Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích tăng trưởng và phát triển ngành du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngày này đời sống của con người ngày càng cao, họ không những chỉ có nhu cầu đầy đủ về vật chất mà con có nhu cầu được thảo mãn về tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành có triển vọng.

Ngành du lịch Lào ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thể giới nhưng vai trò của nó đối với kinh tế của quốc gia thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành “ công nghiệp không có ống khói ”, đóng góp GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Lào ra toàn thế giới. Nhận thức được điều này, Đảng và nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Việc nghiên cứu về du lịch trở nên cấp thiết, nó giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về du lịch. Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lí luận và thực tiễn. Nó giúp du lịch Lào đạt được những thành tựu mới, khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với tiềm năng của đất nước, và hội nhập với du lịch khu vực,thế giới.

Tỉnh Chăm Pa Sắc là một tỉnh có tài nguyên du lịch đa dạng, nơi đây còn lưu lại di sản văn hóa vô cùng phong phú. Bên cạnh đó miền đất này được thiên nhiên ưu đãi tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng hòa quyện với quần thể di tích lịch sử văn hóa đã làm cho tỉnh Chăm Pa Sắc thêm quyến rũ. Là một Tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch với nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, đây là điều kiện tốt để phát triển kinh tế du lịch, đưa du lịch thành kinh tế mũi nhọn. Thế nhưng, thực tế lại cho thấy, du lịch Chăm Pa Sắc chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, thương hiệu du lịch Chăm Pa Sắc đang dần mai một.

Để đánh giá đúng vị thế và định hướng phát triển của du lịch Chăm Pa Sắc luận văn của tác giả đề cặp đến những nhận thức cơ bản về du lịch, thực trạng tăng trưởng  và phát triển du lịch của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung và tỉnh Chăm Pa Sắc nói riêng. Vì vậy, em chọn đề tài : “ Phân tích tăng trưởng và phát triển ngành du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc ” tuy nhiên do sự hạn chế về nguôn ngữ kiến thức và thời gian nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của quí thầy cô. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá thực trạng kinh doanh du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc: chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng phát triển du lịch, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc đến năm 2040; và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc đến năm 2040.

3. ĐỐI TƯỢNG NHHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Thực trang hoạt động ngành du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc từ năm 2018- 2022 và  định hưởng 2040.

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

  • Không gian: Ngành du lịch của tỉnh Chăm Pa Sắc.
  • Thời gian: Du lịch của Tỉnh Chăm Pua Sắc từ năm 2018 đến 2022

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:

  • Phương pháp biện chứng duy vật: Nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc trong mối quan hệ hữu cơ với du lịch thế giới, khu vực với các lĩnh vực hoạt động khác.
  • Phương pháp duy vật lịch sử: Hoạt động du lịch được nghiên cứu giai đoạn 2018 – 2022 trong khu vực tỉnh Chăm Pa Sắc.
  • Phương pháp tổng hợp: Toàn bộ hoạt động liên quan đến du lịch để khái quát và đánh giá.
  • Phương pháp hệ thống: Phân tích hệ thống các hoạt động du lịch để đáp ứng thực trạng đi đến đưa ra các giải pháp phù hợp.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát: Tiến hành nghiên cứu một số thực tiễn hoạt động du lịch ở địa phương, phỏng vấn các doanh nghiệp và du khách về du lịch. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.
  • Phương pháp tích số liệu:

Mục tiêu 1: Sử dụng phân tích thống kê mô tả để phân tích số liệu điều tra nhằm nhân dạng, tổng hợp và đánh giá thực trạng du lịch Chăm Pa Sắc. + Mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp quan sát, phân tích thống kê đánh giá thực trạng hoạt đông du lịch Chăm Pa Sắc.

Mục tiêu 3: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trên đồng thời sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu thu thập để nhận định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với ngành du lịch Chăm Pa Sắc.

Mục tiêu 4: Lập các ma trận yếu tố bên trong IEF, yếu tố bên ngoài EEF, ma trận SWOT để phân tích lựa chọn chiến lược và để ra một số giải pháp góp phần phát triển du lịch Chăm Pa Sắc.

6. KẾT CẤU LUẬN VĂN:

Luận văn được chia làm 3 chương như:

  • Chương 1: Lý luận tăng trưởng, phát triển và du lịch.
  • Chương 2: Thực trạng tăng trưởng và phat triển du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc từ năm 2018 – 2022.
  • Chương 3: Các giải pháp phát triển ngành du lịch của tỉnh Chăm Pa Sắc.

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ DU LỊCH 

1.1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 

1.1.1 Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là năm, quý).

1.1.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

  • Khái lược lý thuyết của Keynes về tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes được biết đến trong tại liệu lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Nhà xuất bản Đại học Glassgow ấn hành năm 1936. Tác phẩm này là nền tảng cho sự phát triển của cả một ngành kinh tế học và là công trình được nhắc đến và gây tranh cãi nhiều nhất đối với kinh tế học thế kỷ XX. Công trình này có tính chất phê phán những quan điểm kinh tế trước đó, đặc biệt là quan điểm cho rằng “bản thân cung sẽ tạo ra cầu của chính nó.”

