Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại công nghiệp 4.0 với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, nguồn nhân lực đang trở thành một thách thức đối với sự hội nhập của nước ta với thế giới. Đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực có trình độ, chất lượng tốt, đông về số lượng, tinh về chất lượng là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đưa ra nhiều chủ trương, chính sách để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Trong đó, giáo dục và đào tạo được coi là chìa khóa để giải quyết vấn đề này.

Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Ban Chấp hành Trung ương, ban hành thông qua Hội nghị lần thứ 8 (khóa XI) năm 2013 (dẫn theo [5]), cũng đã xác định rõ giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh chính là những biện pháp cốt lõi để thực hiện giải quyết thách thức nêu trên.

Thực chất, phân luồng học sinh chính là kết quả của công tác giáo dục hướng nghiệp. Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau. Nếu công tác giáo dục hướng nghiệp được thực hiện tốt, thì vấn đề phân luồng học sinh sẽ được thực hiện tốt và ngược lại. Do vậy, muốn thực hiện tốt công tác phân luồng học sinh, điều kiện tiên quyết là phải thực hiện tốt công tác giáo dục hướng nghiệp.

Giáo dục hướng nghiệp với bản chất là hệ thống những biện pháp được tiến hành trong và ngoài nhà trường phổ thông để giúp học sinh có được những kiến thức, kỹ năng về nghề nghiệp. Giúp học sinh phát hiện, định hình được những sở thích, năng lực của bản thân và chuẩn bị cho các em một tâm thế sẵn sàng cho những quyết định lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của mình. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông đang được thực hiện thông qua các con đường chủ yếu sau: qua các môn khoa học cơ bản; qua chương trình giáo dục hướng nghiệp chính khoá; qua môn công nghệ và lao động sản xuất; qua thăm quan, sinh hoạt ngoại khoá (dẫn theo [7]). Tất cả những con đường đều hướng tới một mục đích là hình thành hứng thú, khuynh hướng và năng lực, kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh.

Mục đích của hoạt động giáo dục hướng nghiệp chính là phát hiện, bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp của học sinh. Thông qua những hiểu biết về bản thân như nguyện vọng, năng lực, sở thích và những hiểu biết về yêu cầu, đòi hỏi của nghề nghiệp, các em có thể đưa ra những lựa chọn nghề nghiệp phù hợp trong tương lai với một tâm lý sẵn sàng và tích cực.

Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục hướng nghiệp chính là giáo dục ý thức yêu lao động; tạo điều kiện cho học sinh làm quen, GDHN một số nghề phổ biến trong xã hội và địa phương; tìm hiểu rõ khuynh hướng, năng lực nghề nghiệp của học sinh qua đó tư vấn, hướng dẫn, khuyến khích các em đi theo các nghề phù hợp với sở thích, năng lực và xu hướng nghề nghiệp của bản thân. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Giáo dục hướng nghiệp được coi là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Giáo dục hướng nghiệp là bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo, góp phần vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên cao phù hợp với năng lực của bản thân, khả năng của gia đình và nhu cầu của xã hội.

Quản lý giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường. Quản lý tốt các hoạt động giáo dục hướng nghiệp sẽ giúp cho học sinh hiểu được năng lực, sở thích, nguyện vọng, xu hướng nghề nghiệp của mình. Giúp các em hình thành thói quen, ý thức yêu lao động, yêu nghề nghiệp. Từ đó, các em sẽ có những lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân trong tương lai. Chính những yếu tố này sẽ giúp cho công tác phân luồng học sinh được diễn ra một cách tự nhiên, khách quan và hiệu quả.

Về cơ bản, hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong những năm vừa qua đã nhận được quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp quản lý và trên thực tế, hoạt động giáo dục hướng nghiệp cũng đã đạt được những kết quả ban đầu như:

  • Đã được quán triệt trong các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành;
  • Hệ thống các văn bản về giáo dục hướng nghiệp đã được ban hành; hệ thống cơ sở giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề đã được quan tâm, đẩy mạnh đầu tư phát triển với hệ thống các trung tâm này có mặt ở hầu khắp các địa phương (từ cấp huyện trở lên) trên cả nước;
  • Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cũng từng bước được trang bị thêm những kiến thức mới cập nhật về giáo dục hướng nghiệp. Việc đầu tư kinh phí cho xây dựng và mua sắm trang thiết bị phục vụ giáo dục hướng nghiệp cũng đã được quan tâm.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan, hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS trên cả nước nói chung và các trường THCS ở địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai nói riêng vẫn chưa được quan tâm đúng mức và kết quả đạt được vẫn còn rất hạn chế, tài liệu hướng nghiệp thiếu thốn, lạc hậu; việc phối hợp các hình thức giáo dục hướng nghiệp chưa thực sự đạt hiệu quả; khả năng hướng nghiệp của nhiều giáo viên còn hạn chế; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục hướng nghiệp còn nghèo nàn, lạc hậu; việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình và xã hội chưa được thực hiện tốt.

Những vấn đề này cần được nghiên cứu cụ thể và đề xuất phương án phù hợp với điều kiện thực tế của các trường THCS trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và đặc biệt là bám sát định hướng của chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành vào năm 2018 (dẫn theo [31]). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Với mong muốn có thể góp phần vào việc giải quyết vấn đề nêu trên, đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” được tôi chọn làm luận văn tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận làm tiền đề nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDHN theo định hướng chương trình GDPT mới trong các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các trường THCS, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

3. Khách thể và Đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THCS.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

4. Giả thuyết khoa học

Hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THCS các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai trong thời gian qua đã được CBQL các trường quan tâm thực hiện và thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, theo chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn tồn tại những bất cập. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở trường THCS dựa trên những nghiên cứu lý luận và thực trạng, phù hợp với điều kiện các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai sẽ nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các trường THCS, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDHN theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường THCS. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
  • Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

6. Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu tại các trường cấp THCS (16 trường: Trường THCS Nậm Xé; Trường THCS số 1 Nậm Xây; Trường THCS Minh Lương; Trường THCS Dương Quỳ; Trường THCS Hòa Mạc; Trường THCS Làng Giàng; Trường THCS Khánh Yên; Trường THCS Khánh Yên Trung; Trường THCS Khánh Yên Thượng; Trường THCS Khánh Yên Hạ; Trường THCS Liêm Phú; Trường THCS Tân An; Trường THCS Tân Thượng; Trường THCS Võ Lao; Trường THCS Văn Sơn; Trường PTDT Nội trú THCS&THPT) và dữ liệu khảo nghiệm thực trạng được thực hiện từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 02 năm 2019.

7. Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng kết hợp các nghiên cứu sau:

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp bao gồm:

  • Tìm hiểu các khái niệm có liên quan đến đề tài
  • Các tài liệu, văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển GD&ĐT; các quy định về quản lý trường THCS nói chung, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp nói riêng.
  • Các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong nước và ngoài nước về phát triển giáo dục, về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp; các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Phương pháp quan sát

Quan sát các quá trình tổ chức GDHN trong các nhà trường THCS nhằm thu nhập thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài.

7.2.2. Phương pháp điều tra giáo dục

Xây dựng các bảng điều tra phù hợp với nội dung đề tài luận văn; thống kê, phân tích các dữ liệu để có những đánh giá chính xác về thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai trong thời gian qua.

