Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình trong bối cảnh hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04/11/2019 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã khẳng định sự cần thiết về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước ta; trong đó đã chỉ rõ một trong những nội dung cần đổi mới là chuyển từ việc dạy học trang bị kiến thức cho người học sang hình thức dạy học phát triển phẩm chất, năng lực, cho người học; đây cũng là xu thế giáo dục trên toàn thế giới; đào tạo nhân cách cho người học, trong đó có phẩm chất và năng lực là các yếu tố cơ bản.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”[14], coi đó là một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục nước ta. Trong việc đổi mới nền giáo dục, vấn đề nâng cao chất lượng QLHĐDH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cần được quan tâm nghiên cứu và áp dụng.

Trung tâm GDNN – GDTX là một mô hình giáo dục có hình thức học tập đa dạng, giúp mọi người vừa học vừa làm, có khả năng tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người trong cộng đồng nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm, góp phần tăng năng suất lao động, làm lành mạnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng và thích nghi với đời sống xã hội.

Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn từ khi ra đời đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào, đã góp phần đáng kể trong công cuộc xóa mù chữ, phổ cập giáo dục từng bước được nâng cao, tỉ lệ người lao động được phát triển ngày càng mạnh mẽ, đáp ứng nguồn nhân lực của địa phương và trong cả nước. Tuy nhiên trong vẫn còn nhiều hạn chế như:

Chất lượng học tập của học sinh các trung tâm GDNN -GDTX qua các năm học số yếu kém chiếm tỉ lệ khá cao. Nhận thức của học sinh ở Trung tâm còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện chưa cao, điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn, gia đình một số em chưa quan tâm đúng mức. Việc nâng cao chất lượng về mặt học tập cho học sinh là một điều trăn trở của các cấp quản lý cũng như giáo viên giảng dạy ở Trung tâm. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Việc QLHĐDH những năm qua ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn có nhiều đổi mới, cải tiến, nhưng kết quả vẫn chưa cao. Những biện pháp quản lý chủ yếu được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những bất cập, hạn chế, chưa phù hợp với yêu cầu dạy học hiện đại và hiệu quả mà xã hội mong muốn.

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, đòi hỏi cấp thiết hiện nay là phải đề xuất các biện pháp khả thi trong QLHĐDH góp phần đảm bảo cho hoạt động của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn phát triển bền vững và hiệu quả.

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình trong bối cảnh hiện nay” làm đề tài luận văn nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm GDNN- GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Trung tâm.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh giáo dục hiện nay

  • Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh giáo dục hiện nay.

4. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn văn hóa tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Công tác điều tra, khảo sát được tiến hành ở Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn.

5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh giáo dục hiện nay đã đạt được những thành công ban đầu. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Nếu được đề xuất các biện pháp, giải pháp phù hợp, khả thi về quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh giáo dục hiện nay góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong tình hình mới.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống các văn bản, tài liệu thể hiện những quan điểm và đường lối của Đảng, của Nhà nước; các công trình khoa học về quan lý dạy học để hình thành cơ sở lý luận của đề tài.

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp quan sát

Quan sát các hoạt động quản lý của Giám đốc Trung tâm về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện quản lý; quan sát hoạt động của giáo viên … Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

  • Phương pháp điều tra, khảo sát

Tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi để khảo sát về HĐDH ở Trung tâm. Đối tượng điều tra, khảo sát là 42 CB,GV của Trung tâm. Kết quả điều tra, khảo sát được phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra những thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của luận văn.

  • Phương pháp phỏng vấn

Thực hiện trao đổi, tọa đàm với một số CBQL, các TTCM, giáo viên có kinh nghiệm của Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn để làm rõ thực trạng QLHĐDH.

  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để rút ra những nguyên nhân, hạn chế trong QLHĐDH của Trung tâm.
  • Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý báo cáo số liệu điều tra, khảo sát và khảo nghiệm.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần như: mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận văn còn một phần gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
  • Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN – GDTX huyện Kim Sơn trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Sự phát triển của giáo dục thường xuyên ở Việt Nam

Thuật ngữ “GDTX” được phổ biến trong hệ thống giáo dục quốc dân vào những năm cuối thế kỷ XX. Bước sang thế kỷ mới, thế kỷ phát triển của công nghệ thông tin, đây tuy không phải là một vấn đề mới nhưng được xem xét với một quan điểm, cách nhìn, cách làm mới về phát triển giáo dục thường xuyên trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của GDTX là một quá trình đã được đúc kết kinh nghiệm từ truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của nhân dân ta qua hàng ngàn năm lịch sử, bài học kinh nghiệm lớn lao của lịch sử qua hơn 50 năm xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo ở nước ta kể từ Cách mạng tháng Tám thành công cho đến nay, cùng với sự kế thừa kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các nước trong khu vực.

