Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số giải pháp và kiến nghị Ứng dụng TSA để xác định hiệu quả kinh tế của ngành du lịch Việt Nam năm 2023 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Các giải pháp

3.1.1 Các giải pháp nhằm điều chỉnh hoạt động thống kê du lịch 

3.1.1.1. Điều chỉnh nội dung thống kê du lịch

Để ứng dụng TSA thống kê hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam, cần bổ sung một số chỉ tiêu thống kê mà hiện nay còn thiếu như:

  • Tổng số tiền mà du khách đi theo tour du lịch chi trả cho chuyến đi. Hiện nay, trong số liệu điều tra chi tiêu của du khách, Tổng cục Thống kê chỉ có số liệu đầy đủ nhất về chi tiêu của du khách tự tổ chức chuyến đi. Đối với du khách đi theo tour du lịch, chỉ có số tiền chi trả ngoài tour. Thực trạng này dẫn đến việc phải ước lượng trong quá trình tính toán, dễ dẫn đến kết quả không chính xác.
  • Đối tượng khách tham quan trong ngày, ở tại nhà ở thứ hai hoặc nhà của bạn bè họ hàng. Đây là đối tượng khách chưa được tính đến trong quá trình điều tra, nhưng theo WTTC thì các tập khách này cũng đóng góp không nhỏ trong cầu tiêu dùng. Vì vậy, khi tiến hành áp dụng TSA, nên bổ sung điều tra chọn mẫu đối tượng này tại điểm đến.
  • Số liệu đầu tư và chi tiêu của chính phủ chỉ được thống kê chủ yếu trong khối khách sạn nhà hàng, cần bổ sung và tổng hợp được đầy đủ về đầu tư và chi tiêu của chính phủ về du lịch nói chung (bao gồm đối với cả các hạng mục: khu vui chơi giải trí, Vườn Quốc gia, bảo tàng, công viên … ). Bên cạnh đó, số liệu thuế cũng như xuất nhập khẩu trong lĩnh vực du lịch hầu như chưa có.

Ngoài ra, trong quá trình thống kê cũng cần xác định rõ những tiêu chí và các sản phẩm đặc trưng của tiêu dùng du lịch. Hiện nay, việc lựa chọn sản phẩm nào còn phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng quốc gia (ví dụ, chưa nên đưa y tế và giáo dục vào danh mục sản phẩm đặc trưng của du lịch Việt Nam vì lĩnh vực này ở nước ta chưa phát triển, tương tự như vậy đối với sản phẩm nhà ở thứ hai dành cho mục đích du lịch). Nguồn thông tin về tiêu dùng của tổ chức (nhất là chi tiêu nghiệp đoàn) tại nước ta hiện nay cũng chưa được xác định rõ. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

3.1.1.2. Điều chỉnh phương pháp thống kê du lịch

Ở nước ta hiện nay, phương pháp chủ yếu để có thể xác định giá trị tiêu dùng và một số đặc điểm của du khách vẫn là phương pháp điều tra chọn mẫu. Ưu điểm của phương pháp này là chi phí không quá tốn kém, kết quả có độ chính xác cao. Tuy nhiên trong quá trình tiến hành phương pháp này cần lưu ý một số vấn đề sau:

  • Cần tuân thủ tính quy chuẩn trong quá trình tiến hành

Khi thực hiện cuộc điều tra chọn mẫu, cần phải tuân thủ theo trình tự các bước một cách chặt chẽ từ khâu chuẩn bị (xác định mục tiêu, xây dựng phương án…) cho đến tiến hành điều tra và xử lý số liệu.

  • Cần đưa ra được phương án điều tra, đảm bảo các yếu tố cơ bản của điều tra chọn mẫu

Việc xây dựng phương án điều tra chuẩn phải bao gồm các yêu cầu như xác định rõ đối tượng, lựa chọn không gian, thời gian điều tra phù hợp, cách thức tổ chức. Về cỡ mẫu và cơ cấu mẫu, cần phù hợp với kinh phí và đảm bảo phạm vi sai số cho phép. Cần xem xét cơ cấu khách về quốc tịch, châu lục, giữa khách nội địa và quốc tế, giữa khách lưu trú ngắn ngày và dài ngày… Về phiếu điều tra, cần lưu ý : nội dung nên ngắn gọn, hỏi trực tiếp vấn đề điều tra, tránh sử dụng từ chuyên môn, đa nghĩa. Hệ thống câu hỏi trình bày theo khoản mục rõ ràng, có hướng dẫn tỉ mỉ. Đội ngũ điều tra viên và giám sát viên phải được lựa chọn, huấn luyện kỹ, đảm bảo năng lực cũng như trách nhiệm đối với công việc. Đối với điều tra chi tiêu của du khách, nên phát phiếu khi họ sắp kết thúc chuyến đi để thu được số liệu chính xác nhất. Đôi khi có thể sử dụng câu hỏi phụ để xác định độ tin cậy của người trả lời. Trong tương lai, khi tiến hành thêm một số cuộc điều tra về chi tiêu du lịch thì nên có biểu thức để điều chỉnh độ trượt giá, nhằm đảm bảo độ chính xác cao khi so sánh sự thay đổi về giá trị tiêu dùng của du khách qua các năm.

3.1.1.3. Điều chỉnh tổ chức công tác thống kê du lịch

Năm 2023, Tổng cục Thống kê đã tổ chức điều tra chọn mẫu tiêu dùng của du khách ở 26 tỉnh thành (đối với khách nội địa) và 12 tỉnh thành (đối với khách quốc tế). Trong tương lai, cần mở rộng quy mô điều tra ra một số khu vực khác, thời gian điều tra cũng cần kéo dài hơn nhằm đảm bảo tính chính xác của nguồn thông tin (Năm 2023, Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra chi tiêu của du khách trong 20 ngày, từ 10/7 đến 30/7/2023, tuy nhiên đối với một số tỉnh thành và một số loại hình du lịch, có thể thời gian này lại không thu hút nhiều khách). Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của du lịch 

3.1.2.1. Quản lý Nhà nước

Quản lý Nhà nước về du lịch bao gồm các mặt chủ yếu:

  • Ban hành các văn bản pháp luật về du lịch.
  • Tổ chức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản luật, các quy chế, chế độ, tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật, quy trình quy phạm trong hoạt động du lịch.
  • Tổ chức tuyên truyền quảng bá du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường du lịch.
  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lí các vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch, thúc đẩy du lịch phát triển theo định hướng chung của đất nước, hạn chế đi đến xóa bỏ các hiện tượng không lành mạnh, mặt trái của sự phát triển du lịch (như tệ nạn xã hội …)

Đối với các mặt hoạt động nói trên, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ song cũng không thể phủ nhận những tồn tại gây cản trở không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của ngành du lịch.

Đối với yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách phát triển du lịch, Luật Du lịch Việt Nam ra đời năm 2023 thực sự là một bước tiến. Sự ra đời của Luật Du lịch góp phần đảm bảo quyền lợi cho khách du lịch, giúp họ có đảm bảo pháp lý để được hưởng những dịch vụ xứng đáng, đưa hoạt động kinh doanh vào nền nếp, là môi trường pháp lý định hướng cho các doanh nghiệp du lịch phát triển, góp phần ngăn chặn những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống kinh tế – xã hội và môi trường. Việc ra đời Luật Du lịch Việt Nam phù hợp với tiến trình phát triển chung của hoạt động du lịch trên thế giới.  Luật Du lịch có hiệu lực từ tháng 1/2024 và đang được triển khai thực hiện trong cả nước, là văn bản pháp lý cao nhất diều chỉnh các quan hệ trong hoạt động du lịch. Nhận thức và những quan điểm về du lịch cũng được nâng cao, gắn với công tác đổi mới bộ máy, năng lực quản lý Nhà nước về du lịch, kiện toàn hệ thống kinh doanh, thích nghi dần với cơ chế quản lý mới. Hoạt động du lịch hiện thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Tuy nhiên, Luật cũng cần được thường xuyên điều chỉnh bổ sung, có những văn bản hướng dẫn cho phù hợp với thực tiễn phát triển du lịch của đất nước và thế giới. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần thiết phải xây dựng và ban hành Luật Lữ hành, Luật Vận chuyển khách du lịch, Luật Nhà hàng …  Công tác thanh tra, kiểm soát đối với các hoạt động du lịch nhằm thực hiện quản lý Nhà nước về du lịch. Đó là phương thức quan trọng nhằm đảm bảo luật pháp, quy chế, tăng cường kỉ cương trong hoạt động kinh doanh du lịch, giúp không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo cho sự phát triển du lịch lành mạnh và bền vững. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Đến nay, hầu hết các nước có hoạt động du lịch phát triển đều có hệ thống thanh tra chuyên ngành du lịch. Họ tổ chức hoạt động thanh tra du lịch khá chặt chẽ. Ví dụ Thái Lan có đội ngũ cảnh sát du lịch với chức năng thanh tra việc hành nghề của hướng dẫn viên du lịch, các lái xe chuyên chở du khách… Đối với dịch vụ lữ hành, công tác thanh tra xem xét giữa quảng cáo với thực tế phục vụ có phù hợp hay không, tránh tình trạng lừa đảo, “treo đầu dê bán thịt chó” đối với du khách. Đối với khách sạn cũng được thanh tra trên nhiều lĩnh vực: tiêu chuẩn vật chất kỹ thuật, nhân viên phục vụ, vệ sinh môi trường …

Rõ ràng, chất lượng sản phẩm du lịch Việt Nam so với yêu cầu của du khách còn có nhiều vấn đề phải giải quyết, trong đó công tác thanh tra trong quản lý Nhà nước là mặt rất quan trọng. Ngoài ra, công tác thanh tra chuyên ngành du lịch cũng cần phát hiện những nét đặc thù của ngành và đề nghị với cơ quan có thẩm quyền giải quyết như: ban hành tỉ lệ khấu hao thích hợp đối với tài sản cố định, chi phí lương thưởng đối với hướng dẫn viên dẫn khách theo tour, các chi phí, phụ cấp, thang bậc lương dành cho cán bộ, công nhân viên chức ngành du lịch …

Công tác thanh tra chuyên ngành du lịch là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển du lịch ở nước ta trước mắt cũng như lâu dài.

