên hoàn CAD, CAM, CNC , giảm thời gian chuẩn bị công nghệ loại trừ sai số hình học, tạo thành chi tiết chính xác hơn , đây là bước cần thiết quan trọng để đi vào khâu gia công bằng số ở mức hoàn thiện hơn. Giá trị khoản đầu tư cần thiết sắm sử dụng một máy CNC rất lớn, vì vậy  khiphải xem xét hiệu quả kinh tế ứng với giải pháp này trên cơ sở so sánh với máy thường (máy không điều khiển CNC)

– Tại các nước công nhgiệp phát triển ở tây âu, tỷ lệ máy CNC dùng trong sản xuất tại các hãng cơ khí chưa phải là nhiều hơn hẳn so với máy thường . Ở đây các máy CNC hầu như được dùng ở những khâu quan trọng những khâu thắt (có yêu cầu chính xác cao) trong quá trình gia công cơ khí.

– Quyết định đầu tư mua sắm và sử dụng máy CNC trong sản xuất dựa trên giá trị hiệu quả kinh tế do loại máy này mang lại so với máy thường như sau :

Q= (C1+E.K1)-(C2+E.K2)/N   (đ/năm)

Trong đó : Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

  • Q : Hiệu quả kinh tế  (đ/năm)
  • C1:  Giá thành công nghệ gia công chi tiết trên máy thường
  • C2:  Giá thành công nghệ gia công chi tiết trên máy CNC
  • E :  Đại lượng nghịch đảo thời gian hoàn vốn mua sắm máy

CNC ví dụ : nếu thời gian hoàn vốn mua sắm máy là 5 năm thì E= 1/5=0,2

  • K1 :  Chi phí đầu tư cho máy thường(đ/năm)
  • K:  Chi phí đầu tư cho máy CNC  (đ/năm)
  • N :   sản lượng chi tiết gia công (chi tiết /năm).

– Chi phí về công nghệ(C1,C2) để gia công chi tiết cơ khí (đ/năm) thường được xác định theochi phí thành phần như sau :

  • L: lượng thợ vận hành máy gia công(đ/năm)
  • Đ: chi phí về điện năng tiêu thụ để gia công chi tiết (đ/năm)
  • M: chi phí lập chương trình gia công NC(đ/năm)

Nghĩa là:

  • +Chi phí công nghệ trên máy thường.
  • C1=L11+S1+P1   (đ/năm)
  • +  Chi phí công nghệ trên máy CNC
  • C2= L22+S2+P2  (đ/năm).

Tóm lại  lợi ích khi dùng máy CNC là : Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Nâng cao độ chính xác gia công vì hệ đo lường dịch chuyển của hệ điều khiển CNC có sai lệch  nhỏ hơn 0,001mm nhờ đó mà hạn chế và loại trừ công việc thủ  công sau khi gia công trên CNC .

– Tập trung nguyên công cao(gia công nhiều bề mặt khác nhau trên chi tiết chỉ trong một lần gá phôi trên máy CNC ) nhờ đó mà rút ngắn thời gian sản xuất và giảm được chi phí vận chuyển.

– Giảm thời gian thợ vận hành máy gia công, vì khi dùng máy thường thì thời gian đào tạo một thợ lành nghề thường mất từ năm đến bảy năm còn nếu dùng CNC thì cần đào tạo thợ từ 3đến 6 tháng (thường là dạng tham gia kháo tập trung vận hành và lập trình gia công NC tại hãng chế tạo máy trong phạm vi hợp đồng mua bán máy CNC.

– Để sử dụng máy điều khiển số một cách có hiệu quả người công nghệ không khả năng lập trình nhanh chóng và chính xác, đặc biệt là phương pháp lập trình để gia công chi tiết trên một số loại máy công cụ điều khiển số như: máy tiện, khoan, doa, phay…

+ Máy tiện :

– Là loại máy công cụ vạn năng quan trọng dùng phổ biến trong các phân xưởng cơ khí, cơ điện …chiếm tỷ lệ 40-50% để gia công hàng trăm loại nguyên công tiện  khác nhau, máy tiện có thể dùng gia công các mặt phẳng,mặt lệch tâm cam mặt không tròn xoay, mặt định hình ren rãnh… Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

– Máy tiện có loại nhỏ nhẹ (< 0,5 T) trung bình (<4T) loại siêu nặng hàng trăm tấn theo công dụng máy tiện vạn năng có máy tiện chép hình, máy tiện tự động và đặc biệt có máy tiện điều khiển theo chương trình CNC.