Trong thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc, giai cấp thống trị chỉ quan tâm chăm lo việc học hành một số ít con em giai cấp địa chủ, quyền thế. Nhân dân lao động phải cho con em mình học ở các trường làng do các thầy đồ mở lớp dạy với số lượng ít học sinh hoặc một số gia đình có điều kiện thì mời thầy về nhà dạy. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Trong thời kỳ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta, giáo dục thường xuyên còn được gọi là bình dân học vụ, bổ túc văn hóa. Từ khi đất nước được thống nhất, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, GDTX được hình thành, phát triển mạnh mẽ với những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Điểm thể hiện rõ nhất là GDTX đã từng bước có cơ sở pháp lý và được xem song song, bình đẳng với giáo dục chính qui, nên được gọi là giáo dục không chính quy (mà gần đây là Luật giáo dục gọi là phương thức giáo dục thường xuyên).

Sự hình thành GDTX: Để mọi người có cơ hội đi học, học thường xuyên học suốt đời. Ngay sau khi tuyến bố độc lập, để biến tư tưởng “Ai cũng được học hành”thành hiện thực Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành 2 sắc lệnh về việc học của người dân.

  • Sắc lệnh số 17 (8/9/1945): “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”
  • Sắc lệnh số 19 (8/9/1945): “Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối”

Từ hai Sắc lệnh trên một hệ thống tổ chức đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương để chăm lo việc học hành cho người bình dân. Ở Trung ương có Nha bình dân học vụ, ở tỉnh có Ty bình dân học vụ, ở huyện có Nha bình dân học vụ, cơ sở thì có Ban bình dân học vụ và lớp bình dân học vụ.

Kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 17: “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”, đến nay trong cơ cấu khung hệ thống giáo dục quốc dân của nước Việt Nam luôn có một bộ phần chăm lo đến việc học hành cho người dân lao động vừa làm, vừa học, tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà bộ phận này mang các tên gọi khác nhau như: Ngành học bình dân, ngành học bổ túc văn hóa, ngành giáo dục thường xuyên (từ 1990 đến nay)”

1.1.2. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục thường xuyên

Từ khi đất nước giành được độc lập (1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm với việc giáo dục cho mọi người. Ngày sau ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh thành lập nha bình dân học vụ, chống nạn thất học và các lớp bình dân học vụ được triển khai trên toàn đất nước Việt Nam. Người coi diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm.

Với quyết tâm “Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái”Bác Hồ kêu gọi toàn dân không chỉ học tập, mà còn kêu gọi mọi người, tất cả cán bộ và nhân dân phải học tập suốt đời “Chúng ta phải học và học tập suốt đời, còn sống thì phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[15] Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Ngày 4/10/1945 Bác đã kêu gọi toàn dân chống nạn thất học qua phong trào bình dân học vụ do chính Người phát động. Trong thư gửi quân nhân học báo (4/1946) Bác viết “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng phải học thêm”. Trong thư gửi cán bộ giáo viên bình dân học vụ nhân ngày quốc khánh 02/9/1945 Bác căn dặn”Vùng nào hết nạn mù chữ thì các bạn thi đua tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào”

  1. Thường thức vệ sinh, để dân bớt ốm đau
  2. Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm
  3. Bốn phép tính, để làm ăn có ngăn nắp
  4. Lịch sử và địa dư nước ta để nâng cao lòng yêu nước
  5. Đạo đức công dân, để thành người công dân đúng đắn”. Đối với cán bộ, Bác khuyên lại càng phải học suốt đời. Bác nói “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bọ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”[15].

Theo Nghị định 90CP (ngày 24/11/2009) của Chính phủ đã khẳng định “Giáo dục thường xuyên là một trong năm phân hệ trong cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân”. Từ đó một hệ thống tổ chức của hệ thống giáo dục thường xuyên đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương.

Tư tưởng của Bác và Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về GDTX đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là một trong những quan điểm quan trọng về giáo dục cho mọi người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Các khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

1.2.1. Quản lý

Quản lý là một thuộc tính của sự phát triển xã hội, là một yếu tố quan trọng gắn chặt vào sự vận động và phát triển của xã hội loài người, sự phát triển của xã hội loài người dựa vào 3 yếu tố cơ bản đó là: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giới khách quan, sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Lao động và sự vận dụng tri thức tác động vào thế giới làm ra của cải vật chất. Còn quản lý bao gồm cả trí thức và lao động.

