Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học cơ sở Vân Hà dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiếu học là truyền thống quý báu của dân tộc ta, từ ngàn xưa ông cha ta đã coi trọng sự nghiệp giáo dục trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp phát triển của đất nước, luôn coi giáo dục có quan hệ đến việc hệ trọng của quốc gia, đến an nguy, thịnh, suy của dân tộc. Các thế hệ cha ông đi trước cho rằng việc “Quốc kế dân sinh” phải lấy giáo dục làm đầu. Sự giàu mạnh của đất nước không tách rời khỏi giáo dục. Chăm lo cho giáo dục là chăm lo cho con người, mà con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển của xã hội. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã từng nói “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng phát triển sự nghiệp giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Hội nghị lần thứ tám của ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã ra nghị quyết về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Vì vậy những năm gần đây, thực sự giáo dục Việt Nam đã không ngừng phát triển. Nhiều hình thức tổ chức, phương pháp dạy học hiện đại được phục vụ trong giảng dạy, những hình thức trong lớp đa dạng. Tất cả sự thay đổi ấy đáp ứng yêu cầu với yêu cầu của xã hội. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc học Trung học cơ sở là cầu nối giữa bậc học Tiểu học và bậc học Trung học phổ thông, là nơi vận dụng các hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước. Bậc học Trung học cơ sở có một vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới căn bản toàn diện giáo dục để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Và môn Ngữ văn có đóng góp không nhỏ vào việc đào tạo con người mới.

Môn Ngữ văn là một môn học có một vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Vẻ đẹp thiên nhiên, truyền thống lịch sử, văn hóa cùng với tài hoa của con người Việt Nam đã được ghi lại trong văn học. Văn chương giúp ta cảm nhận được tâm hồn Việt Nam: yêu nước, cần cù, sáng tạo, thanh lịch, tài hoa, tế nhị, hiếu học, trọng lễ nghĩa. Văn học tự nhiên đi sâu vào đời sống tinh thần của con người. Ngay từ lúc còn thơ bé, trẻ em đã được tắm trong dòng văn học dân gian qua những lời ru, qua những câu chuyện của bà, của mẹ. Cùng với năm tháng, nhận thức của học sinh cũng lớn lên, văn học lại giúp học sinh hiểu được giá trị và những vẻ đẹp của cuộc sống. Từ đó, tình yêu quê hương đất nước, yêu con người Việt Nam, yêu cuộc sống được hình thành trong tâm hồn các em.

Hơn nữa, hiện nay học sinh đang sống trong xã hội phát triển cần phải được trang bị những kỹ năng thích hợp để hòa nhập với cộng đồng, với xu thế toàn cầu hóa. Đối với học sinh trung học cơ sở (THCS) cần phải được giáo dục một số giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống. Giáo dục một số giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ, bởi các em là chủ nhân tương lai của đất nước. Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu mơ ước, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá song lại thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo. Vì vậy, việc giáo dục kỹ năng sống, nếp sống thanh lịch, văn minh (TLVM) cho thế hệ trẻ là cần thiết – nhất là học sinh thuộc địa bàn thủ đô Hà Nội, cần phải tích hợp ở tất cả các phân môn, đặc biệt trong môn Ngữ văn.

Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn tại Trường Trung học cơ sở, tôi xin chọn đề tài “Quản dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học sở Vân Hà”. Tôi cho rằng đây là một đề tài có ý nghĩa thiết thực không chỉ nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn tại trường Trung học cơ sở nói chung, trong đó có Trường Trung học cơ sở Vân Hà nói riêng mà còn rèn luyện được những chủ nhân tương lai của đất nước có kỹ năng sống, thanh lịch và văn minh – nhất là học sinh tại địa bàn Hà Nội.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường Trung học cơ sở Vân Hà, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn của trường Trung học cơ sở Vân Hà bằng việc áp dụng một số biện pháp quản lí phù hợp, hiệu quả.

3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát

3.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội.

3.2. Khách thể nghiên cứu

  • Dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học cơ sở

4. Phạm vi nghiên cứu

  • Nội dung nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh.
  • Không gian: Tại trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2022 đến 2025 (khảo sát thực trạng ba năm học trở lại đây).

5. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

  • Vai trò của công tác quản lý các hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường Trung học cơ sở như thế nào?
  • Cần những biện pháp quản lý như thế nào để nâng cao hiệu quả của những hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội?

6. Giả thuyết khoa học

  • Hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường Trung học cơ sở Vân Hà còn có một số vấn đề bất cập và hạn chế, trong đó có nguyên nhân từ công tác quản lý.
  • Nếu quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh được áp dụng một cách tích cực, phù hợp sẽ nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn của trường Trung học cơ sở Vân Hà và đồng thời là một hướng đi giúp các nhà giáo dục quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở tại Đông Anh, Hà Nội được tốt hơn.

7. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý quá trình dạy học và quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh trong trường Trung học cơ sở.
  • Khảo sát đánh giá thực trạng chất lượng dạy học và việc quản lý quá trình dạy học ở trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội.
  • Nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội, khảo nghiệm tính cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Nghiên cứu lý thuyết

  • Tìm hiểu các lý luận liên quan đến đề tài qua các thao tác phân tích các nguồn, tổng hợp và làm nổi bật những vấn đề quan trọng liên quan đến đề tài. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.
  • Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, của ngành giáo dục (GD) có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
  • Nghiên cứu các tác phẩm, tập san, bài giảng, giáo trình liên quan đến công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh.

8.2. Nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp quan sát.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu
  • Phương pháp phỏng vấn
  • Phương pháp tổng kết các kinh nghiệm giáo dục
  • Phương pháp khảo nghiệm
  • Phương pháp thống kê toán học.

9. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài

9.1. Ý nghĩa lý luận

Tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh hiện nay ở các trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số phương pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này.

9.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý hoạt động dạy -học Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở các trường Trung học cơ sở trong huyện Đông Anh

10. Cấu trúc của luận văn

Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường trung học cơ sở.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý đối với hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TÍCH HỢP VỚI GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH, VĂN MINH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, đánh dấu sự khác biệt giữa thời đại này với thời đại khác. Có rất nhiều yếu tố, nhưng một trong những yếu tố không thể thiếu được là sự khác nhau về hình thức quản lý (QL). Hình thức Quản lý mới thay thế hình thức Quản lý cũ đã lỗi thời, đáp ứng nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất xã hội không ngừng phát triển. Chính hình thức Quản lý mới mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển hơn nữa, năng suất hiệu quả hơn.

Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội. Đặc biệt thời đại ngày nay – thời đại của nền kinh tế tri thức vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đòi hỏi phải có sự Quản lý tương xứng, phù hợp với sự phát triển Giáo dục và đào tạo mà xã hội yêu cầu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục (QLGD) trong và ngoài nước. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Song song với những công trình nghiên cứu có tính chất tổng quan về Quản lý giáo dục nói chung thì các công trình nghiên cứu về nhà trường, Quản lý nhà trường có ý nghĩa thiết thực giáo dục thế hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Trong Quản lý nhà trường thì Quản lý quá trình dạy học là bộ phân cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống Quản lý quá trình Giáo dục và đào tạo. Các nhà nghiên cứu về Quản lý giáo dục Xô Viết trước đây cho rằng kết quả hoạt động của toàn bộ nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào những việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên.