7.2.3. Phương pháp phỏng vấn Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Thông qua phỏng vấn trực tiếp lấy các ý kiến chuyên gia, các CBQL giáo dục, GV có nhiều kinh nghiệm để khảo nghiệm thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng các trường THCS Huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

7.2.4. Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia là lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT và những nhà QLGD, GV, thu thông tin phục vụ quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.

7.2.5. Tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Sử dụng phương pháp quan sát thực tế các đơn vị, trao đổi kinh nghiệm với Hiệu trưởng các trường THCS về cách thức tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng các trường THCS.

7.3. Phương pháp bổ trợ

Sử dụng phương pháp thống kê trong toán học để xử lý dữ liệu, các thông tin trong quá trình nghiên cứu, điều tra, thu thập.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 Chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình GDPT mới ở các trường THCS.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình GDPT mới ở các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Thế giới Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Có thể nói những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại, tuy nhiên ở dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của mỗi người trong xã hội. Điều này thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị và sự bất bình đẳng trong phân công lao động xã hội. Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất xã hội phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập.

Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1949 ở Pháp được xem là cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.

Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J. L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J. L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp ở các nước công nghiệp (dẫn theo [29]).

Các nhà giáo dục Liên xô như B.F Kapêep; X.Ia Batưsep; X.A Sapôrinxki; V.A Pôliacôp trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa hướng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội, và nếu sớm thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội (dẫn theo [28]). Đồng thời các tác giả này cũng đã trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho HS phổ thông tại các cơ sở học tập – lao động liên trường trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp đã được triển khai trên đất nước Xô Viết nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, đặc biệt là vấn đề lựa chọn nghề cho mỗi công dân của đất nước. Công tác hướng nghiệp được tiến hành nhờ các tổ chức giáo dục, Uỷ ban bảo vệ sức khoẻ và các tổ chức quần chúng. Năm 1927, ở Lêningrat đã tổ chức hướng nghiệp với mục đích giúp cho tuổi trẻ và cha mẹ các em quen biết với nghề nghiệp. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Mei Tang, Wei Pan và Mark D. Newmeyer đã áp dụng mô hình lý thuyết phát triển xã hội nghề nghiệp để khảo sát các yếu tác động đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trung học. Những phát hiện của nghiên cứu này đã chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, lợi ích, và kết quả mong đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh trung học (dẫn theo [28]). Mối quan hệ của các yếu tố này là động, vì vậy, để can thiệp thành công cần phải xem xét mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức độ đa hệ thống. Các nhà tư vấn nên góp phần vào sự phát triển và thực hiện một chương trình phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp học sinh phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua hoạt động học tập thiết thực.

Nghiên cứu của Bromley H. Kniveton, trên cơ sở khảo sát 384 thanh thiếu niên (trong đó có 174 nam và 174 nữ) từ 14 đến 18 tuổi đã đã đưa ra kết luận: Cả nhà trường và gia đình đều có thể cung cấp những thông tin và hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên. Giáo viên có thể xác định những năng khiếu và khả năng qua đó khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khoá, tham gia lao động hướng nghiệp hoặc tham quan những cơ sở sản xuất. Phụ huynh học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp những hỗ trợ thích hợp nhất định cho sự lựa chọn nghề nghiệp, ngoài ra còn có sự tác động của anh chị em trong gia đình, bạn bè… (dẫn theo [23]).

Michael Borchert, trên cơ sở khảo sát 325 học sinh trung học của trường Trung học Germantown, bang Wisconsin đã đưa ra nhận xét: trong ba nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp là: Môi trường, cơ hội và đặc điểm cá nhân thì nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự chọn lựa nghề nghiệp của học sinh trung học.

Trong nghiên cứu của mình D. W. Chapman cho rằng các yếu tố cố định của trường đại học như học phí, vị trí địa lý, chính sách hỗ trợ về chi phí hay môi trường ký túc xá sẽ có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh. Ngoài ra ông còn nhấn mạnh ảnh hưởng của nỗ lực của các trường đến quyết định chọn trường của học sinh. D. W. Chapman còn cho rằng, các yếu tố tự thân cá nhân học sinh là một trong những nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của bản thân họ (dẫn theo [29]).

M.J. Burns và các cộng sự đã cho rằng mức độ nổi tiếng và uy tín của trường, đội ngũ giáo viên danh tiếng cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh, “tỷ lệ chọi” đầu vào, điểm chuẩn của trường là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh . Ngoài mong đợi về học tập trong tương lai thì mong đợi về công việc trong tương lai cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh. S.G. Washburn và các cộng sự còn cho rằng sự sẵn sàng của bản thân cho công việc và cơ hội kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh (dẫn theo [30]).

D.W. Chapman, trong việc chọn trường, các học sinh bị tác động mạnh mẽ bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình. Bên cạnh đó, Hossler và Gallagher còn cho rằng các cá nhân tại trường học cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định chọn trường của học sinh (dẫn theo [29]).

1.1.2. Ở Việt Nam Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Việt Nam giáo dục hướng nghiệp tuy được xếp ngang tầm quan trọng với các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp… Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả. Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực.

Trong chương trình GDPT hiện hành hướng nghiệp được coi là một hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ có thời lượng hạn chế và chưa thể hiện rõ tích hợp vào các môn học khác trừ môn dạy nghề và hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các cơ sở giáo dục được thực hiện thống nhất trên toàn quốc.

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu như Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong, Quang Dương, Nguyễn Văn Hộ,… đã đề cập đến nhiều khía cạnh trong công tác QLGDHN cho học sinh phổ thông.

Một số công trình nghiên cứu về công tác GDHN ở cấp Bộ như: Đề tài cấp Bộ năm 2005: “Những giải pháp triển khai thực hiện tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền thuộc Đại học sư phạm Thái Nguyên; Sách chuyên khảo “Tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), NXB Đại học Thái Nguyên [20]. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2009: “Tham vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông-Thực trạng ở Việt nam và kinh nghiệm Quốc tế” do Lê Thị Thanh Hương làm chủ nhiệm. Theo tác giả Phạm Tất Dong, đa số thanh niên không kiếm được việc làm là do không biết nghề (67,4%) [11] và nhấn mạnh: “Chú trọng hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự họ tìm ra việc làm”, đồng thời: “tiếp sau quá trình hướng nghiệp dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh. Đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản” [9].

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Đặng Danh Ánh xác định: “Cách mạng khoa học kỹ thuật đã thay đổi tận gốc lao động, và do đó thay đổi những đặc điểm và cách đào tạo con người ở trong nhà trường. Cần phải trang bị cho học sinh không chỉ kiến thức và kỹ thuật công nghệ nhất định mà còn hình thành có hiệu quả phương tiện phát triển tư duy sáng tạo kỹ thuật, tính độc lập trí óc, hình thành kỹ năng, trong thời gian tối thiểu thu được lượng thông tin tối đa và năng lực tự học” [1]. Công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [18]. Tác giả đã xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước,đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Những nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp

Nguyễn Quốc Thanh Long (2012), Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Bình Chánh [23]. Tác giả đã khái quát được lý luận của công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT với nội dung về: Thành lập Ban hướng nghiệp vad xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể các thành viên Ban hướng nghiệp; Phân công trách nhiệm hướng nghiệp trong nhà trường; kế hoạch hoạt động GDHN, Tổ chức hoạt động GDHN; Chỉ đạo thực hiện hoạt động GDHN; Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN; kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN; tổng kết hoạt động GDHN. Đề xuất biện pháp về tăng cường tư tưởng nhận thức; các nhóm biện pháp chính và đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐGDHN.

Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2011), Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT Quận 12 thành phố Hồ Chí Minh [31]. Tác giả đã nêu nội dung chính về quản lý hoạt động hướng nghiệp đó là: Xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN; Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDHN; kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN; đảm bảo các điều kiện cho HĐGDHN, trên cơ sở phân tích thực trạng tại địa bàn, tác giả đưa ra 07 giải pháp quan trọng giải quyết.

Phan Ngọc Hà (2009), Thực trạng quản lý hoạt động GDHN của HT các trường THPT huyện Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ hiện nay [16]. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về công tác QL hoạt động GDHN của HT các trường THPT huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay chưa đạt hiệu quả cao trên cơ sở phân tích các thực trạng về sự thiếu thông tin, sự thiếu hiểu biết của HS về các ngành, nghề trong XH dẫn đến việc chọn nghề nghiệp tương lai của các em HS không phù hợp, các HTGDHN trong nhà trường THPT còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, đề tài chưa chú ý phân tích đánh giá quản lý theo chức năng (công tác tư tưởng, chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo thực hiện và chức năng kiểm tra đánh giá. Đặc biệt, đề tài chưa xác định rõ tương quan giữa quản lý theo chức năng với kết quả quản lý.

Tác giả Nguyễn Hữu Thiện (2004), Tìm hiểu thực trạng công tác QL hoạt động HN cho HS THPT tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp [30]. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về công tác QL hoạt động HN cho HS THPT tại thành phố Hồ Chí Minh chưa đạt hiệu quả cao trên cơ sở phân tích các thực trạng về sự thiếu thông tin, sự thiếu hiểu biết của HS về các ngành, nghề trong XH dẫn đến việc chọn nghề nghiệp tương lai của các em HS không phù hợp, các hình thức GDHN trong nhà trường THPT còn nhiều hạn chế. Bên cạnh, đề tài chưa đề cập đến sự lãnh đạo phối hợp GD của nhà trường – gia đình – xã hội trong công tác GDHN cho HS. Vì công tác GDHN trong nhà trường phổ thông là một bộ phận của công tác HN của toàn XH. Gia đình lại là cái nôi đầu đời có ảnh hưởng lớn tới sự chọn lựa nghề nghiệp tương lai của HS. Ở đây đề tài chưa đề cập đến nhiệm vụ của CMHS trong việc GDHN và chưa có sự phối hợp GD của nhà trường với gia đình để HN cho các em.

Tác giả Huỳnh Thị Tam Thanh (2003), Quản lý công tác HN cho HSPT bậc trung học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Thực trạng và giải pháp (dẫn theo [28]). Đề tài này đã xác định được các đầu việc quản lý của lãnh đạo các nhà trường trong công tác QL GDHN và đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác này. Tuy nhiên, đề tài còn chưa xây dựng được một cơ sở lý luận hoàn chỉnh làm nền tảng cho việc giải quyết phần nội dung.

1.2. Khái niệm và thuật ngữ liên quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

1.2.1. Quản lý

Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

K.Marx đã viết: Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở qui mô tương đối lớn đều cần đến một chừng mực nhất định của sự quản lý.

Quản lý là sự xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động đối với các bộ phận riêng lẽ của nó.

Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về quan niệm. Sau đây là một số khái niệm thường gặp:

Khi nói đến quản lý, K.Marx ví hoạt động này như là công việc của người nhạc trưởng, ông viết: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”(dẫn theo [24]).

Theo từ điển giáo dục học, quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.

 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” (dẫn theo [26]).

  • Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều chỉnh các quá trình xã hội và hành
  • hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với qui luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý.
  • Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để tạo ra một sự chuyển biến toàn bộ hệ thống nhằm đạt đến một mục đích nhất định. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.
  • Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”.

Qua các khái niệm trên về quản lý, có thể quan niệm về quản lý như sau:

Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với qui luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý.

Như vậy, rõ ràng “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật” và “Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa có tính chất chủ quan, vừa có tính chất pháp luật nhà nước, vừa có tính chất xã hội rộng rãi… chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất” (dẫn theo [21]).

Quản lý có hai chức năng cơ bản: duy trì và phát triển. Để đảm bảo được hai chức năng này, hoạt động quản lý phải bao gồm 4 chức năng cụ thể là: Lập kế hoạch; Tổ chức thực hiện kế hoạch; Chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch; Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch.

1.2.2. Giáo dục hướng nghiệp

a) Hướng nghiệp

Bình diện xã hội: Hướng nghiệp được hiểu là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học. nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.

Bình diện trường phổ thông: Hướng nghiệp bao gồm một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường, xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm giáo dục HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội.

Hỗ trợ có tính tương tác để giúp học sinh nâng cao nhận thứ về cuộc sống và công việc từ chung sang cụ thể, nắm được các lựa chọn có thể có được trong cuộc sống và học tập. Hướng nghiệp có thể được thực hiện theo nhóm hay theo cá nhân. Hướng nghiệp sẽ dẫn đến sự lựa chọn nghề hoặc con đường học tập cho tương lai của mỗi cá nhân. Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực hoạt động khoa học mà khi xem xét hoạt động hướng nghiệp có thể có những quan điểm khác nhau về khái niệm này. Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sư phạm, tâm lý giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân; các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân bố lực lượng lao động xã hội… Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Như vậy, hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động đặc biệt vào quá trình định hướng nghề nghiệp của cá nhân bằng cách giúp họ nhận thức được bản thân, nghề nghiệp và nhu cầu thị trường lao động, qua đó cá nhân tự quyết định chọn lấy một nghề phù hợp đảm bảo cho họ thành đạt trong công việc và hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp sau này (dẫn theo [17]).

b) Giáo dục hướng nghiệp

Các hoạt động giáo dục GDHN giúp học sinh hình thành được các năng lực cần thiết để lựa chọn nghề, con đường học tập, lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó trong bối cảnh giáo dục trong và ngoài nhà trường.

Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục. Thông qua giáo dục hướng nghiệp, mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất và đòi hỏi của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và sự đào tạo nghề tương ứng, tự sàng lọc những nguồn tư vấn để tự mình tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân. Từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề phù hợp hoặc không phù hợp với mình và cách thức để hiện thực hóa mong muốn về nghề đó.

GDHN là một hệ thống các biện pháp GD nhằm chuẩn bị cho HS sớm có thức chọn ngành, nghề vừa phù hợp với nguyện vọng cá nhân vừa phù hợp với sự phân công lao động xã hội ngay từ khi còn học ở trường THCS.

Như vậy, GDHN là một hệ thống các biện pháp GD của nhà trường, gia đình và XH, nhằm dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho các em có định hướng đúng trong việc lựa chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, sở trường của bản thân, đáp ứng được nhu cầu nhân lực mà xã hội đang đặt ra. Đồng thời, giúp các em phát huy hết năng lực của mình với nghề đã chọn [20].

1.2.3. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp (Quản lý hướng nghiệp) là một bộ phận của QLGD, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý của CTHN nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu HN cho HS.

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh là một nội dung của quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp để đạt mục đích giáo dục hướng nghiệp (dẫn theo [19]). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Quản lý hướng nghiệp bao gồm những yếu tố cơ bản sau:

Hình 1.1: Bản chất của hoạt động quản lý hướng nghiệp

Chủ thế quản lý: là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn lực cho công tác HN tại địa bàn, đơn vị đang quản lý. Trong quản lý HN, chủ thể quản lý là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách HN của bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường và các giám đốc trung tâm GDHN ở địa phương có chức năng HN cho HS trên địa bàn. Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bằng phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt mục tiêu HN.