Quản lý là một hiện tượng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con người, là sản phẩm và yếu tố gắn chặt với hợp tác lao động. Theo C. Mác thì bất cứ lao động nào cũng cần đến sự quản lý.

Mác giải thích một cách khái quát rằng quản lý là sự hợp tác xác lập tương đương giữa những công việc của từng cá nhân, nhằm thực hiện chức năng cùng xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Nói một cách hình ảnh C. Mác đã miêu tả bản chất quản lý là hoạt động lao động để điều khiển lao động. Ông đã nói “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì sự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Ông đã nêu lên sự tất yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lý trong quá trình phát triển của xã hội loài người.

  • Quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý

Thuật ngữ “Quản lý”(Tiếng Việt gốc Hán) được hiểu “Quản lý gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau”:

  • Quá trình “quản”: Gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định
  • Quá trình “lý”: Gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ phát triển.

Thuật ngữ này lột tả rõ bản chất của hoạt động quản lý.

  • Từ điển Tiếng Việt năm 1992 – Trung tâm từ điển ngôn ngữ – Hà Nội – Việt Nam: “Quản lý là một tôt chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [29].
  • Theo cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[28].
  • Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện lao động của môi trường”'[26].

“Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế – xã hội  bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng “[26]

Hoạt động quản lý vừa là một hoạt động khoa học, vừa là một hoạt động nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vi mô cũng như vĩ mô. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Tuy nhiên có nhiều cách phát biểu, định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định. Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý (khách thể quản lý) trong một tổ chức vận hành có hiệu quả.

Sơ đồ 1.1. Mô hình hoạt động quản lý

  • Chủ thể quản lý: Có thể là một cá nhân, một nhóm, hay một tổ chức.
  • Công cụ quản lý: Là phương tiện mà chủ thể tác động tới khách thể. Công cụ quản lý có thể là: Mệnh lệnh, quyết định các văn bản, chính sách, chương trình, mục tiêu…
  • Phương pháp quản lý: Có thể hiểu là cách thức của chủ thể quản lý tác động lên khách thể.

Mục tiêu: Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng sản phẩm, vì lợi ích của con người, quản lý là sự vận động của thông tin, nắm bắt các nguồn thông tin, đặc biệt là thông tin ngược một các đầy đủ, kịp thời, toàn diện để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp đúng đắn.

1.2.2. Quản lý giáo dục

  • Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường thực hiện theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ với từng học sinh”. Quản lý trường học là tổ chức được hoạt động dạy học, có tổ chức hoạt động giáo dục, thực hiện được tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý giáo dục hiện nay trong các cơ sở giáo dục tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước [21]. Nhưng mặt khác, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những bởi cơ chế hoạt động có tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội – nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý chính bản thân của giáo viên và học sinh. Trong nhà trường giáo viên và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý.

Do vậy, quản lý giáo dục không chỉ là trách nhiệm riêng của người Hiệu trưởng, mà là trách nhiệm, nghĩa vụ chung của tất cả các thành viên trong nhà trường. Đối tượng bị quản lý trong một nhà trường thì nhiều, trong đó có giáo viên và học sinh. Nhưng trong một tổ chức mang tính xã hội như nhà trường thì giáo viên và học sinh vừa là đối tượng bị quản lý, nhưng cũng vừa là chủ thể quản lý.

1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Giáo dục là một hiện tượng xã hội, sinh ra, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển loài người. Nó duy trì và bảo tồn những kinh nghiệm xã hội, mà loài người đã tích lũy được nó thực hiện các chức năng xã hội hết sức quan trọng, đó là chức năng kinh tế – sản xuất, chức năng chính trị – xã hội và chức năng tư tưởng – văn hóa. Tục ngữ có câu “Không thầy đố mày làm nên”.

Khổng Tử dạy “Nhân bất học bất trí lý”. Đương thời, V. I Lênin coi giáo dục là hiện tượng tất yếu và vĩnh hằng của xã hội loài người. Vì ở đâu có con người thì ở đó có giáo dục, ở đâu có con người thì ở đó có sự truyền đạt những kinh nghiệm của xã hội loài người. Do vậy, giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường trong đó con đường quan trọng nhất là tổ chức dạy học đó là con đừng ngắn nhất để chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm đã tích lũy được của nhân loại. Hoạt động sẽ cung cấp cho người học hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng thực tiễn nhằm nâng cao trình độ học vấn hình thành lối sống văn hóa. Mục đích cuối cùng là làm cho người học được trang bị kiến thức mới tiếp thu một cách năng động tự chủ, sáng tạo và vận dụng vào trong thực tế cuộc sống.