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Người Việt Nam xưa rất coi trọng giáo dục. Cuối thế kỉ XX, Quản lý giáo dục thực sự được coi là một ngành khoa học. Bước sang thế kỉ XXI, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, giáo dục và Quản lý giáo dục được đánh giá là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần phát triển đất nước. Các công trình nghiên cứu về Quản lý và Quản lý giáo dục ngày càng phong phú, đa dạng. Tiêu biểu là các công trình: Phạm Minh Hạc “Một số vấn đề về quản lý giáo dục về khoa học giáo dục”; Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục”; Đặng Xuân Hải “Quản lý sự thay đổi vận dụng cho quản lý giáo dục và nhà trường”;…

Nghiên cứu về vấn đề Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn hiện nay có một số luận văn Thạc sĩ tiêu biểu như: Luận văn của tác giả Đỗ Văn Tuấn về “Những biện pháp quản lý dạy – học môn Văn ở trường trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn – TP Hải Phòng”; Hoàng Thị Kim Hoạt với “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông Đình Lập tỉnh Lạng Sơn”.

Bên cạnh đó, tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng trong chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây. Nghiên cứu về vấn đề này, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống, tiêu biểu như: Đề tài của tác giả Trần Bá Hoành “Dạy học tích hợp”; tác giả Nguyễn Văn Đường “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc Trung học cơ sở”;tác giả Cao Thị Thặng “Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2025”

Qua đó ta thấy nghiên cứu về Quản lý Dạy học tích hợp đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà giáo dục. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về biện pháp Quản lý hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh ở trường Trung học cơ sở thì lại chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào. Vì vậy, tác giả đặt vấn đề nghiên cứu pháp Quản lý hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh ở trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.

1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.2.1. Quản lý

Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Hoạt động quản lý (QL) xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động, để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa cá nhân con người. Hoạt động Quản lý là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. Từ thời thượng cổ, trung cổ đến thời hiện đại, trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển hoạt động Quản lý đã có những phát triển và trở thành bộ môn khoa học quản lý.

C.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [10, tr. 180]

C.Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của loài người. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Tác giả F.W.Taylor – người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động – cho rằng cốt lõi trong Quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”, “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ

nhất”. [24, tr. 1] Còn H. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. [18, tr. 327]

  • Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về quản lý.

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là: “Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đhóa và kiểm tra”. [11, tr. 9]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [32, tr. 25]

Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.

Như vậy, có thể nói Quản lý là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau. Nhưng dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì, theo chúng tôi, Quản lý cũng là sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể Quản lý lên đối tượng Quản lý, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức, đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra. Nhưng sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.

1.2.2 Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.2.2.1 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, từ thế hệ trước cho thế hệ sau, thế hệ sau tiếp thu những kinh nghiệm xã hội đó và ngoài ra còn sáng tạo ra những kinh nghiệm mới làm giàu và phong phú thêm, bổ sung thêm cho kho tàng kiến thức của nhân loại, thúc đẩy xã hội loài người không ngừng phát triển. Như vậy, giáo dục chính là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho họ.

Quản lý giáo dục là một chuyên ngành được phát triển trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm Quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm Quản lý giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục nói chung mà hạt nhân của hệ thống Quản lý giáo dục.

Trong cuốn “Cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục”, M.I.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên.” [23, tr. 94]

Theo tác giả Bush T. (trong tác phẩm Theories of Education Management, PCP, London, 1995): “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”.

  • Ở Việt Nam, Quản lý giáo dục cũng là lĩnh vực được nhiều nhà quan tâm nghiên cứu.

Theo các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước (các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục), chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”. [20, tr. 114-115]

Theo Đặng Xuân Hải, Nguyễn Sỹ Thư: Quản lý nhà nước về giáo dục là: “Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo do các cơ quan có trách nhiệm về quản lý giáo dục của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo , duy trì kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu được giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà nước”. [19, tr. 6] Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [32, tr. 31]

Những khái niệm trên về Quản lý giáo dục tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu.

Tóm lại, Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của Quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng Quản lý quan trọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp Quản lý quá trình giáo dục.

1.2.2.2 Chức năng quản lý giáo dục.

Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý, là tập hợp các nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể Quản lý phải tiến hành trong quá trình Quản lý. Thông qua các chức năng Quản lý, người ta xác định các khối lượng công việc cơ bản và trình tự tiến hành các công việc của quá trình Quản lý. Trong mọi quá trình Quản lý, người Quản lý phải thực hiện một dãy chức năng kế tiếp nhau một cách lôgic, bắt buộc, bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ Quản lý đến khi kiểm tra các kết quả đạt được.

Qua nghiên cứu lý luận và thực tế của công tác Quản lý nói chung ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là việc làm không thể thiếu được của chủ thể quản lý. Về số lượng các chức năng quản lý, hầu hết các tác giả đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý.

Chức năng kế hoạch hóa: Là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học. Kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống Quản lý và bị Quản lý trong nhà trường. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức.

Chức năng tổ chức: Là hoạt động Quản lý nhằm thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức. Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng. Nhờ tổ chức mà kỷ cương, nề nếp, tác phong làm việc khoa học, sự đoàn kết nhất trí trong tổ chức được đảm bảo; năng lực, sở trường của mỗi người và mỗi bộ phận được phát huy. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Chức năng chỉ đạo: Là việc đưa ra những quyết định Quản lý nhằm trước hết duy trì sự phối hợp giữa các bộ phận, các hoạt động làm cho toàn bộ hệ thống vận hành nhịp nhàng; tiếp đến là giám sát các các hoạt động, các trạng thái vận hành của hệ thống qua đó điều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn các tác nhân cần thiết có liên quan, đảm bảo sự vận hành đúng hướng, duy trì và giữ vững mục tiêu của toàn hệ thống. Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc.

Chức năng kiểm tra: Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quá trình Quản lý, là nhu cầu cơ bản để hoàn thành các quyết định Quản lý. Có thể nói rằng “không có kiểm tra là không có Quản lý”. Chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra, điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức. Đồng thời kịp thời phát hiện những sai sót hay lệch lạc trong quá trình hệ thống vận hành để từ đó đề ra các biện pháp xử lý kịp thời, thích hợp.

Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để nhà quản lý điều hành bộ máy của mình.

Các chức năng quản lý có sự đan xen kết hợp hỗ trợ và thúc đẩy nhau để cùng thực hiện mục tiêu của quá trình quản lý. Có thể mô tả vị trí của các chức năng trong một quá trình quản lý như sau:

  • đồ 1.1. Các chức năng quản

1.2.3. Quản lý trường học Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.2.3.1 Nhà trường

Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Trường học là một bộ phận của hệ thống xã hội, ở đó tiến hành quá trình giáo dục và đào tạo, gọi chung là “cơ sở giáo dục”. Có nhiều khái niệm khác nhau về nhà trường:

Theo M.I Kondacov: “Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, là nơi thực hiện các chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm xã hội, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân tương lai” [25].

Theo giáo trình “Giáo dục học” tập 1: “Nhà trường là một thiết chế nhà nước – xã hội có chức năng chuyên trách trong việc chuyển giao kinh nghiệm xã hội cho thế hệ trẻ của một đất nước” [28].

“Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển xã hội”. [4, tr. 3]

Như vậy, qua các khái niệm trên ta có thể hiểu: Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó việc dạy học, giáo dục được tiến hành có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm đào tạo con người đáp ứng những yêu cầu cho một xã hội nhất định [18].

