Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, GD&ĐT có vai trò quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, trong sự cạnh tranh và hội nhập, vai trò của GD&ĐT trở thành nhân tố tạo nên lợi thế cạnh tranh. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển GD&ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”.
GDĐH là một trong những nhánh quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam. Hoạt động đào tạo của một trường đại học được ví như “xương sống” của Cơ sở giáo dục đó. Để hoạt động đào tạo được vận hành tốt, hệ thống Đảm bảo chất lượng có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá công tác vận hành, duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo. Xây dựng một hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại cơ sở giáo dục có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc duy trì các chuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lượng Giáo dục đại học.
Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những trường đào tạo nhân lực chất lượng cao khối ngành Kinh tế cho xã hội, Trường không ngừng nâng cao chất lượng về đào tạo, Nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác nhằm hướng tới mục tiêu trở thành một trường đại học định hướng nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh.
Với chiến lược phát triển của Trường Đại học Kinh tế đến năm 2026 và tầm nhìn năm 2030 là “coi trọng chất lượng, hiệu quả”, “trở thành một trong những trường đại học định hướng nghiên cứu hàng đầu ở Việt Nam, đạt tiêu chuẩn kiểm định của Bộ GD&ĐT và của Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó có ngành học được kiểm định theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN- QA)” và đảm bảo các sản phẩm của nhà trường đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, Trường đã xây dựng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo để đảm bảo hoạt động đào tạo được vận hành đáp ứng những yêu cầu của Bộ GD&ĐT, Đại học Quốc gia Hà Nội và đạt được những mục tiêu trên.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế trong những năm qua đã hoạt động khá tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ như xây dựng được các tiêu chí, tiêu chuẩn để Đảm bảo chất lượng đào tạo; công tác kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo và Chương trình đào tạo đã được triển khai và vận hành theo hiệu quả; tiên phong trong việc tham gia kiểm định chất lượng trong khu vực và quốc tế; Có đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm về Đảm bảo chất lượng đào tạo, đo lường và đánh giá trong giáo dục, quản lý giáo dục, v.v. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Tuy nhiên, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế vẫn còn bộc lộ một số điểm hạn chế như sau: Sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị đối với công tác Đảm bảo chất lượng đào tạo chưa sát sao, chưa xem công tác Đảm bảo chất lượng đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị; Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo chưa có kế hoạch, lộ trình xây dựng và phát triển dài hạn, chưa có các chính sách riêng biệt để phát triển nguồn lực cho các cán bộ, giảng viên hỗ trợ hoạt động đào tạo các cấp quản lý chương trình do còn hạn hẹp về nguồn tài chính và nhân lực chuyên biệt; …
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học và phân tích thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế, luận văn đề xuất các biện pháp hoàn thiện hệ thống này tại Trường.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học hiện nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế hiện nay như thế nào?
- Cần có những biện pháp nào để hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế?
5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế trong những năm qua đã hoạt động khá tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế vẫn còn bộc lộ một số điểm hạn chế như sau: Sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị đối với công tác Đảm bảo chất lượng GD chưa sát sao, chưa xem công tác Đảm bảo chất lượng đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị; Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong chưa có kế hoạch, lộ trình xây dựng và phát triển dài hạn, do còn hạn hẹp về nguồn tài chính và nhân lực chuyên biệt, v.v.
Nếu triển khai một số biện pháp hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế như nâng cao nhận thức của các đối tượng liên quan; hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn về Đảm bảo chất lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, chính sách và Văn hóa chất lượng, … thì Nhà trường sẽ cải thiện và phát huy tối đa những ưu điểm của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo hiện tại.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Một là, làm rõ cơ sở lý luận về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo các cơ sở giáo dục đại học hiện nay;
- Hai là, chỉ ra thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế;
- Ba là, đề xuất các biện pháp hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong đó tập trung nghiên cứu các vấn đề như: tuyển sinh, Chương trình đào tạo, tổ chức hoạt động đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kết quả đầu ra, v.v;
Các biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế được luận văn đề xuất cho giai đoạn 2026 – 2035. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Về không gian: Trường Đại học Kinh tế;
- Về thời gian: Từ năm 2021 – 2026;
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Mục đích: Thu thập và xây dựng hệ thống tư liệu phục vụ cho xây dựng cơ sở lý luận của luận văn;
Nội dung công việc: Phân tích, tổng hợp các nguồn tư liệu, sách, bài báo khoa học, đề tài luận văn, luận án, đề tài các cấp, văn bản về Đảm bảo chất lượng đào tạo của các cơ quan nhà nước.
8.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp
Mục đích: Trên cơ sở các số liệu đã thu thập, luận văn so sánh các thông tin, số liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu qua các thời kỳ để thấy sự thay đổi trong hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Cách thực hiện: Sử dụng các bảng, biểu để so sánh
8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích: Thu thập thông tin chiều sâu, quan điểm cá nhân về vấn đề hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế như: Quan điểm, chính sách của Nhà trường; các biện pháp phát hoàn thiện đã và đang được thực hiện; thành tựu, khó khăn, bất cập và nguyên nhân; các biện pháp hoàn thiện Đảm bảo chất lượng đào tạo trong thời gian tới, v.v.
- Đối tượng: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các GV, chuyên viên tại các Khoa/Viện.
- Hình thức: Phỏng vấn trực tiếp
8.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Mục đích: Nhằm thu thập thông tin định lượng, ý kiến đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lý về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế;
- Đối tượng và mẫu điều tra: 100 giảng viên thuộc các Khoa/Viện;
- Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản;
- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
9. Những đóng góp của đề tài
9.1. Đóng góp về lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận chung về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đại học.
9.2. Đóng góp về thực tiễn
Các biện pháp và khuyến nghị của luận văn góp phần hoàn thiện hệ thống ĐBCL đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các Cơ sở giáo dục đại học khác có thực trạng tương tự.
10. Dự kiến cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học
- Chương 2: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chương 3: Biện pháp hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hệ thống Đảm bảo chất lượng trong trường đại học đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và nâng cao chất lượng. Từ góc độ nghiên cứu khoa học, hệ thống Đảm bảo chất lượng trong trường đại học là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Trong công trình “Quality assurance in higher education” (ĐBCL giáo dục đại học, 1998), tác giả Sanjaya Mishra đã đưa ra quan niệm về chất lượng giáo dục đại học, các yếu tố Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học, những thách thức của giáo dục đại học thế kỷ XXI [50], v.v. Theo các tác giả Van Vught F.A và Westerheijden D.F trong cuốn “Quality Management and Quality Assurance in European Higher Education” (QLCL và Đảm bảo chất lượng đại học ở châu Âu) đã coi hệ thống Đảm bảo chất lượng trong trường đại học bao gồm 5 thành tố chính đó là:
- Cơ quan đánh giá chất lượng bên ngoài có trách nhiệm xây dựng các quy trình và cách thức đánh giá cho các Cơ sở giáo dục đại học sử dụng trong thiết kế cơ chế Đảm bảo chất lượng;
- Tự đánh giá cấp trường dựa trên các quy trình và biểu mẫu đã được cơ quan phối hợp đánh giá chất lượng đưa ra;
- Đoàn thẩm định tiến hành các cuộc thăm quan các bộ môn/khoa/trường để thảo luận báo cáo tự đánh giá của Cơ sở giáo dục và tìm hiểu thêm những vấn đề liên quan thông qua gặp trực tiếp các đối tượng khác nhau trong nhà trường, đề xuất ý kiến đánh giá và kiến nghị nâng cao chất lượng;
- Công khai kết quả làm việc của đoàn thẩm định và kết luận đánh giá;
- Phối hợp kết quả đánh giá chất lượng với cung cấp tài chính cho các CSGD đại học [50].
Tác giả Graeme John Davies trong bài “Ba yếu tố quan trọng Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học” đã chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất để hệ thống Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học vận hành hiệu quả đó là: Học liệu, giảng viên và kỹ năng nghề. Trong đó, giáo trình phải đảm bảo hướng dẫn cho SV đi từ kiến thức tới kỹ năng và áp dụng vào trong thực tế; Đội ngũ giảng viên phải được đảm bảo về chất lượng giảng dạy; Kỹ năng nghề phải linh hoạt và phát triển, không chỉ dạy những cái đã biết mà phải dạy những cái ngành nghề đó cần [52]…
Khi nghiên cứu vấn đề Đảm bảo chất lượng bên trong cơ sở Giáo dục đại học, các tác giả R.A. Barnett J.Brennan, P.Vries và R. Williams, C.H Church, E.G Bogue E.G trong công trình “Quantity and Quality in Higher Education. Higher Education Policy” [46] đã xem xét các yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra của hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong. Theo các tác giả này, thì các yếu tố này bao gồm: Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Đầu vào bao gồm các yếu tố liên quan đến SV (trình độ, kinh nghiệm và động lực…), các yếu tố liên quan đến GV (trình độ chuyên môn, kinh nghiệm đào tạo, sự phát triển đội ngũ…), các yếu tố liên quan đến quản lý, phục vụ và thiết bị (trạm trại, phòng thí nghiệm, lớp học, thư viện…);
- Yếu tố quá trình dạy và học được xem là nội dung chính. Việc thường xuyên giám sát công tác giảng dạy, tìm hiểu những khó khăn trong học tập của SV, các vấn đề sư phạm xuất hiện trong quá trình đào tạo để giải quyết kịp thời có ý nghĩa rất cần thiết;
- Đầu ra bao gồm kết quả thi cử – so sánh với số liệu quốc gia, số người tốt nghiệp có việc làm, đánh giá của nhà sử dụng lao động, v.v.