3.1.2.2. Đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Một đất nước muốn phát triển kinh tế, trước hết phải xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong đó, cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc, công trình công cộng… đóng vai trò nền móng. Đây là yếu tố rất cơ bản, không chỉ riêng cho ngành du lịch mà còn cho bất cứ một ngành kinh tế nào muốn phát triển. Du lịch càng phát triển, càng đòi hỏi các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc nâng lên trình độ hiện đại. Hiện nay, ở nhiều nước công nghiệp phát triển, công nghệ thông tin du lịch đang được ứng dụng phổ biến như Mỹ, Anh, Pháp, Đức… Ở các nước nói trên, nhờ đưa công nghệ thông tin vào du lịch, giúp tạo ra những sản phẩm du lịch mới, hấp dẫn, phong phú và có giá trị kinh tế cao.

Ngoài cơ sở hạ tầng chung của xã hội, ngành du lịch còn có cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù như khách sạn, nhà hàng, các điểm, khu du lịch, khu vui chơi giải trí vv… Những yếu tố này rất quan trọng, là bộ phận trực tiếp và thường xuyên đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của du khách. Du lịch càng phát triển thì cơ sở vật chất kỹ thuật càng phải được nâng cao và tính chất đồng bộ của nó phải được thể hiện một cách rõ nét trong việc đầu tư xây dựng nhằm tránh hiện tượng lãng phí, đồng thời giúp đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Lấy ví dụ đối với hệ thống khách sạn. Ở Việt Nam, hệ thống khách sạn nói riêng và cơ sở lưu trú nói chung trong những năm gần đây phát triển nhanh cả về số lượng, quy mô, hình thức sở hữu và chất lượng dịch vụ.  Việt Nam hiện có khoảng 6000 khách sạn với tổng số hơn 130 nghìn buồng, phòng, trong đó có 2575 khách sạn được xếp tiêu chuẩn sao [2;6]. Tuy nhiên khoảng 80% số khách sạn hiện tập trung tại một số trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu. Quy mô còn nhó khiến các khách sạn gặp nhiều hạn chế trong đầu tư đổi mới trang thiết bị, áp dụng công nghệ quản lý hiện đại, nghiên cứu thị trường và quảng bá sản phẩm. Bên cạnh đó, thị trường vốn của nước ta chưa phát triển, lãi suất tiền cho vay cao và cơ chế tiếp cận các nguồn tín dụng ngân hàng hạn chế là rào cản khiến nhiều khách sạn khó mở rộng quy mô xây dựng, nâng cấp tiện nghi và mở mang dịch vụ. Các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn còn gặp nhiều khó khăn như: thiếu đất và mặt bằng để mở rộng quy mô buồng ngủ, phòng hội nghị và các dịch vụ bổ trợ; khó tiếp cận các nguồn thông tin thị trường đáng tin cậy để phục vụ việc đề ra các chiến lược kinh doanh sát với tình hình thực tế. Chi phí đầu vào: điện, nước, viễn thông, thực phẩm còn cao và thiếu ổn định, ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định đầu tư và kết quả đầu tư đối với lĩnh vực này.

Từ thực trạng nêu trên, có thể thấy, để phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống khách sạn và cơ sở lưu trú Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp cả trong và ngoài nước đầu tư xây dựng đối với lĩnh vực này dưới nhiều hình thức: đầu tư trực tiếp, liên doanh, liên kết… Nên chăng, Tổng cục Du lịch cần có một hệ thống cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp khách sạn về thị trường cung – cầu dựa trên phương pháp thống kê thống nhất, phù hợp với cách làm của nhiều nước trong khu vực, đáng tin cậy để làm chuẩn so sánh, đối chiếu; từng bước thiết lập hệ thống tiêu chuẩn quốc gia nhằm quản lý chất lượng sản phẩm khách sạn; xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn: khách sạn “xanh”, vệ sinh an toàn thực phẩm, đầu tư thích đáng phát triển nguồn nhân lực, xây dựng một đội ngũ lao động, quản lý có năng lực, phẩm chất cần thiết. Về phía doanh nghiệp, cần nỗ lực tập trung vào các lĩnh vực: đầu tư tạo sản phẩm cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ phù hợp từng thị trường mục tiêu, tìm giải pháp mở rộng thị trường, tiết kiệm chi phí, có chính sách thu hút cán bộ quản lý nghiệp vụ giỏi và có chiến lược đào tạo, phát triển nguồn nhân lực kế cận lâu dài.

3.1.2.3. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm

Sản phẩm du lịch có tính chất giới hạn, nhưng nhu cầu của con người nói chung và khách du lịch nói riêng lại luôn thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi điểm du lịch lại có những nguồn tài nguyên du lịch rất khác nhau. Các quốc gia, các địa phương dựa vào lợi thế so sánh đó tạo nên những sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dẫn du khách. Kinh nghiệm ở một số nước sử dụng rất nhiều hình thức phục vụ du khách với các sản phẩm du lịch độc đáo nên đã thu hút số lượng du khách quốc tế ngày một đông. Tại Thái Lan, Singapore hay Malaysia, có các cửa hàng, siêu thị miễn thuế (duty – free), bán từ các sản phẩm thủ công truyền thống cho đến các loại “hàng hiệu” nổi tiếng trên thế giới, các sản phẩm thời trang của các nhà thiết kế tên tuổi vv…, thu hút rất đông lượng khách du lịch kết hợp mua sắm. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Không thể phủ nhận nỗ lực của các cấp quản lý, của người làm du lịch Việt Nam trong việc tìm tòi, đưa vào khai thác những sản phẩm du lịch mới, độc đáo, phong phú, có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách. Tuy nhiên, một thực tế mà nhiều du khách quốc tế phàn nàn là đến Việt Nam nhìn chung sản phẩm du lịch (cụ thể là những thứ du khách có thể xem, có thể mua…) còn nghèo nàn, đơn điệu, ảnh hưởng không nhỏ đến việc du khách không muốn lưu trú dài ngày tại Việt Nam và lưọng du khách quay trở lại Việt Nam từ lần thứ hai trở lên còn thấp.

Đơn cử là du lịch Hà Nội. Trong vòng 5 năm trở lại đây, Hà Nội luôn được tạp chí “Travel and Leisure” của Mỹ bình chọn trong “top 10 thành phố hấp dẫn nhất châu Á”. Tuy nhiên những gì mà nhiều du khách quốc tế được thụ hưởng thực sự tại Hà Nội thì thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng du lịch của thủ đô. Đến du lịch Hà Nội, du khách nước ngoài thường sử dụng sách hướng dẫn du lịch nào? Thông thường, họ chọn các đầu sách “Lonely Planet” hay “Rough Guide”. Trong các tập sách này có đủ thông tin về “giá phòng của từng khách sạn nhỏ ít tên tuổi nằm trong phố cổ cho đến tính cách của ông chủ khách sạn”. Cũng có khách du lịch tìm mua được sách do Việt Nam xuất bản nhưng không sử dụng được vì sách Việt Nam viết về du lịch Việt Nam mà ít những thông tin cần thiết hơn sách của nước ngoài (thực tế đáng buồn về vấn đề cung cấp thông tin du lịch cho du khách không chỉ của riêng Hà Nội, khi mà đến cuối năm 2024 ta mới khai trương “Trung tâm thông tin du lịch dành cho du khách” đầu tiên của Việt Nam tại đường Lê Lợi, quận 1 thành phố Hồ Chí Minh).

Đến Hà Nội, du khách có thể làm gì vào buổi tối? Muốn đến quán cà phê, quán bar hay vũ trường thì rất dễ nhưng muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc Việt Nam (ngoài múa rối nước) thì không phải chuyện đơn giản. Khách muốn nghe ca trù, hát chèo hay quan họ thì cũng có vài câu lạc bộ ca trù, vài nhóm nghệ sỹ nhà hát chèo biểu diễn, tuy nhiên có nơi chỉ hoạt động được một thời gian rồi tạm dừng, có nơi chỉ biểu diễn 1 tuần 1 buổi, mà du khách ở Hà Nội thì thường chỉ nghỉ lại một vài ngày.