Dạy học được thực hiện trong một môi trường thuận lợi đó là nhà trường. Hoạt động dạy học giúp người học nắm vững kiến thức phổ thông, phát triển trí tuệ, hình thành và phát triển nhân cách đáp ứng yêu cầu xã hội. Theo Iu.K Babanxky: Chỉ có tác động qua lại giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học, nếu không có mối tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi qua trình toàn diện đó. Hoạt động dạy học theo Đặng Vũ Hoạt thì: Hoạt động của thầy là hoạt động điều khiển, tổ chức, chỉ đạo, còn hoạt động của trò là hoạt động tự điều khiển, người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình dạy học.

Hoạt động dạy học trên lớp có tính đặc trưng chuyên môn hóa cao về dạy học theo môn học, vì nó có ưu thế đặc trưng trong việc hình thành tri thức, phát triển trí tuệ thông qua việc dạy học các môn học cơ bản; đồng thời góp phần hình thành, phát triển nhân cách toàn diện. Như vậy dạy học được hiểu một cách đầy đủ là bao gồm toàn bộ việc giảng dạy của thầy điều khiển việc học tập rèn luyện của trò theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm đào tạo người học có sức khỏe, có văn hóa, có kiến thức khoa học kỹ thuật để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.

1.2.4. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở giáo dục thường xuyên

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học được hiểu là các tác động của chủ thể quản lý giáo dục tới đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên và các điều kiện về tài chính, CSVC… nhằm đạt mục tiêu của nhà quản lý đã đề ra.

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học bao gồm: việc xây dựng kế hoạch dạy học, tổ chức, sắp xếp, sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực), chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh các hoạt động dạy và các hoạt động học cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.

Có đầy đủ các biện pháp quản lý hoạt động dạy học một cách khoa học, áp dụng đồng bộ, linh hoạt sẽ mang lại hiệu quả của hoạt động quản lý, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

1.3. Đặc trưng của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

1.3.1. Nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên

Theo quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên QĐ số 01/2013/QĐ-BGDĐT ngày 01/01/2013 thì Trung tâm GDTX có nhiệm vụ sau:

Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục: Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm (chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin tuyên truyền; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chương trình dạy tiếng dân tộc, miền múi theo kế hoạch hàng năm của địa phương; Chương trình giáo dục thường xuyên cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông)

Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn xác định nội dung học tập, đề xuất với Sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.

Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông quy định tại điểm d khoản 1 của điều 3 (Luật giáo dục 2011) dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật.

Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.

Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Các nhiệm vụ của Trung tâm GDTX huyện được quy chế quy định có thể xem là những hoạt động cơ bản. Tuy vậy tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương và Trung tâm GDTX có thể thực thi các nhiệm vụ.

1.3.2. Quyền hạn của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên

Luật giáo dục năm 2011 quy định về hệ thống giáo dục quốc dân gồm các thành phần: Giáo dục mầm non; Giáo dục phổ thông; Giáo dục nghề nghiệp; Giáo dục đại học và sau đại học; trong Luật giáo dục khẳng định: Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Ở Điều 44 của Luật giáo dục nêu rõ: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời, nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội [24].

Như vậy GDTX, học tập thường xuyên sẽ trở thành nguyên tắc chi phối cả nền giáo dục quốc dân kết hợp hài hòa với nguyên tắc giáo dục cho mọi người:“Ai cũng được học hành”. Ai cũng được học hành thường xuyên, suốt đời vừa là lý tưởng, vừa là nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục thế kỷ XXI của nước ta cũng như trên thế giới.

Bức tranh giáo dục Việt Nam đến năm 2025 theo Giáo sư Vũ Văn Tảo được minh họa bằng sơ đồ sau:

  • Sơ đồ 1.2. Giáo dục Việt Nam đến năm 2025

Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ phương hướng chung của lĩnh vực đào tạo trong những năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, tạo điều kiện cho nhân dân có cơ hội học tập để khắc phục những yếu kém trong giáo dục. [12].

1.3.3. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên

Đối với Trung tâm GDTX cấp huyện

  • Trung tâm GDTX có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc
  • Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDTX cấp huyện gồm các tổ:

Tổ hành chính – Tổng hợp, Tổ nghiệp vụ, Tổ dạy văn hóa, Tổ dạy nghề, ngoại ngữ và tin học, Tổ chuyên đề và các tổ chuyên môn khác. Mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 1 tổ phó do Giám đốc bổ nhiệm, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các tổ này do Giám đốc Trung tâm quyết định. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

  • Đối với trung tâm GDTX cấp tỉnh.
  • Trung tâm GDTX cấp tỉnh có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc.