Trong tác phẩm này, Keynes đã đưa ra những nhân tố xác định mức sản lượng và việc làm trong một quốc gia. Tuy rằng cuốn sách này của Keynes đề cập không nhiều về chính sách kinh tế, nhưng nó đã góp phần cung cấp một nền tảng lý thuyết cho các động thái mang tính chính sách của chính phủ trong việc ngăn chặn cuộc Đại suy thoái, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các quốc gia trong những năm 30 của thế kỷ trước. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

  • Sự cân bằng của nền kinh tế

Hình 1.1: Mô hình mô tả sự cân bằng của nền kinh tế

Keynes cho rằng, nền kinh tế không phải lúc nào cũng đạt đến mức sản lượng tiềm năng nhờ cơ chế tự điều chỉnh như quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển. Mà nền kinh tế chỉ có thể đạt tới và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng nào đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người. Khi mô tả nền kinh tế, cũng giống như mô hình cổ điển, ông cho rằng có hai đường tổng cung: AS – LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, và AS – SR phản ánh khả năng thực tế. Và, cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường sản lượng thực tế đạt được ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nơi mà dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người.

Nền kinh tế có thể cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng (Yo < Y*)

  • Vai trò của tổng cầu trong việc tăng sản lượng của nền kinh tế

Theo Keynes, khi mức thu nhập thấp hơn mức tiêu dùng cần thiết, có thể xuất hiện tình trạng chi tiêu vượt quá thu nhập. Nhưng khi mức thu nhập tuyệt đối được nâng lên thì sẽ có khuynh hướng nới rộng sự chênh lệch giữa thu nhập và tiêu dùng. Đặc biệt khi người ta đạt đến sự tiện nghi nào đó, thì họ sẽ trích từ phần thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng ít hơn, còn cho tiết kiệm nhiều hơn. Đây là quy luật tâm lý cơ bản của bất cứ cộng đồng tiên tiến nào. Theo J.M.Keynes, khi việc làm tăng lên thì tổng thu nhập thực tế tăng lên, do vậy cũng làm tăng tiêu dùng. Song do quy luật tâm lý nêu trên, nên sự gia tăng tiêu dùng nói chung chậm hơn sự gia tăng thu nhập, và khoảng cách đó ngày càng tăng theo tốc độ gia tăng thu nhập. Nói cách khác, tiết kiệm có khuynh hướng gia tăng nhanh hơn. Keynes cho rằng sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùng là xu hướng của mọi xã hội tiên tiến. Đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng nền kinh tế trì trệ, suy giảm tăng trưởng kinh tế.

Mặt khác, khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tư của các doanh nghiệp, ông cho rằng đầu tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm và theo đó là tăng trưởng kinh tế. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung công nhân, cầu về tư liệu sản xuất. Do vậy, làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công nhân. Tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên. Đến lượt nó, tăng thu nhập lại là tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới. Đây là quá trình số nhân đầu tư: tăng đầu tư làm tăng thu nhập; tăng thu nhập làm tăng đầu tư mới; tăng đầu tư mới làm tăng thu nhập mới – nền kinh tế tăng trưởng. Quá trình này được tính toán như sau: K= dR / dI Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Trong đó: dR  là gia tăng thu nhập dI là gia tăng đầu tư K: là số nhân vì dI= Ds nên K= dR / dI = dR / dS = dR / (dR – dC) = 1 / (1 – dC / dR ) (dC: là gia tăng tiêu dùng; dS: là gia tăng tiết kiệm)

Theo Keynes, cùng với việc tăng lên của vốn đầu tư, thì hiệu quả giới hạn của tư bản, tương quan giữa thu hoạch tương lai của đầu tư và phí tổn đầu tư, sẽ giảm sút. Có hai nguyên nhân làm cho hiệu quả giới hạn của tư bản giảm sút. Thứ nhất, đầu tư tăng sẽ làm tăng thêm khối lượng hàng hoá cung ra thị trường. Điều đó làm giảm giá hàng hoá và kéo theo làm giảm thu nhập tương lai. Thứ hai, tăng cung hàng hoá sẽ làm giá cung của tài sản tư bản tăng lên hay tăng phí tổn thay thế. Từ đó, làm cho thu nhập tương lai giảm xuống.

Hơn nữa, giữa đầu tư và lãi suất lại có quan hệ với nhau. Sự khuyến khích đầu tư tuỳ thuộc một phần vào lãi suất. Người ta sẽ tiếp tục đầu tư, chừng nào hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất thị trường.