Đối tượng quản lý là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ HN, bao gồm các GV và CB phụ trách HN, tập thể HS ở các trường THCS, CB, GV và HS các TT GDTX – HN, TT KTTH – HN; các tổ chức, đoàn thể xã hội như Hội cha mẹ HS, hội LHPN, các doanh nghiệp… Đối tượng quản lý còn bao gồm các hình thức HN, ngân sách, cơ sở vật chất và thiết bị GD cho HN và hệ thống thông tin cho công tác HN.

Hình 1.2: Tổng quan về quản lý hướng nghiệp

Công cụ quản lý: là những phương tiện mà cán bộ QLHN sử dụng trong quá trình quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp HĐ của các tác nhân HN và HS trong việc thực hiện mục tiêu công tác HN. Công cụ chủ yếu để QLHN là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT đối với công tác HN, là các cơ chế và chính sách cho công tác HN.

Phương pháp quản lý: là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của cán bộ QLHN đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Phương pháp quản lý bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lý và lựa chọn cách thức tác động của CBQLHN tới đối tượng quản lý.

1.3. Những vấn đề lý luận về giáo dục hướng nghiệp theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

1.3.1. Giáo dục hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông mới

  • Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc lựa chọn nghề của thanh thiếu niên, học sinh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Một trong những mục đích chính của công tác HN là điều chỉnh hướng chọn nghề của thế hệ trẻ cho phù hợp với những yêu cầu phát triển của kinh tế. Vì thế, trong công tác HN Nhà GD luôn đòi hỏi thanh thiếu niên, HS phải trả lời được câu hỏi: “Nghề định chọn có nằm trong những nghề mà XH đang cần phát triển hay không?”.

Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển đổi theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc nội. Xu hướng chọn nghề của thanh thiếu niên, HS phải phù hợp với xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của HN.

Chính điều này đã đặt ra trong GD phải thông tin chính xác về yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế để thế hệ trẻ có cơ sở cân nhắc định hướng chọn nghề cho bản thân. Và vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được nhà trường quan tâm như là một định hướng chuẩn bị cho HS ra trường. Các địa phương có điều kiện về KT-XH khác nhau được định hướng để phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực riêng theo thế mạnh, ngành nghề mũi nhọn của địa bàn, quy hoạch các vùng liên kết sản xuất gắn với mỗi địa phương có một sản phẩm.

  • Hướng nghiệp phát huy tác động giáo dục ý thức chính trị và lý tưởng nghề nghiệp cho người lao động

Trong GDHN những bài toán tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội phải được đặt ra trước cho HS khi các em quyết định con đường lao động nghề nghiệp của mình. Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ mở cửa, mở rộng thị trường ra bên ngoài, sự cạnh tranh về thị trường hàng hóa trong quá trình phát triển kinh tế giữa quốc gia càng quyết liệt. Đòi hỏi thị trường lao động phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia.

Thông qua những thông tin về thị trường lao động, phân tích cho HS thấy sự cần thiết phải vươn lên nắm lấy những công nghệ cao… Bởi các công nghệ lạc hậu sẽ làm chi phí đầu tư quá lớn, từ đó năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thấp.

Bên cạnh, cũng cho HS thấy sự cần thiết phải nâng cao năng lực sản xuất, năng lực tiếp thị và năng lực sáng tạo. Đó là những yếu tố sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của CSSX, của doanh nghiệp. Là một nước nông nghiệp lạc hậu, trên con đường CNH-HĐH đất nước, cần phải thật sự có một cuộc cách mạng trong nông nghiệp, phát triển nền nông nghiệp sinh thái, nền nông nghiệp sạch, bảo đảm chất lượng cao về những mặt hàng nông sản. Chúng ta không chỉ quan tâm đến an ninh lương thực mà còn phải đề cao an toàn thực phẩm, đây là vấn đề quyết định đến việc phát triển thị trường hàng hoá nông nghiệp.

Mặt khác, qua HN và các hoạt động khác trong nhà trường nhằm cho HS thấy tính tất yếu của việc chuyển nhà nông sang các nghề thuộc lĩnh vực phi nông nghiệp với khẩu hiệu “ly nông bất ly hương”. Ngay trong quá trình học ở trường HS phải được định hướng đi vào những nghề mà chính địa phương đang có, các khu công nghiệp hoặc các khu chế xuất mọc lên…Ngành nghề có nhu cầu sử dụng nhiều lao động có trình độ, do đó trong chương trình giáo dục mới đã phải xây dựng nội dung, hình thức hướng nghiệp phù hợp với điều kiện địa bàn, hòa với xu thế phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

  • Hướng nghiệp gắn với việc học tập làm chủ công nghệ mới Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Thông qua HN, HS thấy được sự sống còn của nghề nghiệp gắn bó chặt chẽ với đổi mới công nghệ với việc làm chủ những tri thức hiện đại, với việc học hỏi liên tục và đào tạo suốt đời.

Nền sản xuất hiện nay đang thừa hưởng thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Với vòng đời của công nghệ rút ngắn, các sản phẩm có mặt hàng trên thị trường không thể kéo dài hàng năm, mà là hàng tháng, hàng tuần. Các doanh nghiệp buộc phải nâng cao tính cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng lực làm chủ những công nghệ mới.

Xu thế ngày nay các doanh nghiệp là đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường. Trong điều kiện này, hệ thống trường học, bệnh viện, nhà in, nhà xuất bản, các nhà hát, thư viện, câu lạc bộ…cũng thay đổi về nội dung và hình thức hoạt động theo nhịp độ đổi mới công nghệ. HN trong giai đoạn hiện nay phải chỉ ra hướng phát triển của các nghề theo hướng ứng dụng những tri thức mới, những công nghệ mới và vẽ nên viễn cảnh phát triển của nghề.

Đây là chỗ khó của HN và cũng là lẽ tồn tại của HN. HS chỉ thấy được thực trạng của nghề trong hiện tại, không thấy được những biến đổi mau lẹ của nội dung, hình thức, phương pháp công tác trong nghề bằng những công nghệ mới, không mường tượng được con đường hiện đại hoá của nghề nên khó có thể quyết định việc lựa chọn lĩnh vực lao động sau khi rời trường học. Giai đoạn hiện nay KHCN phát triển như vũ bão đòi hỏi HS phải chủ động tích cực học tập và hoạt động là một trong định hướng giúp các em định hình các nội dung sử dụng KHCN trong triển khai công việc trong tương lai.

  • Hướng nghiệp chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị trường

Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã đặt ra cho công tác HN những yêu cầu mới như cùng với việc giới thiệu nghề cụ thể cho HS còn phải cho HS thấy rằng, thiếu năng lực sáng tạo sẽ không bảo đảm được sức cạnh tranh trên thị trường.

Song song, trong quá trình làm một nghề, người lao động còn phải tăng tính thích ứng của mình với những thay đổi lớn lao của thị trường hàng hoá, có những trường hợp còn phải có năng lực chuyển sang nghề khác. Đây là tinh thần mới của HN. Trong thời đại mới, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, rất nhiều thành tựu khoa học mới được ứng dụng rộng rãi trong đó có công nghệ thông tin. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Việc “máy tính hoá” các hoạt động nghề nghiệp và phổ cập Internet đang ngày càng bức bách buộc người lao động phải nắm chắc việc sử dụng máy tính và ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trước khi dự tuyển vào bất kỳ ngành, nghề nào.