Tiếp cận về hệ thống Đảm bảo chất lượng trong trường đại học từ góc nhìn của hoạt động kiểm tra, đánh giá, trong công trình “Handbook on Measurement, Assessment, and Evaluation in Higher Education” (2023), các tác giả C.Secolsky, D.B Denison đã chỉ ra rằng: Nhu cầu ngày càng tăng đối với các trường đại học để tham gia đánh giá kết quả nhằm mục đích trách nhiệm giải trình đã thúc đẩy nhu cầu thu hẹp khoảng cách giữa thực tiễn giáo dục đại học và tiến bộ trong các lĩnh vực đo lường, kiểm tra đánh giá và đánh giá. Cuốn cẩm nang nghiên cứu này cũng cung cấp cho các quản trị viên giáo dục đại học, nhân viên phụ trách sinh viên, nhà nghiên cứu tổ chức và giảng viên một khối lượng tích hợp của lý thuyết, phương pháp và ứng dụng hệ thống Đảm bảo chất lượng trong trường đại học.
Từ góc nhìn của chính sách giáo dục, trong cuốn “Education Policy: Process, Themes and Impacts” (2012), các tác giả Bell, Leslie and Stevenson, Howard đã khám phá và liên kết ba khía cạnh chính của hệ thống Đảm bảo chất lượng đó là: 1) Chính sách tổ chức; 2) Nguồn lực; 3) Kế hoạch.
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Ở Việt Nam, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học. Điển hình là một số công trình cùng với những nội dung nổi bật sau đây:
Tác giả Nguyễn Thanh Trọng và Mai Thị Huyền Trang trong công trình “Những vấn đề cơ bản về mô hình Đảm bảo chất lượng của mạng các trường ĐH ASEAN” [32] đã tập trung nghiên cứu mô hình Đảm bảo chất lượng trong các trường ĐH ASEAN. Từ đó, các tác giả này cho rằng, trong bối cảnh Giáo dục đại học Việt Nam còn có nhiều hạn chế thì việc lựa chọn và vận dụng mô hình Đảm bảo chất lượng của các nền giáo dục phát triển, trong đó có mô hình AUN-QA là cần thiết.
Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình Đảm bảo chất lượng trên thế giới, tác giả Lê Văn Hảo đã đề xuất các trường ĐH Việt Nam có thể lựa chọn cách tiếp cận Đảm bảo chất lượng của AUN-QA (ASEAN University Network – Quality Assurance) vì mô hình AUN- QA chú trọng hơn đến Đảm bảo chất lượng bên trong trường ĐH (bao gồm các hoạt động tự đánh giá, xây dựng hệ thống văn bản Đảm bảo chất lượng và kiểm toán nội bộ…) nên thích hợp hơn với Giáo dục đại học nước ta [16].
Tác giả Đào Văn Khanh trong công trình “QLCL ở trường đại học, ISO hay EFQM” lại đi sâu nghiên cứu mô hình ISO (International Organization for Standardization) và mô hình EFQM (Europeran Foundation for Quality Management) trong Đảm bảo chất lượng đào tạo của trường đại học. Tác giả cho rằng nên kết hợp cả hai mô hình này và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm nâng cao và Đảm bảo chất lượng đào tạo của các trường đại học [22].
Tác giả Phạm Xuân Thanh trong công trình “Hệ thống Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học của Việt Nam”, trên cơ sở nghiên cứu các mô hình Đảm bảo chất lượng của Hoa Kỳ và các nước Bắc Mỹ; mô hình Đảm bảo chất lượng của các nước Châu Âu, các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đã đi đến nhận định: Hệ thống Đảm bảo chất lượng của Việt Nam có 3 cấu phần sau đây:
- Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong trường ĐH;
- Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên ngoài trường ĐH (hệ thống đánh giá ngoài bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá); Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Hệ thống các tổ chức Đảm bảo chất lượng (các tổ chức đánh giá ngoài và các tổ chức kiểm định độc lập). Từ đó, tác giả Phạm Xuân Thanh khuyến nghị cần phải “xây dựng hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong các trường đại học cần được ưu tiên, vì đây là cái nôi để hình thành chất lượng giáo dục, đồng thời là bước đi khởi đầu của việc hình thành một văn hóa chất lượng Giáo dục đại học trong mỗi trường đại học” [30].
Nghiên cứu về thực trạng Đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, một số tác giả đã chỉ ra được những mặt hạn chế cần được khắc phục kịp thời. Tác giả Vũ Thị Phương Anh trong công trình “ĐBCL Giáo dục đại học ở Việt Nam với nhu cầu hội nhập” đã nêu lên các vấn đề còn tồn tại trong công tác Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học ở nước ta hiện nay cần khắc phục, đó là:
- Hệ thống Đảm bảo chất lượng ở cấp quốc gia chưa hoàn chỉnh, chưa tách được cơ quan Đảm bảo chất lượng bên ngoài ra khỏi sự chỉ đạo và kiểm soát trực tiếp của Bộ GD&ĐT, Hội đồng quốc gia Kiểm định chất lượng giáo dục vẫn chưa được thành lập;
- Việc thực hiện Đảm bảo chất lượng bên trong còn mang tính đối phó với yêu cầu của bên ngoài chứ chưa phải là một nhu cầu từ bên trong với mục đích tự cải thiện;
- Cơ chế Đảm bảo chất lượng hiện nay chưa tạo được sự độc lập giữa ba hoạt động: tự đánh giá (do các trường thực hiện), đánh giá ngoài (do một cơ quan độc lập bên ngoài nhà trường thực hiện), và công nhận kết quả (do cơ quan quản lý nhà nước trong Giáo dục đại học hoặc hiệp hội các trường ĐH thực hiện);
- Các tiêu chuẩn chất lượng chưa thể hiện được quan điểm phân tầng (stratification) đối với hệ thống Giáo dục đại học Việt Nam;
- Chưa có hệ thống các tiêu chuẩn chất lượng để thực hiện kiểm định các Chương trình đào tạo; các hiệp hội nghề nghiệp trong việc kiểm định Chương trình đào tạo chưa thể hiện vai trò của mình;
- Nhân sự hoạt động trong toàn hệ thống Đảm bảo chất lượng quốc gia còn thiếu về số lượng và chất lượng;
- Hệ thống thông tin phục vụ quá trình đánh giá còn yếu và thiếu; tính minh bạch của thông tin còn thấp,v.v [1].
Tác giả Phạm Thành Nghị trong cuốn “QLCL Giáo dục đại học” đã nhận định: chất lượng của các trường ĐH chỉ được duy trì và nâng cao nhờ các hoạt động Đảm bảo chất lượng. Trong đó, Đảm bảo chất lượng bên trong trường ĐH “phải được xem là điểm xuất phát, là nền tảng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng Giáo dục đại học” [25, tr129].
Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Quý Thanh trong bài “ĐBCL Giáo dục đại học – Nhìn từ một số cặp phạm trù” đã đưa ra những nhận định đáng quan tâm, đó là: Đảm bảo chất lượng ở Việt Nam đang hội nhập với thế giới nhưng còn nhiều cái riêng; Nhận thức của xã hội về bản chất của Đảm bảo chất lượng đang thay đổi nhưng còn chậm; Vẫn còn sự tiếp cận chưa đúng với bản chất của Đảm bảo chất lượng; Cái tất yếu là chất lượng giáo dục nhưng tiềm năng để có được nó chưa phát triển rõ ràng, sự liên kết chia sẻ là cần thiết [29]. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Cùng với những thực trạng đã được chỉ ra từ các nghiên cứu, một số tác giả có những đề xuất, giải pháp giúp đẩy mạnh hoạt động Đảm bảo chất lượng trong các trường ĐH như: Tác giả Nguyễn Quang Giao trong bài “Đẩy mạnh hoạt động Đảm bảo chất lượng ở các trường đại học hiện nay” đã đề xuất 8 biện pháp để đẩy mạnh hoạt động Đảm bảo chất lượng trong các trường đại học: 1) Xây dựng hệ thống tổ chức Đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường; 2) Nâng cao nhận thức của cán bộ, GV, SV về tầm quan trọng của hoạt động Đảm bảo chất lượng; 3) Xây dựng kế hoạch hoạt động Đảm bảo chất lượng phù hợp, khả thi với điều kiện của nhà trường; 4) Triển khai thực hiện Đảm bảo chất lượng Cơ sở giáo dục và Chương trình đào tạo; 5) Thường xuyên thực hiện các hoạt động khảo sát,điều tra, lấy ý kiến phản hồi của các bên liên quan; 6) Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác Đảm bảo chất lượng; 7) Đảm bảo các nguồn kinh phí, Cơ sở vật chất và trang thiết bị triển khai hoạt động Đảm bảo chất lượng; 8) Xây dựng văn hóa chất lượng và nâng cao vị trí xếp hạng của nhà trường [13, tr97].