Cơ cấu tổ chức của Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh gồm có: Phòng tổ chức hành chính, phòng quản lý đào tạo, phòng bồi dưỡng nâng cao trình độ, phòng dạy văn hóa và các phòng, tổ chuyên môn khác; mỗi phòng có 1 trưởng phòng, 1 hoặc 2 Phó trưởng phòng; mỗi tổ có 1 tổ trưởng 1 hoặc 1 tổ phó do Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức do Giám đốc Trung tâm quy định [24].

1.3.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên

Nhiệm vụ, quyền hạn của giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên được pháp luật quy định tại Điều 9 Thông tư 57/2021/TT-BLĐTBXH Quy định về Điều lệ trung tâm giáo dục thường xuyên do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành như sau:

  1. Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên là người điều hành tổ chức, bộ máy của trung tâm giáo dục thường xuyên.
  2. Nhiệm vụ, quyền hạn của giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên được quy định tại Khoản 3 Điều 13 của Luật Giáo dục thường xuyên và một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
  3. Xây dựng, phê duyệt chiến lược và kế hoạch phát triển đào tạo của trung tâm;
  4. Xây dựng quy định về: Số lượng, cơ cấu lao động, vị trí việc làm, tuyển dụng, quản lý, sử dụng, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, người lao động theo quy định của pháp luật;
  5. Tổ chức tuyển dụng, quản lý và sử dụng hiệu quả đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, viên chức và người lao động khác theo quy định của pháp luật;
  6. Hàng năm, tổ chức đánh giá, phân loại giáo viên, cán bộ quản lý, viên chức và người lao động khác;
  7. đ) Xem xét các ý kiến tư vấn của hội đồng tư vấn trước khi quyết định các vấn đề đã giao cho hội đồng tư vấn tư vấn;
  8. Thường xuyên chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảng dạy, học tập cho cán bộ quản lý, giáo viên, viên chức, người lao động và người học;
  9. Tổ chức và chỉ đạo xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự xã hội trong trung tâm;
  10. Thực hiện quy chế dân chủ trong trung tâm; thực hiện các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với cán bộ quản lý, giáo viên, viên chức và người học trong trung tâm theo quy định của pháp luật;
  11. Được quyết định các biện pháp để thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn của trung tâm giáo dục thường xuyên quy định tại Điều 7 của Điều lệ này; Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.
  12. Giao kết hợp đồng đào tạo với người học theo quy định của pháp luật;
  13. Ký hợp đồng liên kết với cơ sở giáo dục thường xuyên khác; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động đào tạo hoặc tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch vụ theo quy định của pháp luật;
  14. Cấp chứng chỉ sơ cấp, chứng chỉ đào tạo cho người học đạt yêu cầu theo quy định;
  15. Quyết định việc khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ quản lý, giáo viên, viên chức, người lao động và người học trong phạm vi thẩm quyền được phân cấp quản lý.

1.3.5. Hoạt động dạy học ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên

Đối tượng của GDTX đa dạng, bao gồm nhiều thành phần, lứa tuổi, trình độ, mọi nghề nghiệp và công tác ở thành thị, nông thôn… Do vậy số lượng người theo học GDTX ngày càng nhiều so với giáo dục nhà trường chính quy.

Mục đích của GDTX là cơ hội học tập cho mọi người vì những lý do khác nhau mà không được học, hoặc không có điều kiện theo học ở nhà trường chính quy, tạo cơ hội học tập thường xuyên, liên tục suốt đời nhằm giúp họ thích ứng với sự phát triển nhanh của xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi người, tham gia tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. GDTX góp phần “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”phục vụ cho công cuộc CNH – HĐH đất nước.

  • Sơ đồ 1.3. Hệ thống GDCQ và GDKCQ (GDTX)

Chức năng của GDTX: Là thay thế tiếp nối, bổ sung, hoàn thiện kiến thức cho người học.

  • Chức năng thay thế:

GDTX đem đến cơ hội cho mọi người vì những lý do đó họ chưa có điều kiện học tập chính quy một cách hoàn chỉnh, GDTX giúp họ được học tập và đạt trình độ học vấn hoàn chỉnh.

Chức năng nối tiếp: GDTX giúp những người này vì lý do này hay một lý do nào đó phải bỏ học, hoặc chưa có điều kiện học ở nhà trường chính quy, GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, thích nghi với đời sống xã hội. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Chức năng hoàn thiện: GDTX cung cấp các chuyên đề phù hợp với sở thích và nguyện vọng của cá nhân, giúp người học hoàn thiện nhân cách của mình.