Đến Hà Nội để tham gia vào chương trình city tour, ta thấy các công ty du lịch thường có một “điệp khúc” giống nhau: Văn Miếu, lăng Hồ Chủ tịch, Bảo tàng Dân tộc học, đền Quán Thánh, hồ Gươm …, nếu du khách muốn tìm những tour độc đáo hơn thì rất khó. Các tour du lịch chưa khai thác được nhiều tiềm năng của Hà Nội trong khi biết bao nhà sử học, nhà văn hóa học viết hết cuốn sách này đến công trình khác cũng không thể nói hết được vẻ đẹp của Hà Nội. Ví dụ như khi đến Bát Tràng, hướng dẫn viên thường giới thiệu qua loa với du khách về làng gốm này và cuối cùng là cho du khách “tham quan chụp ảnh tự do và mua đồ gốm lưu niệm”. Nên chăng khi đến làng gốm này, người làm du lịch cần giúp du khách hiểu được lịch sử phát triển của gốm, cách phân loại và các vấn đề về kỹ thuật làm gốm sẽ giúp du khách hiểu hơn về Bát Tràng, từ việc hiểu sẽ mua nhiều hơn và trân trọng gốm Bát Tràng hơn. Người thích trải nghiệm thì có thể tham gia từ lúc làm xương gốm, bàn xoay cho đến khi ngồi vẽ, chọn men, sẽ khiến tour du lịch độc đáo và hấp dẫn hơn nhiều.

Sản phẩm du lịch cần được quan tâm đầu tư, đặc biệt là những sản phẩm du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao, điều này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa du lịch và thương mại, du lịch và các ngành nghề sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống. Theo lời ông Vũ Thế Bình – Vụ trưởng Vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch thì: “Sản phẩm  du lịch là quan trọng nhất nhưng để có sản phẩm chất lượng tốt không phải là chuyện dễ vì với mức đầu tư thấp, Việt Nam hiện nay chỉ mới quan tâm khai thác các điểm du lịch có sẵn, “hưởng ngay” chứ chưa chú trọng đầu tư phát triển du lịch bền vững” [12;20] Có những sản phẩm du lịch (cụ thể là đồ lưu niệm) đang được du khách quốc tế ưa thích và lại có giá trị kinh tế cao như mặt hàng tranh đá quý, đồ gỗ mỹ nghệ (khảm trai) vv… Nên chăng ngành du lịch có thể nghiên cứu giảm giá tour vào Việt Nam để thu hút khách quốc tế nhưng bù chi phí từ dịch vụ mua sắm của du khách. Kinh nghiệm này đã được các quốc gia trong khu vực thực hiện rất thành công như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia …. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Cũng có khi sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách lại không nhất thiết phải đầu tư nhiều tiền. Điều quan trọng là người làm du lịch hiểu được: thế mạnh tự nhiên và văn hóa của Việt Nam khác với các quốc gia khác là gì, và khi du khách đến Việt Nam, họ muốn xem gì, thưởng thức gì. Hướng dẫn viên Vũ Minh Thọ  (thuộc công ty Lữ hành Indochina) là hướng dẫn viên Việt Nam duy nhất được một tạp chí lữ hành quốc tế bình chọn là một trong 11 hướng dẫn viên xuất sắc nhất thế giới năm 2024 có lẽ vì hiểu được sâu sắc điều này và ứng dụng tốt trong thực tế. Vũ Minh Thọ đã tổ chức những tour du lịch đưa du khách nước ngoài về nông thôn xem và thử nghiệm cách trồng lúa nước truyền thống của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Du khách được đến làng gốm tự mình làm 1 sản phẩm gốm với bàn xoay, hay về nhà của hướng dẫn viên này để ăn 1 bữa cơm của nông thôn miền Bắc Việt Nam. Họ cũng được học nói tiếng Việt, học hát dân ca, hay trò chuyện với một thương binh – cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ (cha của Thọ) … Tất cả không hề tốn kém nhiều tiền đầu tư mà lại là những sản phẩm du lịch độc đáo, tạo nên những trải nghiệm thú vị đối với du khách.

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của du khách ngày càng phong phú, đa dạng. Do vậy, việc tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo, phong phú để hấp dẫn du khách là một tất yếu nhằm phát triển du lịch ở nhiều quốc gia hiện nay.

3.1.2.4. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch

  • Thống nhất nhận thức về tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng lao động trong kinh doanh du lịch

Thứ nhất, do tính đặc biệt của sản phẩm du lịch, đòi hỏi phải coi trọng và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng lao động trong kinh doanh du lịch. Có thể nói, ngành du lịch là một ngành mang tính phi sản xuất vật chất, nó không mang lại sản phẩm vật chất cụ thể mà thông qua cung cấp dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của du khách. Vì vậy, việc cung cấp dịch vụ chất lượng tốt hay không là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của ngành du lịch. Mà để cung cấp dịch vụ chất lượng tốt hay không lại quyết định bởi số lượng và chất lượng của lao động du lịch. Mặt khác, do đặc tính về sản xuất và tiêu thụ, sản phẩm du lịch có tính chất đồng bộ, tức là quá trình cung cấp dịch vụ diễn ra đồng thời với quá trình khách du lịch tiêu thụ loại dịch vụ đó, dịch vụ du lịch là loại dịch vụ “mặt đối mặt”, điều này càng đặt ra yêu cầu cao hơn đói với chất lượng lao động du lịch. Ngoài ra, do đối tượng phục vụ của lao động du lịch là du khách – đến từ các nước khác nhau, động cơ du lịch, yêu cầu, hứng thú và tập quán của họ rất khác nhau, chỉ trừ một số thao tác cơ bản ra, một phần tương đối các hoạt động dịch vụ phải tùy người, tùy việc, tùy nơi, tùy lúc mà làm, khác với các ngành khác, không có dây chuyền công nghệ cố định để sản xuất hàng loạt sản phẩm cố định. Điều này đòi hỏi lao động trong kinh doanh du lịch phải có khả năng thích ứng tương đối linh hoạt, cũng có nghĩa là phải dựa vào đào tạo, bồi dưỡng mới hình thành được Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Thứ hai, do sự phát triển của ngành du lịch ngành càng tăng, đòi hỏi phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng lao động trong kinh doanh du lịch. Sau chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt là trong những thập kỷ gần đây, du lịch thế giới phát triển rất nhanh, du lịch không còn là đặc quyền của tầng lớp thiểu số giàu có nhàn hạ nữa mà nhiều người hưởng lương đã trở thành chủ thể của du lịch.

Cùng với sự nâng cao mức sống của nhân dân là việc tăng dần thời gian nghỉ phép. Sự phát triển nhanh chóng đó của du lịch cho thấy yêu cầu đối với trình độ lao động du lịch cũng ngày một tăng. Mâu thuẫn giữa số lượng lao động không cung cấp đủ với chất lượng lao động không cao (phần lớn đều vào nghề giữa chừng) ngày càng nổi bật, đòi hỏi phải tăng cường công tác bồi dưỡng lao động cho du lịch hơn.

Thứ ba, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, cao cấp trong ngành du lịch cũng là xu hướng tất yếu của sự phát triển ngành du lịch. Ngành du lịch Việt Nam đang ở giai đoạn đầu phát triển, tương đối lạc hậu cả về thể chế lẫn phương thức quản lý. Vì vậy, muốn đuổi kịp các nước có ngành du lịch phát triển thì phải tìm ra sự đột phá trong việc gia tăng hàm lượng khoa học kỹ thuật của ngành du lịch, phải hiện đại hóa phương pháp và biện pháp quản lý. Các nước phát triển đã sử dụng công nghệ thông tin để quản lý du lịch. Giữa các công ty, tập đoàn du lịch thông qua nối mạng quốc tế để thông tin, trong nội bộ công ty cũng quản lý bằng mạng máy tính với tốc độ nhanh, hiệu suất cao, sai sót ít. Ngoài ra còn có các thiết bị du lịch hiện đại không những tiện cho khách hàng mà còn mở rộng nội dung dịch vụ du lịch. Việc ứng dụng các kỹ thuật mới, cao cấp này đòi hỏi tăng cường đào tạo bồi dưỡng lao động du lịch, đó là điều kiện tất yếu của việc hiện đại hóa du lịch.

Thứ tư, do cuộc cạnh tranh của ngành du lịch hiện nay cũng đề ra yêu cầu cao hơn đối với trình độ của lao động. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại sự cạnh tranh. Hiện nay cuộc cạnh tranh của ngành du lịch quốc tế và trong nước ngày càng quyết liệt, đặc biệt trong bối cảnh nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từng bước hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa. Doanh nghiệp du lịch có thể đứng vững và phát triển trong quá trình cạnh tranh thì vấn đề mấu chốt, có tính quyết định là ở trình độ của mỗi người lao động trong doanh nghiệp. Cuộc cạnh tranh của các ngành nghề hiện nay suy cho cùng đều là cạnh tranh về chất lượng lao động, ai chiếm hữu được nhiều lao động có tay nghề, cao, trình độ quản lý giỏi thì sẽ giành chiến thắng.

  • Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam

Với yêu cầu rất cao về số lượng và chất lượng lao động trong kinh doanh du lịch hiện nay, ngành du lịch cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch để đáp ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài. Đội ngũ lao động này sẽ được tạo ra trên cơ sở: tổ chức đào tạo mới, chính quy, có thể ở trong hoặc ngoài nước. Đây sẽ là lực lượng lao động nòng cốt cho ngành phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó, cần tổ chức đào tạo lại ngày càng tốt hơn đội ngũ cán bộ công nhân viên của ngành. Hình thức đào tạo có thể là tổ chức các lớp đào tạo ngay tại cơ quan, hoặc theo các khóa học tại chức tại các trường đại học có đào tạo về du lịch. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Để đạt được yêu cầu đào tạo đội ngũ du lịch phù hợp mục tiêu phát triển trước mắt và lâu dài, ngành du lịch cần xác định rõ cơ cấu nghề nghiệp trong du lịch, vì theo đánh giá của một số chuyên gia du lịch thì “nghề chính là gốc rễ của ngành và là cái tạo ra, duy trì sự phát triển của ngành”. Nghề thể hiện sự chuyên môn hóa cũng như thể hiện kỹ năng lao động trong hoạt động của con người. Nghiên cứu các nước du lịch phát triển cho thấy, chúng ta có thể phát triển nguồn nhân lực theo mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao như một số các nước EU đã áp dụng (có điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam). Cụ thể trong giai đoạn hiện nay: cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh chiếm 6% lao động toàn ngành, 10% là cán bộ kỹ thuật và giám sát, còn lại 84% là các lao động theo nghề. Đội ngũ nhân lực cần phải được tiêu chuẩn hóa cụ thể theo yêu cầu của các chức năng nghề nghiệp khác nhau:

Đối với cán bộ quản lý và quản trị kinh doanh: Cán bộ quản lý (quản lý điều hành vĩ mô) cần có trình độ đại học và trên đại học. Yêu cầu cụ thể đối với đội ngũ lao động này là nắm vững đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, những kiến thức cơ bản về du lịch, quy hoạch, kế hoạch du lịch, luật pháp trong nước và quốc tế liên quan đến du lịch, những kiến thức quản lý nhà nước nói chung và quản lý du lịch nói riêng, những tác động về mối liên hệ liên ngành của du lịch trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Ngoài những hiểu biết chung về đường lối chính sách phát triển kinh tế du lịch của Đảng và Nhà nước, luật pháp trong kinh doanh, họ còn cần có kiến thức cơ bản về du lịch và quản trị kinh doanh du lịch.

Đối với cán bộ kỹ thuật, điều hành trực tiếp và giám sát: đây là lực lượng đóng vai trò khâu trung gian giữa những người quản trị chung của doanh nghiệp và những người lao động trực tiếp ở các bộ phận. Họ cần có trình độ đại học hoặc cao hơn. Ngoài những kiến thức chung về kinh doanh trong du lịch. Họ cần có kiến thức về quy trình công nghệ, kỹ thuật và tác nghiệp dịch vụ, kỹ năng thực hành,kỹ năng tổ chức điều hành, giám sát và đánh giá các công việc ở các bộ phận cụ thể.

Lao động theo các nghề (thực hành nghề): cần được đào tạo ở các trường nghề (riêng lễ tân, hướng dẫn viên du lịch nên đạt ở trình độ đại học). Lực lượng lao động này phải có kiến thức về nghề nghiệp của mình, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của họ đối với từng nghề, tâm lý khách hàng và nghệ thuật giao tiếp ứng xử.

Việc chuẩn hóa đội ngũ lao động trong ngành không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế. Trong quá trình hội nhập, chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho du lịch Việt Nam cần chú trọng vào các điểm sau: Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Nâng cao hiểu biết của đội ngũ cán bộ nhân viên về ngành nghề của mình, từ đó họ sẽ có ý thức trách nhiệm với nghề và lòng say mê công việc, nhờ đó hiệu quả công việc sẽ tăng lên

Nâng cao trình độ ngoại ngữ và sử dụng công nghệ hiện đại cho đội ngũ lao động trong ngành du lịch. Vì trong xu thế hội nhập quốc tế, đây là những công cụ không thể thiếu cho ngành du lịch phát triển.

Đội ngũ lao động phải được đào tạo theo đúng nghề, đúng công việc. Đặc biệt, đội ngũ thực hành nghề trực tiếp phục vụ khách cần được đào tạo cơ bản về thái độ cũng như phong cách phục vụ trong quá trình phục vụ khách, kỹ thuật phục vụ khách nhằm tạo ra chất lượng phục vụ tốt, tạo sự hài lòng cho khách. Về nội dung đào tạo, cần học hỏi các nước có ngành du lịch phát triển.

Trong xu thế tình hình thế giới có nhiều biến động, đội ngũ lao động trong ngành du lịch cần được giáo dục về đường lối chính sách của Đảng, nắm vững chiến lược phát triển du lịch của ngành, từ đó có những đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của ngành.

Trong xu thế hội nhập quốc tế, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực du lịch phải nhằm vào việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao, quản lý doanh nghiệp quyết đoán trong suy nghĩ và hành động trong khuôn khổ pháp luật cho phép, nhìn nhận đúng các cơ hội kinh doanh, vạch ra chiến lược phù hợp cho du lịch phát triển trong từng thời gian cụ thể. Bên cạnh đó, đào tạo đội ngũ lao động có chuyên môn cao, thành thạo và sử dụng ít nhất 1 ngoại ngữ (khuyến khích có từ 2 ngoại ngữ trở lên), thành thạo trong sử dụng vi tính, nắm rõ các kiến thức có liên quan trong du lịch. Mục tiêu cuối cùng của chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch là tạo ra đội ngũ lao động có trình độ cao nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, tạo sự hài lòng tối đa cho du khách.

Song song với phát triển đội ngũ lao động trong ngành, cần chú trọng giáo dục du lịch toàn dân (xã hội hóa du lịch). Tạo ra môi trường du lịch lành mạnh, dân cư hiếu khách chính là một thuận lợi trong thu hút khách du lịch. Điều này chỉ được tạo ra khi người dân hiểu rõ, ý thức được trách nhiệm của mình, tích cực đóng góp cho việc gìn giữ cảnh quan, môi trường lành mạnh tại các điểm tham quan.

Như vậy, tạo dựng được một đội ngũ nhân viên tươi cười, lịch sự, mau lẹ và chân thành, kết hợp với sự hiếu khách của cả cộng đồng sẽ là lợi thế xóa đi khoảng cách về công nghệ với các nước khác, tạo thuận lợi cho du lịch Việt Nam cạnh tranh và đứng vững trên thị trường thế giới. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

  • Củng cố, mở rộng các trường đại học và đào tạo nghề về du lịch

Một là, Nhà nước cần tiến hành thanh tra, rà soát lại các trường đào tạo về du lịch, khách sạn trong cả nước để chấn chỉnh lại các trường lớp mở ra không đúng quy định, không đảm bảo chất lượng; kiện toàn, củng cố, sắp xếp lại những trường lớp đào tạo, bồi dưỡng về du lịch và khách sạn; thực hiện thanh tra giáo dục để đưa công tác giáo dục và đào tạo vào nề nếp, có chất lượng cao; những trường có đầy đủ các điều kiện mới được cấp giấy phép đào tạo.

Hai là, Nhà nước cần có biện pháp đảm bảo tăng quyền tự chủ cho các trường đại học và dạy nghề du lịch, tăng cường tính tự chịu trách nhiệm. Do nhu cầu đào tạo lớn như hiện nay, các trường không thể đảm nhận hết công tác đào tạo và đào tạo lại, vì thế trước mắt Nhà nước tiếp tục cho phép mở rộng quy mô các cơ sở đào tạo hiện có, mở rộng thêm một số cơ sở mới, đa dạng hóa các loại hình và tiến tới xã hội hóa công tác đào tạo

Về quan điểm, việc đào tạo có thể do các trường công lập và dân lập đảm nhiệm nhưng việc hoạch định kế hoạch đào tạo và kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo phải được quản lý trong một hệ thống tiêu chuẩn thống nhất về chuyên môn chung cho toàn quốc.

Về phân cấp đào tạo, các trường có khoa du lịch hoặc trường dạy nghề thuộc Nhà nước sẽ chủ yếu đào tạo cán bộ quản lý Nhà nước về du lịch hoặc đốc công giám sát ở cơ sở; việc đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ du lịch và các kỹ năng khác do chính các khách sạn, công ty kinh doanh chủ động tổ chức có sự trợ giúp về nghiệp vụ của các trường và các chuyên gia.

Về chương trình và nội dung đào tạo, cần chuẩn hóa nội dung đào tạo và đẩy lên ngang tiêu chuẩn quốc tế để tạo điều kiện cho việc hội nhập khu vực và thế giới được thuận lợi hơn.

Muốn đạt được các nội dung trên, trong quản lý ví mô cần phải có sự phối hợp giữa Bộ Giáo dục – Đào tạo, Tổng cục Du lịch và các cấp bộ ngành liên quan trong việc rà soát, loại bỏ những nội dung chương trình đào tạo chưa thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng đảm bảo kiến thức cơ bản, cập nhật tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, tăng cường năng lực lành nghề, năng lực tự học của người học phù hợp với yêu cầu của sự phát triển của ngành du lịch và hoàn cảnh Việt Nam trong từng giai đoạn, tiến tới hội nhập với chương trình đào tạo của các nước trong khu vực, đồng thời cũng phải tính tới chương trình đào tạo liên thông, cũng như chương trình cho công tác đào tạo lại của các cơ sở đào tạo. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ các trường chủ động, tự đổi mới về quy trình, nội dung và phương pháp tiên tiến trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhưng vẫn đảm bảo tính truyền thống, kế thừa, phát triển trên một nền học vấn rộng. Các trường cũng cần tính toán chương trình đào tạo sao cho phù hợp về thời gian và nhu cầu thực tiễn để có thể làm tốt công tác đào tạo lại, giúp học viên bố trí được công việc ở cơ quan, quyết định tham dự các lớp học và cảm thấy có tác dụng. Nhà nước cũng khuyến khích các trường thu hút các chuyên gia đầu ngành và tranh thủ sự giúp đỡ và hợp tác quốc tế để nghiên cứu, thiết kế, xây dựng khung chương trình đào tạo du lịch, tổ chức biên soạn giáo trình và thống nhất ban hành. Nội dung của giáo trình, tài liệu biên soạn cần đảm bảo nguyên tắc: cơ bản, hiện đại, nghĩa là giáo trình phải trang bị được những kiến thức cơ bản nhất cho người học, đồng thời tiếp cận với xu thế phát triển của du lịch và khoa học du lịch của thế giới và khu vực. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