Từ thực tiễn của một trường đại học cụ thể, tác giả Lê Văn Hảo trong công trình “Xây dựng hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong và văn hóa chất lượng tại trường đại học KHXH&NV, ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra một số giải pháp và vai trò của từng giải pháp đối với việc tăng cường công tác Đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học: Xây dựng văn hóa chất lượng trong nhà trường là yêu cầu hàng đầu để phát triển Đảm bảo chất lượng bên trong; Nâng cao chất lượng các Chương trình đào tạo là trọng tâm của hoạt động Đảm bảo chất lượng bên trong; Công khai thông tin là yêu cầu thường xuyên của Đảm bảo chất lượng bên trong [16] v.v.
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn trong công trình “Chất lượng giáo dục đại học – nhìn từ góc độ hội nhập” cho biết: Chất lượng Giáo dục đại học được đánh giá bằng đầu vào, quy trình và đầu ra. Vì thế, khi đề xuất các giải pháp Đảm bảo chất lượng trong Giáo dục đại học thực chất là đề xuất các giải pháp để đảm bảo các yếu tố của hệ thống này [33].
Năm 2025, Diễn đàn ASEAN – QA với chủ đề “Kết nối để xây dựng và duy trì văn hóa chất lượng trong các cơ sở Giáo dục đại học” được tổ chức tại Trường Đại học Ngoại thương đã làm rõ vai trò của hệ thống Đảm bảo chất lượng trong bối cảnh Giáo dục đại học ở ASEAN đang có nhiều thay đổi. Diễn đàn cũng đã nhấn mạnh đến một số vấn đề chung của hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong như: Vai trò tham gia của người học trong công tác Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học ở ASEAN; Đối thoại giữa các bên liên quan; Số hóa trong Giáo dục đại học và tác động đến công tác Đảm bảo chất lượng; Tính bền vững của các hệ thống và quy trình phát triển và Đảm bảo chất lượng; Hệ thống phát triển và Đảm bảo chất lượng tích hợp; Công cụ đánh giá và sử dụng dữ liệu trong Đảm bảo chất lượng; Các bên liên quan và sự tham gia của sinh viên; Áp dụng các nguyên tắc Đảm bảo chất lượng khu vực vào thực tiễn; Khung đảm bảo chất lượng ASEAN (AQAF); Đảm bảo chất lượng các chương trình liên kết đào tạo: Khả năng và thách thức, v.v [53]. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
1.1.3. Đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan
Mặc dù còn khác nhau về mục đích và góc độ tiếp cận nhưng những công trình trên đều có những đóng góp nhất định cho luận văn. Để thực hiện luận văn, tác giả đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc một số quan điểm, nội dung trong các công trình khoa học có liên quan đến nội dung đề cập của luận văn như: Các khái niệm, nội dung có liên quan đến Đảm bảo chất lượng đào tạo, Đảm bảo chất lượng bên trong…
Đối chiếu với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn xác định cần tiếp tục làm rõ thêm một số nội dung:
- Cơ sở lý luận về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bao gồm các khái niệm cốt lõi như: Hệ thống, Đảm bảo chất lượng đào tạo, hệ thống Đảm bảo chất lượng ĐT, thành tố, vai trò của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học;
- Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế và những vấn đề đặt ra;
- Biện pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế trong thời gian tới;
Có thể khẳng định, với các công trình nghiên cứu đã có và với mục tiêu, nhiệm vụ được luận văn xác định, đề tài Hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội” thuộc chuyên ngành Quản lý giáo dục có tính mới và không trùng lặp với các công trình đã công bố hiện nay.
1.2. Khái niệm cơ bản Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
1.2.1 Hệ thống
Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ trong một chỉnh thể. Từ điển tiếng Việt định nghĩa hệ thống là “một tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” [36] hoặc “là tập hợp những phần tử có quan hệ tương tác để thực hiện một mục tiêu hay chức năng nhất định”.
Theo Bertalanffy, hệ thống “là một tập hợp các phần tử có ảnh hưởng lẫn nhau” [49]. Cũng theo Bertalanffy khi xem xét lý thuyết hệ thống dưới góc độ hệ thống mở, quan niệm rằng mỗi tổ chức ở trong bối cảnh môi trường với các nhân tố bên trong nội tại và yếu tố bên ngoài, hệ thống gồm các yếu tố cấu thành cơ bản: đầu vào, quá trình và đầu ra. Mỗi tổ chức là một hệ thống nhỏ; các tổ chức hợp lại thành hệ thống lớn hơn tạo thành một cấu trúc. Khi hoạt động, hệ thống mở luôn trao đổi thông tin với môi trường và được điều chỉnh bởi quá trình phản hồi thông tin để đánh giá xem kết quả đầu ra của hệ thống có phù hợp với mục tiêu mà hệ thống đã thiết lập không. Vì vậy, nếu hệ thống không ổn định kết quả đầu ra, nó sẽ thay đổi mức độ đầu vào. Cơ chế phản hồi chính là chìa khóa để kiểm soát hệ thống, phục vụ việc đánh giá và điều chỉnh khi cần thiết.
Về bản chất, hệ thống gồm các thành tố có quan hệ với nhau và có các thuộc tính sau: i) Mỗi thành tố ảnh hưởng đến chức năng của toàn thể (yếu tố toàn thể): tập hợp các bộ phận riêng biệt tạo thành một cấu trúc toàn thể; ii) Mỗi thành tố bị ảnh hưởng bởi ít nhất một thành tố khác trong hệ thống (yếu tố tương tác): các bộ phận phụ thuộc lẫn nhau hay liên hệ chặt chẽ đến mức bất kỳ một thay đổi ở một bộ phận nào cũng đều tạo ra thay đổi ở ít nhất một bộ phận khác còn lại; iii) Tất cả các nhóm con của các thành tố cũng có hai thuộc tính trên (yếu tố cân bằng): các bộ phận phụ thuộc lẫn nhau nên có trạng thái ổn định, trật tự trong mối quan hệ lẫn nhau.
Trường ĐH là một hệ thống gồm nhiều bộ phận/đơn vị hợp thành, các bộ phận này tương tác với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Nếu muốn cả hệ thống hoạt động tốt thì không thể chỉ tập trung vào một bộ phận nào đó mà phải xem xét mỗi hành động của một bộ phận ảnh hưởng tới toàn hệ thống như thế nào. Đồng thời, một trường ĐH ở Việt Nam là hệ thống con của hệ thống Giáo dục đại học Việt Nam, có cấp độ hệ thống ngang hàng với các trường ĐH khác và hoạt động theo điều lệ trường ĐH. Vì vậy, cơ chế tổ chức và hoạt động của trường ĐH không chỉ chịu ảnh hưởng của hệ thống Giáo dục đại học mà còn có mối quan hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau.
1.2.2. Đào tạo và chất lượng đào tạo Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Đối với các Cơ sở giáo dục đại học, đào tạo là một hoạt động thiết yếu và cốt lõi, giữ vai trò quan trọng và quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực mà Cơ sở giáo dục cung cấp cho xã hội. Từ điển Giáo dục học định nghĩa “Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [35]. Đào tạo thường gắn với vấn đề dạy nghề nghiệp. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các hoạt động truyền đạt kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác trong cuộc sống nhằm đáp ứng một hoặc nhiều yêu cầu của xã hội.
Bên cạnh khái niệm đào tạo thì cần làm rõ hơn khái niệm “chất lượng đào tạo”. Theo Từ điển Giáo dục học, CLGD là “tổng hòa những phẩm chất và năng lực được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của nhà nước hoặc xã hội. CLGD có tính lịch sử cụ thể và luôn luôn tùy thuộc vào các điều kiện xã hội đương thời, trong đó có các thiết chế, chính sách và lực lượng tham gia giáo dục…” [20, tr.44]. Ở Việt Nam, CLGD dục đào tạo được tiếp cận theo 02 hướng: Một là, tiếp cận theo mục tiêu giáo dục, coi chất lượng là mức độ trùng khớp với mục tiêu. Hai là, tiếp cận theo nhu cầu xã hội, coi chất lượng là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội”. Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, chất lượng trong Giáo dục đại học được thể hiện các khía cạnh cơ bản như sau: [7, tr.33 – 37].
Chất lượng là sự tuân thủ các tiêu chuẩn: là sự tuân thủ theo các bộ tiêu chuẩn mà Cơ sở giáo dục theo đuổi như bộ tiêu chuẩn mà Bộ GD&ĐT đề ra hay bộ tiêu chuẩn của các hiệp hội, tổ chức khác trên thế giới.
Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng: cho phép nhà trường cung cấp một hình mẫu để xác định các tiêu chí mà một sản phẩm hay dịch vụ cần có. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Chất lượng là hiệu quả của việc đạt được mục tiêu của trường đại học: cách tiếp cận này cho phép các trường đại học tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu đào tạo của trường mình. Thông qua kiểm tra đánh giá, thanh tra chất lượng, các tổ chức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống Đảm bảo chất lượng của trường đó có khả năng giúp nhà trường hoàn thành sứ mệnh, mục tiêu một cách hiệu quả và năng suất cao nhất hay không.
Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người học, nhà sử dụng lao động): ở góc độ này, chất lượng của sản phẩm không còn chỉ dừng lại ở việc sản phẩm phải phù hợp với tiêu chuẩn cho trước mà còn là sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm, trong luận văn này, tác giả thống nhất với Điều 2 của Thông tư số 12/2023/TT-BGDĐT ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa về chất lượng giáo dục đó là: “Chất lượng của Cơ sở giáo dục đại học là sự đáp ứng mục tiêu do cơ sở giáo dục đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật Giáo dục đại học, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển KT – XH của địa phương và cả nước” [2].
Với định nghĩa trên, một trường đại học chỉ có chất lượng khi mọi hoạt động trong nhà trường đều đạt tiêu chuẩn chất lượng. Nghĩa là từ mọi cấp quản lý trong trường, mọi hệ đào tạo (chính quy, không chính quy, đào tạo ngắn hạn…), mọi Chương trình đào tạo, các dịch vụ hỗ trợ đào tạo đều phải đạt tiêu chuẩn về chất lượng. Như vậy, để đo lường được mức độ chất lượng cần có Bộ tiêu chuẩn và các thang đo về mức độ đáp ứng theo bộ tiêu chuẩn đó.
Trong hoạt động đào tạo, các hoạt động đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một vòng tròn khép kín, đầu ra của hoạt động trước là đầu vào của hoạt động sau. Từ góc độ của lý thuyết hệ thống, tác giả Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, chất lượng Giáo dục đại học là tập hợp một số yếu tố liên quan đến:
- Đầu vào bao gồm những tiêu chuẩn liên quan đến SV được nhận vào học tại Cơ sở giáo dục;
- Quá trình bao gồm những tiêu chuẩn liên quan đến GV, việc giảng dạy, cơ sở vật chất cho học tập, Nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng, dịch vụ dành cho việc giảng dạy và Nghiên cứu khoa học…;
- Đầu ra là những tiêu chuẩn phản ánh tình trạng của SV sau khi tốt nghiệp [33].
Như vậy, hoạt động đào tạo trước có chất lượng là điều kiện cần cho hoạt động đào tạo sau có chất lượng và đầu ra có chất lượng; một trong các hoạt động đào tạo không được Đảm bảo chất lượng, đầu ra của cả quá trình rất khó hoặc không thể đạt chuẩn đầu ra. Như vậy, tất cả các hoạt động có chất lượng thì sản phẩm đầu ra mới có chất lượng. Chất lượng đào tạo được thể hiện ở chất lượng của tất cả các hoạt động đào tạo, là chất lượng đầu vào, chất lượng quá trình và chất lượng đầu ra được đặt trong trong bối cảnh cụ thể.
1.2.3. Quản lý chất lượng Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
QLCL là hoạt động gắn liền với quá trình sản xuất ngay từ những năm trước cách mạng công nghiệp và sau đó được phát triển và áp dụng cho Giáo dục đại học. Quá trình phát triển của quản lý nói chung đi từ mô hình hành chính tập trung (mọi việc được kiểm tra, kiểm soát) đến các hình thức phi tập trung hơn (thông qua các qui trình, cơ chế chịu trách nhiệm nhất định). Quản lý chất lượng cũng phát triển cùng quá trình từ giai đoạn trọng tâm là kiểm soát chất lượng sang Đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể [5, tr.111]
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, Quản lý chất lượng là một phương thức có công cụ chủ yếu là bộ chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số và các quy trình thực hiện các tiêu chuẩn đó [7, 40].
Bộ phận cấu hệ thống Quản lý chất lượng bao gồm:
- Danh mục các lĩnh vực cần quản lý (tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số)
- Những quy trình thực hiện các công việc để đạt các chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn
- Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành các bước trong quy trình thực hiện các công việc.
Mặt khác, Quản lý chất lượng có nhiều cấp độ được thể hiện dưới hình sau đây:
- Hình 1.1: Các cấp độ quản lý chất lượng (Theo Sallis, 1993)
QLCL là quản lý theo hướng chuẩn hóa bao gồm 3 hoạt động chính đó là: Xác lập chuẩn; đánh giá thực trạng đối chiếu với chuẩn; và nâng thực trạng lên ngang bằng chuẩn, được tiến hành đồng thời, liên tục cho đến hết vòng đời của sản phẩm. Nhà quản lý sử dụng các hoạt động đó như thế nào, vào lúc nào là phụ thuộc vào trình độ phát triển Quản lý chất lượng của Cơ sở giáo dục đó. Cụ thể:
- Nếu chỉ vận dụng khi đã có thành phẩm và nhằm loại bỏ phế phẩm thì đó là Kiểm soát chất lượng;
- Vận dụng trong suốt quá trình sản xuất và phòng ngừa phế phẩm thì đó là ĐBCL;
- Trường hợp luôn cải tiến, luôn nâng cao chuẩn cho phù hợp yêu cầu khách hàng thì đó là Quản lý chất lượng tổng thể.
Như vậy, Quản lý chất lượng trong giáo dục cần xây dựng và vận hành một hệ thống quản lý nhằm tác động vào các điều kiện Đảm bảo chất lượng trong tất cả các giai đoạn của quá trình giáo dục, cho tất cả các sản phẩm của cả hệ thống chứ không nhằm vào chất lượng của từng giai đoạn hay từng sản phẩm cụ thể. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
1.2.4 Hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo
Từ khái niệm hệ thống, đào tạo và chất lượng đào tạo, luận văn cho rằng: Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo là hệ thống chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, nguồn lực, quy trình và thủ tục được các chủ thể quản lý giáo dục áp dụng theo những cách thức xác định nhằm duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo liên tục.
Một hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học là tổng thể các hệ thống, nguồn lực và thông tin dành cho việc thiết lập, duy trì và cải thiện chất lượng và tiêu chuẩn của hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Đó là một hệ thống mà dưới sự tác động của nó, các nhà quản lý và nhân viên hài lòng với cơ chế kiểm soát đang hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng trong Giáo dục đại học.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng có nghĩa là áp dụng những biện pháp nhằm tạo ra sản phẩm không lỗi và đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Đảm bảo chất lượng là một quá trình xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan đến các điều khoản (đầu vào, quá trình và đầu ra) đáp ứng sự mong đợi hoặc đạt ngưỡng yêu cầu tối thiểu. Tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng hệ thống “ĐBCL là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng, và được chứng minh là đủ mức cần thiết để khách hàng thỏa mãn các yêu cầu chất lượng” [26]. Như vậy, trong đào tạo, hệ thống Đảm bảo chất lượng được thiết kế theo các chuẩn mực và đưa vào quá trình đào tạo nhằm đảm bảo người học sau khi tốt nghiệp đạt được những chuẩn mực đã đề ra. Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo là một trong những mô hình Đảm bảo chất lượng để tạo ra sản phẩm là nguồn nhân lực không có sai sót do lỗi trong quá trình đào tạo.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bao gồm 2 loại hình: 1) Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong; 2) Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường. Luận văn này chỉ xem xét và giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bên trong trường đại học.
1.2.5 Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo
Với mục đích nghiên cứu của đề tài, khái niệm “hoàn thiện” được sử dụng là một động từ, được hiểu là làm cho sự vật, sự việc trở nên tốt đẹp hơn. Như vậy, hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo được hiểu rằng: là tập hợp các biện pháp để làm cho hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo được vận hành tốt hơn dựa trên những ưu điểm đã đạt được và hạn chế những tồn tại còn mắc phải.
1.3. Vai trò của hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo, duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo của một trường đại học. Vai trò đó được thể hiện ra ở một số khía cạnh cơ bản sau:
- Thứ nhất, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục đại học
Một trong những nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thành mục tiêu “Tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các Cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [9] là đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản cơ bản của GD&ĐT theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; coi trọng Quản lý chất lượng; nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GD&ĐT. Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo chính là các hoạt động cụ thể hóa nhiệm vụ và giải pháp mà yêu cầu của Nghị quyết đã đề ra. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Thứ hai, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo đóng vai trò thúc đẩy nhà trường hội nhập giáo dục với khu vực và quốc tế
Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng với quốc tế trong nhiều lĩnh vực với các ký kết hiệp định song phương, đa phương, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế lớn. Yếu tố quyết định để phát huy hiệu quả của việc hội nhập đó chính là phải có nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, cần phải tập trung phát triển Giáo dục đại học, tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao. Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo chính là công cụ góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đó, đồng thời góp phần quan trọng trong việc vạch ra đường lối hội nhập GDDH khu vực và quốc tế cho Cơ sở giáo dục.
- Thứ ba, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo là thước đo giúp Cơ sở giáo dục nhận biết thực trạng đào tạo của mình
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo đóng vai trò giống như những “chuyên gia đo lường” để đo tình trạng đào tạo của các trường ĐH. Từ đó, nhà trường có thể biết vị thế của họ đang ở đâu và cần làm gì để thúc đẩy quá trình phát triển. Đồng thời, nó giúp cho Ban Giám hiệu, các Cán bộ quản lý trong nhà trường quản trị đại học một cách rõ ràng, quản trị theo chất lượng, quản trị theo mục tiêu, từ đó việc dẫn dắt đại học trở nên dễ dàng hơn.