Như vậy, đầu tư mới tăng lên, việc làm gia tăng sẽ làm gia tăng thu nhập, và từ đó, sẽ làm tăng tiêu dùng. Song, do khuynh hướng tiêu dùng giới hạn, nên tiêu dùng tăng chậm hơn so với tăng thu nhập, còn tiết kiệm lại tăng nhanh hơn. Điều này làm cho tiêu dùng giảm tương đối. Việc giảm tiêu dùng tương đối sẽ làm giảm cầu có hiệu quả, còn cầu lại ảnh hưởng đến quy mô sản xuất và đến tăng trưởng kinh tế. Để điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng, cần phải tăng chi phí đầu tư, tăng tiêu dùng sản xuất. Song khối lượng đầu tư lại phụ thuộc vào ý muốn đầu tư cho tới khi nào hiệu quả giới hạn của tư bản giảm xuống bằng mức lãi suất. Nhưng trong nền kinh tế, hiệu suất tư bản có xu hướng giảm sút, còn lãi suất cho vay có xu hướng ổn định, điều đó tác động đến đầu tư mới, và khủng hoảng xuất hiện, nền kinh tế trở nên trì trệ.

  • Chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế

Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp, khủng hoảng và duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập. Theo ông, chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước; hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ; các hình thức khuyến khích tiêu dùng. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Về đầu tư nhà nước, Keynes cho rằng, ngân sách nhà nước là một công cụ hữu hiệu trong việc kích thích đầu tư tư nhân cũng như tiêu dùng của nhà nước. Ông chủ trương thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống mua của nhà nước, trợ cấp về tài chính, tín dụng sẽ tạo ra sự ổn định về lợi nhuận và đầu tư cho tư bản độc quyền.

Về hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ, theo Keynes, hệ thống tài chính, tín dụng có vai trò quan trọng trong việc kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư của các nhà kinh doanh. Theo ông, Nhà nước có thể đưa thêm tiền vào lưu thông để giảm lãi suất cho vay, khuyến khích nhà kinh doanh mở rộng quy mô đầu tư. Đồng thời, để tăng hiệu quả tư bản, ông chủ trương “lạm phát có kiểm soát” để làm tăng giá cả hàng hoá nhờ đó các nhà kinh doanh thu được lợi nhuận nhiều hơn (trong điều kiện chi phí sản xuất chưa thay đổi). Có thể nói, đây là một trong các động lực trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh, góp phần vào tăng trưởng kinh tế.

Về các hình thức tạo việc làm, ông cho rằng để nâng cao tổng cầu và việc làm cần mở rộng nhiều hình thức đầu tư. Bởi lẽ, đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt, khi có đầu tư thì sẽ có nhiều việc làm và mang lại thu nhập. Như vậy, thông qua đầu tư có thể tránh được khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp. Về khuyến khích tiêu dùng, để mở rộng tiêu dùng, Keynes khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với các nhà tư bản, tầng lớp giầu có cũng như đối với người nghèo.

Trên cơ sở lý thuyết của J.M. Keynes, các nhà kinh tế học tiếp tục xây dựng thành trường phái Keynes hay còn gọi là những người Keynes mới. Trường phái này bao gồm ba trào lưu. Thứ nhất, những người Keynes phái hữu ủng hộ các nhóm độc quyền xâm lược, chạy đua vũ trang, quân phiệt hoá nền kinh tế. Thứ hai, những người Keynes tự do bảo vệ lợi ích độc quyền, song không ủng hộ chạy đua vũ trang. Hai trào lưu này hình thành nên những người Keynes chính thống. Thứ ba, những người Keynes phái tả biểu hiện lợi ích của giai cấp tư sản vừa và nhỏ, chống lại độc quyền. Trào lưu này tiếp tục được phát triển dưới tên gọi “những người sau Keynes.” Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Trường phái sau Keynes nghiên cứu rất nhiều các phạm trù khác nhau như: đi sâu nghiên cứu về tiêu dùng; đi sâu phân tích phân đoạn lợi tức; nguyên nhân chu kỳ kinh doanh và cơ cấu số nhân – gia tốc; chính sách tài chính. Nhưng vị trí trung tâm trong lý thuyết của trường phái “sau Keynes” là vấn đề tăng trưởng và phân phối, họ khẳng định nhịp độ tăng trưởng sản xuất phụ thuộc vào việc phân phối thu nhập quốc dân, lượng thu nhập và lượng tiết kiệm, còn tổng lượng tiết kiệm là tổng số tiết kiệm từ lương và lợi nhuận.Những người “sau Keynes” luận giải rằng vì khuynh hướng tiết kiệm giữa những người nhận tiền lương và những người nhận lợi nhuận có sự khác nhau, cho nên sự thay đổi trong phân phối sẽ ảnh hưởng đến tổng lượng tiết kiệm. Đến lượt mình, phân phối thu nhập quốc dân lại là hàm số của tích luỹ tư bản. Mà tích luỹ tư bản xác định tỷ suất lợi nhuận và phần lợi nhuận trong thu nhập quốc dân. Phái sau Keynes chủ trương muốn tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều chỉnh nền kinh tế TBCN. Các đại biểu của phái này cho rằng, muốn nâng cao nhịp độ tăng trưởng thì cần phải phân phối lại thu nhập quốc dân theo hướng có lợi cho lợi nhuận. Bởi lẽ, nếu nâng cao tiền lương phù hợp với việc tăng năng suất lao động sẽ khắc phục được những khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hoá và là sự kích thích quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.