1.2.3.2 Nhà trường trung học cơ sở

“Trường Trung học cơ sở là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp giữa bậc tiểu học và bậc trung học phổ thông (THPT) trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam” [9].

Mục tiêu của giáo dục Trung học cơ sở được quy định tại Điều 27, khoản 3, Chương II, Luật Giáo dục 2015 [9], cụ thể như sau: “Giáo dục Trung học cơ sở nhằm giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp, trung học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Nhà trường Trung học cơ sở có tư cách pháp nhân.

Nhiệm vụ và quyền hạn của trường Trung học cơ sở được ghi tại Điều 3 – Điều lệ Trường Trung học năm 2017 [6], bao gồm 9 nhiệm vụ. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.2.3.3 Quản lý nhà trường.

Nhà trường là một đơn vị cơ bản cấu thành nên hệ thống giáo dục quốc dân. Việc quản lý nhà trường là việc làm vô cùng quan trọng. Suy cho cùng, chất lượng giáo dục phụ thuộc vào việc quản lý giáo dục ở phạm vi nhà trường.

Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục ở quy mô nhà trường, là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của các chủ thể quản lý nhà trường tới các đối tượng nhà trường quản lý, nhằm thực hiện những mục tiêu của nhà trường.

  • Có nhiều tác giả quan niệm về nhà trường khác nhau.

Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. [22, tr. 242]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “ Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. [32, tr. 34]

Tác giả M.I. Kônđacôp đã viết: “Chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế- xã hội, tổ chức – sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”. [25, tr. 373]

Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội nên nhà trường cùng với công tác quản lý trường học là vô cùng quan trọng, bao gồm sự quản lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường. Chúng ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống các thành tố và được biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Xét riêng một nhà trường, thì chủ thể quản lý gồm có: chủ thể bên trong, chủ thể bên trên và chủ thể bên ngoài. Chủ thể quản lý bên trong trường là Ban Giám hiệu (Hiệu trưởng, Hiệu phó chuyên môn); và các Tổ trưởng chuyên môn. Đối tượng quản lý gồm có 3 nhóm: nhóm nhân tố cơ bản cấu thành trí thức bao gồm: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục; nhóm nhân tố động lực bao gồm Thầy và Trò, Thầy là lực lượng đào tạo, Trò là đối tượng đào tạo; và nhóm nhân tố gắn kết: gồm hình thức đào tạo, điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, bộ máy đào tạo, quy chế đào tạo.

  • Quản lý nhà trường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Quản lý các nguồn lực trong nhà trường: Nguồn lực của nhà trường cũng như các tổ chức khác bao gồm nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất và nguồn lực thông tin. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Quản lý đội ngũ Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong nhà trường bao gồm những việc sau: Bố trí và sử dụng Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; có kế hoạch phát triển đội ngũ.

Quản lý tài chính và các cơ sở vật chất trường học: Quản lý tài chính trong nhà trường (quản lý ngân sách, quản lý thu chi); quản lý vốn ngoài ngân sách; quản lý cơ sở vật chất (CSVC), TBDH.

  • Quản lý Hoạt động dạy học, giáo dục và các hoạt động khác trong nhà trường:

Quản lý hoạt động dạy học: Quản lý việc thực hiện chương trình; quản lý hoạt động dạy học của giáo viên; quản lý hoạt động học tập của học sinh; quản lý Cơ sở vật chất phục vụ dạy học; quản lý hoạt động của các tổ chuyên môn; quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên.

Quản lý các hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh: Hoạt động giáo dục đạo đức; giáo dục thẩm mĩ; giáo dục thể chất; giáo dục môi trường; giáo dục sức khoẻ sinh sản; giáo dục lao động và hướng nghiệp…

Quản lý các hoạt động khác trong nhà trường: Phổ cập giáo dục, huy động cộng đồng tham gia xây dựng phát triển nhà trường và thực hiện quản lý các nhiệm vụ cụ thể theo từng giai đoạn phát triển.

Quản lý việc đổi mới phương pháp giáo dục.

  • Kiểm tra nội bộ trong nhà trường

Kiểm tra nội bộ trong trường học là kiểm tra của người Hiệu trưởng đối với các hoạt động trong đơn vị mình nhằm đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ, phát hiện, khuyến khích cái tốt, phát hiện kịp thời những sai trái để đưa ra những điều chỉnh nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra. Kiểm tra nội bộ trường học nhằm góp phần xây dựng và duy trì trật tự, kỷ cương trong nhà trường, tạo điều kiện cho nhà giáo và các bộ phận trong nhà trường hoàn thành nhiệm vụ đạt mục tiêu đề ra. Hiệu trưởng là chủ thể chính trong việc tổ chức kiểm tra nội bộ nhà trường. Đối tượng của kiểm tra là toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục nhà trường.

  • Quản lý chất lượng giáo dục

Chất lượng là một phạm trù phản ánh tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật, làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác. Chất lượng của một sản phẩm là sự phù hợp của sản phẩm ấy với mục tiêu mà nhà sản xuất đề ra và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Chất lượng giáo dục là sự phù hợp của trình độ, của người được giáo dục với các mục tiêu của quá trình giáo dục ở nhà trường nói riêng và mục đích của xã hội nói chung.

Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thế quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Do vậy, công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng, gồm có quản lý hoạt động trong nhà trường và quản lý các quan hệ giữa nhà trường và xã hội. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.2.4 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học

1.2.4.1 Hoạt động dạy học

Dạy học là một quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt do nhà trường tổ chức. giáo viên thực hiện nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách. Dạy học là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội. Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt trong xã hội.

Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục: “Dạy học – một trong các bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn – là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục”. [28, tr. 22 ]

Như vậy, hoạt động dạy học là một quá trình bộ phận, một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng nhận thức và thực hành. Nói cách khác, hoạt động dạy học là quá trình vận động kết hợp giữa hoạt động dạy và học nhằm đạt được nhiệm vụ của dạy học.

Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, người dạy, người học. Các thành tố này tương tác lẫn nhau, thâm nhập vào nhau để thực hiện nhiệm vụ dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.

Hoạt động dạy học gắn liền với hoạt động giáo dục. Cả hai hoạt động này đề hướng tới một mục tiêu chung là phát triển toàn diện nhân cách người học.

Như vậy, hoạt động dạy học là quá trình trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người giáo viên làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Bản chất của hoạt động dạy học thể hiện tính thống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học, sự thống nhất biện chứng giữa các thành tố của hoạt động dạy học trong quá trình triển khai hoạt động học.

V.I Lênin đã khái quát quá trình nhận thức loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”.

Dạy và học là hệ thống hoạt động thống nhất biện chứng còn bởi quy định lẫn nhau của các hoạt động này cả về nội dung lẫn hình thức.

Dạy học là một quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò, chủ thể hoạt động là giáo viên, chủ thể hoạt động học là học sinh. Quá trình vận động tích sáng tạo của chủ thể này làm cho họ phát triển, hoàn thiện mình hơn về cả về phẩm chất lẫn năng lực. trong đó hoạt động dạy và học của thầy và trò phối hợp nhịp nhàng phát huy tối đa khả năng sáng tạo của học sinh giúp họ trưởng thành hơn trong hoạt động đó.

1.2.4.2 Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể Quản lý tới khách thể Quản lý trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Trong trường học, mọi hoạt động đều hướng vào phục vụ hoạt động dạy học và Quản lý trường học trọng tâm là Quản lý Hoạt động dạy học.

Quản lý dạy học là Quản lý một hoạt động với tư cách là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm các nhân tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và các phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả dạy học.