Trong điều kiện phát triển của thị trường, công tác HN cần hướng một bộ phận không nhỏ những HS tốt nghiệp phổ thông đi vào lĩnh vực kinh doanh. Đây là đội ngũ có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước nhà. Chân dung các nhà doanh nghiệp được mô tả khoa học trong các giờ HN để HS có năng khiếu kinh doanh chú ý đến các nghề thuộc lĩnh vực này.

Trên đường tiếp cận với kinh tế tri thức, trong sinh hoạt HN cần dành một thời gian thích đáng cho việc làm quen với những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn: như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hoá nhằm giúp cho HS hiểu được phương hướng và các mục tiêu phát triển các công nghệ này ở nước ta. Mặt khác, trong nội dung HN cũng cần nói đến những đặc điểm kinh tế tri thức và những yêu cầu đặt ra trước cho người lao động phục vụ nền kinh tế này [7].

1.3.2. Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Hình thành khả năng tự chủ trong việc lựa chọn nghề của học sinh trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú, sở thích cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động trong các lĩnh vực của xã hội. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả lao động xã hội và làm tốt công tác phân luồng học sinh sau mỗi bậc học. Mục tiêu cụ thể như sau:

  • Hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai.
  • Biết được một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đất nước và khu vực; về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (trung học chuyên nghiệp và dạy nghề), cao đẳng, đại học ở địa phương và cả nước.
  • Biết cách tìm kiếm thông tin nghề và cơ sở đào tạo cầu thiết cho bản thân.
  • Biết cách tự đánh giá năng lực bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội để định hướng học tập và chọn nghề tương lai.
  • Tự đánh giá được năng lực bản thân và điều kiện gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai.
  • Tìm kiếm được những thông tin nghề và thông tin cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọn nghề.
  • Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai của bản thân.
  • Chủ động và tự tin trong việc chọn nghề phù hợp.
  • Có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn [7].

1.3.3. Nội dung giáo dục hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông mới Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Nội dung hướng nghiệp ở cấp THCS gồm mạch nội dung:

  • Định hướng phát triển KT-XH của địa phương, cả nước.
  • Nhu cầu về thị trường lao động.
  • Thông tin nghề nghiệp và cơ sở đào tạo.
  • Năng lực bản thân, hoàn cảnh và truyền thống nghề nghiệp gia đình.
  • Lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THCS và THPT.

Những nội dung được thể hiện thành những chủ đề trong chương trình.

Trong một số chủ đề, HS phải lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THCS và THPT. Nội dung chương trình lớp 9 giúp HS có được những kiến thức cơ sở; nội dung chương trình lớp 10, 11 giúp các em tìm hiểu thông tin nghề nghiệp cụ thể; nội dung chương trình lớp 12 tập trung vào tìm hiểu thông tin ĐT và hướng phát triển kinh tế nhằm giúp cho việc quyết định chọn nghề [7].

Yêu cầu khi thực hiện nội dung hướng nghiệp:

Nội dung GDHN phải đáp ứng mục tiêu đào tạo: góp phần hình thành nhân cách học sinh, giáo dục toàn diện học sinh, rèn tính năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng với tình huống, linh hoạt thích ứng với công việc, ngành nghề xã hội có nhu cầu sát hợp với nguyện vọng bản thân.Nội dung GDHN phải có tính mềm dẻo, phân hóa: nội dung hướng nghiệp phải được tiến hành dựa vào những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng, các điều kiện…nhằm phát triển tốt nhất cho người học. Tăng thời lượng thực hành, thực tế, tham quan, trang bị các tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp. GDHN có tính phân hóa đáp ứng yêu cầu đào tạo và phân công lao động xã hội để mỗi thành viên đóng góp hiệu quả nhất trong công việc trên cơ sở đã được chuẩn bị tốt theo định hướng từ nhà trường.

Nội dung GDHN mang tính cơ bản, thiết thực: GHDN phải chỉ rõ cho người học có nhận thức đúng đắn về vai trò định hướng nghề nghiệp mà xã hội đang cần, đồng thời giúp các em lựa chọn hướng đi của mình một cách tốt nhất, phù hợp với năng lực học tập và sở trường của mình. Đối với các em có học lực khá tốt được đánh giá qua các kỳ kiểm tra, các kỳ thi thì tiếp tục học lên và đi vào các trường đại học. Các em có học lực hạn chế được hướng nghiệp để lựa chọn con đường học nghề phù hợp với khả năng của mình, các em sẽ có tương lai rõ ràng hơn, một môi trường học tập, rèn luyện tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội và cho bản thân. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Nội dung GDHN phải gắn với cuộc sống, đáp ứng mục tiêu giáo dục, học sinh phải hiểu rõ bản thân mình từ sở thích, khả năng, có tính đến giá trị nghề nghiệp. Vì mỗi người không thể tách riêng độc lập mà sống trong môi trường bao gồm các yếu tố tác động xung quanh bên ngoài như: gia đình, bạn bè, cộng đồng xã hội, môi trường kinh tế, giáo dục … Các yếu tố này có liên quan mật thiết đến định hướng nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp bản thân.

Nội dung GDHN vừa sát với thực tiễn nhu cầu xã hội, vừa phù hợp với khả năng, sở thích, điều kiện hoàn cảnh gia đình, có như vậy thì nghề chọn sẽ dễ thành công và bản thân mới phát triển hết tiềm năng chuyên môn đối với nghề nghiệp. Để xác định đúng đắn việc chọn nghề, GDHN cần cho học sinh tiếp cận với ngành nghề địa phương có nhu cầu thông qua các kênh thông tin, truyền thông, tài liệu hướng nghiệp của thầy cô giáo giảng dạy. Hơn nữa, một nội dung rất quan trọng là cho học sinh tham quan các cơ sở sản xuất, cơ quan xí nghiệp ở địa phương để các em có cơ hội tìm hiểu định hướng tương lai nghề nghiệp của bản thân.

1.3.4. Hình thức giáo dục hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn văn hóa. Thật vậy, môn học nào cũng có khả năng hướng nghiệp của nó. Điều quan trọng là người thầy phải biết kết nối những nội dung giảng dạy với một số nghề cụ thể nào đó nhằm giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về nghề, ươm mầm đam mê nghề nghiệp cho học sinh. Quá trình giảng dạy các môn văn hóa cũng là quá trình phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, dẫn dắt sự phát triển năng khiếu của học sinh, từ đó, người thầy có thể định hướng cho học sinh có năng khiếu, cho các em những lời khuyên chọn nghề.

Hướng nghiệp qua hoạt động dạy nghề phổ thông và dạy môn công nghệ. Có thể nói môn công nghệ và dạy nghề phổ thông có khả năng hướng nghiệp rất lớn. Mặc dù học sinh chưa đi sâu vào kỹ thuật nghề nghiệp nhưng qua việc tìm hiểu một số ngành nghề chủ yếu (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), học sinh có điều kiện hiểu về những ngành nghề trong xã hội. Đặc biệt, với hoạt động dạy nghề phổ thông (tin học, điện dân dụng, chụp ảnh, nấu ăn,…), học sinh có điều kiện được thực hành một cách nghiêm túc, đầy đủ, được thử sức mình với hoạt động kỹ thuật cụ thể, nhờ đó, các em phát hiện và đánh giá đúng hơn năng lực kỹ thuật của bản thân. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp. Có nhiều cách tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp như giao lưu với người thành đạt trong nghề; tìm hiểu các ngành nghề đang cần nhân lực, nhất là những ngành nghề nằm trong dự báo nhu cầu nhân lực của địa phương; tìm hiểu hệ thống các cơ sở đào tạo; tổ chức các buổi tọa đàm, diễn đàn về nghề nghiệp tương lai… tất cả đều nhằm mục đích giáo dục thái độ yêu lao động cũng như cung cấp cho học sinh một cái nhìn toàn cảnh về các ngành nghề trong xã hội, các “luồng” mà học sinh có thể đi tiếp sau khi tốt nghiệp cũng như nhu cầu về nhân lực của quốc gia và địa phương.