Ngoài ra, những người “sau Keynes” ủng hộ chính sách thu nhập. Họ coi đó là phương tiện đấu tranh chống lạm phát. Vì phương pháp truyền thống sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ – tín dụng là không có hiệu quả. Họ muốn kết hợp chính sách thu nhập với chính sách tăng trưởng kinh tế, kể cả việc xác định nhịp điệu và cơ cấu đầu tư. Đa số các nhà kinh tế theo phái này ủng hộ sự cần thiết tăng cường điều chỉnh kinh tế của nhà nước, thực hiện tập trung hoá và xác định các mục tiêu chiến lược lâu dài.

1.2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

1.2.1 Khái niệm

Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt kinh tế – xã hội của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng.

1.2.2 Nội dung chủ yếu của phát triển kinh tế 

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dài hạn. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo ra những tiến bộ về kinh tế – xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển thu nhập thấp.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế – xã hội thay đổi theo hướng tiến bộ. Xu hướng tiến bộ của quá trình công nghiệp hóa thể hiện ở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và độ thị hóa; đó không đơn thuần là sự gia tăng về quy mô, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra; họat động của nền kinh tế ngày càng gia tăng hiệu qủa và năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở cho việc đạt được những tiến bộ xã hội một cách  sâu rộng.

Thứ ba, những tiến bộ kinh tế – xã hội chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại. Đến lượt mình kết quả của những tiến bộ kinh tế đạt được lại làm gia tăng không  ngừng năng lực nội sinh của nền kinh tế ( thể hiện ở những tiến bộ về công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nguồn vốn trong nước…)

Thứ tư, đạt được sự cải thiện sâu rộng chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội là kết quả của sự phát triển

Đương nhiên một kết quả như thế không chỉ là sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người, thu nhập bình quân có thể che lấp đằng sau nó sự phân phối bất bình đẳng, nạn đói nghèo, thất nghiệp và những thụ hưởng khác về giáo dục, y tế văn hóa…

1.2.3 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Để phản ánh nội dung khác nhau của khái niệm phát triển kinh tế cần phải có các nhóm chỉ tiêu khác nhau:

Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm háy bình quân năm của một giai đoạn nhất định.

Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về cơ cấu kinh tế-xã hội: chỉ số cơ cấu kinh tế theo ngành trong GDP;  chỉ số cơ cấu về họat động ngoại thương; tỷ lệ dân cư sống trong khu vực thành thị trong tổng số dân; tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ…

Nhóm các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống gồm: thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người.

Các chỉ số về dinh dưỡng: số  calo bình quân người năm.

Các chỉ số về giáo dục: Tỷ lệ người biết chữ, số năm đi học bình quân…Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục của dân cư.

Các chỉ số về y tế: Tỷ lệ bác sĩ trên một ngàn dân số giường bình trên một ngàn dân… Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển y tế của một quốc gia và mức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế của dân cư.

Các chỉ số phản ánh về công bằng xã hội và nghèo đói: Tỷ lệ nghèo đói và khoảng cách nghèo đói, chỉ tiêu phản ánh và mức độ bình đẳng giới, chỉ số phản ánh công bằng xã hội. Ngòai ra, có thể có các chỉ tiêu khác như các chỉ tiêu phản ánh sử dụng nước sạch hay các điều kiện về kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội khác…

Chỉ số phát triển con người ( HDI ), chỉ số này được tổng hợp từ ba từ ba chỉ số: thu nhập bình quân đầu người, mức độ phổ cập giáo dục, tuổi thọ trung bình. Như vậy HDI không chỉ phản ánh mức sống vật chất, mà còn đo lường cả mức sống tinh thần của dân cư. HDI đo lường chính xác hơn chất lượng cuộc sống của dân cư.

1.2.4 Mỗi quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế 

Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế. Ở những nước đang phát triển, đặc biệt là những nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không đạt được mức tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện kinh tế để cải thiện mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế có thể được thực hiện bởi những phương thức khác nhau và do đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau. Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế không gắn với sự thúc đẩy cơ cấu kinh tế – xã hội theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng, mà thậm chí còn làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, sẽ không thể tạo ra sự phát triển kinh tế. Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này, cho vùng này, mà không hoặc đem lại lợi ịch không đáng kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác thì tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ khóet sâu vào bất bình đẳng xã hội. Những phương thức tăng trưởng như vậy, rốt cục, cũng chỉ là kết quả ngắn hạn, không những không thúc đẩy được phát triển, mà bản thân nó cũng khó có thể tồn tại được lâu dài.