1.3.6. Chương trình giáo dục thường xuyên

Nội dung giáo dục thường xuyên được thực hiện trong các chương trình: Chương trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;

  • Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ.
  • Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ.
  • Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

Các hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Vừa làm vừa học, học từ xa; tự học có hướng dẫn.

Nội dung của chương trình giáo dục quy định tại khoản 1 (Điều 45 luật giáo dục) phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung của chương trình giáo dục cấp học, trình độ đào tạo quy định tại các Điều 29, 35, 41 của Luật giáo dục.

Phương pháp giáo dục thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học.

Nói chung chương trình, nội dung của GDTX đa dạng, mềm dẻo, linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của người học “Cần gì, học nấy”đáp ứng nhu cầu học tập khác nhau, các đối tượng khác nhau. Người học không chỉ có nhu cầu học tập lấy chứng chỉ, bằng cấp mà còn học để vận dụng kiến thức đã học vận dụng vào sản xuất vào cuộc sống “Học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để cùng nhau chung sống”.

1.4. Quản lý hoạt động dạy học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

1.4.1. Thực trạng quản lý chương trình, nội dung, kế hoạch dạy học

Chương trình dạy học quy định phương pháp, hình thức dạy học các môn, thời gian dạy học từng môn học, nhằm thực hiện những yêu cầu mục tiêu cấp học. Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của Trung tâm GDTX, chương trình dạy học là Pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD & ĐT ban hành. Người Giám đốc phải thực hiện nghiêm chỉnh, không được thay đổi tùy tiện, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy học. Vì vậy, Giám đốc Trung tâm GDTX phải nắm vững và tổ chức cho toàn thể giáo viên nghiên cứu, nắm vững mục tiêu, chương trình dạy học của cấp học.

Quản lý giáo viên dạy đúng chương trình, đủ chương trình là nắm toàn bộ hoạt động dạy của giáo viên như: Soạn bài, lên lớp, ôn tập, kiểm ra, tổ chức các hình thức học tập ngoài lớp học. Để quản lý giáo viên dạy đủ, đúng chương trình người Giám đốc Trung tâm cần thực hiện các việc như sau:

Yêu cầu giáo viên xây dựng chương trình dạy học môn học do mình phụ trách, trong đó kế hoạch dạy học phải được thể hiện rõ.

Giám đốc cùng với Phó Giám đốc, tổ trưởng chuyên môn cần nắm rõ tình hình thực hiện chương trình hàng tuần, tháng. Quan trọng nhất là Giám đốc phải tiến hành phân tích hình hình thực hiện chương trình sau mỗi lần báo cáo của giáo viên bộ môn về việc thực hiện chương trình để có những biện pháp quản lý tốt chương trình dạy học.

Sử dụng các biển bảng sổ sách như: Phiếu báo giảng, sổ đầu bài, phân phối chương trình… để nắm tình hình có liên quan đến việc thực hiện chương trình.

Dùng thời khóa biểu, phân phối chương trình để điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học của tất cả các môn, các lớp sao cho đồng đều cân đối tránh so le, thiếu giờ, thiếu bài, môn dạy nhanh hay chậm so với kế hoạch của từng môn.

Việc xây dựng kế hoạch giảng dạy là việc xác định mục tiêu công tác giảng dạy của mỗi giáo viên phải dựa trên cơ sở trình độ tay nghề và kết quả phân tích tình hình học tập của học viên. Giám đốc phải hướng dẫn giáo viên quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ xác định mục tiêu đúng đắn và biết tìm ra biện pháp để đạt được mục tiêu đề ra.

Trong công tác quản lý của Trung tâm, Giám đốc phải coi việc giáo viên thực hiện tốt kế hoạch giảng dạy là quan trọng nhất để đảm bảo chất lượng giờ dạy. Vì vậy, Giám đốc phải sử dụng nhiều biện pháp phù hợp với tình hình đội ngũ giáo viên nhà trường giúp họ hoàn thành kế hoạch.

1.4.2. Thực trạng quản lý quản lý hoạt động dạy của giáo viên Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho toàn năm học, từng học kỳ hoặc chuẩn bị cho từng tiết lên lớp cụ thể:

Chuẩn bị dài hạn: Giáo viên cần xây dựng được kế hoạch dạy học từng môn học cho toàn bộ năm học hay từng học kỳ, dựa trên chương trình dạy học, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, tình hình học tập của học sinh. Trong quá trình xây dựng kế hoạch cần tính đến khả năng của Trung tâm trong việc cung ứng vật chất, các điều kiện thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, khả năng sáng tạo tự làm, đồ dùng giảng dạy của thầy phục vụ cho bài giảng và tài liệu, đồ dùng có sẵn của Trung tâm để phục vụ cho bài giảng.