Hướng nghiệp qua các hoạt động tham quan ngoại khóa. Các hoạt động này có khả năng hướng nghiệp to lớn bởi chúng thúc đẩy sự phân hóa năng lực, sự phát triển năng khiếu diễn ra càng mạnh mẽ, nói cách khác, sự nảy sinh hứng thú, thiên hướng, năng lực của học sinh thường xuất hiện trong các hoạt động ngoại khóa.

Với một cách diễn đạt cụ thể hơn, 4 hình thức giáo dục hướng nghiệp nêu trên được chia nhỏ ra thành 10 hình thức giáo dục hướng nghiệp chi tiết sau đây:

  • Hướng nghiệp qua dạy chương trình hướng nghiệp chính khóa;
  • Hướng nghiệp qua dạy các môn khoa học cơ bản;
  • Hướng nghiệp qua dạy môn công nghệ;
  • Hướng nghiệp qua dạy nghề phổ thông;
  • Hướng nghiệp qua tham quan cơ sở sản xuất;
  • Hướng nghiệp qua việc mời các chuyên gia nói chuyện;
  • Hướng nghiệp qua hội thảo, tranh luận theo chủ đề;
  • Hướng nghiệp qua tham quan các cơ sở đào tạo nghề;
  • Hướng nghiệp qua tư vấn hướng nghiệp;
  • Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa khác [7].

1.4. Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở

1.4.1. Lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Nhiệm vụ trọng tâm của người Hiệu trưởng là làm thế nào để GV, NV biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu, chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường.

Kế hoạch HĐGDHN bao gồm xây dựng mục tiêu, chương trình, xác định từng bước thực hiện, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ HĐGDHN. Việc xây dựng kế hoạch HĐGDHN giúp HT tập trung chú ý vào mục tiêu HĐGDHN, dự kiến khả năng ứng phó với những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả HĐGDHN trong trường. Đồng thời, tạo điều kiện cho HT dễ dàng kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, chương trình của các lực lượng tham gia hoạt động GDHN.

  • Yêu cầu khi xây dựng kế hoạch hoạt động GDHN

Căn cứ vào nhiệm vụ năm học và chương trình học tập các môn học, Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch hoạt động GDHN cho từng khối lớp hoặc toàn trường và chỉ đạo giáo viên tổ chức thực hiện.

  • Phải rõ ràng, cụ thể, chi tiết, thể hiện: + Tên, nội dung kế hoạch;
  • Mục tiêu của hoạt động: rõ ràng, phù hợp với mục tiêu của giáo dục, kiến thức, nhận thức, khả năng, năng lực của học sinh THCS,…
  • Nội dung của hoạt động GDHN: cần phù hợp và có mối quan hệ với hoạt động thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương hoặc quốc gia trong tương lai;
  • Đối tượng tham gia: CBGV, học sinh trong trường có thể mời thêm các chuyên gia, cha mẹ học sinh, địa phương, các tổ chức có liên quan;
  • Nguồn lực hỗ trợ: Nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính cần sử dụng, sự phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường;
  • Thời gian thực hiện: Ngày, tuần, tháng, học kỳ;
  • Kết quả cần đạt được: Sự mở rộng về nhận thức nghề nghiệp của HS;
  • Các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động GDHN:
  • Phải đảm bảo tính khả thi: kế hoạch xây dựng cần gắn với nguồn lực thực hiện và tổ chức được GDHN cho học sinh THCS.
  • Phải đảm bảo tính mới: Chương trình GDHN thể hiện được sự khác biệt, mới lạ so với các chương trình đã thực hiện trước đó nhưng đảm bảo theo yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới về GDHN.

1.4.2. Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Thực tế cho thấy hiện nay, một trong những khâu quan trọng của việc QLHĐGDHN chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDHN ở các trường phổ thông. Việc cụ thể hóa kế hoạch, chương trình thực hiện theo từng thời điểm nhất định, phân công trách nhiệm từng thành viên và việc thực hiện kế hoạch đến đâu, hiệu quả ra sao đều phụ thuộc chủ yếu vào việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDHN của Hiệu trưởng. Trong quá trình thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDHN, có thể xảy ra những tình huống ngoài dự kiến của kế hoạch, cần có sự điều chỉnh kịp thời để đạt đến mục tiêu.

Trong việc tổ chức thực hiện, Hiệu trưởng cần tạo điều kiện cho người tham gia phát huy tinh thần tự giác, tích cực, phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Bồi dưỡng năng lực tổ chức GDHN cho giáo viên nếu thấy cần thiết, huy động và phân phối các nguồn lực để tiến hành GDHN cho học sinh. Việc huy động các nguồn tài chính để tổ chức GDHN cho học sinh bằng nhiều nguồn tài chính khác nhau như: ngân sách nhà nước, cha mẹ học sinh đóng góp, các cá nhân, đơn vị ngoài trường tài trợ,…

Phối hợp các lực lượng trong và ngoài trường để thực hiện GDHN diễn ra trong nhà trường và ngoài nhà trường, các lực lượng giáo dục có ảnh hưởng tới hoạt động đó là: các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường và ngoài nhà trường, phụ huynh, giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh, cơ sở đào tạo nghề.

1.4.3. Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở

  • Hiệu trưởng ra Quyết định thành lập Ban hướng nghiệp vào đầu năm học, xác định vấn đề và lựa chọn phương án hành động HN, chọn thành viên trong ban có tri thức và kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch HN, truyền đạt quyết định HN đến các thành viên trong trường.
  • Hiệu trưởng xây dựng Kế hoạch hoạt động GDHN vào đầu năm học, phát hiện vấn đề và ra nhiệm vụ HN, đề ra nhiệm vụ HN một cách chính thức, dự kiến các phương án HN thay thế, so sánh các phương án dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả HN đã xác định.
  • Lập kế hoạch thực hiện quyết định HN, thực hiện quyết định HN, thực hiện dạy hướng nghiệp theo quy định của Bộ GD&ĐT; GVCN khối lớp căn cứ vào kết quả học tập định kỳ hằng tháng có nhận định, định hướng hướng học tập của HS phù hợp sau tốt nghiệp. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.
  • Quản lý xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên của giáo viên như: Xây dựng kế hoạch cá nhân có nội dung GDHN cho học sinh theo từng chủ đề, chủ điểm ứng với các nội dung (theo môn học, liên môn, giáo dục đạo đức, lối sống, hoạt động xã hội, mô phỏng,…).
  • Xây dựng nội dung GDHN và địa điểm thực hiện (hoạt động diễn ra ở đâu, của lớp nào, như thế nào? vai trò của GVBM, GVCN ra sao? thời gian, hình thức, nội dung thực hiện có đúng quy định không ? ý thức tự quản của học sinh ra sao ?…).
  • Chỉ đạo giáo viên chuẩn bị hoạt động theo chủ điểm, chủ đề (lớp có tham gia hay không ? mức độ tham gia thế nào? kết quả ra sao ?…).
  • Chỉ đạo giáo viên phối hợp các lực lượng khác như: cán bộ phụ trách Đội, cha mẹ HS để thực hiện chương trình và kế hoạch GDHN, phối hợp với các tổ chức xã hội trong việc tổ chức hoạt động GDHN (đặc biệt cơ sở đào tạo nghề) cho học sinh; chỉ đạo giáo viên thực hiện việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GDHN cho học sinh THCS.
  • Chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GDHN: hoạt động GDHN càng đa dạng phong phú bao nhiêu càng có sức thu hút học sinh bấy nhiêu, vì vậy giáo viên cần phải thường xuyên đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDHN để thu hút học sinh tham gia hoạt động để tạo cơ hội cho học sinh GDHN ngoài thực tế và nâng cao kiến thức đã được học trong nhà trường.
  • Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nội dung, chương trình hoạt động GDHN Hiệu trưởng cần phải: Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ của từng môn học, nội dung giáo dục và nhiệm vụ của học kỳ và năm học; Căn cứ vào kế hoạch học tập chính khóa của học sinh theo khối lớp; Căn cứ vào đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh THCS theo vùng miền; Căn cứ vào điều kiện tài chính, cơ sở vật chất của nhà trường, từ đó chỉ đạo giáo viên xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động GDHN và thực hiện kế hoạch hoạt hoạt động GDHN.
  • Tổng kết việc thực hiện quyết định HN, nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm.