1.3 KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH, KHÁCH DU LỊCH,ĐIỂM DU LỊCH VÀ CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

1.3.1 Khái niệm về du lịch

Du lịch là một hiện tượng tồn tại cùng với sự phát triển của loài người, là một trong những nhu cầu ngày càng trở thành tất yếu giúp con người điều hòa cuộc sống của chính mình trong xã hội và tự nhiên. Sự xuất hiện nhu cầu du lịch xuất phát từ mong muốn tạm thời rời bỏ cuộc sống thường ngày, bằng phương tiện vận tải tới một nơi khác ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao hiểu biết và không nhằm tạo ra thu nhập.

Từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX du lịch vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ coi đây là hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế-xã hội. Trong giai đoạn hiện nay , người ta xem du lịch như một hiện tượng xã hội làm phong phú thêm cuộc sống và sự nhận thức của con người. Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại, lưu trú của những người ngoài địa phương nhằm mục đích nghỉ ngơi, tiêu dùng những thu nhập mà họ có được, không có mục đích định cư và có thể kết hợp tìm hiểu thị trường.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động làm cho du lịch trở thành một hoạt động kinh tế. Du lịch với tư cách là một ngành kinh tế thực sự xuất hiện giữa thế kỷ XIX.

Thời kỳ Ai Cập và Hy lạp cổ đại: hiện tượng đi du lịch đã xuất hiện, đó là các chuyến đi của các nhà chính trị và thương gia. Sau khi phát hiện ra nguồn nước khoáng có khả năng chữa bệnh, loại hình du lịch chữa bệnh xuất hiện. Du lịch thời kỳ này mang tính tự phát do các cá nhân tự tổ chức.

Thời kỳ văn minh La mã: Người La mã tổ chức các chuyến đi tham quan các ngôi đền và Kim tự tháp Ai Cập, các ngôi đền ven Địa Trung Hải. Thời kỳ này xuất hiện loại hình công vụ và tham quan. Đó là hành trình của các thương gia, các hầu tước, bá tước… Con người bắt đầu muốn có các chuyến đi tìm hiểu thế giới xung quanh, điều đó thúc đẩy số người đi du lịch tăng lên và du lịch bắt đầu trở thành cơ hội kinh doanh. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Thời kỳ phong kiến: Hoạt động du lịch hình thành rộng rãi hơn, các chuyến đi nhằm mục đích lễ hội ngắm cảnh, giải trí của các tầng lớp vua chúa, quan lại phát triển mạnh, các khu vực có giá trị chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ thu hút khách du lịch. Các hoạt động buôn bán mở rộng ra nhiều nước, loại hình du lịch công vụ phát triển. Giai đoạn này, du lịch với tư cách là ngành kinh tế định hình rõ hơn.

Thời kỳ cận đại: Du khách tập trung chủ yếu vào các nhà tư bản giàu có, giới quý tộc trong xã hội. Hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch mới chỉ tập trung ở một số nước có nền kinh tế phát triển.

Thời kỳ hiện đại: Sự phát triển của công nghệ và phát minh về khoa học tạo cho du lịch bước tiến nhanh chóng, đó là sự xuất hiện của xe lửa, ô tô và đặc biệt là máy bay, du lịch trở thành nhu cầu quan trọng đối với con người.

Du lịch với tư cách là ngành kinh tế chỉ thực sự xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX. Đó là năm 1841 Thomas Cook, người Anh tổ chức chuyến đi đông người lần đầu tiên đi du lịch trong nước, sau đó ra nước ngoài đánh dấu sự ra đời của tổ chức kinh doanh du lịch. Vào những năm 1880 các nước Pháp, Thụy Sĩ, Áo có các hoạt động kinh doanh khách sạn hiện đại rất phát triển. Đặc biệt từ những năm 1950 trở về đây, ngành du lịch phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế hết sức quan trọng của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Các thành tựu về khoa học đã thúc đẩy du lịch trở thành nhu cầu quan trọng không chỉ một bộ phận dân cư mà từ những năm 1950 trở đi, du lịch trở thành nhu cầu có tính phổ biến trong quảng đại quần chúng. Hoạt động du lịch gắn liền với cuộc sống hiện đại, khi thu nhập tăng lên, thời gian nghỉ ngơi kéo dài, cách mạng công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, du lịch là ngành kinh tế nền tảng quan trọng của một quốc gia phát triển. Khái niệm du lịch, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau song từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (International Union of Travel Organition) năm 1925 tại Hà Lan thì dần được hoàn thiện.

Nhìn từ góc độ kinh tế thì nhà kinh tế học Kalfiostic cho rằng: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của các cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến nơi khác nhằm thoả mãn các nhu cầu tinh thần, đạo đức do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”.

  • Michael M.Coltman cho rằng: “Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của bốn nhóm: du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và dân cư tại các nơi đến du lịch tạo nên”
  • Hai giáo sư người Thụy Sĩ Hunziker và Krapf đã đưa ra một định nghĩa khá tổng quát: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ việc đi lại và lưu trú tạm thời của con người, nơi họ lưu lại không phải là nơi ở thường xuyên hoặc là nơi làm việc kiếm tiền sinh sống”. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.
  • Theo IUOTO (International Union of Offinal Travel Organition): “Du lịch được hiểu là hoạt động du hành đến nơi khác với địa điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”.