Theo tác giả Đỗ Bích Ngọc: “Quản lý quá trình dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn thể hệ thống quản lý giáo dục và đào tạo trong trường học. Quá trình thực hiện các chức năng tổng hợp, phát triển nhân cách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.” [27, tr. 41]

Như vậy Quản lý Hoạt động dạy học là Quản lý hoạt động sư phạm của người thầy và hoạt động học tập rèn luyện của trò để hình thành và phát triển nhân cách học sinh.

1.3 Một số vấn đề về dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.3.1. Khái niệm tích hợp

Tích hợp (integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh Integration với nghĩa xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy tích hợp có hai tính chất cơ bản liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn. Tính liên kết tạo thành một thực thể toàn vẹn không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức kỹ năng chỉ được thụ đắc tác động một cách riêng rẽ không có sự liên kết phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề tình huống.

Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.

1.3.2. Dạy học tích hợp Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Trên thế giới, dạy học tích hợp (DHTH) đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại. Tháng 9 năm 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO. Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải Dạy học tích hợp và tích hợp các khoa học là gì. Theo đó, Dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”. Định nghĩa của UNESCO cho thấy Dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở học sinh những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Quá trình Dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống. Như vậy, có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội dung và hoạt động.

Tại cuộc hội thảo quốc tế “Đón chào thế kỉ XXI” diễn ra vào tháng 12 năm 2000 tại Manila (Philipines), một trong những nội dung chính được bàn luận đó là những con đường và cách thức kết nối hệ thống tri thức hướng vào người đọc trong thời đại thông tin. Muốn đáp ứng nhu cầu kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập, tư duy liên hội phải được thiết kế ngay trong nội dung, phương tiện nghiên cứu và phương pháp giảng dạy. Tư duy liên hội này được gọi là tư duy tích hợp, đang thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong trong quá trình phát triển các chương trình giáo dục.

Trên thế giới, theo thống kê của UNESCO từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 208 chương chương trình môn khoa học thể hiện những quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo chủ đề.

Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng trong chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây. Dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở học sinh những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực. Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này học sinh có thể đối mặt sẽ có ý nghĩa đối với học sinh. Với cách hiểu như vậy, Dạy học tích hợp phải được thể hiện ở cả nội dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hình thức tổ chức dạy học.

Như vậy, thực hiện Dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò của người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai.

1.3.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở

1.3.3.1 Một số nét đặc thù của môn Ngữ văn Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Theo M.Gorki “Văn học là nhân học”. Văn là người. Học văn là để học làm người. Làm người hơn muôn loài ở chỗ có cảm xúc, biết yêu thương cái đẹp, ghét chê cái xấu, cảm thông chia sẻ, biết rơi lệ trước nỗi đau, biết cười trong cuộc sống. Học văn là học cách cảm, cách nghĩ. Văn học là bộ môn quan trọng trong nhà trường phổ thông. Bởi vận mệnh của tiếng Việt và nền quốc văn gắn liền với vận mệnh dân tộc. Văn học chứa đựng những nội dung phong phú, đa dạng về văn hóa, sự sống, tinh thần, tư tưởng, tâm, hồn của dân tộc. Nó là sự kết hợp hài hòa giữa tính khoa học và nghệ thuật. Văn học không chỉ giúp các em cảm nhận về vẻ đẹp của ngôn ngữ mà còn cho các em hiểu về cuộc sống, tính cách của con người. Vì vậy văn học nuôi dưỡng tâm hồn các em.

Theo Phạm Khắc Cương “Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là cội nguồn đời sống và sự phản ánh chân thực chính nghệ thuật đời sống ấy, đồng thời là một hình thái quan niệm nhân sinh về xã hội. Tính đặc thù của văn học chính là ở chỗ nó là một hình thái phản ánh thẩm mỹ và bao giờ cũng cần tưởng tượng. Tính chất tưởng tượng hư cấu đem lại cho văn học những khả năng to lớn” [13, tr. 9].

Trong trường học, môn Ngữ Văn trước hết là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó, vì là môn học góp phần giáo dục quan điểm, tư tưởng, bồi dưỡng hoàn thiện nhân cách học sinh. Môn Ngữ văn giúp con người nhận thức được cái hay, cái đẹp chuẩn mực trong cuộc sống; có bản lĩnh, có suy nghĩ, ứng xử, lối sống đúng đắn, lành mạnh. Mỗi bài thơ, bài văn, mỗi tác phẩm văn học trong chương trình học phổ thông là một bài học đạo đức dành cho học sinh.

Văn học mang tính hình tượng, tính biểu cảm sinh động, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá thể hóa cao trong giảng dạy và tiếp nhận mà không một môn học nào có được. Tác phẩm văn học trở thành tín hiệu thẩm mỹ không chỉ mang đến thông tin mà còn bao hàm trong nó nhiều tầng nghĩa: tầng nghĩa trực tiếp, tầng nghĩa do hình dung tưởng tượng và tầng ý được tạo ra từ hai tầng nghĩa trên kết hợp với vốn sống riêng của mỗi cá nhân. Do đó, người học được coi là người đồng sáng tạo lên tác phẩm, “thiếu người đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng kêu vô vọng vang lên giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại.”(N.I Kuduasep). Mục đích của dạy học văn là “kích thích để một cái đẹp trong văn học nghệ thuật được phát triển và sinh sôi nảy nở trong tâm hồn học sinh ở mỗi thời đại, để đi đến “sự nổ vỡ lặng im” trong tâm linh các em theo xu hướng của một nền giáo dục” [12, tr. 16] là “khêu gợi tư tưởng, tình cảm, niềm tin cho con người, là vũ khí tinh thần sắc bén, nhuần nhị giúp con người hình thành nhân cách toàn vẹn, nâng đỡ nhân cách con người phát triển” [37, tr. 216].

Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm công cụ. Vị trí đó nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác. Học tốt Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến các môn học khác và các môn khác cũng có thể góp phần giúp học tốt môn Ngữ văn. Vị trí đó tự môn học cũng toát lên yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lý thuyết, gắn với đời sống. Môn Ngữ văn thật sự là môn học quan trọng giúp cho học sinh học tốt các môn học khác. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Mục tiêu của môn văn nằm trong mục tiêu chung của bậc Trung học cơ sở là hình thành và phát triển con người toàn diện ở học sinh, đồng thời cũng mang đặc trưng riêng là đề cao giáo dục lý tưởng và đạo đức, từng bước giúp học sinh cập nhật những vấn đề toàn cầu mà không quay lưng lại với truyền thống dân tộc, vừa giữ gìn bản sắc vừa hòa nhập xu thế phát triển chung của thế giới.