- Thứ tư, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo là công cụ giúp Cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng dịch vụ và đáp ứng yêu cầu phát triển của chính Cơ sở giáo dục đó
Như đã đề cập ở trên, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo được xây dựng để duy trì và cải tiến chất lượng, duy trì và cải tiến các tiêu chuẩn về giảng dạy, học tập, … Đây vừa là chức năng, vừa là vai trò của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bên trong nhà trường. Như vậy, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo giúp nhà trường nâng cao chất lượng của mọi lĩnh vực, hoạt động trong nhà trường, đặc biệt là chất lượng đào tạo sẽ là yếu tố quyết định sự tồn tại, phát triển và sự thành công trong cạnh tranh tuyển sinh, giúp nhà trường phát triển một cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan.
Nhìn chung, với tầm quan trọng như vậy nên mỗi Cơ sở giáo dục cần có cái nhìn đúng đắn và chú trọng đầu tư, phát triển hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo sao cho có thể phát huy tối đa vai trò của hệ thống.
1.4. Một số mô hình đảm bảo chất lượng đào tạo và hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học
1.4.1 Một số mô hình đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học
- Thứ nhất: Mô hình của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA)
AUN đã nhận thấy tầm quan trọng của chất lượng giáo dục đại học và nhu cầu phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng để nâng cao chất lượng đào tạo, cải tiến nền giáo dục, tăng cường hoạt động nghiên cứu, phục vụ cộng đồng trong các trường đại học thành viên của AUN. Năm 1998, AUN đã tranh luận các sáng kiến và đưa đến sự phát triển mô hình đảm bảo chất lượng AUN. Trong thập niên cuối của thế kỷ 20, mô hình đảm bảo chất lượng AUN đã được xúc tiến, phát triển và triển khai thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lượng dựa trên sự trải nghiệm, các hoạt động đảm bảo chất lượng được chia sẻ, kiểm tra, đánh giá và cải thiện. Để liên tục cải tiến, trường đại học cần tổ chức hệ thống đảm bảo chất lượng một cách có hiệu quả và thực hiện các chuẩn mực đề ra để tiến tới đạt được một nền giáo dục hoàn hảo.
AUN đã xây dựng một bộ tiêu chuẩn chất lượng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Mô hình Đảm bảo chất lượng của AUN ứng với 03 cấp. Qua các năm, xuất phát từ thực tiễn, mô hình Đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn của AUN có sự khác biệt, cụ thể: Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Hình 1.2: Mô hình Đảm bảo chất lượng các năm theo tiêu chuẩn của AUN
Năm 2011, AUN-QA đưa ra mô hình Đảm bảo chất lượng bao gồm 03 cấp: chiến lược, hệ thống và chiến thuật. Mô hình này cho thấy việc nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng trong giáo dục đại học và sự cần thiết phải phát triển một hệ thống Đảm bảo chất lượng toàn diện để tăng cường các tiêu chuẩn học thuật và nâng cao chất lượng đào tạo. Phiên bản hiện nay đang được sử dụng là phiên bản năm 2022 được thiết kế toàn diện hơn bao gồm Đảm bảo chất lượng về mặt chiến lược, về mặt hệ thống và về mặt thực hiện chức năng. Khung đảm bảo chất lượng của AUN-QA được bắt đầu với các nhu cầu của các bên liên quan, các nhu cầu này được chuyển thành hệ thống Đảm bảo chất lượng về chiến lược của trường đại học. Cụ thể, Đảm bảo chất lượng về mặt chiến lược được chuyển thành Đảm bảo chất lượng về mặt hệ thống hoặc hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong, và Đảm bảo chất lượng về mặt thực hiện chức năng trong đào tạo, Nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng và các lĩnh vực chiến lược khác do trường đại học xác định.
Đến tháng 6 năm 2022, AUN-QA đã ban hành bộ tiêu chuẩn/tiêu chí mới (Phiên bản 2.0) đánh giá chất lượng trường đại học gồm 25 tiêu chuẩn với 111 tiêu chí, cụ thể như sau:
Nhóm Đảm bảo chất lượng về mặt chiến lược:
- Tiêu chuẩn 1: Tầm nhìn, sứ mạng và văn hóa, gồm 5 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 2: Quản trị, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 3: Lãnh đạo và quản lý, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 4: Quản trị chiến lược, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 5: Các chính sách về đào tạo, Nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng, gồm 4 tiêu chí,
- Tiêu chuẩn 6: Quản lý nguồn nhân lực, gồm 7 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 7: Quản lý tài chính và cơ sở vật chất, gồm 5 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 8: Các mạng lưới và quan hệ đối ngoại, gồm 4 tiêu chí
Nhóm Đảm bảo chất lượng về mặt hệ thống.
- Tiêu chuẩn 9: Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong, gồm 6 tiêu chí,
- Tiêu chuẩn 10: Đánh giá chất lượng bên trong và bên ngoài, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 11: Hệ thống thông tin Đảm bảo chất lượng bên trong, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 12: Nâng cao chất lượng, gồm 5 tiêu chí
Nhóm Đảm bảo chất lượng về mặt thực hiện chức năng.
- Tiêu chuẩn 13: Tuyển sinh và nhập học, gồm 5 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 14: Thiết kế và rà soát chương trình dạy học, gồm 5 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 15: Giảng dạy và học tập, gồm 5 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 16: Đánh giá sinh viên, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 17: Các hoạt động phục vụ và hỗ trợ sinh viên, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 18: Quản lý nghiên cứu khoa học, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 19: Quản lý sở hữu trí tuệ, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 20: Hợp tác và đối tác nghiên cứu khoa học, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 21: Kết nối và phục vụ cộng đồng, gồm 4 tiêu chí
Nhóm các kết quả thực hiện
- Tiêu chuẩn 22: Kết quả đào tạo, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 23: Kết quả Nghiên cứu khoa học, gồm 6 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 24: Kết quả đóng góp phục vụ cộng đồng, gồm 4 tiêu chí
- Tiêu chuẩn 25: Kết quả tài chính và thị trường giáo dục, gồm 2 tiêu chí.
Theo AUN-QA, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bên trong của một Cơ sở giáo dục là một hệ thống tổng thể trong đó nguồn lực và thông tin dùng để thiết lập, duy trì và cải tiến chất lượng cũng như duy trì và cải tiến các tiêu chuẩn về giảng dạy, nghiên cứu, và dịch vụ cộng đồng. Các nội dung cần thiết cho hoạt động của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của một Cơ sở giáo dục phụ thuộc nhiều vào các hoạt động đào tạo đã và đang triển khai trong từng nhà trường, phụ thuộc vào từng quốc gia, khu vực. Mặc dù vậy, nó cũng có một số hoạt động cốt lõi không thể thiếu trong hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo gồm: thiết lập các mục tiêu cần đạt được trong đào tạo, các công việc cần làm để đạt được mục tiêu đó và đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu. Các nội dung này có thể sẽ thay đổi theo thời gian, nhận thức của cộng đồng các nhà giáo dục, của nền tảng văn hóa xã hội, v.v. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Thứ hai: Mô hình của các trường đại học ở Việt Nam
Mô hình Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động này. Trước hết, nó chịu ảnh hưởng của mô hình Đảm bảo chất lượng của Hoa Kỳ và các nước Bắc Mỹ; chịu ảnh hưởng của các mô hình Đảm bảo chất lượng của các nước Châu Âu là những nước đi trước Việt Nam trong khá nhiều năm để triển khai xây dựng mô hình Đảm bảo chất lượng đào tạo; đặc biệt chịu ảnh hưởng của các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do có nhiều nét tương đồng trong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn. Những ảnh hưởng của các nước khác đến mô hình Đảm bảo chất lượng tại Việt nam chủ yếu thông qua sự hỗ trợ hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Ngân hành thế giới. Mạng lưới chất lượng Châu Á – Thái Bình Dương (APQN), SEAMEO và của một số nước như Hoa Kỳ, Australia, Hà Lan.
Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình Đảm bảo chất lượng, mô hình Đảm bảo chất lượng tại Việt Nam đang từng bước được hình thành, phù hợp với mô hình Đảm bảo chất lượng của nhiều nước trên thế giới, nhất là mô hình của Châu Âu, Châu Á – Thái Bình Dương, AUN, những mô hình được tiếp tục phát triển trên mô hình chung của Châu Âu.
Năm 2010, lần đầu tiên chất lượng giáo dục đại học Việt Nam có những tiêu chuẩn được “lượng hóa” cụ thể để đánh giá khi Bộ GD&ĐT ban hành Quy định tạm thời về KĐCL trường ĐH với 10 tiêu chuẩn, mỗi tiêu chuẩn được chia theo các mức 1 và 2 gồm: Sứ mạng và mục tiêu của trường ĐH; Tổ chức và quản lý; Chương trình đào tạo; Các hoạt động đào tạo; Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên; Người học; Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Hoạt động hợp tác quốc tế; Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác; Tài chính và quản lý tài chính.