Nói tóm lại, việc đưa ra nhiều định nghĩa về du lịch của các học giả là tuỳ vào từng góc độ tiếp cận của họ, nhưng không phải tất cả đều hoàn chỉnh. Vì vậy khái niệm được đưa ra của hội nghị Liên Hợp quốc về du lịch họp ở Roma – Italia(21/8 – 5/9/1963): “Du lịch là cả một quy trình gồm tất cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyến đi cho đến lúc di chuyển và đến nơi cư trú, ăn ở, mua sắm, giải trí, giao tiếp, nghỉ ngơi… đến lúc trở về nhà và hồi tưởng”. Định nghĩa này được đánh giá là đầy đủ vì vừa chỉ rõ được nhu cầu, mục đích của du khách và nội dung của hoạt động du lịch.

Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa, Canada, 24-28/6/1991 đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động của con người tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn hoặc bằng khoảng thời gian đã được các cơ quan chức năng quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm.

Trong đó: “Môi trường thường xuyên” có nghĩa là loại trừ phạm vi các chuyến đi trong phạm vi của nơi ở (nơi ở thường xuyên) và các chuyến đi có tính chất thường xuyên hàng ngày (các chuyến đi thường xuyên định kỳ có tính chất phường hội giữa nơi ở và nơi làm việc và các chuyến đi phường hội khác có tính chất thường xuyên hàng ngày).

“Khoảng thời gian ít hơn hoặc bằng khoảng thời gian đã được các cơ quan chức năng du lịch quy định trước” nghĩa là để loại trừ sự di cư trong một thời gian dài. Không phải là “tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm” có nghĩa là loại trừ việc di cư để làm việc tạm thời. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Từ góc độ nghiên cứu chúng tôi đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những tổ chức, xí nghiệp đặc biệt, nhằm đáp ứng nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác của khách du lịch”.

Thị trường du lịch có chức năng cơ bản là mua và bán các dịch vụ, hàng hoá du lịch. Thị trường du lịch tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự cân bằng nền kinh tế quốc dân. Thị trường du lịch tạo ra các đòn bẩy kinh tế (ví dụ: giá cả, tỷ giá, tiền hoa hồng, phần trăm lợi tức…) kích thích mở rộng sản xuất và tiêu thụ. Điều đó có nghĩa là bằng cơ chế thị trường, bằng con đường kinh tế buộc các nhà sản xuất phải thay đổi sản xuất phù hợp với thị trường, phù hợp với yêu cầu của khách du lịch. Ngược lại, thị trường du lịch còn tác động đến khách du lịch bằng cách chỉ ra các sản phẩm bán trên thị trường du lịch có thể thoả mãn nhu cầu của họ.

  • Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp và có một số đặc điểm sau:

Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Bất cứ một du khách nào, với động cơ và hình thức du lịch ra sao thì yêu cầu có tính phổ biến phải đạt được đối với họ là được tham quan, vui chơi giải trí, tìm hiểu thưởng thức các giá trị về thiên nhiên, lịch sử, văn hoá, xã hội …của một xứ sở. Đó là các bãi biển đầy ánh nắng, các thác nước, các núi non hang động kỳ thú, các giống loài động thực vật quý hiếm, các thành quách lâu đài, các đền chùa với nhiều kiến trúc cổ và những ngày lễ hội tầm linh; các trung tâm kinh tế, văn hoá lớn; các rừng quốc gia, các khu di chỉ…

Tài nguyên du lịch có loại do thiên nhiên tạo ra nhưng có loại do quá trình phát triển lịch sử qua nhiều thế hệ của con người tạo ra. Đây chính là cơ sở khách quan để hình thành nên các tuyến, điểm du lịch.

Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách du lịch. Những người đi du lịch dù thuộc đối tượng nào và với nguồn tiền của cá nhân hay tập thể thì trong thời gian đi du lịch, mức tiêu dùng của họ thường cao hơn so với tiêu dùng bình quân của đại bộ phận dân cư. Chưa kể một bộ phận lớn khách du lịch quốc tế là các tầng lớp thượng lưu: những thương gia, những nhà kinh doanh, trí thức, chính khách… giàu có. Vì vậy ngành du lịch, phải là một ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ cho các nhu cầu về nghỉ ngơi, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, mua hàng và các dịch vụ khác của khách sao cho vừa thuận tiện, an toàn,vừa sang trọng, lịch sự và có khả năng đáp ứng các nhu cầu dịch vụ ở mức độ cao cấp.

Du lịch là ngành ngoài kinh doanh và dịch vụ ra còn phải bảo đảm nhu cầu an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội cho du khách, cho địa phương và các nước đón nhận du khách.