Các mục tiêu được xác định hỗ trợ rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, bồi dưỡng cho học sinh có thái độ tích cực và tình yêu đối với tiếng Việt và văn học, qua đó biết trân trọng, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam; có thói quen và niềm vui đọc sách; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, có khả năng hội nhập quốc tế nhưng luôn có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của việc dạy học Ngữ văn trong suốt bậc học phổ thông là giúp cho học sinh ra đời có những kiến thức cơ bản về văn hóa, văn học, có khả năng cảm thụ và đánh giá các tác phẩm nghệ thuật. Có khả năng hiểu mình, hiểu người, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau để chung sống, chung làm trong cộng đồng. Học sinh được hoàn thiện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, từ đúng đến hay, biết mạnh dạn giao tiếp có hiệu quả trước công chúng, biết soạn thảo các loại văn bản cần thiết trong cuộc sống và trong công việc. Nói chung, việc dạy học môn Ngữ văn phải hướng tới mục tiêu chung của giáo dục thế giới mà tổ chức UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Nội dung chương trình môn Ngữ văn ở Trung học cơ sở cũng cần đạt đến việc cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng cho học sinh như các môn học khác đồng thời cũng mang đặc trưng riêng của môn văn: “Trọng tâm của việc rèn luyện kỹ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kỹ năng sơ giản phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học” [21, tr. 9]. Khác với các môn khoa học tự nhiên, môn Ngữ văn qua nội dung chương trình của mình còn phải đạt đến việc hình thành, phát triển thái độ, tình cảm của học sinh: “Học xong chương trình Trung học cơ sở sẽ giúp cho học sinh nâng cao ý thức giữ gìn sự giàu đẹp của Tiếng Việt và tình yêu văn học đối với các tác phẩm ưu tú của dân tộc và nhân loại. Từ đó, học sinh sẽ có hứng thú và cách thức ứng xử, giao tiếp có văn hóa đối với môi trường sinh sống. Ý thức tôn trọng, yêu quý cái đẹp và cố gắng sáng tạo nên cái đẹp sẽ được bồi đắp và dần hình thành lên hoạt động thẩm mĩ ở học sinh” [21, tr. 10]. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.3.3.2 Dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở

Theo GS. Nguyễn Thanh Hùng: “Có thể hiểu tích hợp là một phương pháp phối hợp một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn như Ngữ văn” [21, tr. 16]. TS. Nguyễn Văn Đường cũng nhấn mạnh thêm: “Đặc biệt ba phân môn đều tập trung khai thác chung một văn bản trong phần Văn” [14, tr. 7]

Do đặc thù riêng của môn học, việc tích hợp trong giờ học Ngữ văn là hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kỹ năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung gắn với thực tiễn. Tích hợp trong môn Ngữ Văn được hiểu là sự kết nối tri thức và kỹ năng giữa ba phần: Văn – Tiếng Việt – Làm văn và trong từng phân môn, trong từng vấn đề cụ thể. Đó chính là “Hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một (hoặc một số) văn bản có vai trò như là kiến thức nguồn.”

Dạy Ngữ văn theo tinh thần tích hợp không phủ định việc dạy các tri thức và kỹ năng thể hiện đặc trưng của từng phân môn. Vấn đề là phải phối hợp các tri thức và kỹ năng riêng của từng phân môn một cách tối ưu để đạt được mục tiêu chung của môn Ngữ văn: Kết hợp tốt việc hình thành bốn kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết với năng lực cảm thụ văn học. Đồng thời tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy học; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học sinh. Đó cũng là cái đích cuối cùng của việc đổi mới phương pháp dạy học.

  • Việc dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn có nhiều hình thức:

Tích hợp ngang (Intergration horizontale): Được hiểu là tích hợp liên môn, liên phân môn và là hình thức tích hợp theo từng thời điểm. Đây là hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một (hoặc một số) văn bản có vai trò như là kiến thức nguồn. Nói cụ thể hơn, đó là sự khai thác triệt để mối liên hệ kiến thức giữa các phần văn bản – tiếng Việt -làm văn trong từng đơn vị bài học (cũng có khi là giữa các đơn vị bài học với nhau).

Tích hợp dọc (Intergration Vertical): Được hiểu là tích hợp đồng tâm, tích hợp theo từng vấn đề, trong từng phân môn, cụ thể đó là hướng tích hợp theo mối liên hệ (trực tiếp hoặc gián tiếp) giữa các vấn đề trong cùng một phân môn, giữa các bài học với nhau trong cùng một lớp, giữa lớp trước và lớp sau, thậm chí giữa cấp học này với cấp học khác.

Tích hợp mở rộng: Được hiểu là sự tích hợp mở rộng giữa các kiến thức trong bài học Ngữ văn với các kiến thức của các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các ngành khoa học nghệ thuật khác và với kiến thức đời sống mà học sinh tích luỹ được từ đời sống cộng đồng. Qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh. Thực tế dạy học cho thấy, áp dụng hình thức dạy học này học sinh tỏ ra rất hào hứng với nội dung dạy học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được bổ sung một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả. Mặt khác, các kiến thức liên ngành thông qua hình thức tích hợp này còn giúp học sinh có thêm căn cứ, cơ sở để hiểu rõ hơn nội dung, ý nghĩa của văn bản.

1.4 Quản lý hoạt động dạy học nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh của ngành Giáo dục đào tạo Hà Nội Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

1.4.1 Nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh của ngành Giáo dục đào tạo Hà Nội

Nhắc đến người Hà Nội là nhắc đến những nét văn minh – thanh lịch, từ cử chỉ, lời ăn tiếng nói, phong cách ứng xử… Tuy nhiên, trước những tác động của đời sống kinh tế hiện nay, nhiều nét văn hóa tinh tế của người Hà Nội đang mai một dần, nhất là trong lớp trẻ. Vì vậy, xây dựng tài liệu, giáo dục nếp sống văn minh – thanh lịch cho học sinh là việc làm có ý nghĩa quan trọng của ngành giáo dục và đào tạo.

Trong khi kiến thức các môn học đã được xây dựng thành chương trình hoàn chỉnh, thì vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh vẫn còn những khoảng trống nhất định. Chính vì vậy, từ năm học 2020-2021, bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” được đưa vào giảng dạy trong các trường học của thành phố. Theo ông Đoàn Hoài Vĩnh – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội, bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh” đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông ở Hà Nội nhằm khơi dậy niềm tự hào của các thế hệ học sinh đồng thời kế thừa truyền thống thanh lịch, nét văn hóa đặc trưng của người Hà Nội…

Bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” được biên soạn cho học sinh của ba cấp học phổ thông Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Cùng một nội dung nhưng mỗi nhà trường đã tự tìm tòi phương pháp giảng dạy phù hợp để truyền đạt kiến thức cho học sinh, lồng ghép, tích hợp các môn học khác nhau, các hoạt động, các phong trào với việc giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh của người Hà Nội.

Bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” được Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội phối hợp với Nhà xuất bản Hà Nội phát hành năm 2020. Bộ tài liệu nhằm hướng dẫn kỹ năng sống có văn hóa cho học sinh phổ thông; định hướng và chỉ dẫn hành vi cá nhân trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử thanh lịch, văn minh cho học sinh. Nội dung tập trung vào 5 vấn đề cơ bản: Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

  • Khái niệm Thanh lịch văn minh
  • Phong cách Thanh lịch văn minh
  • Giao tiếp Thanh lịch văn minh
  • Ứng xử Thanh lịch văn minh nơi công cộng
  • Ứng xử Thanh lịch văn minh với thiên nhiên môi trường.

Ở mỗi lứa tuổi khác nhau, cấp độ và hành vi cũng khác nhau từ đơn giản đến phức tạp. Vì vậy, theo từng cấp học, các nội dung được đề cập ở từng cấp theo mức độ cao hơn, rộng hơn và khái quát hơn.

Tiểu học: Tập trung chỉ dẫn hành vi cá nhân cụ thể về ăn, mặc, nghe, nói, cử chỉ cơ bản; hướng dẫn về giao tiếp và ứng xử Thanh lịch văn minh. Các nội dung đề cập ở mức sơ đẳng nhất.