  • Đa dạng hóa và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực cho đào tạo lao động trong kinh doanh du lịch

Để làm tốt được nội dung này, Nhà nước cần có mô hình phân bổ ngân sách thích hợp, chuyển từ mô hình hành chính sang mô hình phân bổ trọn gói nhằm khuyến khích các trường nâng cao hiệu quả đào tạo như giảm chi phí đơn vị và nâng cao chất lượng cũng như chuyển từ phương thức kiểm soát chi sang phương thức giám sát chi. Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị cho dạy học trên cơ sở những chuẩn quôc gia về trang thiết bị tối thiểu đối với từng ngành nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo, phối hợp với Tổng cục Du lịch và các cơ quan chức năng khác xác định những lĩnh vực cần ưu tiên đào tạo để đầu tư tập trung và sớm hình thành nên những trung tâm đào tạo chất lượng cao. Cùng với việc xây dựng các quy chế sử dụng ngân sách hợp lý và có hiệu quả, phải tăng cường cách thức chia sẻ chi phí đào tạo bằng đóng góp của cộng đồng, các doanh nghiệp – người sử dụng lao động, người học và tăng cường khả năng của các cơ sở cung cấp nghề nghiệp và giáo dục phi công lập. Xây dựng môi trường pháp lý đảm bảo các trường phi công lập có điều kiện nâng cao chất lượng. Nghiên cứu chính sách hỗ trợ một phần kinh phí cho các trường ngoài công lập theo hướng khuyến khích những trường đạt kết quả đào tạo cao như: cho thuê đất xây dựng trường, vay vốn mua thiết bị, cho phép nhân dân đóng góp cổ phần xây dựng trường. Tranh thủ tối đa sự hỗ trợ tài chính, kỹ thuật của các nước phát triển để phục vụ các chương trình đào tạo chất lượng cao và khuyến khích các trường tham gia vào các dự án hợp tác nước ngoài. Dành vốn vay của Nhà nước để cử người giỏi đi học ở những nước có trình độ công nghệ du lịch – khách sạn tiên tiến để làm nòng cốt cho sự nghiệp phát triển du lịch lâu dài của đất nước.

Việc hỗ trợ tài chính cho học sinh, sinh viên có thể chuyển từ phương thức cấp học bổng sang phát triển các chương trình cho vay. Xây dựng chương trình học bổng riêng bao gồm 2 loại học bổng chính là học bổng khuyến khích và học bổng chính sách. Xây dựng quỹ học bổng gồm các khoản kinh phí từ ngân sách Nhà nước, đóng góp của các doanh nghiệp, cá nhân. Xem xét và quy định các mức học phí thích hợp trong các trường công lập, một mặt đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho sinh viên, mặt khác giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước mà vẫn khuyến khích được sinh viên học tập.

Vì vai trò của du lịch là rất lớn và có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều mặt của đời sống xã hội, các địa phương cần dành nguồn kinh phí cũng như quỹ đất thuận lợi cho việc xây dựng trường dạy nghề du lịch giống như việc các địa phương dành đất cho xây dựng khách sạn, các công ty liên doanh với nước ngoài, có như vậy mới có điều kiện thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước cho xây dựng trường. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước như quy định học phí, đóng góp trực tiếp của các doanh nghiệp sử dụng nhân lực được đào tạo. Các doanh nghiệp có sử dụng lao động phải tự tổ chức đào tạo, nếu không tổ chức đào tạo phải đóng thuế đào tạo để Nhà nước tổ chức đào tạo. e. Cơ chế đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ giảng dạy

Trong nền kinh tế tri thức, nhân tố con người đóng vai trò quyết định. Du lịch và khách sạn được coi là ngành dịch vụ, dịch vụ đó là sự trợ giúp của con người. Người làm dịch vụ cần phải có kỹ năng nghề nghiệp nhất định. Kỹ năng này được thu nhận từ thực tế, sách vở, nhưng một yếu tố không thể thiếu được đó là người giáo viên. Vấn đề giáo viên trong các trường đào tạo du lịch là một trong những nội dung cần quan tâm của công tác quản lý.

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, thông thường các trường đào tạo về du lịch tuyển chọn giáo viên giảng dạy lý thuyết và thực hành phải đảm bảo những yêu cầu tối thiểu: được học có hệ thống, có ngoại ngữ và có năng khiếu sư phạm.

Sau khi được tuyển dụng về giảng dạy được bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ sư phạm và phải thường xuyên tiếp cận với thực tế ngành nghề để xây dựng chương trình bài giảng. Thực tế, những yêu cầu này vẫn còn khó khăn đối với các trường, bởi những người giỏi về thực tế thì thiếu kinh nghiệm sư phạm và họ không muốn làm giáo viên vì thu nhập chưa cao. Ngược lại, các giáo viên trong các trường có nghiệp vụ sư phạm nhưng kinh nghiệm nghề nghiệp chưa có. Nguyên nhân là không có kinh phí để cho giáo viên tiếp cận với các cơ sở trong và ngoài nước nhằm quan sát, đúc rút, khiến bài giảng sinh động, sát hợp với thực tế. Nhiều giáo viên mong ước được đi một chuyên du lịch ra nước ngoài hay nghỉ tại một khách sạn bốn – năm sao nhưng chưa bao giờ thực hiện được, trong khi đó vẫn dạy sinh viên, học sinh về cách thức tổ chức tour du lịch quốc tế cũng như cung cách phục vụ tại khách sạn cao sao. Đây là vấn đề cần được Nhà nước, ngành du lịch Việt Nam cũng như các cơ sở kinh doanh du lịch quan tâm tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên giảng dạy về du lịch được tiếp cận với thực tiễn sinh động của ngành, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Vấn đề ở chỗ, đối với đội ngũ giáo viên giảng dạy về du lịch cần có những chính sách thỏa đáng về:

Chế độ công tác: Để đảm bảo cho giáo viên vừa giỏi lý thuyết lẫn thực hành, việc quy định chế độ công tác cho họ phải cụ thể hóa theo yêu cầu: số giờ giảng dạy, số giờ nghiên cứu khoa học, số giờ tự bồi dưỡng nâng cao, đặc biệt phải có thêm số giờ làm việc tại các doanh nghiệp để đi tìm hiểu thực tế tại các cơ sở, nhằm nâng cao kiến thức thực tế.

Chế độ đãi ngộ: căn cứ vào quy định của Nhà nước, nếu người giáo viên thực hiện đầy đủ các trách nhiệm sẽ được hưởng chế độ đãi ngộ theo quy định. Mặt khác, đối với giáo viên giảng dạy về du lịch cần có quy định chế độ đi cơ sở, chế độ đãi ngộ khi đi thực tế, làm việc tại các cơ sở kinh doanh nhằm khuyến khích họ áp dụng những lý luận của nhà trường vào thực tiễn và thu nhận những kiến thức từ thực tiễn vào giảng dạy. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Chế độ đi tham quan, thực tế: Thực tiễn ngành du lịch rất đa dạng, phong phú và luôn luôn đổi mới. Vì vậy, việc cho giáo viên đi tham quan, tìm hiểu cả trong và ngoài nước là vô cùng cần thiết. Việc làm này đối với từng trường là rất khó khăn. Nên chăng Tổng cục Du lịch và các cơ sở cần tạo điều kiện cho giáo viên các trường tham gia vào các đoàn khảo sát tham quan thực tế của ngành ở trong nước và nước ngoài để cho họ có những kiến thức mới, đưa vào giảng dạy cho học sinh sinh viên, phục vụ cho sự phát triển các loại hình kinh doanh mới, đào tạo mới. Các cơ sở kinh doanh trong ngành tạo điều kiện cho các giáo viên của các trường đến làm việc, thực tế tại cá cơ sở, Đặc biệt, khi các cơ sở chuẩn bị đưa ra loại hình kinh doanh mới nên mời giáo viên của các trường tham gia từ ban đầu để họ có những kiến thức nhất định đào tạo cho nguồn nhân lực phục vụ loại hình kinh doanh đó, đồng thời cũng góp ý và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Xây dựng chính sách gắn đào tạo với sử dụng

Đào tạo bồi dưỡng phải đi đôi với sử dụng và qua thực tế sử dụng lại tiếp tục đào tạo bồi dưỡng, đào tạo để luôn có được đội ngũ lao động đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới, mỗi ngày đòi hỏi một cao hơn. Nhưng trong thực tế, thời gian qua nhiều sinh viên chính quy về ngành du lịch sau nhiều năm học tập, nghiên cứu, thực tập, thi, làm luận văn, học ngoại ngữ vv… rất tốn kém và vất vả xong cũng không tìm được việc làm trong ngành du lịch mà phải tìm những việc không đúng với công đầu tư của mình. Nếu coi mỗi sinh viên du lịch tốt nghiệp ra trường là một sản phẩm của các cơ sở đào tạo du lịch (đầu ra) thì chính các sản phẩm đó lại là nguồn lực cho ngành du lịch và là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của các doanh nghiệp du lịch. Như vậy, xét trên góc độ này thì các doanh nghiệp du lịch chính là thị trường đầu ra của các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực. Sản phẩm của các cơ sở đào tạo phải có chất lượng đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp mới được các doanh nghiệp chấp nhận. Chất lượng sản phẩm của các cơ sở đào tạo đại học ở đây không gì khác là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng tiếp cận với thực tế của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, mối liên hệ này đã có từ lâu nhưng hiệu quả chưa thực sự phát huy do:

Một là, phía các cơ sở đào tạo chưa có sự liên kết chặt chẽ với các cơ sở thực tập trong việc xây dựng kế hoạch hướng dẫn và chỉ đạo thực tập, bản thân giáo viên được phân công hướng dẫn cũng ít có sự tiếp xúc trao đổi với các cơ sở thực tập để phối hợp chỉ đạo và hướng dẫn.