Chuẩn bị cho từng tiết lên lớp: Đó là việc soạn giáo án của giáo viên. Đây là việc chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên cho từng giờ lên lớp. Giáo án là bản thiết kế cụ thể về tiết lên lớp, do đó cần phải ghi rõ nội dung khoa học mà học sinh cần nắm, các hoạt động với cách thức và phương tiện cụ thể thời gian phân phối trong tiết học. Để quản ý tốt công tác soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên, Giám đốc Trung tâm cần thực hiện các biện pháp sau:

  • Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài
  • Thống nhất về nội dung và hình thức thể hiện các loại bài soạn với tính chất chỉ dẫn.
  • Hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa, sách hướng dẫn giáo viên bài soạn mẫu…
  • Quy định về việc dùng các bài soạn.

Sinh hoạt chuyên môn, thảo luận để thống nhất những nội dung, phương pháp soạn bài, những thay đổi cần bổ sung, đổi mới phương pháp,cải tiến giờ dạy sao cho phù hợp với đối tượng:

Giữa Giám đốc, Phó Giám đóc, các tổ chuyên môn có sự phân công: kiểm tra, theo dõi nắm tình hình soạn bài của giáo viên qua các buổi kiểm tra hồ sơ, sổ sách của giáo viên, tổng hợp tình hình qua biên bản sinh hoạt chuyên môn, phiếu báo giảng, kế hoạch chương trình. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

1.4.3. Thực trạng quản lý hoạt động học của học viên

Cùng với quản lý hoạt động dạy của giáo viên thì Giám đốc trung tâm còn phải quản lý hoạt động học tập của học viên. Quản lý tốt hoạt động học tập của học viên thì mới phát huy được kết quả của hoạt động dạy của giáo viên. Do đó, Giám đốc trung tâm cần tập trung chỉ đạo hoạt động học tập của học viên với các nội dung sau: Xây dựng kỷ cương, nền nếp trong hoạt động học tập của học viên. Bao gồm: tổ chức cho học viên học tập quy chế, nội quy của trung tâm về nền nếp học tập và các hoạt động khác; chỉ đạo Ban giám thị, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn phối hợp tổ chức, xây dựng và theo dõi nền nếp học tập của học viên. Tăng cường giáo dục ý thức, động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho học viên. Phối hợp với Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cha mẹ học viên nhắc nhở học viên thực hiện tốt nền nếp, kỷ cương của trung tâm. Thường xuyên quan tâm, theo dõi tình hình học tập của học viên thông qua giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm trong việc chuẩn bị bài cũ, tự học ở nhà, học trên lớp, điểm số các loại.

Thường xuyên tổ chức các hoạt động thi đua vào các chủ điểm trong năm học. Thực hiện nghiêm túc và kịp thời công tác khen thưởng, kỷ luật.

Quan tâm giúp đỡ học viên yếu, kém và bồi dưỡng đội ngũ học viên giỏi bằng cách bố trí giáo viên bộ môn tâm huyết với nghề, có phương pháp giảng dạy tốt, có uy tín đối với học sinh và phụ huynh. Đồng thời phối hợp với gia đình để theo dõi, nhắc nhở học viên tự học tại nhà. Kịp thời động viên, khen thưởng những học viên có tiến bộ trong học tập. Có các chế độ đãi ngộ thích đáng đối với những giáo viên làm công tác giúp đỡ học viên yếu, kém và bồi dưỡng học viên giỏi để khuyến khích, động viên họ đầu tư chuyên môn ngày càng tốt hơn.

1.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học viên Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng, của học viên là khâu quan trọng của quá trình dạy học. Nó có tác dụng phát hiện và điều chỉnh thực trạng hoạt động học và hoạt động dạy, củng cố và phát triển trí tuệ của học viên cũng như giáo dục phẩm chất, nhân cách hoc học viên.

Giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên có vai trò quan trọng. Vì vậy Giám đốc cần nắm được tình hình giáo viên thực hiện vấn đề này ở các nội dung sau:

  • Thực hiện chế độ kiểm tra, chế độ cho điểm theo quy định
  • Chấm bài, trả bài đúng thời hạn, có nhận xét của giáo viên và lời phê cụ tể cho từng bài để học viên rút kinh nghiệm cho mình.
  • Cho điểm đúng tiêu chuẩn, biểu điểm, đáp án đã đề ra.
  • Báo cáo tình hình kiểm tra theo quy định và kết quả điểm kiểm tra trong sổ ghi điểm cá nhân và sổ điểm nhà trường, tổng kết phân loại, đánh giá học viên qua mỗi kỳ và cuối năm học.