Trung học cơ sở: Tập trung hướng dẫn hành vi cá nhân về ăn, mặc, nghe, nói, cử chỉ cơ bản; hướng dẫn về giao tiếp và ứng xử Thanh lịch văn minh giữa người với người với thiên nhiên môi trường… Đây là cấp được trang bị kiến thức một cách cơ bản nhất, hoàn chỉnh nhất.

Trung học phổ thông: Đề cập đến khái niệm và giao tiếp Thanh lịch văn minh; ứng xử Thanh lịch văn minh nơi công cộng và với thiên nhiên môi trường; Thanh lịch văn minh trong giao lưu và hội nhập quốc tế. Cách trình bày có tính tích hợp, vì chủ thể của giao tiếp ứng xử là người trưởng thành với tư cách công dân ở ngoài xã hội, với người nước ngoài trong thời kỳ hội nhập.

Theo Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học (Bộ giáo dục&ÐT) Vũ Ðình Chuẩn, bộ tài liệu là cách làm rất sáng tạo của Sở giáo dục&ÐT Hà Nội với thành quả là bộ tài liệu không chỉ mang ý nghĩa khoa học, mà còn gắn với yêu cầu của thực tiễn dạy học. Ðó là khơi dậy sự chủ động, tạo điều kiện để giáo viên sáng tạo, khích lệ việc đổi mới phương pháp trong mỗi bài giảng khi tìm tòi, đưa thêm những tình huống, câu chuyện để tổ chức cho học sinh thảo luận, đánh giá. Với việc không làm quá tải chương trình, không trùng lặp với nội dung đã có trong sách giáo khoa, tài liệu còn khắc phục được nhược điểm phổ biến hiện nay là hạn chế yếu tố lý luận, hàn lâm. Kiến thức truyền đạt cho học sinh được thể hiện một cách có hệ thống theo nguyên tắc đồng tâm – tiệm tiến, phù hợp lứa tuổi học sinh từ Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông. Hình thức này còn gợi ra cho giáo viên cách thức kiểm tra, đánh giá học sinh không chỉ dựa vào kiến thức thu nhận qua một bài học cụ thể, mà còn kiểm tra được cả quá trình nỗ lực của học sinh khi chuyển từ nhận thức đến hành vi.

1.4.2 Quản lý hoạt động dạy học nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Quản lý giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao nếp sống Thanh lịch văn minh của học sinh trong nhà trường.

Quản lý giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy nếp sống Thanh lịch văn minh cho học sinh.

Từ đó có thể nói Quản lý giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh trong nhà trường được hiểu như là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện nếp sống Thanh lịch văn minh cho học sinh.

Nội dung giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh ở trường Trung học cơ sở được giảng dạy trong 6 tuần của cả năm học. Quản lý về nội dung chương trình giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh là Quản lý giáo viên thực hiện nội dung chương trình theo kế hoạch của Sở Giáo dục và đào tạo. Quản lý về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh. Nghiên cứu phân tích thực trạng thực hiện chuyên đề giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh của những năm trước với những ưu điểm, nhược điểm, từ đó xếp hạng ưu tiên các vấn đề cần. Đồng thời nghiên cứu, phân tích kế hoạch, nhiệm vụ năm học của ngành giáo dục để định hướng Quản lý thực hiện chuyên đề của nhà trường. Nhận thấy tầm quan trọng của việc giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh cho học sinh, nhất là các em học sinh Trung học cơ sở là lứa tuổi chưa phát triển hoàn thiện nhân cách nên các em nhiều khi chưa phân biệt được đúng sai mà làm theo cảm tính, theo số đông và dẫn đến có những biểu hiện lệch lạc trong ứng xử, vì vậy, để đạt được sự chuyển biến trong nhận thức, hành động của học sinh, nhà trường luôn luôn tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học để khơi dậy sự hứng thú học tập cho các em. Giáo viên ở tất cả các bộ môn của trường đều có thể lấy tư liệu ở bộ tài liệu tích hợp vào bộ môn giảng dạy của mình. Cách giáo dục như vậy nhẹ nhàng, ngấm dần vào các em, giúp các em tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp trong các tiết dạy như: phương pháp đàm thoại; nêu vấn đề; phương pháp kể chuyện bằng kênh hình, kênh chữ, âm thanh; phương pháp thuyết trình… Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Quản lý về đội ngũ thực hiện hoạt động giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh là khâu quan trọng, đặc biệt là công tác bồi dưỡng giáo viên. Nhà trường đã xây dựng kế hoạch và chương trình bồi dưỡng cán bộ, giáo viên tham gia dạy bộ tài liệu; chuẩn bị xây dựng và hoàn thiện kế hoạch, chương trình bồi dưỡng cán bộ, giáo viên tham gia giảng dạy ở tất cả các cấp học, khối học. Việc phân công giáo viên trực tiếp giảng dạy chuyên đề đòi hỏi Ban giám hiệu phải nắm vững năng lực, phẩm chất giáo viên, đồng thời biết vận dụng nguồn lực nhà trường, sự ủng hộ điều kiện thuận lợi bên ngoài nhà trường. Người lãnh đạo cần tạo điều kiện giúp người tham gia phát huy được tinh thần tự giác, tích cực phối hợp thực hiện một cách khoa học, đảm bảo đúng kế hoạch. Bên cạnh đó, người Quản lý cũng nên thường xuyên tổ chức dự giờ, trao đổi trong khối, trường để nâng cao hiệu quả giáo dục, thực hiện nghiêm túc chương trình và kế hoạch giảng dạy bộ tài liệu. 100% giáo viên được phân công giảng dạy qua tập huấn, bồi dưỡng, tự nghiên cứu đã tích cực chủ động nắm vững nội dung, phương pháp. Quản lý cả việc thực hiện nếp sống của học sinh, tác phong giáo tiếp ứng xử với bạn bè, thầy cô, với môi trường xung quanh của học sinh.

Quản lý về việc phối hợp các lực lượng thực hiện hoạt động giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Cần quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến đến phụ huynh học sinh để tạo sự đồng thuận cao.

Quản lý về việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh. Kiểm tra đánh giá phải xuyên suốt quá trình Quản lý. Nhà Quản lý phải thường xuyên giám sát quá trình thực hiện kế hoạch bằng việc thu thấp thông tin chính xác, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin để có những điều chỉnh phù hợp. Khi kiểm tra đánh giá phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, công khai, tôn trọng người được kiểm tra.

1.5 Quản lý hoạt động dạy và học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường trung học cơ sở

1.5.1 Dạy học môn Ngữ văn tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay, nhiệm vụ cơ bản của giáo dục phổ thông là đào tạo những con người mới, những người lao động có tri thức, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất, Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ Giáo dục và đào tạo chủ trương đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá; gắn liền giáo dục trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống; góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh. Đó chính là nhiệm vụ dạy học tích hợp trong nhà trường.