Ngành du lịch là một ngành kinh tế – xã hội – dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các dạng nhu cầu khác. Như vậy đây là một ngành đặc biệt có nhiều đặc điểm và tính chất pha trộn nhau tạo thành một tổng thể rất phức tạp. Hoạt động của ngành du lịch vừa mang đặc điểm của một ngành kinh tế, vừa mang đặc điểm của một ngành văn hoá – xã hội.

1.3.2 Khái niệm về khách du lịch và điểm du lịch Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

1.3.2.1 Khách du lịch 

Khách thăm viếng (visitor): Hội nghị LHQ về du lịch và lữ hành quốc tế tổ chức tại Roma – Italia, năm 1963, đã đề nghị một thuật ngữ chung cho khách thăm viếng: “ Bất kỳ người nào đến thăm một quốc gia khác ngoài quốc gia mà người đó đang sống với bất kỳ lý do nào khác hơn là để làm việc hưởng lương tại quốc gia mà người đó đến thăm”.

Khách thăm viếng được chia ra làm 2 lọai : khách du lịch và khách tham quan.

Khách du lịch ( Tourist ): là khách thăm viếng (visitor), lưu trú tại một quốc gia khác ( hoặc ở một nơi thường xuyên ) tren 24 giờ và nghi lại qua đêm với mục đích cuộc hành trình có thể xếp loại vào một trong những tên gọi sau: giải trí (leisure), tiêu khiển (recreaction), nghỉ lễ (holiday), thể thao (sport), sức khỏe (health), học tập( study), tôn giáo (religion),gia đình (family), công tác (mission), hội nghị (meeting)

Khách thăm quan (Ecursionist): còn gọi là khách thăm viếng một ngày (day visitor). Là khách thăm viếng lưu lại một khu vực dưới 24 giờ. Những người đi đến một quốc gia khác hoặc một nơi khác bằng tàu thủy theo tuyến (cruiseship) cũng được gọi là khách thăm quan. Nhân viên của thủy thủ đòan hay phi hành đòan nếu không lưu trú tại khu vực đó cũng được gọi là khách tham quan ( ngoại trứ họ nghỉ ngơi tại khách sạn ).

Khách du lịch quốc tế: khách du lịch quốc tế phải có những đặc trưng cơ bản sau:

Là người nước ngoài ( bao gồm cả người Lào định cư ở nước ngoài vào Lào du lịch ( khách Inbound)).

Công dân Lào, người nước ngoài cư trú tại Lào ra nước ngoài du lịch (khách Outbound).

Mục đich chuyến đi của họ là tham quan, thăm than nhân, tham dự hội nghị, đi công tác, khảo sát thị trường, thể thao, chữa bênh,hành hương, nghỉ ngơi…. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Khách thăm quan quốc tế (International Excursionist): Một người đáp ứng các tiêu chuẩn trên nhưng không ở qua đêm được gọi là khách tham quan quốc tế.  Khách du lịch nội địa ( Domestic tourist ): Bất kỳ người nào ngụ tại một quốc gia nào, bất kỳ quốc tịch gì đi du lịch đến một nơi khác với chỗ thường trú của mình trong phạm vi quốc gia trong thời gian 24 giờ hay một đêm và vì bất kỳ lý do nào khác hơn là thực hiện một hoạt động trả công tại nơi đến thăm.

Khách thăm quan nội địa ( Domestic Excursionist ): Một người đáp ứng được các tiêu chuẩn của khách du lịch nội địa nhưng không ở qua đêm,  được gọi là khách thăm quan nội địa.

1.3.2.2 Điểm du lịch  

Là khu vực có những đặc trưng tự nhiên hoặc nhân văn có sức hấp dẫn du khách đến thăm quan du lịch. Điểm du lịch có thể là một thị trấn, thị xã, thành phố hoặc cơ sở kinh doanh, khuôn viên giải trí, bảo tang….

 Tỉnh Chăm Pa Sắc không chỉ được xem là điểm du lịch với những tài nguyên về tự nhiên và nhân văn phong phú mà còn là một điểm đến hấp dẫn du khách quốc tế, là sự lựa chọn hàng đầu khi họ đến Lào. Điều đó được thể hiện qua các tiềm năng tự nhiên – Kinh tế – Xã hội để xây dựng Tỉnh Chăm pa sắc là điểm đến hấp dẫn trong long du khách quốc tế.

1.3.3 Các loại  hình du lịch

Họat động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa ra. Hiện này đa số các chuyên gia về du lịch Lào phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây.

Du lịch chữa bệnh: dành cho khách có nhu cầu điều trị bệnh, phục hồi sức khỏe. Ngày nay, một số nước phát triển đã biết kết hợp có hiệu quả việc khai thác sử dụng nước khoáng, khí hậu miền núi, miền biển…với mục đích kinh doanh và phục vụ khách du lịch.