+ Máy khoan : – Là loại máy công cụ vạn năng được ứng dụng trong các phân xưởng, nhà máy cơ khí dùng gia công lỗ (khoan lỗ, mở rộng lỗ)độ chính xác thấp Rz=60¸100( Ñ2¸Ñ5), cắt ren

+ Máy phay.:- Là loại máy phổ biến thông dụng trong các phân xưởng nhà máy cơ khí chiếm khoảng từ 1,5-20% dùng gia công các mặt phay rãnh, lỗ góc các bề mặt định hình (răng ,ren ,cam, khuôn)đoọ chính xác cấp 2 đến cấp 8, độ bóng cấp 4 đến cấp 6(Ra2,5¸Rz 40 ) bằng các loại dao phay trụ răng thẳng, răng nghiêng,dao phay mặt đầu dao phay ngón

VII.3 Các cách xác định trục toạ độ.

  • – Các trục toạ độ của máy CNC cho phép xác định chiều chuyển động của các cơ cấu máy và  dụng cụ cắt
  • – Các trục toạ độ đó là X,Y,Z chiều dương của trục X,Y,Z được xác định theo quy tắc bàn tay phải
  • – Theo nguyên tắc này thì  ngón tay cái chỉ chiều dương của trục, ngón tay giữa chỉ chiều dương của trục Z, còn ngón tay trỏ chỉ chiều dương của trục Y. các trục quay tương ứng với trục X,Y,Z được kí hiệu bằng chữ cái A,B,C chiều quay dương là chiều quay theo chiều của kim đồng hồ nếu ta nhìn theo chiều dương của trục X,Y,Z.

a)Trục Z.

  • – Nhìn  chung ở các máy trục Z luôn song song với trục chính của máy.
  • Ví dụ : ở máy tiện trục Z luôn song song với trục chính của máy và có chiều dương chạy từ mâm cặp tới dụng cụ (chạy xa khỏi chi tiết gia công được cặp trên mâm cặp )hay nói cách khác thì chiều dương của trục Z chạy từ trái sang phải.

b)Trục X. Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

  • – Trục X là trục nằm trên mặt bàn máy và thông thường nó được xác định theo phương nằm ngang. Chiều của trục X được xác định theo quy tắc bàn tay phải (ngón tay cái chỉ chiều dương của trục X).ví dụ:
  • +  Máy phay đứng, máy khoan đứng nếu đứng ngoài nhìn vào trục chính thì chiều dương của trục X hướng về bên phải.
  • +  Máy khoan cần : nếu đứng ở vị chí điều khiển máy ta có chiều dương của X hướng vào trụ máy.
  • + Máy phay ngang :nếu đứng ngoài nhìn thẳng vào trục chính thì ta có chiều dương của X hướng về bên trái còn nếu đứng về phía trục chính để nhìn vào chi tiết thì ta có chiều dương của X hướng về phía bên trái

c) Trục Y.

  • – Trục Y được xác định sau khi các trục X,Z đã được xác định theo quy tắc bàn tay phải. ngón tay trỏ chỉ chiều dương của trục Y.

d) Các trục phụ .

– Trên máy CNC ngoài các trục X,Y,Z còn có các trục tọa độ khác song song với chúng (các bộ phận máy khác dịch chuyển song song với các trục X,Y,Z).Các trục này được ký hiệu là U,V,W, trong đó U//X , V//Y, W//Z nếu có các trục khác nữa song song với toạ độ chính, thì các trục này được ký hiệu là P,Q,R trong đó P//X, Q//Y , R//Z các trục U,V.W được gọi là các trục thứ hai, còn P,Q,R được gọi là các trục thứ ba. Đồ án: Quy trình công nghệ chế tạo chi tiết cần lắc con cóc

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993