Từ lịch sử xa xưa của loài người, ông cha ta đã nói “Tiên học lễ hậu học văn” làm nền móng giáo dục đạo đức học sinh, con người. Thực tế cho thấy thầy giáo Chu Văn An đã cảm hóa được học trò bằng chính đạo đức của mình và người học trò đã vì chữ “nghĩa” với thầy mà làm việc nghĩa cho đến muôn đời sau vẫn còn lưu truyền mãi mãi. Thế nhưng, để giữ được chữ “nghĩa quả là điều trăn trở. Ngày nay, phần lớn các bậc phụ huynh vẫn có tư tưởng là làm thế nào con em mình có nhiều kiến thức, cho đi học thêm đủ thứ cốt để được vào trường danh tiếng, sau này vào được đại học, có một việc làm ổn định, chứ ít chú ý đến đạo đức, nếp sống văn hóa của các em. Vì thế học sinh đến trường còn vi phạm nội quy, mọi hành động, việc làm, cách nói năng, ứng xử nhiều lúc chưa đúng mực, còn thiếu văn hóa. Trách nhiệm này thuộc về ai? Gia đình, nhà trường hay xã hội? Rõ ràng trách nhiệm thuộc về tất cả. Nhưng trách nhiệm lớn nhất thuộc về nhà trường mà trách nhiệm lớn lao của việc lồng ghép giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh qua các bài học Ngữ văn mà các môn học khác ít có được. Vì “Văn học là nhân học”, học văn là học cách làm người. Thật vậy, mỗi chúng ta, ai ai cũng phải học để tiếp thu tri thức và để làm người. Văn học lại chính là chiếc chìa khóa vàng mở rộng lòng nhân ái trong tâm hồn, phát triển nhân cách tốt đẹp. Do đó một giáo viên dạy Ngữ văn không chỉ dạy kiến thức văn chương, cảm thụ các giá trị về chân – thiện – mĩ, mà qua đó còn dạy cách làm người, đặc biệt là làm người có văn hóa. Tuy nhiên nói về nếp sống văn hóa của học sinh hiện nay còn nhiều vấn đề phải trăn trở.

Vì vậy, việc lồng ghép giáo dục nếp sống văn hóa trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Ngữ văn nói riêng là vô cùng cần thiết và thường xuyên, nhưng cũng không thể một sớm một chiều mà chúng ta phải xác định việc làm này theo phương châm “mưa dầm thấm lâu”. Tuy nhiên khi giáo viên lồng ghép phải đảm bảo được tính tự nhiên, tránh sự giáo điều, giáo huấn khô khan sẽ không phát huy được hiệu quả của tính giáo dục. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Bác Hồ đã từng nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó nhưng có tài mà không có đức thì chẳng làm được gì cả”. Vì mục tiêu là để đào tạo ra những chủ nhân tương lai của đất nước vừa có tài lại vừa có đức, vừa có tri thức lại vừa có nếp sống văn hóa, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển văn minh, hiện đại hơn. Điều đó một phần lớn phụ thuộc vào chính mỗi thầy cô giáo chúng ta.

1.5.2 Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh

1.5.2.1 Quản lý dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở

Có thể hiểu Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn là tổ chức một cách hợp lý hoạt động (HĐ) của giáo viên và học sinh trong dạy học, là tác động đến giáo viên và học sinh sao cho đạt được yêu cầu đề ra của môn Ngữ văn. Đồng thời, Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn cũng mang tính đặc thù xuất phát từ môn Ngữ văn như đã trình bày là môn học đặc biệt trong nhà trường. Quản lý giáo viên thực hiện mục tiêu, nội dung môn học không chỉ là việc Quản lý giáo viên thực hiện phân phối chương trình mà còn phải tiến đến kiểm soát được sự tác động của giáo viên Ngữ văn trong quá trình hình thành nhân cách học sinh. Do đó, người hiệu trưởng không chỉ dừng ở các biện pháp Quản lý hành chính mà còn cần sử dụng các biện pháp Quản lý khác, giúp giáo viên Ngữ văn thực hiện được mục tiêu, nội dung môn học.

Quản lý nội dung chương trình và Phương pháp dạy học là Quản lý giáo viên thực hiện nội dung chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo, áp dụng những phương pháp dạy học trong giảng dạy. Hiện nay, Cán bộ quản lý thường được tập trung ở việc chỉ đạo giáo viên thực hiện một số phương pháp mới trong giảng dạy. Với đặc trưng môn học Ngữ văn, việc chỉ đạo thực hiện những phương pháp mới trong giảng dạy không thể tách rời việc nâng cao năng lực Quản lý của chính nhà Quản lý và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên; không chỉ là Quản lý giờ dạy trên lớp mà còn cả Quản lý hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên Ngữ văn; không đơn thuần là việc Quản lý giáo viên áp dụng một số phương pháp mới vào dạy học Ngữ văn mà còn là việc Quản lý để giáo viên có khả năng kết hợp linh hoạt các Phương pháp dạy học mới với các Phương pháp dạy học truyền thống; trong đó có những Phương pháp dạy học truyền thống đã bị phủ nhận gần như hoàn toàn ở các môn học khác thì vẫn được coi là đặc trưng của Phương pháp dạy học văn (phương pháp thuyết trình).

Quản lý sử dụng các phương tiện, thiết bị phục vụ cho Hoạt động dạy học môn Ngữ văn vừa bao gồm các HĐ Quản lý phương tiện thiết bị dạy học (DH) nói chung, vừa coi trọng các biện pháp Quản lý để việc sử dụng các phương tiện, thiết bị trong Hoạt động dạy học Ngữ văn là phù hợp và hiệu quả nhất. Quản lý việc sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học bao gồm Quản lý việc sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và các thiết bị dạy học hiện đại. Tuy nhiên, nếu như ở một số môn học khác, việc đưa các thiết bị trình chiếu hoặc các phương tiện dạy học vào giờ dạy thường không bị hạn chế về tần suất sử dụng thì đặc trưng dạy học Ngữ văn khiến cho việc sử dụng thiết bị quá nhiều hay quá ít trong giờ Ngữ văn đều ảnh hưởng đến hiệu quả giờ Ngữ văn. Bên cạnh đó việc ứng dụng Công nghệ thông tin cũng mang lại hiệu quả đặc biệt trong giờ văn vốn là giờ học giàu tính hình tượng nên Quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học văn có một ý nghĩa rất quan trọng.

Quản lý HĐ đổi mới kiểm tra đánh giá trong dạy học Ngữ văn thể hiện rõ nét tính đặc thù của Quản lý Hoạt động dạy học môn văn trong nhà trường. Việc kiểm tra đánh giá trong khá nhiều môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên dễ đạt đến tính chính xác, khách quan, công bằng nên việc đổi mới các hình thức kiểm tra đánh giá cũng dễ được áp dụng và việc Quản lý các HĐ đổi mới kiểm tra đánh giá trong nhiều môn học do đó cũng dễ thực hiện, không chỉ đơn thuần Quản lý được về hình thức mà còn Quản lý được cả nội dung và chất lượng của việc đổi mới. Trong khi đó, với tư cách là môn khoa học xã hội nhân văn, lại mang đặc trưng về tính hình tượng và tính biểu cảm cao, việc kiểm tra đánh giá trong dạy học Ngữ văn nặng về chủ quan; khó đạt đến tính chính xác, khách quan, công bằng. Việc đổi mới kiểm tra đánh giá cần được cân nhắc trong từng nội dung cụ thể (ví dụ: phần lớn các môn học có thể chuyển sang kiểm tra hoàn toàn bằng trắc nghiệm khách quan thì môn văn lại không thể). Rõ ràng, Quản lý HĐ đổi mới kiểm tra đánh giá trong Hoạt động dạy học Ngữ văn gặp nhiều khó khăn hơn.

Quản lý HĐ tự bồi dưỡng của giáo viên và HĐ tự học của học sinh trong dạy học Ngữ văn là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả dạy học văn. Quản lý HĐ tự bồi dưỡng của giáo viên và HĐ tự học của học sinh cần có kế hoạch, sao cho việc bồi dưỡng của giáo viên Ngữ văn trở thành việc tự bồi dưỡng và HĐ tự học của học sinh đạt đến đích học sinh là trung tâm của quá trình dạy học. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Như vậy, Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường vừa mang đặc điểm chung của Quản lý Hoạt động dạy học, vừa mang đặc điểm riêng của Quản lý môn Ngữ văn.