Năm 2013, Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học thay thế cho bộ tiêu chuẩn năm 2010. Bộ tiêu chuẩn đã đưa ra các tiêu chí rõ ràng, cụ thể hơn và gắn kết với điều lệ trường đại học, Sứ mạng và hướng nghiên cứu của trường. Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học gồm 10 tiêu chuẩn – 61 tiêu chí (thay bộ tiêu chuẩn cũ 10 tiêu chuẩn – 53 tiêu chí) trong đó có một số tiêu chuẩn đã đưa thêm tiêu chí, một số tiêu chí cũ đã được tách ra hoặc gộp lại làm cho các tiêu chí cụ thể hơn. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Năm 2023, tiếp tục cải tiến bộ công cụ đo lường, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 12/2023/TT-BGDĐT ngày 19/5/2023 quy định về Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học theo 25 tiêu chuẩn và 111 tiêu chí thay thế Quyết định số 65/2013/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2013 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học. Bộ tiêu chuẩn kiểm định mới được chia thành 04 nhóm:
ĐBCL về mặt chiến lược (08 tiêu chuẩn, 37 tiêu chí):
- Tiêu chuẩn 1: Tầm nhìn, sứ mạng và văn hóa
- Tiêu chuẩn 2: Quản trị
- Tiêu chuẩn 3: Lãnh đạo và quản lý
- Tiêu chuẩn 4: Quản trị chiến lược
- Tiêu chuẩn 5: Các chính sách về đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng
- Tiêu chuẩn 6: Quản lý nguồn nhân lực
- Tiêu chuẩn 7: Quản lý tài chính và cơ sở vật chất
ĐBCL về mặt hệ thống (04 tiêu chuẩn, 19 tiêu chí):
- Tiêu chuẩn 9: Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong
- Tiêu chuẩn 10: Tự đánh giá và đánh giá ngoài
- Tiêu chuẩn 11: Hệ thống thông tin đảm bảo chất lượng bên trong
- Tiêu chuẩn 12: Nâng cao chất lượng
ĐBCL về mặt thực hiện chức năng (09 tiêu chuẩn, 39 tiêu chí):
- Tiêu chuẩn 13: Tuyển sinh và nhập học
- Tiêu chuẩn 14: Thiết kế và rà soát chương trình dạy học
- Tiêu chuẩn 15: Giảng dạy và học tập
- Tiêu chuẩn 16: Đánh giá người học
- Tiêu chuẩn 17: Các hoạt động phục vụ và hỗ trợ người học
- Tiêu chuẩn 18: Quản lý nghiên cứu khoa học
- Tiêu chuẩn 19: Quản lý tài sản trí tuệ
- Tiêu chuẩn 20: Hợp tác và đối tác nghiên cứu khoa học
- Tiêu chuẩn 21: Kết nối và phục vụ cộng đồng
Kết quả hoạt động (04 tiêu chuẩn, 16 tiêu chí):
- Tiêu chuẩn 22: Kết quả đào tạo
- Tiêu chuẩn 23: Kết quả nghiên cứu khoa học
- Tiêu chuẩn 24: Kết quả phục vụ cộng đồng
- Tiêu chuẩn 25: Kết quả tài chính và thị trường
Có thể thấy, bộ tiêu chuẩn năm 2023 có nhiều tiêu chuẩn và nhiều tiêu chí hơn bộ tiêu chuẩn năm 2013, thể hiện sự cụ thể và chi tiết để có thể đánh giá chính xác và nâng cao chất lượng cho các trường đại học.
Như vậy, triết lý của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo theo Bộ tiêu chuẩn năm 2023 là đảm bảo mọi hoạt động của Cơ sở giáo dục được thực hiện theo chu trình Lập kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra đánh giá – Cải tiến chất lượng. Qua mỗi chu trình các hoạt động của cơ sở giáo dục liên tục được cải tiến thay đổi khắc phục những điểm tồn tại và ngày càng hoàn thiện đáp ứng mục tiêu của Cơ sở giáo dục. Như vậy, mỗi tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn mới là một mắt xích quan trọng trong một chỉnh thể hoàn chỉnh của quy trình Lập kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra đánh giá – Cải tiến chất lượng. Đây cũng là quy trình được áp dụng phổ biến trong công tác Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học trên thế giới.
1.4.2 Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng ở trường ĐH là một hệ thống nhằm duy trì và nâng cao chất lượng mà các thành viên của nhà trường bao gồm ban giám hiệu, cán bộ quản lý, chuyên viên/nhân viên, GV và người học tự giác sử dụng để duy trì và nâng cao chất lượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và xã hội. Sau khi được xây dựng, hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong được vận hành đồng bộ, thông suốt, góp phần xây dựng hệ thống Quản lý chất lượng tổng thể ở trường đại học trong tương lai.
Đối với Việt Nam, “Xây dựng hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong các trường ĐH cần được ưu tiên vì đây là cái nôi để hình thành chất lượng giáo dục, đồng thời là bước đi khởi đầu của việc hình thành một Văn hóa chất lượng Giáo dục đại học trong mỗi trường ĐH” [6, tr.38]. Cùng với việc áp dụng mô hình Đảm bảo chất lượng theo chuẩn AUN hoặc chuẩn của Bộ GD&ĐT, đồng thời tiếp cận theo Quản lý chất lượng tổng thể, có thể hiểu hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong trường ĐH là một hệ thống lớn bao gồm các hệ thống Đảm bảo chất lượng nhỏ bên trong, chúng cùng tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau. Các hệ thống này tương ứng với các lĩnh vực mà nhà trường quản lý, bao gồm: đào tạo, nghiên cứu khoa học, đội ngũ Cán bộ quản lý/GV, hợp tác quốc tế, cơ sở vật chất, tài chính,… Để hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học được vận hành đồng bộ, thông suốt thì các hệ thống nhỏ bên trong cũng phải vận hành đồng bộ, thông suốt.
Theo đó, tác giả Nguyễn Quang Giao, đề xuất mô hình hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học được thể hiện như sau:
- Hình 1.3: Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học [14, tr104]
1.5. Nội dung hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
1.5.1. Các thành tố của hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo
Để xây dựng và vận hành được hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bên trong của một trường đại học thì các thành tố của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo đóng vai trò quan trọng, tác động qua lại lẫn nhau, mỗi thành tố đều có quy trình cụ thể với cả ba giai đoạn: Đầu vào, quá trình và đầu ra, trong đó đầu ra của quá trình trước là đầu vào của quá trình kế tiếp.
- Thứ nhất: Các thành tố đảm bảo chất lượng đầu vào (tuyển sinh)
Chất lượng đầu vào chính là năng lực của SV trước khi được đào tạo bậc ĐH tại Cơ sở giáo dục. Chất lượng đầu vào của SV là một yếu tố có liên quan đến tính thực thi của các hoạt động trong Đảm bảo chất lượng quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra. Một trường ĐH có đội ngũ SV giỏi được đo lường qua các điểm số đầu vào thì việc tiếp nhận kiến thức được truyền tải từ GV, tiếp cận Nghiên cứu khoa học, … cũng dễ dàng và hiệu quả hơn. Vì vậy, để có được chất lượng đầu vào tốt thì công tác tuyển sinh của nhà trường rất quan trọng.
- Thứ hai: Các thành tố đảm bảo chất lượng quá trình đào tạo
Quá trình đào tạo là giai đoạn quan trọng có tính chất quyết định đến chất lượng đầu ra. Chất lượng của quá trình đào tạo thể hiện qua nội dung Chương trình đào tạo và hoạt động dạy học của GV.
Các Chương trình đào tạo phải được xây dựng trên cơ sở quy định chung của Bộ GD&ĐT, phù hợp với sứ mạng, mục tiêu giáo dục và chức năng, nhiệm vụ của nhà trường, đồng thời gắn với nhu cầu học tập của người học, nhu cầu về nguồn nhân lực của thị trường lao động, của các tổ chức và xã hội. Các Chương trình đào tạo phải được định kỳ bổ sung, điều chỉnh trên cơ sở tham khảo các chương trình tiên tiến của các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới, ý kiến phản hồi từ cựu sinh viên, người sử dụng lao động và các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan, v.v. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Hoạt động dạy học cũng là một nội dung quan trọng, là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng GV, đồng thời góp phần quyết định đến chất lượng đào tạo. Hoạt động dạy học bao gồm nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy của GV, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV, các hoạt động hỗ trợ người học trong quá trình giảng dạy, v.v.
- Thứ ba: Các thành tố đảm bảo chất lượng đầu ra (kết quả đạt được)
Hai nội dung trên chính là hướng đến chất lượng đầu ra của cả quá trình đào tạo chính là chất lượng của người học sau khi tốt nghiệp. Một trường đại học có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều SV tốt nghiệp loại giỏi, người học đáp ứng được các yêu cầu liên quan đến nghề nghiệp của nhà sử dụng lao động. Để biết được điều đó, nhà trường phải có cơ chế thu thập thông tin đầu ra qua việc: khảo sát nhà sử dụng lao động về mức độ đáp ứng công việc của SV sau khi tốt nghiệp; thiết lập mối quan hệ giữa nhà trường với nhà sử dụng lao động để đánh giá, điều chỉnh chuẩn đầu ra, Chương trình đào tạo; khảo sát SV sau tốt nghiệp về tình hình việc làm và Chương trình đào tạo đã được thụ hưởng tại trường.
Như vậy, việc thiết kế, đánh giá và hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bên trong trường đại học được căn cứ từ chất lượng đầu vào, cùng với việc xây dựng nội dung Chương trình đào tạo và hoạt động dạy học để hướng đến chất lượng đầu ra là kết quả của cả quá trình.