Để nắm được các nội dung trên Giám đốc cần phân công cho Phó giám đốc, Thư ký Hội đồng nhà trường, tổ trưởng chuyên môn theo dõi và tổng hợp tình hình hàng tuần, tháng. Giám đốc Trung tâm cần lập ra những mẫu báo cáo thống kê để thu nhập chính xác số liệu về tình hình thực hiện của giáo viên, đồng thời xem xét, kiểm tra (sổ điểm lớp, sổ đầu bài, sổ điểm cá nhân, sổ sự dự giờ thăm lớp, sổ sinh họat chuyên môn và một số bài kiểm tra, cũng như ghi của học viên) để nắm tình hình.

Từ những số liệu và kết quả thu được Giám đốc Trung tâm GDTX cần phân tích, tình hình giáo viên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên để có điều chỉnh uốn nắn kịp thời.

1.4.5. Thực trạng về quản lý hoạt động, khai thác sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học

“CSVC-TBDH là phương tiện lao động sư phạm của các nhà giáo dục và học sinh. Đây là một hệ thống bao gồm trường sở, thiết bị chung, thiết bị dạy học theo các môn học và các thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục khác như lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất,…” [19,4].

CSVC-TBDH đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học. Bao gồm: các phòng học, phòng thư viện, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, vườn trường, sân chơi, bãi tập, các phòng làm việc hành chính, công trình vệ sinh… Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

Thiết bị dạy học: Bao gồm vật liệu, mẫu vật mô hình, tranh ảnh, bản đồ, dụng cụ thí nghiệm, dụng cụ lao động, các thiết bị CNTT, hoá chất, nguyên vật liệu, phim đèn chiếu, băng đĩa ghi âm, ghi hình,…

Sách báo là một bộ phận của CSVC-TBDH; là công cụ, phương tiện của giáo viên và học viên. Đồ dùng học viên, bao gồm những đồ dùng, dụng cụ học tập của học viên.

  • Thực hiện quản lý tốt CSVC-TBDH, Giám đốc trung tâm cần phải thực hiện tốt các việc sau đây:

Xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch đầu tư CSVC-TBDH của trung tâm trên phù hợp với mục tiêu đào tạo của trung tâm, mục tiêu của ngành giáo dục, mục tiêu phát triển KT – XH của địa phương. Trong đó, cần xác định mục tiêu lâu dài, mục tiêu trước mắt.

Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch sử dụng TBDH trong kế hoạch chuyên môn của mình theo từng nội dung giảng dạy và thông qua tổ chuyên môn, cán bộ phụ trách thiết bị để sắp xếp, bố trí hợp lý trong việc sử dụng chung.

Phát động thi đua việc sử dụng TBDH hỗ trợ cho việc đổi mới PPDH. Hỗ trợ kinh phí cho việc tổ chức thi tự làm đồ dùng dạy học và sử dụng có hiệu quả các TBDH.

Tổ chức tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng TBDH cho giáo viên giúp giáo viên sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học. Đặc biệt quan tâm giáo viên nữ trong việc sử dụng các thiết bị thường không thuộc sở trường của họ, như thiết bị CNTT.

Xây dựng nội quy sử dụng CSVC-TBDH để mọi thành viên trong trung tâm thực hiện. Việc sử dụng TBDH được xem là tiêu chí quan trọng trong việc xếp loại chuyên môn giáo viên. Định kỳ hàng năm tổ chức kiểm kê, đánh giá để khấu hao, bổ sung, thay thế những thiết bị hư hỏng.

Tiểu kết chương 1

Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận ở trên, tác giả rút ra một số nhận xét Cơ sở lý luận đã nghiên cứu sơ lược về lịch sử giáo dục thường xuyên, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thường xuyên, Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục thường xuyên… qua đó thấy đựơc sự hình thành, phát triển và ý nghĩa của loại hình đào tạo này với sợ phát triển của đất nước ta nói chung với sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói riêng.

Cơ sở lý luận đã phân tích một số khái niệm chủ yếu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu trong đề tài nhấn mạnh khái niệm giáo dục thường xuyên, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Giáo dục người lớn, quản lý, quản lý giáo dục… các phạm trù có liên quan làm công cụ quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học tại Trung tâm GDNN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học Trung tâm GDNN

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993