1.4.4. Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp và phản hồi thông tin để cải tiến trong các trường trung học cơ sở

Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục nói chung và GDHN nói riêng. Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình. Đánh giá những thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình GDHN.

Thống nhất với quan điểm đổi mới đánh giá như trên, việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc bám sát mục tiêu của HĐGDHN đã đề ra. Như vậy, muốn HĐGDHN có hiệu quả cao thì nhà quản lý trước hết phải xây dựng các tiêu chuẩn, phương pháp kiểm tra đánh giá HĐGDHN; đánh giá HĐGDHN một cách thường xuyên và theo định kỳ; thông qua đánh giá của GV tham gia HĐGDH; phối hợp các phương pháp đánh giá HĐGDHN. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Xây dựng các tiêu chuẩn, phương pháp kiểm tra đánh giá HĐGDHN bằng cách các thành viên trong Ban hướng nghiệp tổng kết sổ đầu bài, các bảng theo dõi về nề nếp, hoạt động dạy và học của GV, HS theo hằng tuần, báo cáo lãnh đạo trường hằng tuần để có ý kiến chỉ đạo kịp thời.

  • Đánh giá HĐGDHN một cách thường xuyên và theo định kỳ:
  • HĐGDHN phải được đánh giá một cách thường xuyên như đánh giá hàng tuần hoặc hàng tháng để rút kinh nghiệm về những gì đã, sẽ và chưa làm được để phát huy hiệu quả cho hoạt động này.
  • Thông qua đánh giá của GV tham gia HĐGDH: Giáo viên là một lực lượng quan trọng vì chính họ là người tổ chức, là người tư vấn và cũng chính lực lượng này rất gần gũi với các em. Họ hiểu được nguyện vọng và nhu cầu về nghề nghiệp của các em.
  • Xây dựng được các tiêu chí đánh giá kết quả GDHN sát với mục đích yêu cầu của từng hoạt động, trong từng thời điểm, gắn với mục tiêu chương trình biên soạn của GDHN phù hợp với lưa tuổi THCS.

Xây dựng lực lượng đánh giá có uy tín đối với từng hoạt động, việc đánh giá phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trực tiếp hoặc gián tiếp để kịp thời phát hiện và điều chỉnh những thiếu sót trong quá trình thực hiện GDHN. Có thể sử dụng nhiều hình thức đánh giá như: phiếu khảo nghiệm, quan sát thực tế, trao đổi trực tiếp, phỏng vấn ý kiến giáo viên, học sinh hoặc chuyên gia trong ngành.

Kiểm tra hoạt động học tập của học sinh về các nội dung HN để nắm được mức độ tiếp nhận và vận dụng kiến thức chung cũng như các kiến thức mà học sinh THCS lĩnh hội được từ các GDHN, cung cấp cho học sinh những phản hồi thông tin giúp điều chỉnh hoạt động của mình trong định hướng lựa chọn nghề nghiệp cho mình trong tương lai.

Kiểm tra hoạt động dạy học, giáo dục của giáo viên đối với việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của tổ chức GDHN. Hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên (thông qua việc kiểm tra bài soạn của GV, dự giờ giảng của GV ở những bài học có nội dung liên quan đến GDHN, …) để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chất lượng GDHN trong nhà trường.

Kiểm tra đánh giá về tinh thần thái độ, ý thức tham gia GDHN của học sinh và mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng, hành vi của học sinh. Đánh giá bằng hình thức nhận xét kết quả tham gia hoạt động của học sinh, những năng lực đã bộc lộ và những hạn chế cần khắc phục. Đánh giá tập thể, nhóm và đánh giá cá nhân.

Kết thúc quá trình kiểm tra đánh giá Hiệu trưởng phải tổ chức rút kinh nghiệm, chỉ ra được những mặt đạt được và chưa được của hoạt động, qua đó công nhận những giá trị và những đóng góp của các tập thể và cá nhân đối với GDHN. Do vậy việc kiểm tra, đánh giá GDHN phải khách quan, chính xác, toàn diện, hệ thống, công khai, kịp thời, vừa sức và bám sát vào yêu cầu của chương trình, mục tiêu giáo dục cấp THCS. Từ đó làm sáng tỏ thực trạng để điều chỉnh quá trình giáo dục, dạy học sao cho hợp lý và đưa thông tin kết quả này đến cơ sở đào tạo nghề có nhu cầu sử dụng.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở

1.5.1. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

  • a) Nhận thức của cán bộ, quản lý về tầm quan trọng của GDHN

Ban giám hiệu nhà trường là cấp chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các cơ sở giáo dục phổ thông. Để công tác giáo dục hướng nghiệp thực hiện đúng chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước, cần ít nhất một thành viên trong ban giám hiệu nhà trường có tâm huyết, có chuyên môn về hoạt động giáo dục hướng nghiệp chịu trách nhiệm chính trong việc chỉ đạo và triển khai thực hiện công tác này ở nhà trường.

  • Năng lực tổ chức hoạt động hướng nghiệp

Công tác tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Nếu công tác này được quan tâm và thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao. Công tác tổ chức tốt sẽ giúp các cơ sở giáo dục tận dụng và huy động mọi nguồn lực để thực hiện tốt hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Giúp giáo viên và học sinh có điều kiện thuận lợi để tiến hành công tác dạy và học giáo dục hướng nghiệp.

Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, thời lượng cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp chính khóa ở cấp THCS chỉ được tổ chức dạy cho HS lớp 9 với thời lượng 9 tiết/năm, mỗi tiết học tương đương với một chủ đề. Do vậy, để hoạt động này đạt được hiệu quả thì công tác tổ chức, quản lý có một vị trí rất quan trọng. Tùy vào từng phương pháp, hình thức dạy học mà nhà quản lý sẽ có cách tổ chức phù hợp.