1.5.2.2 Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường Trung học cơ sở

Nhắc đến người Hà Nội là nhắc đến những nét văn minh – thanh lịch, từ cử chỉ, lời ăn tiếng nói, phong cách ứng xử… Tuy nhiên, trước những tác động của đời sống kinh tế hiện nay, nhiều nét văn hóa tinh tế của người Hà Nội đang mai một dần, nhất là trong lớp trẻ. Nhằm góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống Thủ đô, giáo dục cho học sinh lòng tự hào về Thăng Long – Hà Nội.

Giáo dục nếp sống văn hóa thanh lịch, văn minh của người Hà Nội không phải là một bộ môn riêng biệt mà chỉ là cách tiếp cận bộ môn. Do đó, khi tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh của người Hà Nội trong giảng dạy môn Ngữ văn phải luôn tuân thủ những nguyên tắc sau:

  • Chỉ tích hợp với những bài có nội dung thật sự liên quan đến nếp sống thanh lịch, văn minh của người Hà Nội. Nội dung tích hợp phải đảm bảo tính chính xác.
  • Đảm bảo đặc trưng của môn học, không biến giờ học Ngữ văn thành giờ học thuần tuý giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh. Điều này có nghĩa là giờ Văn phải là giờ Văn, giờ Tiếng Việt phải là giờ Tiếng Việt, giờ Làm văn phải là giờ Làm văn theo đúng nghĩa của nó.
  • Đảm bảo kiến thức cơ bản, tính lôgic của nội dung bài học, không làm quá tải lượng kiến thức và tăng thời gian của bài học. Các ví dụ, nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh giáo viên đưa ra cần ngắn gọn, hấp dẫn, lôi cuốn được sự chú ý của học sinh.
  • Gây được sự hứng thú ở học sinh khi tích hợp nếp sống thanh lịch, văn minh của người Hà Nội.

Việc tích hợp nội dung giáo dục nếp sống văn hóa thanh lịch, văn minh của người Hà Nội thể hiện ở ba mức độ gồm:

Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của giáo dục nếp sống văn hóa thanh lịch, văn minh của người Hà Nội.

Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục nếp sống văn hóa thanh lịch, văn minh của người Hà Nội. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Mức độ liên hệ: Có điều kiện liên hệ một cách logic, trực tiếp như đi tham quan lễ hội hoặc Viện Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Hà Nội.

Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh, nhà Quản lý cần Quản lý hoạt động dạy của giáo viên bao gồm: Quản lý kế hoạch và thực hiện kế hoạch công tác; Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp; Quản lý việc thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh; Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn. Bên cạnh đó nhà Quản lý cũng cần Quản lý hoạt động học của học sinh.

1.5.3 Các yếu tố tác động đến việc quản lý dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh trong trường trung học cơ sở

Hoàn cảnh xã hội tác động đến việc Quản lý dạy học môn Ngữ văn trong trường Trung học cơ sở theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Vị trí của môn khoa học xã hội ngày càng cần thiết trong đời sống xã hội hiện đại. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế của một nước đang bắt đầu phát triển, những người lao động trong lĩnh vực xã hội thường khó tìm được việc làm và phải nhận mức lương thấp hơn nhiều so với những người lao động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ dẫn đến việc học sinh xa rời các môn khoa học xã hội trong đó có môn Ngữ văn. Bên cạnh đó, khi đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, thanh niên, học sinh đang trải qua nhiều biến động tích cực lẫn tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường và sự bùng nổ thông tin, với nhiều thông tin thiếu lành mạnh đang tác động mạnh đến đời sống làm cho thế hệ trẻ có nhiều biểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh Trung học cơ sở mang những nét đặc biệt khiến cho thời kỳ này được gọi là: “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”… học sinh Trung học cơ sở bắt đầu phát triển mạnh mẽ về thể chất nhưng lại chưa có đủ điều kiện để phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức. Trong khi đó bậc học Trung học cơ sở bắt đầu đòi hỏi học sinh học tập với một cường độ cao. Điều đó dẫn đến những mâu thuẫn trong thái độ, hứng thú học tập của học sinh. Để khắc phục được mâu thuẫn đó, đòi hỏi các môn học trong nhà trường Trung học cơ sở phải gắn với cuộc sống và tạo được hứng thú cho học sinh. Đây là một trong những yếu tố chi phối mạnh mẽ việc dạy học văn và Quản lý Hoạt động dạy học văn trong nhà trường Trung học cơ sở.

Đội ngũ giáo viên dạy Ngữ văn có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học Ngữ văn. giáo viên Ngữ văn trong nhà trường Trung học cơ sở là những người được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Tuy nhiên, dù bằng cấp tương đương nhau nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên là không đồng đều. Điều này ảnh hưởng lớn đến Hoạt động dạy học Ngữ văn vốn là một môn học đòi hỏi hứng thú của cả giáo viên và học sinh. Dạy Ngữ văn không chỉ dạy kiến thức mà giáo viên còn có nhiệm vụ định hướng cảm xúc, tình cảm, sự rung động; cần đến chất văn của cả giáo viên và học sinh. Người giáo viên không chỉ là người thầy mà còn là nhà phê bình văn học. Người giáo viên Ngữ văn là sợi dây liên kết giữa tác phẩm và học sinh, là người tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thu tác phẩm chứ không phải là người áp đặt kiến thức cho học sinh. Cùng với đó, mỗi thầy cô giáo trước hết phải là những tấm gương về thanh lịch văn minh. Những bài giảng cần đa dạng, hấp dẫn và cung cấp nhiều hơn các câu chuyện, tư liệu hình ảnh Hà Nội xưa cũng như cập nhật các tư liệu hình ảnh về thực trạng Hà Nội ngày nay để học sinh dễ dàng so sánh, nhận xét. Vì vậy, hoạt động này cũng đòi hỏi sự chuyển biến tích cực về nề nếp, tác phong làm việc của cán bộ – giáo viên trong trường. Quản lý dạy học Ngữ văn trong nhà trường cần phải quan tâm đến nhân tố đặc biệt là người thầy.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Quản lý dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh là rất cần thiết, đặc biệt là trong xã hội hiện nay khi mà học sinh bị ảnh hưởng nhiều mặt trái của kinh tế thị trường và sự bùng nổ thông tin. Để làm rõ cơ sở lý luận về quản lý dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh, đề tài đã nêu ra và phân tích một số khái niệm liên quan như: Quản lý, quản lý giáo dục, chức năng quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học. Đề tài cũng phân tích một số vấn đề về quản lý dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn: khái niệm tích hợp, dạy học tích hợp, Quản lý hoạt động dạy học nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh của ngành Giáo dục đào tạo Hà nội và quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh ở trường Trung học cơ sở.

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh: hoàn cảnh xã hội, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi; chất lượng đội ngũ giáo viên; Sự quan tâm của cha mẹ trẻ và năng lực quản lý của Hiệu trưởng. Luận văn: Quản lý dạy học môn ngữ văn tích hợp với giáo dục.

Đó chính là những cơ sở lý luận quan trọng để khảo sát thực trạng công tác quản lý dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội và đề xuất những giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học cơ sở Vân Hà.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993