Hai là, phía các doanh nghiệp: nhiều doanh nghiệp ngại, thậm chí từ chối tiếp nhận sinh viên đến thực tập tại các cơ sở của mình.

Do vậy, để nâng cao chất lượng sản phẩm của các cơ sở đào tạo, một mặt phải có một chương trình đào tạo cơ bản hoàn thiện, cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đào tạo phải phù hợp, mặt khác phải gắn với nhu cầu thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp). Muốn vậy, Nhà nước cần có những hỗ trợ phù hợp để giúp tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo. Cụ thể là: Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Nhà nước cần có những quy định cụ thể: chỉ có những người có bằng hoặc chứng chỉ qua đào tạo nghề nghiệp mới được hành nghề.

Nhà nước cần quy định cụ thể về việc đền bù chi phí đào tạo, khi người được đào tạo không thực hiện các cam kết về trách nhiệm và nghĩa vụ sau khi tốt nghiệp.

Nhà nước cần có những chương trình, định hướng thông tin phù hợp về nguyên lý “đào tạo gắn với kinh doanh” để nguyên lý này trở thành sự thống nhất về nhận thức của các trường, doanh nghiệp du lịch và người học. Thông qua các hướng:

Thứ nhất, tạo điều kiện và hỗ trợ giúp cho việc tăng cường đối thoại trực tiếp giữa các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo thông qua các buổi tọa đàm, giao lưu thường xuyên giữa những nhà quản lý doanh nghiệp với các nhà quản lý đào tạo, giảng dạy và các sinh viên chuyên ngành. Khi đó:

Về phía các doanh nghiệp cần cung cấp cho cơ sở đào tạo những thông tin về tình hình các doanh nghiệp, nhu cầu và yêu cầu về nguồn nhân lực của doanh nghiệp, của ngành làm cơ sở cho việc đào tạo của các cơ sở đào tạo. Đây là nhân tố đảm bảo sự phù hợp giữa cơ sở đào tạo. Đây là nhân tố đảm bảo sự phù hợp giữa cơ sở đào tạo với yêu cầu của thị trường cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Tránh tình trạng đào tạo tràn lan dẫn đến vừa thiếu lại vừa thừa. Thừa vì quy mô đào tạo quá lớn vượt quá nhu cầu của thị trường, thiếu vì chất lượng đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Ngoài ra, đây cũng là hoạt động nhằm định hướng nghiên cứu và tiếp cận thực tiễn cho sinh viên chuyên ngành. Các doanh nghiệp có thể tham gia vào chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo với hai hình thức: Bên cạnh việc xây dựng chương trình đào tạo cơ bản theo yêu cầu chung (phần cứng), các cơ sở đào tạo cần dành một phần mềm cho việc điều chỉnh theo yêu cầu của chuyên ngành và của thị trường. Điều này hầu như chưa được các cơ sở đào tạo thực hiện. Trên thực tế, các cơ sở đào tạo là các khoa chuyên ngành và chương trình đào tạo còn nằm trong khung chương trình chung của nhà trường nên còn thiếu phù hợp với yêu cầu của ngành.

Về phía các cơ sở đào tạo nên mời thêm các nhà quản lý doanh nghiệp và các nghệ nhân tham gia trực tiếp vào quá trình giảng dạy phần thực hành hoặc thảo luận các vấn đề thực tiễn với tư cách là người kiêm giảng. Đối với ngành du lịch

Việt Nam, điều này thực sự cần thiết vì có nhiều nội dung học nếu thực hiện học “chay” trên lớp, học viên sẽ khó có thể hình dung được nhưng lại dễ dàng nắm bắt trong môi trường thực tế.

Thứ hai, hỗ trợ các cơ sở đào tạo trong việc phối hợp chỉ đạo và hướng dẫn thực tập tốt nghiệp. Đây là mối quan hệ không thể thiếu bởi lẽ đây chính là khoảng thời gian quan trọng để sinh viên vận dụng lý thuyết với thực tế. Nói cách khác, đây chính là thời gian dành cho việc huấn luyện. Để đảm bảo sự kết hợp hài hòa có hiệu quả và đạt chất lượng, đòi hỏi các bên cần làm tốt các nội dung sau: Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Phía các cơ sở đào tạo cần xây dựng kế hoạch học tập chi tiết về nội dung, yêu cầu, tiến độ để các cơ sở nơi tiếp nhận học viên thực tập nắm được và có kế hoạch phối hợp. Đồng thời, các giáo viên hướng dẫn cần phải có sự liên hệ chặt chẽ với các cơ sở để cùng phối hợp thực hiện và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế khi cần thiết.

Phía các doanh nghiệp triển khai kế hoạch của các cơ sở đào tạo thành kế hoạch cụ thể để phối hợp thực hiện (xây dựng lịch làm việc với các bộ phận, cử người hướng dẫn…). Điều này vừa đảm bảo không ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, vừa đảm bảo thực hiện nghiêm túc nội dung, yêu cầu thực tập. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo lao động trong kinh doanh du lịch.

Trong điều kiện nền kinh tế mở và xu hướng hợp tác quốc tế về du lịch ngày càng sâu sắc, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng lao động cho kinh doanh du lịch là không thể thiếu. Hội nhập tạo ra cơ hội, nhưng cũng phát sinh thách thức và cạnh tranh. Muốn đứng vững, chủ động hội nhập thì không còn cách nào khác, phải chuẩn bị đồng bộ, khẩn trương về mọi mặt. Cần tập trung vào một số định hướng chính sau:

Đẩy mạnh việc đưa giáo viên, cán bộ giảng dạy đi đào tạo, tham quan, khảo sát ở nước ngoài, nhất là các nước có công nghệ du lịch khách sạn tiên tiến để đào tạo ra đội ngũ giáo viên có trình độ cao, bắt kịp với trình độ khoa học – công nghệ du lịch khách sạn tiên tiến trên thế giới.

Mời các chuyên gia, các giáo sư nước ngoài vào giảng dạy tại Việt Nam (nhất là đối với các nước có du lịch phát triển) để tiếp thu kiến thức mới và tranh thủ sự giúp đỡ về kinh phí, trang thiết bị dạy học.

Có chính sách thu hút các nhà khoa học du lịch là Việt kiều đang công tác giảng dạy tại nước ngoài về công tác giảng dạy tại Việt Nam

Mở rộng việc đào tạo ngoại ngữ, tin học chuyên ngành du lịch để bổ sung nâng cao nghiệp vụ, có điều kiện giao lưu tiếp xúc với tài liệu, phương tiện kỹ thuật của nước ngoài.

Hợp tác với các chuyên gia du lịch, các cơ sở đào tạo của nước ngoài trong việc xây dựng chương trình, giáo trình, nội dung, phương pháp giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Việt Nam với điều kiện thực tế của Việt Nam.

  • Tăng cường giáo dục du lịch toàn dân Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Bản chất của hoạt động du lịch là giao lưu, tiếp xúc giữa các cá thể, giữa các cộng đồng có thế giới quan không phải luôn luôn đồng nhất. Quá trình giao tiếp này cũng là môi trường để các ảnh hưởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách nhanh chóng. Nạn nghiện hút, mại dâm, trộm cướp… không phải do du lịch đẻ ra. Trước khi du lịch phát triển, chúng đã tồn tại ở các mức độ khác nhau. Nhưng không ai phủ nhận rằng hoạt động du lịch làm cho các tệ nạn này (đặc biệt là mại dâm) gia tăng đáng kể.

Ngày nay,  không ít những khách du lịch có nhu cầu tìm “của lạ” ở nơi đến du lịch, có “cầu” tất có “cung”, nhiều kẻ cò mồi muốn làm giàu trên thân xác phụ nữ. Do đó, du lịch được coi là môi trường tốt để kẻ ham hưởng lạc và kẻ trục lợi gặp nhau. (Năm 2024, một loạt các khách sạn lớn trên địa bàn Hà Nội dính líu vào đường dây tổ chức hoạt động mại dâm cho người nước ngoài và đã bị khởi tố).

Đồng thời, cũng với cách nhìn nhận về đạo đức khác nhau, vẫn còn có một số người có suy nghĩ tiêu cực, lệch lạc, nhiều công nhân viên chức đã phải bỏ việc chỉ vì những dị nghị của xã hội hay sức ép của gia đình, nhất là đối với lao động nữ khi phải đi làm ca đêm về muộn. Xuất phát từ những vấn đề này, ngành du lịch Việt Nam cần nâng cao công tác tuyên truyền hiểu biết của người dân về du lịch nhằm tránh những ý nghĩ không hay về những người làm việc trong ngành du lịch. i. Tăng cường kiểm tra và đánh giá công tác đào tạo.