Thường thì các trường THCS tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo lớp với 1 lần/tháng, mỗi tháng chỉ dạy 1 tiết với 1 chủ đề, trong 9 tháng của năm học. Hình thức dạy học này khá phổ biến, ưu điểm của nó giúp giáo viên và nhà trường dàn đều chương trình dạy học về giáo dục hướng nghiệp trong cả năm học, tổ chức đơn giản, thuận lợi cho việc lên lớp. Tuy nhiên, nó cũng có nhiều nhược điểm như thời gian 1 tiết để dạy 1 chủ đề là khá ngắn, tần suất 1 lần trên 1 tháng làm học sinh có thể quên đi chủ đề đã học trước đây, khiến hoạt động giáo dục hướng nghiệp bị phân mảnh.

Cũng có nhiều trường đưa ra hình thức gộp vài tiết vào dạy trong một buổi với nhiều chủ đề trong một chủ điểm giáo dục hướng nghiệp có liên quan với nhau. Một năm chỉ dạy 2 – 3 buổi, nhưng mỗi buổi được tổ chức như là một chuyên đề kéo dài 3 – 4,5 tiết học. Hình thức này thường được dạy với quy mô nhóm lớn, khoảng từ 50 học sinh trở lên. Hình thức này có nhiều ưu điểm đó là: thời gian tập trung cho chủ điểm, chủ đề lớn, có đủ thời lượng để trao đổi sâu hơn những kiến thức về giáo dục hướng nghiệp, nếu tổ chức tốt sẽ giúp học sinh có nhiều ấn tượng và lưu giữ được nhiều kiến thức, tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn. Tuy nhiên, để tổ chức hoạt động này cần phải có sự kết hợp của khá nhiều điều kiện như: bộ phận (ban) tổ chức, cơ sở vật chất (hội trường, thiết bị âm thanh, ánh sáng), học sinh học tập trung, giáo viên có đủ nhiệt huyết và gần gũi với học sinh….

Ngoài ra, một số trường có điều kiện về nhân sự tư vấn, giáo dục hướng nghiệp đã thực hiện hình thức tư vấn hướng nghiệp theo nhóm nhỏ và tư vấn cá nhân. Đây là mô hình mà nhiều nước phát triển trên thế giới áp dụng. Tuy nhiên, ở nước ta, hình thức tư vấn hướng nghiệp này chưa phổ biến, đa số vẫn chỉ tồn tại ở dạng tự phát, nhỏ lẻ.

  • Ý thức thái độ của giáo viên khi tham gia HĐ giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Những cán bộ, giáo viên này có thể là người của nhà trường hoặc người ngoài trường. Họ phải là người có tâm đối với việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong tương lai, họ cần được tập huấn về hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Họ phải nắm chắc và hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, nội dung, yêu cầu của công tác giáo dục hướng nghiệp, nắm vững kiến thức về ngành nghề của địa phương, kiến thức về nhu cầu tuyển dụng lao động của địa phương, tình hình phát triển kinh tế của địa phương, của quốc gia và quốc tế. Và họ cần phải biết được những thông tin cập nhật liên quan đến vấn đề tuyển sinh vào các trường THPT. Ngoài ra, họ cần phải có kiến thức về giới, tâm lý học, có kĩ năng lắng nghe, thấu cảm để tư vấn, chia sẻ. Qua đó, các cán bộ, giáo viên này có thể thực hiện tốt hoạt động giáo dục hướng nghiệp và đưa ra những tư vấn định hướng học tập, nghề nghiệp phù hợp với từng HS.

Ở các trường THCS, vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác hướng nghiệp cho học sinh đóng vai trò hết sức quan trọng. Họ là những người gần gũi nhất, có ảnh hưởng nhiều nhất đối với HS . Ngoài việc nắm rõ được học lực của từng học sinh trong lớp, họ còn có hiểu biết sâu sắc về năng lực, sở thích của học sinh. Ngoài ra, nhiều giáo viên chủ nhiệm còn nắm được khá rõ về hoàn cảnh gia đình của HS trong lớp. Đây là đội ngũ quan trọng tham gia vào công tác giáo dục hướng nghiệp cho HS. Tuy nhiên, để tham gia thực hiện công tác này, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm này cần được trang bị một số kiến thức cơ bản về hướng nghiệp, đặc biệt là các phương pháp tìm hiểu sở thích và khả năng nghề nghiệp. Qua đó, họ có thể đưa ra những tư vấn nghề nghiệp phù hợp với từng học sinh của mình.

1.5.2. Các yếu tố khách quan

  • Các văn bản định hướng của nhà nước

Hàng năm nhà nước, chính phủ đưa ra các định hướng chung cho giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng. Các văn bản điều hành đề cập đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp như một tất yếu giúp các em lựa chọn nghề nghiệp có định hướng phù hợp. Đối với chính sách của từng chương trình hoạt động GDHN được phân cấp và triển khai từ Bộ đến các Đơn vị trường các địa phương, các Luật, văn bản đều có nội dung quy định và điều chỉnh hoạt động này.

  • Điều kiện kinh tế xã hội địa phương Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

Các điều kiện này có ảnh hưởng trực tiếp tới việc phối hợp GD giữa nhà trường gia đình và xã hội tác động tới tổ chức giáo dục hướng nghiệp của nhà trường. Người Hiệu trưởng phải quan tâm đến các vấn đề như: chủ trương đường lối của Đảng, các chính sách của địa phương, phải khai thác được các thế mạnh, hạn chế những khó khăn của địa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền sự tham gia giáo dục của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương; phối hợp tích cực có hiệu quả công tác giáo dục giữa nhà trường với gia đình.

  • Điều kiện CSVC, tài chính phục vụ cho HĐHN

Đây là nhân tố có tác dụng hỗ trợ các hoạt động hướng nghiệp tiến hành có môi trường một cách hiệu quả. Các nguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động hướng nghiệp được huy động từ ngân sách nhà nước, cha mẹ phụ huynh HS, các cá nhân, tổ chức tài trợ,….Tùy vào từng địa bàn mà nguồn kinh phí dành cho các HĐHN huy động nhiều hay ít, nhất là các trường ở vùng nông thôn, miền núi, dân tộc là rất hạn chế nguồn lực này. Khả năng huy động nguồn lực tài chính từ các tổ chức kinh tế, xã hội, các nhà hảo tâm, PHHS sẽ góp phần đem lại kết quả cho HĐHN ở các trường.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có thể khẳng định công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hiệu trưởng các nhà trường. Đặc biệt là đối với cấp học THCS thì quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp là một trong những điều kiện quan trọng để công tác phân luồng học sinh được hiệu quả.

Các nhà quản lý trường THCS với vai trò là nhân tố quyết định hiệu quả của nhà trường phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo giữa lý luận quản lý với các giải pháp quản lý thực tiễn nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất trong quá trình quản lý của mình, tổ chức mọi hoạt động nhà trường theo một quy trình khoa học để xây dựng nhà trường phát triển bền vững. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đổi mới giáo dục, là cơ sở để cha mẹ học sinh cùng tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, từ đó tạo được mối quan hệ tốt giữa gia đình, nhà trường và địa phương để công hiệu quả cuối là phân luồng được đạt kết quả.

Nội dung Chương 1 của Luận văn đã đưa ra những vấn đề lý luận chủ yếu làm cơ sở cho người nghiên cứu nhìn nhận vấn đề có cơ sở khoa học hơn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp và tổng kết được một kinh nghiệm về công tác hướng nghiệp, đã tìm hiểu được khái niệm về quản lý, về công tác hướng nghiệp về mối quan hệ giữa công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh để từ đó đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác hướng nghiệp ở trường THCS làm tiền đề cho các đánh giá thực trạng ở Chương 2. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở học sinh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở học sinh […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993