Du lịch nghỉ ngơi: dành cho khách có nhu cầu nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe, gần gũi thiên nhiên và thay đổi không khí, môi trường sống hàng ngày, loại du lịch này cũng mang ít nhiều đặc biệt của du lịch chữa bệnh.

Du lịch khoa học, văn hóa: dành cho khách du lịch có nhu cầu mở rộng sự hiểu biết của mình. Khách du lịch loại này thường tham quan các di tích lịch sử, kiến trúc, kinh tế xã hội, phong tục tập quán của nước mà họ đến du lịch.

Du lịch thể thao: khách du lịch là các vận động viên đến để thi đấu, các cổ động viên đi xem và ủng hộ.

Du lịch công vụ: khách du lịch là những người đi dự hội nghị, hội thảo, chuyên đề, lễ kỷ niệm.

Như vậy, các loại hình du lịch tựu trung thể hiện kết hợp dưới hai dạng tổng quát chủ yếu là:

Du lịch vật chất (hình thể): ăn uống, ngủ nghỉ, hướng dẫn, giải trí, tham quan, vận chuyển, dịch vụ giải trí.

Du lịch phi vật chất (phi hình thể): sự niềm nở của đơn vị địa phương, kỹ năng quản lý và thực hiện của nhân sự, truyền thống văn hóa địa phương, sự nổi tiếng của các sản phẩm địa phương… Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH

1.4.1 Các yếu tố bên ngoài 

  • Môi trường kinh tế 

Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du lịch. Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch. Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế thuộc hội đồng kinh tế và xã hội Liên Hiệp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cho du lịch.

  • Môi trường chính trị – xã hội 

Tình hình chính trị, hòa bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước. Một quốc gia mặc dù có tài nguyên về du lịch cũng không phát triển được du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra các cuộc chiến tranh, thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hòa bình.

Trên thế giới những nước có đường lối chính trị trung lập và nền hòa bình ổn định thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng nhân dân – khách du lịch. Ngược lại ở những nước có nền chính trị, hòa bình bất ổn hay có những biến cố cách mạng, đảo chính quân sự….thì sự phát triển của du lịch là hạn chế, nhiều khi bị phá hủy.

Các chính sách điều tiết của nhà nước góp phần tạo điều kiện để phát triển du lịch phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại và các dự đoán trong tương lai. Tuy nhiên, cũng có một số chính sách kìm hãm sự phát triển của ngành, ví dụ như một số chính sách về bảo tồn di tích giúp nhà nước đạt được mục tiêu về xã hội nhưng hạn chế du khách quay trở lại vì không có cái mới.

  • Yếu tố tự nhiên  Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

Thiên nhiên là môi trường sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất. Các điều kiện về môi trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về du lịch là: địa hình đa dạng, khí hậu ôn hòa, động, thực vật phong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi, đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch.

  • Yếu tố nhân văn 

Giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý ngĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm, một vùng hoặc một đất nước. Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến du lịch.

Đây được coi là tài nguyên đặc biệt hấp dẫn của ngành du lịch. Nếu tài nguyên thiên nhiên thu hút du khách bởi sự hoang sơ, độc đáo và hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó. Các đối tượng văn hóa là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú. Như vậy xét dưới góc độ thị trường thì văn hóa vừa là yếu tố cung, vừa góp phần hình thành yếu tố cầu của hệ thống du lịch.

1.4.2. Yếu tố bên trong Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

  • Các điều kiện về tổ chức 

Các điều kiện về tổ chức bao gồm những nhóm điều kiện cụ thể như: Sự có mặt của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, đó là bộ máy quản lý vĩ mô về du lịch bao gồm: Chính sách phát triển du lịch, quy hoạch, môi trường pháp lý và thủ tục hành chính. Và sự có mặt của các tổ chức và doanh nghiệp chuyên trách về du lịch, đó là bộ máy quản lý vi mô về du lịch. Các tổ chức này có nhiệm vụ chăm lo đến việc đảm bảo sự đi lại và phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch. Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp bao gồm: Kinh doanh khách sạn, kinh doanh lữ hành, kinh doanh vận chuyển và các dịch vụ du lịch khác.

  • Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 

Cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và cơ sở hạ tầng chung của nền kinh tế là yếu tố quan trọng để phát triển ngành du lịch. Quốc gia nào nếu có cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và cơ sở hạ tầng chung yếu kém thì quốc gia đó khó thành công trong chiến lược phát triển cho ngành du lịch hay phát triển nền kinh tế nói chung. Cơ sở hạ tầng tốt là lợi thế cạnh tranh rất mạnh về thu hút du khách, thậm chí sẽ hấp dẫn nhà đầu tư. Luận văn: Phân tích tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc.

  • Nguồn nhân lực 

Xét đến tận cùng của vấn đề thì con người là yếu tố then chốt và ngành du lịch cũng không ngoại lệ. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến phát triển du lịch. Thành công của ngành du lịch được dựa trên nền tảng,chất lượng nguồn nhân lực của ngành.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng tăng trưởng du lịch tỉnh Chăm Pa Sắc

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993