Tăng cường công tác kiểm tra và đánh giá công tác đào tạo phải được làm định kỳ. Kiểm tra giám sát là một trong những chức năng của quản lý. Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Du lịch và các cấp, ngành chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực từ việc tuyển sinh, chương trình, giáo trình, giáo viên, kiểm tra, thi, cấp văn bằng, chứng chỉ cho đến việc tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ trong ngành du lịch sao cho phát huy tính tích cực của mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng. Bởi vì, chất lượng đào tạo, hiệu quả lao động và ngược lại sử dụng lao động tối ưu sẽ là đòn bẩy thúc đẩy việc dạy và học ở nhà trường theo tiếng gọi của thực tế doanh nghiệp. Trên cơ sở kiểm tra đánh giá thường xuyên, tìm ra những biện pháp kịp thời nhằm không ngừng đảm bảo và nâng cao chất lượng của tất cả các khâu trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực du lịch.

3.1.2.5. Liên kết ngành

 Du lịch là một ngành thứ nguyên, sự phát triển của du lịch phải dựa trên cơ sở sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Vì vậy, một trong những yêu cầu không thể thiếu để du lịch có thể phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao là cần có sự liên kết, phối hợp đồng bộ giữa du lịch với các ngành, các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Nhận thức sâu sắc điều này, từ 13/2/2017, Chính phủ đã ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch do một Phó Thủ tướng làm Trưởng ban chỉ đạo, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch làm Phó ban. Trong đó có sự tham gia của đại diện lãnh đạo các Bộ, Ngành liên quan như: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa – Thông tin, Cục Hàng không dân dụng, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính và Văn phòng Chính phủ. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

  • Du lịch với văn hóa

Đối với bất cứ một quốc gia nào cũng vậy, việc phát triển du lịch đều dựa trên tiềm năng về tự nhiên, kinh tế – xã hội. Trên cơ sở các tiềm năng đó, ngành du lịch tạo ra diện mạo riêng và thế mạnh nhất định để thu hút du khách. Nhiều nước có thế mạnh về văn hóa truyền thống đặc biệt coi trọng phát triển loại hình du lịch văn hóa. Thông thường, các biểu tượng văn hóa cũng trở thành hình ảnh du lịch hấp dẫn của các quốc gia này. Ví dụ như Ai Cập với những Kim tự tháp – một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại – thách thức gió cát sa mạc, hay Trung Quốc với dãy Vạn Lý Trường Thành sững sững… Ở nước ta, cùng với thế mạnh là thiên nhiên cận nhiệt đới gió mùa, với đường bờ biển trải dài từ bắc chí nam, nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc riêng. Di sản văn hóa của dân tộc ta có ở mọi miền đất nước, hiện nay Việt Nam đã có 5 di sản văn hóa thế giới (cả hữu thể và phi vật thể) được UNESCO công nhận. Tuy nhiên nhiều năm trước đây, ta chưa có định hướng đúng, chính xác để phát triển du lịch, tiềm năng văn hóa chưa được đầu tư khai thác đúng mức nên nhiều di sản văn hóa – lịch sử bị xâm phạm  và xuống cấp nghiêm trọng.

Ngày nay, định hướng phát triển du lịch Việt Nam đã được thể hiện trên những nghị quyết của Đảng và Nhà nước: phát triển du lịch gắn liền với việc giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa Việt Nam, đồng thời khai thác các di sản văn hóa nghệ thuật có giá trị, giàu bẳn sắc văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử, công trình văn hóa nổi tiếng. Mặt khác, ngành du lịch phát triển sẽ tạo điều kiện cho nền văn hóa nước ta được giới thiệu với bạn bè thế giới. Đồng thời, nguồn thu từ du lịch góp phần duy trì, phục hồi và phát triển nhiều loại hình văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.

  • Du lịch với giao thông vận tải

Du khách quốc tế ngày nay nhờ cậy chủ yếu vào các hãng hàng không quốc gia và quốc tế để thực hiện các chuyến thăm viếng, du lịch tới nhiều miền đất xa xôi một cách thuận tiện. Do vậy, lẽ đương nhiên sự tăng tốc của hàng không và du lịch phụ thuộc vào nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển. Không ngoài xu hướng đó, sự phát triển của du lịch Việt Nam tỷ lệ thuận với sự phát triển của giao thông vận tải, đặc biệt là hàng không. Kết quả của sự phối hợp đó không chỉ ở mặt lợi nhuận mà quan trọng hơn là tác động lẫn nhau, hai ngành được nâng lên cả về trình độ và chất lượng. Hiện nay, do nhu cầu đi lại nói chung và du lịch nói riêng không ngừng tăng lên, Việt Nam cần có nhiều giá vé với các mức tiền khác nhau để đáp ứng nhu cầu của nhiều tập khách khác nhau, tăng số lượng các hãng hàng không giá rẻ. Thực tế, vào những mùa cao điểm, không đủ chuyến bay để phục vụ hành khách, nhiều khi hành khách phải chờ đợi nhiều tiếng đồng hồ, chưa có nhiều chuyến bay thẳng đến các thành phố lớn trong khu vực và trên thế giới (Đơn cử với nước láng giềng Trung Quốc, chúng ta chưa có đường bay thẳng tới các sân bay nội địa lớn của Trung Quốc như Thượng Hải hay Quảng Châu). Thực trạng này ảnh hưởng xấu đến chất lượng của tour du lịch.

Đối với đường bộ, trong những năm gần đây nước ta đã thực hiện dự án cải tạo quốc lộ 1, nâng cấp quốc lộ 5, quốc lộ 18, xây dựng hầm đèo Hải Vân, đường Hồ Chí Minh qua các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên vv…, các tuyến đường nội tỉnh, đường nối huyện nối xã cũng được tu bổ dần. Trong việc khảo sát xây dựng giao thông nói chung và xây dựng đường bộ nói riêng đã tính đến các vùng, điểm du lịch, tạo ra một mạng lưới đường bộ thuận tiện cho phát triển du lịch của nước ta.

Cùng với đó, tuyến đường sắt Việt – Trung cũng đã được khôi phục, mở ra tiềm năng phát triển du lịch đường sắt giữa Việt Nam, Trung Quốc và các nước lân cận. Nếu cải tạo lại đường sắt Bắc Nam, hiện đại hóa ngành đường sắt thì du lịch đường sắt sẽ chắc chắn thu hút được ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước.

Nhiều cảng biển nước sâu được xây dựng, mở rộng và khai thác có hiệu quả (cảng Cái Lân, Đà Nẵng…) góp phần không nhỏ thu hút lượng khách du lịch tàu biển đến Việt Nam trong thời gian qua.

  • Du lịch với thông tin liên lạc Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Tốc độ phát triển của ngành thông tin liên lạc – bưu chính viễn thông ở nước ta vào loại nhanh nhất trong khu vực và ở mức cao trên thế giới, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy du lịch phát triển. Riêng đối với du lịch, du khách nước ngoài có nhu cầu sử dụng thông tin liên lạc về nước, với gia đình và bạn bè cơ quan. Đối với doanh nghiệp du lịch, thông tin liên lạc đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành, tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy tốc độ tăng trưởng của ngành cao nhưng trên nền một xuất phát điểm thấp, thêm vào đó là tình trạng độc quyền hoặc “đặc quyền đặc lợi” của một số tập đoàn, doanh nghiệp khiến chất lượng dịch vụ bưu chính viễn thông ở nước ta còn thấp nhưng lại có giá thành tương đối cao so với khu vực và thế giới. Đơn cử là giá cước điện thoại của Việt Nam còn cao, nhiều mạng lưới điện thoại di động thường xuyên tắc nghẽn trong dịp cao điểm mà khách hàng không hề được bồi thường thiệt hại. Mạng Internet tuy đã triển khai đường truyền ADSL nhưng nhiều khi vẫn trục trặc, tốc độ chậm vv… Hiện trạng nói trên ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh du lịch.

  • Du lịch với hải quan

Một yếu tố quan trọng là môi trường pháp lý cho du khách phải thuận tiện, việc làm thủ tục hải quan xuất nhập cảnh, đi lại, tiếp xúc phải thoải mái, không gò bó phiền hà…đối với du khách mà vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý an ninh trật tự. Phải thừa nhận rằng hải quan Việt Nam trong mấy năm qua đã có nhiều đổi mới trong quy trình thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đối ngoại, đầu tư và du lịch. Việt Nam hiện có quy chế miễn thị thực cho công dân các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc cùng một số nước Bắc Âu. Việc cấp thị thực cho du khách được đa dạng hóa như cấp trực tiếp tại đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài, tại cửa khẩu quốc tế cho khách vào không quá 15 ngày. Đây là một trong những yếu tố góp phần quan trọng cho quá trình tăng trưởng du khách đến nước ta trong thời gian qua. Đặc biệt, việc triển khai từng bước “hải quan điện tử” đã và đang góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, tạo sự nhanh chóng và thuận tiện và thoải mái hơn cho du khách. Tuy nhiên, nhiều du khách, nhiều doanh nghiệp vẫn còn phàn nàn về tình trạng cửa quyền, quan liêu, nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ hải quan. Tại một cửa khẩu sân bay quốc tế, có du khách cho biết, chuyện phải kẹp tờ 5 USD – 10 USD vào visa, hộ chiếu thì sẽ được làm thủ tục xuất nhập cảnh nhanh là có thật. Nếu ai không biết “quy tắc” này thì sẽ phải chờ đợi lâu hơn, hành lý bị khám xét kỹ hơn. Điều này ảnh hưởng rất xấu đến hình ảnh của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế, và ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp đến hoạt động đón khách quốc tế của ngành du lịch.

  • Du lịch với ngoại giao

Ngành du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói”, là ngành xuất khẩu tại chỗ. Người làm du lịch được ví như đại sứ thiện chí trên chính quê hương mình. Hiện nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia, mở rộng quan hệ ngoại thương với hơn 100 nước. Việt Nam cũng là thành viên của nhiều diễn đàn, tổ chức quốc tế quan trọng như Liên Hợp Quốc, ASEAN, ASEM… Đặc biệt, chúng ta đã gia nhập WTO – Tổ chức Thương mại Thế giới, hưởng Quy chế Quan hệ Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Mỹ… Tất cả các thành tựu nói trên có ý nghĩa rất tích cực trong việc thúc đẩy sự giao lưu, hợp tác của nước ta với khu vực và thế giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó có du lịch.

3.2. Một số đề xuất và kiến nghị Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

  • Đối với Nhà nước

Hiện nay có hai khái niệm khác nhau là đóng góp của ngành du lịch và đóng góp của kinh tế du lịch cho GDP cả nước. Kinh nghiệm của các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực và trên thế giới cho thấy, tỷ số giữa đóng góp của ngành du lịch và đóng góp của kinh tế du lịch càng nhỏ (tức là doanh thu của du lịch thấp trong khi đóng góp của kinh tế du lịch cao) thì càng có nhiều cơ hội thu hút khách quốc tế, xuất khẩu tại chỗ, thu ngoại tệ và có lợi hơn cho nền kinh tế. Nên chăng, Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch cần nghiên cứu và trình Chính phủ để có cơ chế phân chia trách nhiệm, xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước nhưng không thể đặt yêu cầu ngành du lịch phải có doanh thu cao (mức thuế đối với du lịch hiện nay cũng chưa thật hợp lý). Hiệu quả của ngành du lịch không nên chỉ xem xét ở khoản đóng góp của doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, mà quan trọng hơn là tính bằng tổng lượng khách, số ngày lưu trú trung bình, số lần quay trở lại và chi tiêu trung bình của 1 lượt khách. Ngành du lịch cần được xem là đòn bẩy giúp các ngành khác phát triển và cần nhận được sự quan tâm, hỗ trợ thích đáng.

  • Đối với Tổng cục Du lịch

Bên cạnh việc nghiên cứu thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của du lịch, Tổng cục Du lịch cần nghiên cứu phối hợp với ngành Thương mại để xây dựng và phát triển các trung tâm sản xuất, bán sản phẩm dành cho du khách. Các trung tâm này ưu tiên phát triển các sản phẩm trưng của vùng miền, đất nước nhưng cần có giá trị kinh tế cao (ví dụ tranh treo tường, đồ trang trí bằng đá quý, đồ gỗ mỹ nghệ, khảm trai, gốm sứ, vải và sản phẩm thời trang thổ cẩm, trang sức, tranh thêu … ). Các sản phẩm này cần phải mang tính đặc sắc, đặc trưng cho vùng, miền, đất nước để mỗi trung tâm này cũng đồng thời là điểm tham quan hấp dẫn dành cho du khách. Đến đây, du khách được ngắm, được mua, được tìm hiểu và tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm. Nhưng đồng thời, nên ưu tiên những sản phẩm có giá trị kinh tế cao để lợi nhuận từ việc bán các sản phẩm này có thể bù đắp chi phí cho tour du lịch giá rẻ.

Bên cạnh đó, ngành du lịch cần trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tố con người, nâng cao hiểu biết và ý thức của người làm du lịch, nâng cao thái độ phục vụ văn hóa. Khi có sản phẩm hấp dẫn, thái độ phục vụ nhiệt tình niềm nở thì chắc chắn du khách sẵn sàng tự nguyện tiêu đến đồng tiền cuối cùng mà vẫn hài lòng.

  • Đối với các ban ngành liên quan Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Các ngành khác (đặc biệt là Thương mại) cần hỗ trợ cho du lịch để du lịch Việt Nam có thể giảm giá tour, thu hút khách quốc tế. Ngược lại, trách nhiệm của ngành du lịch là phải hướng du khách mua các sản phẩm thương mại trong nước.  Hiện nay, vai trò của du lịch đối với nền kinh tế nói chung và các ngành liên quan dường như chưa được nhận thức đầy đủ. Qua nghiên cứu cho thấy, từ trước đến nay, một phần không nhỏ GDP của du lịch nằm trong phần đóng góp GDP của các ngành khác. Nên chăng, trong kết quả thống kê, vẫn giữ nguyên tỷ trọng đóng góp GDP của du lịch hiện nay trong cơ cấu chung với các ngành kinh tế khác nhưng cũng đồng thời tính toán riêng GDP của kinh tế du lịch để có thể thấy được vai trò thật sự của du lịch đối với nền kinh tế đất nước.

Tiểu kết chương 3

Để nâng cao hiệu quả kinh tế của du lịch, cần phối hợp đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết, công tác thống kê cần được điều chỉnh cả về nội dung, phương pháp và tổ chức hoạt động nhằm thống kê một cách chính xác và đầy đủ hơn, trên cơ sở đó có thể xác định đúng đắn hiệu quả kinh tế của du lịch. Ngành du lịch cũng cần nâng cao hiệu quả hoạt động trên mọi lĩnh vực: về quản lý Nhà nước, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch, thực hiện tốt vai trò liên kết ngành. Du lịch là ngành mang tính xã hội hóa cao. Hiệu quả hoạt động của du lịch  không thể chỉ do bản thân ngành du lịch và những người làm du lịch quyết định. Du lịch cần nhận được sự đánh giá đúng đắn về vai trò của ngành đối với nền kinh tế, đồng thời, cần được Nhà nước cũng như các ban ngành liên quan hỗ trợ, tạo điều kiện vì mục tiêu phát triển chung.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò và tiềm năng to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Du lịch góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của nhiều tỉnh thành, vùng miền, giúp nâng cao đời sống tinh thần cho người dân và giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, đồng thời gìn giữ, phát huy kế thừa những giá trị văn hóa dân tộc.

Kinh doanh du lịch là một hoạt động tổng hợp, có hiệu quả cả về kinh tế và xã hội. Trên góc độ kinh tế đối ngoại, đây là ngành thực hiện xuất khẩu tại chỗ, tạo nguồn thu ngoại tệ lớn, đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập quốc dân, kích thích các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của du lịch là vấn đề hết sức cần thiết. Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của du lịch góp phần hoàn chỉnh, bổ sung chiến lược, định hướng phát triển du lịch trong thời gian tới. Tuy nhiên, với những quan điểm và chỉ tiêu thống kê hiện nay, hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam chưa được nhìn nhận và đánh giá đầy đủ.

Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) là một cách tiếp cận khoa học cho phép đánh giá toàn diện hơn về vai trò cũng như tác động của du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Với mục tiêu góp phần nghiên cứu hệ thống lý thuyết về tiếp cận tài khoản vệ tinh du lịch và ứng dụng ở Việt Nam, trên cơ sở đó, ứng dụng quan điểm này để xác định hiệu quả kinh tế của ngành du lịch, luận văn đã tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, luận văn đã trình bày lý luận về hiệu quả kinh tế của du lịch xuất phát từ lý luận về hiệu quả kinh tế nói chung. Luận văn cũng nêu các phương pháp thống kê truyền thống nhằm xác định hiệu quả kinh tế của ngành du lịch được áp dụng trên thế giới và tại Việt Nam. Đặc biệt, những nhược điểm của phương pháp thống kê hiện nay tại Việt Nam có thể được khắc phục bằng một quan điểm tiếp cận mới đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Đó là tài khoản vệ tinh du lịch (TSA)  mà cụ thể là mô hình khảo sát du khách .

Thứ hai, áp dụng cơ sở lý luận được trình bày ở chương 1, trong chương 2, luận văn sử dụng số liệu điều tra chi tiêu của du khách năm 2023 của Tổng cục Thống kê để phân tích và tính toán, từ đó có được kết quả về tiêu dùng của du khách năm 2023 (đối với cả du khách quốc tế và nội địa), trên cơ sở đó, tác giả ước lượng hiệu quả của du lịch Việt Nam năm 2023, đồng thời đánh giá những thành tựu và hạn chế về ảnh hưởng ngoại biên của du lịch.

Thứ ba, trên cơ sở những hạn chế đã được đánh giá ở chương 2, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thống kê, cũng như hiệu quả kinh tế của du lịch.

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả gặp khó khăn lớn nhất là về nguồn số liệu thống kê vì nhiều nội dung thống kê chưa có hoặc chưa đầy đủ, do vậy kết quả tính toán của luận văn chỉ là ước tính. Tuy nhiên, đóng góp mới của luận văn là áp dụng TSA để tính toán được tiêu dùng của du khách cũng như bước đầu ước lượng hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam trong năm 2023.

Để du lịch Việt Nam có hiệu quả kinh tế cao, và hiệu quả này được tính toán, đánh giá, nhìn nhận đầy đủ, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức quản lý và kinh doanh du lịch, các ban ngành liên quan từ trung ương đến địa phương. Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Xác định hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Giải pháp Ứng dụng TSA để xác định kinh tế du lịch […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993