1.5.2. Xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của trường đại học là tiểu hệ thống nằm trong hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường, hệ thống được vận hành dựa trên các thành tố của Đảm bảo chất lượng đào tạo với các tiêu chí đánh giá như sau:
- Có các quy trình hay không? (có càng nhiều quy trình đến từng nội dung công việc cụ thể càng tốt);
- Các quy trình có được vận hành không? (vận hành một lần, thường xuyên…) (minh chứng);
- Khi vận hành các quy trình có đem lại hiệu quả không? (minh chứng)
Cùng với đó, tác giả đề xuất hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo thể hiện ở hình 1.4 như sau:
- Hình 1.4: Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường đại học
Về tuyển sinh
- Xác lập chuẩn và quy trình: Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
CSGD tiến hành xác định ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào theo hướng chuẩn hóa với quy định chung của Bộ GD&ĐT và cơ quan chủ quản nếu có, đồng thời đảm bảo tính phù hợp với ngành đào tạo.
CSGD tiến hành xây dựng các kế hoạch tuyên truyền, truyền thông thương hiệu của nhà trường và tư vấn tuyển sinh theo hướng tiếp cận người học, công khai các thông tin của nhà trường và cam kết chất lượng đào tạo.
Tổ chức thực hiện: Cơ sở giáo dục thực hiện kế hoạch đã xây dựng, tiến hành phổ biến, giúp ban giám hiệu các trường trung học phổ thông, giáo viên, học sinh và phụ huynh nắm bắt và hiểu rõ thông tin về chính sách, chiến lược của nhà trường; về ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào, chế độ chính sách của nhà trường, thông tin về các ngành nghề đang đào tạo, …
Đánh giá mức độ thực hiện: Cơ sở giáo dục tiến hành giám sát, đo lường, đánh giá việc thực hiện hoạt động tuyên truyền, truyền thông thương hiệu của nhà trường và tư vấn tuyển sinh đáp ứng yêu cầu của Chương trình đào tạo.
- Về chương trình đào tạo:
Xác lập chuẩn và quy trình: Dựa trên các quy định của Bộ GD&ĐT, cơ quan chủ quản nếu có và các quy định khác của các bên liên quan, Cơ sở giáo dục tiến hành xây dựng quy trình xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của người học, xã hội và Chuẩn đầu ra đã tuyên bố.
- Tổ chức thực hiện: công tác tổ chức thực hiện bao gồm:
CSGD tiến hành tổ chức bồi dưỡng nhân sự thực hiện công tác xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo bao gồm các hoạt động tuyển dụng, tập huấn, phổ biến, đào tạo, … nhân sự để thực hiện quy trình: giúp cho người tham gia thực hiện hiểu rõ mục đích thực hiện các hoạt động này, các biện pháp ngăn ngừa lỗi, các kiến thức và kỹ năng cần có khi thực hiện quy trình.
CSGD tiến hành tổ chức và chỉ đạo thực hiện đúng quy trình xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo, phân công nhiệm vụ rõ ràng, đúng người, đúng việc; phối hợp với các nguồn lực để thực hiện quy trình.
- Đánh giá mức độ thực hiện: tùy thuộc vào đặc thù của mỗi quy trình mà bước này có thể có hoặc không.
CSGD tiến hành các hoạt động giám sát, đo lường, đánh giá việc thực hiện quy trình: đối chiếu chuẩn, quy trình, kế hoạch, … đã xác định hoặc ban hành. Ban Giám hiệu hoặc đơn vị chuyên trách thực hiện việc giám sát, đo lường, đánh giá quá trình thực hiện xây dựng, điều chỉnh Chương trình đào tạo và kết quả đạt được.
- Về hoạt động giảng dạy
- Xác lập chuẩn và quy trình:
CSGD tiến hành xây dựng quy trình, kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học nhằm đưa hoạt động dạy học đi vào nề nếp, các bên liên quan dễ dàng thực hiện. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
CSGD tiến hành xây dựng các tiêu chí thực hiện hoạt động dạy học của GV nhằm chuẩn hóa hoạt động giảng dạy và xem hoạt động dạy học là một công cụ cốt lõi để giúp người học đáp ứng yêu cầu của Chuẩn đầu ra.
- Tổ chức thực hiện: công tác tổ chức thực hiện bao gồm:
CSGD tiến hành tổ chức phổ biến, đào tạo và hướng dẫn GV thực hiện hoạt động dạy học, … theo quy trình, quy định đã công bố: giúp cho GV hiểu rõ mục đích thực hiện các hoạt động này, các biện pháp ngăn ngừa lỗi, các thao tác và việc cần làm khi thực hiện quy trình.
CSGD tiến hành tổ chức và chỉ đạo thực hiện quy trình, kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chuẩn đầu ra. Các đơn vị chuyên trách phối hợp cùng GV thực hiện quy trình này.
Đánh giá mức độ thực hiện: Cơ sở giáo dục tiến hành các hoạt động giám sát, đo lường, đánh giá việc thực hiện quy trình: đối chiếu chuẩn, quy trình, kế hoạch, … đã xác định hoặc ban hành. Ban Giám hiệu hoặc đơn vị chuyên trách thực hiện việc giám sát, đo lường, đánh giá quá trình thực hiện hoạt động dạy học và kết quả đạt được.
- Về sinh viên tốt nghiệp
- Xác lập chuẩn và quy trình:
CSGD tiến hành xây dựng các tiêu chí thu thập, xử lý thông tin về điều tra khảo sát SVTN bám sát Chuẩn đầu ra đã công bố của Chương trình đào tạo bao gồm các đánh giá về mức độ quan trọng và mức độ đạt được của SVTN; CSGD tiến hành xây dựng quy trình, kế hoạch thu thập, xử lý thông tin đảm bảo tính khoa học, minh bạch và độ tin cậy;
- Tổ chức thực hiện: công tác tổ chức thực hiện bao gồm:
CSGD tiến hành tổ chức phổ biến, đào tạo và hướng dẫn nhân sự thực hiện hoạt động thu thập và xử lý thông tin điều tra khảo sát, … theo quy trình, quy định đã công bố: giúp cho nhân sự hiểu rõ mục đích thực hiện các hoạt động này, các biện pháp ngăn ngừa lỗi, các thao tác và việc cần làm khi thực hiện quy trình. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
CSGD tiến hành tổ chức và chỉ đạo thực hiện quy trình, kế hoạch thực hiện thu thập thông tin và xử lý kết quả điều tra khảo sát. Kết quả điều tra khảo sát phải phân tích được thực trạng tình hình việc làm, mức độ đạt được cũng như đánh giá về mức độ quan trọng của Chuẩn đầu ra trong Chương trình đào tạo của SVTN.
Đánh giá mức độ thực hiện: Cơ sở giáo dục tiến hành các hoạt động giám sát, đo lường, đánh giá việc thực hiện quy trình: đối chiếu chuẩn, quy trình, kế hoạch, … đã xác định hoặc ban hành. Ban Giám hiệu hoặc đơn vị chuyên trách thực hiện việc giám sát, đo lường, đánh giá quá trình thực hiện quy trình khảo sát SVTN và kết quả đạt được.
Có thể thấy, để hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo được vận hành tốt, cần có một quá trình xây dựng và phấn đấu lâu dài của nhà trường bao gồm ban giám hiệu, cán bộ quản lý, GV và chuyên viên.
1.6. Yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo của trường đại học
1.6.1 Các yếu tố khách quan
- Thứ nhất: Trình độ phát triển kinh tế – xã hội
Ở thế kỷ XXI, nhân loại đứng trước một bối cảnh lịch sử mới và đối mặt với những thách thức chưa từng có. Sự chuyển biến từ thời kỳ công nghiệp sang thời kỳ phát triển của khoa học công nghệ, của nền kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng đã tác động đến tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của nhân loại, dẫn đến sự thay đổi căn bản các đặc tính văn hóa và giáo dục đã được hình thành qua nhiều thế hệ ở từng quốc gia và trên toàn thế giới. Giáo dục đại học cung cấp nguồn nhân lực và nhân tài cho sự phát triển của khoa học công nghệ, mặt khác sự phát triển của khoa học công nghệ lại tác động vào toàn bộ cơ cấu hệ thống giáo dục, đòi hỏi Giáo dục đại học phải luôn tự mình vận động và phát triển đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế – xã hội. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế tri thức, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học đang phải có giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài. Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo phải bám sát với yêu cầu, đòi hỏi của phát triển kinh tế xã hội. Đầu tư cho hệ thống Đảm bảo chất lượng phải phù hợp với người học chứ không phải là sự áp đặt máy móc bắt người học phải tuân theo, phải phục vụ xã hội, là công cụ để sáng tạo và phổ biến tri thức khoa học, đưa tri thức khoa học đến với mọi người. Các chính sách Đảm bảo chất lượng phải chú ý phối hợp hài hòa cả ba mục đích là: công bằng, thích hợp và chất lượng. Cần có cách tiếp cận phát triển hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo thích hợp với từng nhóm đối tượng, từng nhóm khách hàng, hướng đến giá trị chung, các mối quan tâm của cộng đồng, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.
- Thứ hai: Hệ thống chính sách
Cơ chế chính sách và hành lang pháp lý bao gồm: các văn bản pháp quy về đào tạo như Nghị quyết của Đảng; Chiến lược phát triển giáo dục của Chính phủ, các văn bản quy định của Bộ GD&ĐT và cơ quan chủ quản (nếu có); cơ chế quản lý của nhà nước đối với nhà trường. Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo được xây dựng dựa trên những yếu tố trên để đảm bảo tính thống nhất, tính chấp hành của một trường ĐH. Mặt khác, nếu cơ chế chính sách tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các trường ĐH thực thi hiệu quả, nhanh chóng. Nếu cơ chế chính sách không tốt, gặp phải sự chồng chéo hoặc khả năng thực thi thấp sẽ dẫn đến các khó khăn cho quá trình thực hiện của các Cơ sở giáo dục.
- Thứ ba: Xu hướng hội nhập quốc tế về giáo dục
Hiện nay, Giáo dục đại học Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với Giáo dục đại học quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là Đảm bảo chất lượng đào tạo. Do đó, việc xây dựng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu quốc tế hóa giáo dục cũng không thể nằm ngoài xu thế đó.
Ở Việt Nam hiện nay đã và đang chú trọng, quan tâm đến các chuẩn chất lượng đào tạo quốc tế như: Mạng lưới Đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA), Hội đồng cấp cao về đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp (HCERES), Hội đồng Kiểm định các trường và chương trình đào tạo về kinh doanh ACBSP (Hoa Kỳ), v.v.
1.6.2 Các yếu tố chủ quan Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Một là: Nhận thức về Đảm bảo chất lượng đào tạo
Nhận thức của lãnh đạo nhà trường về Đảm bảo chất lượng đào tạo là yếu tố rất quan trọng, quyết định các cơ chế, chính sách để xây dựng, duy trì và cải tiến hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường. Bên cạnh đó, để hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo đem lại hiệu quả cao thì các thành viên trong nhà trường phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tính cấp thiết và tầm quan trọng của việc Đảm bảo chất lượng đào tạo. Từ đó, trong quá trình phối hợp để thực hiện các công việc có liên quan đến Đảm bảo chất lượng đào tạo mới thuận lợi, hiệu quả và nhanh chóng. Khi mọi thành viên trong nhà trường nhận thức đầy đủ và đúng đắn về các vấn đề trên, họ sẽ tự giác, tích cực tham gia các hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo, từ đó tạo ra sự đồng thuận để triển khai hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo trong nhà trường.
- Hai là: Văn hóa chất lượng
Môi trường văn hóa chất lượng là môi trường mà ở đó sự duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo đã trở thành mục tiêu chung của mọi thành viên trong nhà trường. Chính vì thế, môi trường văn hóa chất lượng ảnh hưởng lớn đến hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo ở Cơ sở giáo dục.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học chịu tác động của văn hóa. Tác giả Ulf-Danial Ehlers và Dirk Schneckenberg đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa chất lượng và hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo như hình dưới đây.
- Hình 1.5: Các yếu tố tác động đến hệ thống Đảm bảo chất lượng
Văn hóa chất lượng tạo nên sự kết dính, giúp các thành viên trong tổ chức đoàn kết với nhau, góp phần làm giảm mâu thuẫn, xây dựng khối đoàn kết. Văn hoá chất lượng giống như một “chất keo” để kết nối các thành viên trong nhà trường, cùng nhau làm việc để hướng tới mục tiêu đào tạo và nâng cao chất lượng của nhà trường. Từ đó, giảm rủi ro công việc hàng ngày (tránh mâu thuẫn về quyền lợi, kiểm soát các hoạt động trong nhà trường, tối đa hoá các hoạt động có hiệu quả).
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả Trần Văn Hùng trong Luận án tiến sĩ Giáo dục học có tựa đề “Xây dựng văn hóa chất lượng trong các trường đại học tư thục Việt Nam” đã chỉ ra một số yếu tố có ảnh hưởng đến hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong các trường đại học nói chung và đại học tư thục nói riêng. Đây là mô hình các yếu tố được định hướng theo nhu cầu khách hàng và cho thấy thị trường lao động là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến công tác Đảm bảo chất lượng của trường đại học. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Hình 1.6. Ảnh hưởng của văn hóa khách hàng đến Đảm bảo chất lượng trong trường đại học [18]
Như vậy, khi xây dựng được môi trường văn hóa chất lượng có nghĩa là đã tạo lập và duy trì điều kiện cơ bản để cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Hoạt động của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo chỉ có tính bền vững khi diễn ra trong môi trường Văn hóa chất lượng.
- Ba là: Nguồn lực đầu tư cho hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo
- ĐNGV và nhân viên
Chất lượng của đội ngũ phụ trách Đảm bảo chất lượng cũng rất quan trọng. Cơ sở giáo dục có đội ngũ cán bộ Đảm bảo chất lượng có chất lượng là những người chuyên môn giỏi. Họ đảm nhận việc tư vấn các chính sách, tham mưu xây dựng và ban hành các văn bản quản lý (quy định, hướng dẫn, kế hoạch, …), tổ chức thực hiện và kiểm tra các công việc về Đảm bảo chất lượng đào tạo một cách hiệu quả, giúp Ban Giám hiệu dễ dàng quản lý công việc Đảm bảo chất lượng.
Đội ngũ Đảm bảo chất lượng giỏi là đội ngũ có bằng cấp, chuyên môn đúng với vị trí việc làm. Nhân lực phụ trách mảng này thường tốt nghiệp các chuyên ngành: đo lường và đánh giá trong giáo dục, quản lý giáo dục, Quản lý chất lượng, … Họ là những người thường xuyên được bồi dưỡng, đào tạo để nâng cao trình độ thông qua các hoạt động như nhà trường cử đi học, tập huấn hoặc tự học.
- Năng lực tài chính và cơ sở vật chất
Tự chủ là xu hướng tất yếu của các trường đại học công lập. Chính phủ xác định, đào tạo phải gắn với nhu cầu xã hội và tự chủ đại học gồm có 4 trụ cột chính, trong đó, tự chủ tài chính đóng vai trò nền tảng để thực hiện hiệu quả và bền vững các nội dung tự chủ về bộ máy, nhân sự và học thuật. Bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề tài chính cho giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay đang có những tồn tại, hạn chế cần tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện trong thời gian tới.
Nguồn lực tài chính cho Giáo dục đại học ở Việt Nam được hình thành từ nhiều nguồn gồm: ngân sách nhà nước và thu hợp pháp của các cơ sở Giáo dục đại học. Theo Nghị định số 16/2021/NĐ-CP, nguồn tài chính của các trường ĐH và cách thức huy động của từng nguồn hiện nay là: (i) Nguồn ngân sách nhà nước cấp; (ii) Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công; (iii) Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định; (iv) Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật; (v) Nguồn tài chính có từ những giao dịch tài chính của các trường ĐH theo quy định của pháp luật (vốn vay, vốn huy động, lãi tiền gửi ngân hàng…); (vi) Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật; (vii) Nguồn hỗ trợ tài chính cho sinh viên.
Trong bối cảnh nguồn tài chính cho Giáo dục đại học còn hạn hẹp, chưa được đa dạng hóa. Các cơ sở Giáo dục đại học chưa chủ động về nguồn thu, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước và thu từ học phí (đối với cơ sở Giáo dục đại học công lập) và nguồn thu từ học phí (đối với cơ sở Giáo dục đại học ngoài công lập); nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ còn hạn chế thì việc thiếu các nguồn lực đầu tư cho hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong là rất khó khăn.
Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo là một mô hình Quản lý chất lượng đang được nhiều nước sử dụng để Quản lý chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng Giáo dục đại học nói riêng. Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bao gồm: 1) Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong; 2) Hệ thống Đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường. Luận văn này chỉ xem xét và giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo bên trong trường đại học. Bản chất của Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo là hệ thống chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, nguồn lực, quy trình và thủ tục được các chủ thể quản lý giáo dục áp dụng theo những cách thức xác định nhằm duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo liên tục.
Mỗi hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo có vai trò quan trọng trong đảm bảo, duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo của một trường đại học. Một hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo được thiết kế hiệu quả sẽ góp phần nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh cho trường đại học. Hiện nay có nhiều mô hình Đảm bảo chất lượng đào tạo nhưng các trường đại học Việt Nam có 2 mô hình phổ biến là: Mô hình của AUN – QA và mô hình của Bộ GD&ĐT. Các thành tố cơ bản của một mô hình Đảm bảo chất lượng đào tạo gồm 3 thành tố chính là: Các yếu tố đầu vào, các yếu tố quá trình và các yếu tố đầu ra. Quá trình xây dựng, vận hành hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong trường đại học chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan, đó là yếu tố KT – XH, chính sách pháp lý, xu thế hội nhập giáo dục, nhận thức của Cơ sở giáo dục về Đảm bảo chất lượng đào tạo, văn hóa chất lượng và các nguồn lực đầu tư.
Để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của Cơ sở giáo dục đại học, vấn đề xây dựng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo có tính cấp thiết, các bước: xác lập chuẩn và quy trình, tổ chức thực hiện và đánh giá mức độ thực hiện cho các hoạt động tuyển sinh, xây dựng Chương trình đào tạo, hoạt động dạy học, … cần được thực hiện nghiêm túc, chuẩn chỉnh và phù hợp với các quy định và bối cảnh trong và ngoài nhà trường. Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo […]