Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý nhà nước đối với hoạt động du dịch trên địa bàn tỉnh Bò Kẹo, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay thị trường du lịch đã mở rộng phạm vi toàn cầu, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu được, một hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế – xã hội và phát triển với tốc độ rất nhanh. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp đã, đang trở thành ngành kinh tế then chốt và chiếm tỷ trọng không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân của nhiều quốc gia.

Ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, tại Đại hội Đảng lần IV (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Hiện nay, cùng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng nhanh ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, ngành du lịch đã dần có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa của đất nước Lào. Theo đó, du lịch được xác định là ngành kinh tế trọng điểm trong các ngành kinh tế quốc dân ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Thực hiện chủ trương của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, những năm qua ngành du lịch đã được Chính phủ Lào đầu tư phát triển. Từ năm 1986 đến nay, tốc độ phát triển du lịch ngày càng nhanh và có bước tiến vượt bậc, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch đã sử dụng khá hiệu quả các công cụ quản lý khác nhau và có vai trò quan trọng, ngày càng tăng cường phù hợp với từng giai đoạn, góp phần bảo đảm tăng cường hoạt động du lịch ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Bò Kẹo là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc Lào, có vị trí chiến lược an ninh – quốc phòng quan trọng, giàu tiềm năng về kinh tế và có nhiều dân tộc sinh sống. Là một vùng văn hóa tiêu biểu đặc trưng truyền thống đa dân tộc trong nền tảng văn hóa dân tộc của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Quá trình lịch sử hình thành và phát triển cùng với kiến tạo tự nhiên đã để lại ở tỉnh Bò Kẹo một kho tàng vô giá các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể có sắc thái riêng biệt, nổi trội của một vùng địa lý nhân văn. Trong những năm qua, quản lý nhà nước đối với du lịch đã được Đảng bộ và Chính quyền tỉnh Bò Kẹo quan tâm củng cố thường xuyên, từng bước hoàn thiện nên du lịch bước đầu khẳng định vai trò là lĩnh vực kinh tế quan trọng của Tỉnh nhà, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, quản lý nhà nước đối với du lịch ở tỉnh Bò Kẹo vẫn còn tồn tại những vấn đề chưa được giải quyết. Trên thực tế, các ban, ngành và các cấp trong Tỉnh chưa quan tâm đúng mức tới việc tạo môi trường thuận lợi cho du lịch phát triển, chưa khởi dậy được tiềm năng và chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch. Quy hoạch và quản lý quy hoạch du lịch còn nhiều bất cập. Chất lượng các dịch vụ du lịch còn thấp, cơ chế, chính sách để phát triển du lịch còn thiếu, chưa đồng bộ. Hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến để thu hút đầu tư cho du lịch còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp du lịch mới chỉ tập trung khai thác khách ở các vùng đô thị, chưa chú ý đến các khu vực vùng nông thôn, miền núi, nơi có tiềm năng để khai thác, phát triển thành những khu du lịch tập trung, mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế.

Trước xu thế hội nhập quốc tế mạnh mẽ của đất nước cũng như thực tiễn của ngành du lịch tỉnh Bò Kẹo, đòi hỏi phải nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của hoạt động du lịch và thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch.

Vì những lý do như trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động du dịch trên địa bàn tỉnh Bò Kẹo, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” làm đề tài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý công.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Tình hình nghiên cứu

Quản lý nhà nước đối với du lịch là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các nhà lãnh đạo và các nhà quản lý. Sau đây là một số hướng nghiên cứu có liên quan tới vấn đề này:

2.1 Nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam:

Tác giả Huỳnh Vĩnh Lạc (2012), Khai thác tiềm năng du lịch đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất những giải pháp đẩy mạnh khai thác tiềm năng phát triển du lịch trong phạm vi của một huyện, thuộc tỉnh Kiên Giang. Tác giả chưa nghiên cứu sâu vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng.

Tác giả Nguyễn Minh Đức (2014), Quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại, du lịch ở tỉnh Sơn La.

Tác giả Nguyễn Tân Vinh (2015), Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trên cơ sở vận dụng lý luận chung của quản lý nhà nước về kinh tế nói chung, quản lý nhà nước về du lịch nói riêng, luận văn đi sâu phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về ngành du lịch trên địa bản tỉnh Lâm Đồng (giai đoạn 2001 – 2014), từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch, góp phần phát triển ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2017, tầm nhìn đến năm 2027. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Tác giả Trần Hải Sơn (2017), Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Luận án tiến sỹ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính. Luận án đã phân tích cơ sở thực tiễn và lý luận về quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực ngành du lịch của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, từ đó đề ra các giải pháp và đưa ra quan điểm của cá nhân để phát triển nguồn nhân lực du lịch của khu vực này.

Tác giả Bùi Thị Thanh Hiền (2018), Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội. Luận văn thạc sỹ du lịch học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội. Luận văn thông qua phân tích vai trò và nội dung, những nguyên tắc của quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội, đã đưa ra những quan điểm có tính định hướng và các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước với điểm du lịch Hương Sơn.

Tác giả Phan Xuân Hòa (2018), Các giải pháp phát triển ngành du lịch Khánh Hòa đến năm 2027, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Tác giả đề cập nội dung về phát triển du lịch, vai trò của phát triển du lịch đối với kinh tế – xã hội. Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển ngành du lịch Khánh Hòa thời gian qua, nhận diện các yếu tố hạn chế, các vấn đề còn tồn tại của phát triển du lịch Khánh Hòa, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành du lịch Khánh Hòa đến năm 2027.

Tác giả Nguyễn Hồ Minh Trang (2021), Tác động của ngành du lịch đến tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án tiến sỹ Kinh tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án đã tập trung nghiên cứu các mô hình và phương pháp lượng hóa tác động của ngành du lịch đến tăng trưởng kinh tế, từ đó, lựa chọn mô hình và phương pháp phù hợp với bộ số liệu của tỉnh Thừa Thiên Huế, nghiên cứu để kiểm tra và đo lường tác động của nền kinh tế ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 1990 – 2019, từ đó, đánh giá lại những tác động tích cực, tiêu cực và rút ra những nguyên nhân của phát triển ngành du lịch đến tăng trưởng kinh tế ở Tỉnh. Luận án đưa ra dự báo và đề xuất giải pháp gia tăng tác động tích cực của ngành du lịch đến tăng trưởng kinh tế ở Thừa Thiên Huế giai đoạn tiếp theo.

Tác giả Nguyễn Thị Đoan (2022), Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội, làm rõ những thành công và hạn chế, lý giải nguyên nhân của thực trạng đó trên tổng thể các nội dung định hướng, chiến lược, quy hoạch; chính sách bảo vệ môi trường các vùng du lịch, xây dựng quảng bá thương hiệu của du lịch Hà Nội trên phạm vi toàn thế giới, các giải pháp liên kết du lịch Hà Nội với các tỉnh bạn, nước bạn; quản lý thị trường khách du lịch; đào tạo nguồn nhân lực… Luận văn còn đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy những kết quả đạt được nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch ở Hà Nội. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Bên cạnh luận văn, luận án, còn có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí khoa học về vấn đề quản lý nhà nước đối với du lịch như:

  • Tác giả Hà Minh Tuấn (2014), Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của Thái Lan, Tạp chí du lịch Việt Nam số 55, tr.1-3.
  • Tác giả Trần Xuân Ảnh (2014), Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường du lịch, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 132.
  • Tác giả Nguyễn Văn Mạnh (2014), Để du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững sau khi gia nhập WTO, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 115.
  • Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2020), Du lịch Việt Nam 53 năm đồng hành cùng sự phát triển của đất nước, Báo Du lịch số 68, tr.1-4.

2.2 Nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào:

Tác giả Hum Phăn PHUAPASIT (2015), Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luông Pha Bang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.Luận văn nghiên cứu một số vấn đề chung về phát triển du lịch ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Trên cơ sở đó, luận văn đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở Luông Pha Bang, các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của Tỉnh tác động đến du lịch. Đồng thời luận văn đưa ra phương pháp quản lý nhà nước đối với du lịch như: quản lý nhà nước đối với cảnh quan môi trường, quản lý đối với bảo tồn di tích và giữ gìn bản sắc văn hóa…

Tác giả Soun MANIVONG (2015), Phát triển du lịch bảo tồn với sự đóng góp của nhân dân ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Luận văn thạc sỹ Chính trị, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Lào, Viêng Chăn. Luận văn đã đề ra và triển khai kế hoạch phát triển du lịch dân cư, phân phối thu nhập cho các dân tộc ở địa phương và góp phần cho việc phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, tìm ra phương hướng và phương pháp nâng cao chất lượng ngành du lịch. Tác giả còn đóng góp kinh nghiệm và khả năng của mình trong việc đề ra kế hoạch và chương trình phát triển du lịch dân cư để làm cho sản phẩm du lịch có chất lượng cao và bền vững.

Tác giả Su Căn BUTTHAVONG (2020), Kinh tế du lịch ở thủ đô Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế du lịch, phân tích thực trạng vai trò của kinh tế du lịch đối với sự phát triển kinh tế – xã hội và kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch ở một số địa phương của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, kinh nghiệm của nước ngoài. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra phương hướng và giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế du lịch ở thủ đô Viêng Chăn. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Các bài báo, tạp chí khoa học khác:Tác giả Thatsadaphong MEEXAY (2013), Pháp luật về du lịch quan trọng nhất đối với việc phát triển và khuyến khích du lịch của Lào, Tạp chí Du lịch Mường Lao, số 27. Tạp chí khoa học – xã hội quốc gia Lào (2018), Một số ảnh hưởng của du lịch tác động đến kinh tế văn hóa – xã hội và môi trường của Lào, số 02, tr.43-49.

Từ những kết quả nêu trên cho thấy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện cả trên phương diện lý luận và thực tiễn vấn đề: Quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Bò Kẹo. Vì vậy, đề tài: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bò Kẹo, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, mang tính độc lập. Các công trình khoa học đã công bố là những tài liệu tham khảo bổ ích và có giá trị cho việc nghiên cứu của tác giả Luận văn.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3,1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các kiến thức về du lịch và quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch; Luận văn làm rõ những thành công và hạn chế, lý giải nguyên nhân của thực trạng đó.

Luận văn đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý để quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại CHDCND Lào.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Hệ thống hóa các kiến thức về du lịch, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch;

Phân tích thực trạng hoạt động du lịch và thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Bò Kẹo giai đoạn 2019 – 2024;

Đề xuất một số giải pháp để tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bò Kẹo giai đoạn tiếp theo. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Bò Kẹo, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Giới hạn về không gian: tỉnh Bò Kẹo, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
  • Giới hạn về thời gian: đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2019-2024; Đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Bò Kẹo đến năm 2030.
  • Giới hạn về nội dung: các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch theo quy định của pháp luật.

5. Phương pháp luận và nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Cay Xỏn Phôn Vi Hẳn, các quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và chính sách, pháp luật của Nhà nước Lào về du lịch.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê – xử lý số liệu, phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp diễn dịch, phương pháp quan sát…

  • Trong Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, quy nạp và phân tích – tổng hợp để hệ thống hóa những lý luận về du lịch, hoạt động du lịch, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng, sự cần thiết quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.
  • Chương 2: Luận văn sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, so sánh, phân tích, đánh giá làm rõ những vấn đề thực tiễn về hoạt động du lịch, quản lý nhà nước về hoạt động du lịch ở tỉnh Bò Kẹo, thể hiện các kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó.
  • Chương 3: Luận văn tập trung hệ thống quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch. Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp có tính cụ thể, khả thi để có thể tổ chức thực hiện trên thực tiễn thông qua các phương pháp nghiên cứu: hệ thống hóa, phân tích, quy nạp, chứng minh.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn làm phong phú thêm lý luận quản lý nhà nước về du lịch ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung và ở tỉnh Bò Kẹo nói riêng. Hoạt động du lịch, quản lý nhà nước về du lịch có nhiều quan niệm, nhiều cách tiếp cận với những nội dung, tiêu chí khác nhau; tác giả hy vọng sẽ đóng góp một cách nhìn mới, làm cho lý luận quản lý nhà nước về du lịch được nâng lên.

6.2 Ỹ nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn phản ánh thực trạng, với những số liệu phong phú của tỉnh Bò Kẹo cũng như số liệu sơ cấp của tác giả sẽ giúp cho những nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và sinh viên, học viên có thể tham khảo, vận dụng. Đồng thời, kết quả đó cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu  hoạt động quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
  • Chương 2: Thực trạng du lịch, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bò Kẹo
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Bò Kẹo

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn

1.1.1. Khái niệm du lịch

Du lịch là hoạt động đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người. Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm du lịch cũng không giống nhau. Sau đâu là một số quan niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến.

Du lịch là một hiện tượng: Đến đầu thế kỷ XX, du lịch hầu như vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ coi đây như một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ này, người ta coi du lịch như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức của con người. Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm và ở đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở nơi khác.

Các giáo sư Thụy Sỹ là Hunziker và Krapf đã khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào. Với quan niệm này, du lịch mới được giải thích ở hiện tượng đi du lịch, tuy nhiên đây cũng là một khái niệm làm cơ sở để xác định người đi du lịch và là cơ sở để hình thành cầu về du lịch sau này. [38].

Du lịch là một hoạt động: du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm. Như vậy, có thể xem xét du lịch thông qua hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi. Du lịch có thể được hiểu là hoạt động của con người nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.

Với cách tiếp cận nói trên, du lịch mới chỉ được giải thích dưới góc độ là một hiện tượng, một hoạt động thuộc nhu cầu của khách du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, hoạt động du lịch được mở rộng, phức tạp và đa dạng, những quan niệm về du lịch ngày càng hoàn thiện, phản ánh khá đầy đủ nội hàm hoạt động của nó. Trong Tuyên ngôn Manila về du lịch (năm 1980) thì: Du lịch được hiểu như hoạt động chủ yếu trong đời sống của các quốc gia do hiệu quả trực tiếp của nó trên các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục và kinh tế của các quốc gia và trong quan hệ quốc tế trên thế giới. Sự phát triển du lịch gắn với sự phát triển của kinh tế  – xã hội của các quốc gia và phụ thuộc vào việc con người tham gia vào nghỉ ngơi và vào kỳ nghỉ, tự do đi du lịch, trong khuôn khổ thời gian tự do và thời gian nhàn rỗi mà du lịch nhấn mạnh tính nhân văn sâu sắc.

Theo Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization – UNWTO): Du lịch là việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người. [11, tr.12]. Với quan niệm về du lịch như vậy, nhấn mạnh được tính nhân văn vì mục đích hòa bình, nhưng chưa nêu bật tính chất khám phá, tìm tòi của hoạt động du lịch.

Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới, các nhà nghiên cứu Khoa Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã cho rằng: Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu khác của khác du lịch. Các hoạt động phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp. [13, tr.18].

Với các định nghĩa khách nhau về du lịch, Luật Du lịch Việt Nam năm 2012, Điều 5 đã ghi: Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định. [20, tr.20].

Luật Du lịch của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 2020 (sửa đổi), tại chương I, Điều 2 đã ghi: Du lịch là cuộc hành trình khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến sứ khác hoặc quốc gia khác để tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, giao lưu văn hóa – thể thao, phát triển thể chất và tinh thần, khám phá nghiên cứu, trưng bày, hội họp… Loại trừ mục đích việc làm và hành nghề để kiếm tiền.[23, tr.1]

Như vậy, từ phân tích trên, tác giả luận văn cho rằng: Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp mang lại nhiều giá trị kinh tế và văn hóa thông qua việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho du khách bao gồm cung cấp chỗ ở cho du khách, thực phẩm và đồ uống phục vụ sinh hoạt, vận tải hành khách, hoạt động lữ hành, các hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động giải trí và hoạt động khác.

1.1.2. Hoạt động du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

1.1.2.1. Khái niệm hoạt động du lịch

Cũng như khái niệm du lịch, cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động du lịch. Trước đây người ta chỉ quan niệm hoạt động du lịch là một hoạt động mang tính chất văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết của con người. Hoạt động du lịch trước đây không được coi là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít được đầu tư phát triển. Ngày nay, khi du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới xem là một ngành kinh tế quan trọng thì quan niệm về hoạt động du lịch được hiểu một cách đầy đủ hơn.

Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời gian qua, tác giả cho rằng: Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.

Với cách tiếp cận này, hoạt động du lịch được nhìn nhận ở ba khía cạnh: một là, hoạt động của khách du lịch nghĩa là việc di chuyển và lưu trú tạm thời của người du lịch đến một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ để tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật…. Thứ hai, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, tức là những người hoạt động tổ chức lưu trú, phục vụ ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận chuyển đưa đón du khách, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khác… nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thứ ba, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, tức là cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan tại địa phương du lịch tổ chức quản lý, điều phối, phục vụ hoạt động của khách du lịch tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch nhằm đảm bảo cho các đối tượng này thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hoạt động du lịch theo đúng quy định của luật pháp.

1.1.2.2. Đặc điểm hoạt động du lịch

Một là, hoạt động du lịch mang tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ.

Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học – kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người. Từ đó, hoạt động du lịch trở thành một ngành kinh tế độc lập. Ở các nước phát triển và đang phát triển, tỷ trọng du lịch trong thu nhập quốc dân ngày càng tăng lên. Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, bởi vậy sản phẩm của nó vừa mang những đặc điểm chung của dịch vụ vừa mang những đặc điểm riêng mà các ngành dịch vụ khác không có.

Hai là, hoạt động du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Dịch vụ du lịch khác với các ngành dịch vụ khác ở chỗ: dịch vụ du lịch chỉ thoải mãn nhu cầu cho khách du lịch chứ không thỏa mãn nhu cấu cho tất cả mọi người dân. Dịch vụ du lịch là nhằm thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở  xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, đi lại, tham quan, vui chơi giải trí, thông tin về văn hóa, lịch sử, tập quán và các nhu cầu khác. Như vậy, dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thỏa mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại. Thực tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên, đủ ăn, đủ mặc thì du lịch trở thành không thể thiếu, bởi vì du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái sản xuất sức lao động của con người.

Ba là, việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng một thời gian và không gian.

Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa khác (thức ăn, đồ uống chế biến tại chỗ…) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản xuất ra chúng. Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có dịch vụ, hàng hóa. Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch là hết sức quan trọng. Đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có những đặc thù riêng.

Bốn là, hoạt động du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội cho nước làm du lịch và người làm du lịch.

Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, du lịch không những đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, xã hội, văn hóa. Tuy nhiên, sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích kinh tế. Vì vậy, ở nhiều nước đã đưa ngành du lịch phát triển với tốc độ cao và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn thu nhập lớn trong tổng snar phẩm xã hội.

Năm là, hoạt động du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định.

Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội. Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc. Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các hoạt động du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên. Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch. Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình. Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị. Và hơn thế nữa, không cần phải có chiến tranh mà chỉ cần có những biến động chính trị, xã hội ở một khu vực, một vùng, một quốc gia, một địa phương với mức độ nhất định cũng làm cho du lịch bị giảm sút một cách đột ngột và muốn khôi phục phải có thời gian.

1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

1.1.3.1. Khái niệm quản lý

 Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý”. Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.

Theo quan niệm của C.Mác: Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng. Theo C.Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây C.Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý.

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý. Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý.

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.

1.3.1.2. Khái niệm Quản lý nhà nước

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. [15, tr.407]. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.

Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật.

1.1.4. Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch

Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là phương thức mà thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch nhà nước tác động vào đối tượng quản lý để định hướng cho hoạt động du lịch vận động, phát triển đến mục tiêu đã đặt ra trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế.

Như vậy, nói đến quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là nói đến cơ chế quản lý. Cơ chế đó, một mặt, phải tuân thủ các yêu cầu của quy luật kinh tế khách quan. Mặt khác, phải có một hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch… thích hợp để quản lý hoạt động du lịch. Quan niệm này bao hàm những nội dung cơ bản như: các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương là chủ thể quản lý. Các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong lĩnh vực du lịch là đối tượng quản lý và hệ thống pháp luât, chính sách, quy hoạch, kế hoạch,… là công cụ để nhà nước thực hiện sự quản lý.

Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là tạo môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích. Thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật.

Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là hiện tượng phổ biến với tất cả các nước trên thế giới, chứ không phải chỉ riêng ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tuy nhiên, mức độ và yêu cầu quản lý ở mỗi quốc gia có khác nhau và phụ thuộc vào sự phát triển của từng nước, trước hết là sư phát triển của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như trình độ quản lý nhà nước và trình độ dân trí của từng quốc gia.

1.2. Đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng, sự cần thiết quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

1.2.1. Đặc điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch

  • Quản lý nhà nước về du lịch là hoạt động khó khăn, phức tạp

Khi đánh giá vai trò của một ngành kinh tế trong nền kinh tế thị trường của một nước nhất là một ngành có tính chất dịch vụ như du lịch thì cần phải xem xét trên mặt kinh tế và xã hội. Bởi vì du lịch có mặt tích cực và mặt “không tích cực”. Đó là việc kinh doanh du lịch (đặc biệt là du lịch quốc tế) nếu phát triển không đúng hướng có thể gây ra “ô nhiễm” môi trường kinh tế, văn hoá và xã hội, do yếu tố “tiêu cực” từ bên ngoài thâm nhập vào. Do vậy cần phải có chiến lược phát triển du lịch đúng hướng, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn cảnh quan môi trường lành mạnh, quan hệ xã hội và bảo đảm an ninh quốc gia.

  • Quản lý nhà nước về du lịch mang tính liên ngành

Với các ngành nghề sản xuất – xuất khẩu: Đối với hàng tiêu dùng, việc mở cửa du lịch, thu hút nhiều khách quốc tế đến thăm để một trong những phương thức để xuất khẩu hàng hoá tại chỗ thông qua các cửa hiệu miễn thuế (free duty shops) ở sân bay, bến cảng. Đối với hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, du lịch phát triển sẽ kích thích, khôi phục các ngành nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ tại địa phương, đem lại công ăn việc làm cho người dân.

Với đầu tư, sử dụng nhân công:Việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế quốc gia đồng thời xây dựng cơ sở vật chất cho phục vụ hoạt động kinh doanh du lịch là cần thiết và có lợi cho cả đôi bên. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư trong ngành du lịch thường cao nên có khả năng hấp dẫn vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Ngoài ra du lịch là ngành sử dụng nhiều lao động. Chính vì vậy, du lịch được các quốc gia, các nhà kinh tế coi là một trong những phương thức hữu hiệu để giải quyết nạn thất nghiệp hiện nay. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Với ngành giao thông vận tải: Giao thông vận tải phát triển tốt đã trở thành động lực thúc đẩy người ta đi du lịch nhiều hơn vì giao thông vận tải còn cung cấp một loại dịch vụ cơ bản, dịch vụ vận chuyển, phục vụ cho du khách trong cuộc hành trình.

Với ngành viễn thông, tin học: Sự tiến bộ thần kỳ của công nghệ thông tin và viễn thông trong thời gian qua đã góp phần thay đổi sâu sắc nếu không muốn nói là một cuộc cách mạng trong cung cách tổ chức, kinh doanh của ngành du lịch. Những quốc gia phát triển du lịch hàng đầu thế giới cũng là quốc gia có ngành viễn thông và công nghệ thông tin phát triển mạnh nhất.

Với vấn đề đô thị hoá: Phát triển đô thị tạo nên cơ sở hạ tầng chung cho nền kinh tế nhưng cũng đồng thời tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật, cung cấp thêm tài nguyên cho ngành du lịch. Ngược lại, phát triển du lịch tại địa phương sẽ kích thích các ngành nghề có liên quan phát triển làm thay đổi nhanh chóng cảnh quan đô thị, gia tăng nguồn thu cho ngân sách – giúp địa phương có điều kiện tăng thêm đầu tư, đẩy nhanh quá trình phát triển đô thị.

Với các ngành nghề khác: Đối với thuế, du lịch có mối quan hệ rất nhạy cảm. Vì vậy, một chính sách thuế vừa động viên được nguồn thu của du lịch vào ngân sách, vừa khuyến khích du lịch phát triển, để kích thích các ngành khác phát triển theo điều cần nghiên cứu. Đối với hải quan, công an, ngoại giao: thái độ, cung cách đối xử của cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình xin duyệt thủ tục xuất, nhập cảnh, khai báo thủ tục hải quan ở các cửa khẩu sẽ tạo hình ảnh ban đầu khó quên trong lòng du khách, thu hút họ đến thăm nhiều hơn hoặc ngược lại gây âm lý chán nản cho du khách, không thu hút họ trở lại.

  • Quản lý nhà nước về du lịch mang tính hội nhập quốc tế

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, du lịch được xem là lĩnh vực có nhiều ưu thế tham gia vào sân chơi toàn cầu. Trước hết du lịch là ngành trụ cột trong thương mại quốc tế tham gia vào tiến trình mở cửa và tự do hóa thương mại của các quốc gia. Du lịch là cầu nối cho thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài. Với thế mạnh tổ chức các chuyến du lịch nghỉ dưỡng, hội nghị, hội thảo…  du lịch làm phương tiện kế tnối đầu tư giữa nước nhà đầu tư ngoài nước với trong  nước. Nhờ vào du lịch, dòng vốn FDI, ODA có cơ hội di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác. Du lịch trong nền kinh tế hội nhập hướng đến chất lượng quốc tế về dịch vụ, về cơ sở hạ tầng phục vụ, trình độ quản lý và năng lực tổ chức.Chính vì vậy, hội nhập đòi hỏi du lịch phải từng bước hiện đại hóa, hệ thống hóa và chất lượng hóa.Đến lượt nó, du lịch phát triển làm cho hội nhập của các quốc gia càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và giảm dần khoảng cách phát triển.

Tuy nhiên, phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập có nhiều thách thức. Đó là do trình độ phát triển của các quốc gia không đồng đều, do vậy năng lực cạnh tranh yếu làm cho các nước đang phát triển mất dần lợi thế trong phát triển. Các nước đang phát triển sẽ lệ thuộc vào sân chơi của các nước lớn. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Hội nhập sẽ tác động mạnh đến các tài nguyên nhân văn, mặt tích cực được khai thác, phát triển, tôn tạo.Tuy vậy, do yếu tố hướng ngoại, vì vậy bản sắc văn hóa của số sản phẩm du lịch sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí phai nhạt.

Du lịch, ngành đi đầu trong việc thực hiện chính sách mở cửa hội nhập, cầu nối của hợp tác, hoà bình và hữu nghị; nhờ các cuộc tiếp xúc gặp gỡ thường xuyên giữa con người do du lịch mang lại mà người ta có thể tiến tới thiết lập bầu không khí ôn hoà, lòng khoan dung trong xã hội, một yếu tố tâm lý cần thiết để giải quyết các mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc. Nói cách khác, du khách cũng chính là những đại sứ của hòa bình và hữu nghị.

1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch

1.2.2.1. Cơ chế, chính sách

Nền kinh tế thị trường với những quan hệ kinh tế rất đa dạng, năng động đòi hỏi có một sân chơi an toàn và bình đẳng, đặc biệt khi toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là mục tiêu mà các quốc gia hướng tới. Trong bối cảnh đó, phải có một hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ở trong nước mà còn với thông lệ luật pháp quốc tế.

Các cơ chế, chính sách được ban hành đều tác động quan trọng tới quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn một tỉnh, bao gồm:

Định hướng, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh: thông qua việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các định hướng, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội sẽ huy động các nguồn lực hiện có của địa phương và sự hỗ trợ từ trung ương vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Chính sách thuế, giá của các cơ quan quản lý du lịch ở trung ương và các cấp của tỉnh cũng như của các tổ chức kinh doanh du lịch. Đây được coi là các công cụ mang tính chất đòn bẩy, có thể kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của ngành du lịch. Chẳng hạn chính sách giảm giá các dịch vụ, hàng hóa phục vụ du lịch trước và sau thời vụ du lịch chính, hoặc dùng các hình thức khuyến mãi để kéo dài thời gian, thời vụ du lịch.

1.2.2.2. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế – xã hội của xã hội loài người ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Thực chất của du lịch là một hoạt động tiêu dùng xã hội cao, nó nảy sinh theo sự phát triển sức sản xuất xã hội tới trình độ cao. Khi con người có cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần đầy đủ thì nhu cầu đi du lịch sẽ nảy sinh thường xuyên hơn. Và như vậy các tuyến du lịch, chương trình du lịch sẽ được thiết kế và hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.

Du lịch không chỉ mang ý nghĩa là tham quan, giải trí, nghỉ ngơi mà nó còn giúp du khách hiểu biết về đất nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của các nước đến thăm. Trên cơ sở đó, tìm cách phối hợp, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc vì hoà bình và phồn vinh nhân loại. Bằng việc phát triển du lịch quốc tế, sự hiểu biết và mối quan hệ giữa các dân tộc ngày càng được mở rộng. Do vậy, mục đích của quản lý nhà nước đối với du lịch là nhằm nâng cao hiệu quả chính trị, kinh tế, xã hội trong lĩnh vực du lịch. Thị trường du lịch được mở rộng dân chủ, đổi mới tư duy nâng cao dân trí, hoà nhập vào khu vực và cộng đồng.Từ sự ổn định về chính trị do hoạt động du lịch được quản lý bằng pháp luật, quy chế, quy định dẫn tới ổn định xã hội, các giá trị xã hội được khẳng định bảo vệ. Vì vậy, quản lý nhà nước bằng đối với hoạt động du lịch không đơn thuần là quản lý về kinh tế mà nó còn gắn bó rất chặt chẽ với chính trị xã hội.

1.2.2.3. Văn hóa, phong tục tập quán

Trình độ văn hóa chung của người dân, trình độ văn hóa chung của một dân tộc luôn được đánh giá theo tiêu chí hệ thống giáo dục và chất lượng của giáo dục và đào tạo. Nếu trình độ chung của một dân tộc được nâng cao thì động cơ đi du lịch của họ sẽ tăng lên. Số người đi du lịch cũng tăng, lòng ham hiểu biết và tìm hiểu thế giới xung quanh cũng tăng nhanh và dần dần sẽ tạo nên thói quen đi du lịch ngày càng rõ rệt. Mặt khác, nếu trình độ văn hóa chung của một đất nước cao thì nước đó khi phát triển du lịch sẽ bảo đảm chất lượng phục vụ du khách đến nước họ du lịch.

Đây là những thói quen, sinh hoạt văn hóa, tinh thần diễn ra thường xuyên, lâu dài, được hình thành dưới tác động của các điều kiện kinh tế – xã hội. Theo thời gian, các điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi sẽ hình thành nên các thói quen, nét văn hóa mới nhưng không thể xóa bỏ ngay những giá trị tốt đẹp trong các phong tục, tập quán truyền thống.

1.2.2.4. Hội nhập quốc tế

Trong quá trình hội nhập quốc tế, du lịch được xem là lĩnh vực có nhiều ưu thế tham gia vào sân chơi toàn cầu. Trước hết du lịch là ngành trụ cột trong thương mại quốc tế tham gia vào tiến trình mở cửa và tự do hóa thương mại của các quốc gia. Du lịch là cầu nối cho thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài. Trong định hướng thương mại của các nước du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, là ngành “Công nghiệp không khói”.

Du lịch làm cho văn hóa của các quốc gia có dịp được giới thiệu, đó là những tài nguyên nhân văn tinh túy đưa đến bạn bè quốc tế. Du lịch là cầu nối tình hữu nghị, hợp tác và thân thiện giữa các quốc gia. “Du lịch là hộ chiếu đi tới hòa bình và hữu nghị” (tuyên bố Manila về du lịch). Du lịch còn là phương tiện thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo trên bình diện thế giới. Tác động sâu sắc từ phát triển du lịch làm cho bộ phận lớn dân cư có việc làm trực tiếp và gián tiếp từ du lịch; thu nhập xã hội từ du lịch tăng nhanh do phát triển các ngành nghề phụ vụ du lịch. Du lịch trong nền kinh tế hội nhập đòi hỏi phải nâng cao dân trí cho lao động trong ngành. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Du lịch trong nền kinh tế hội nhập hướng đến chất lượng quốc tế về dịch vụ, về cơ sở hạ tầng phục vụ, trình độ quản lý và năng lực tổ chức. Chính vì vậy, hội nhập đòi hỏi du lịch phải từng bước hiện đại hóa, hệ thống hóa và chất lượng hóa. Đến lượt nó, du lịch phát triển làm cho hội nhập của các quốc gia càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và giảm dần khoảng cách phát triển.

Như vậy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn một tỉnh. Mỗi yếu tố có mức độ tác động khác nhau nhưng chúng không tác động một cách đơn lẻ mà có sự liên kết, có thể vừa thúc đẩy, vừa chế ngự lẫn nhau.

1.2.2.5. Khoa học công nghệ

Ứng dụng công nghệ thông tin mang lại nhiều tiện ích đối với phát triển kinh tế du lịch là không thể phủ nhận, đặc biệt trong hoạt động quản lý đối với du lịch, nó mang lại nhiều lợi ích cụ thể: Chi phí phân phối thấp; Chi phí truyền thông thấp; Chi phí lao động thấp; Giảm thiểu chất thải; Người hỗ trợ tính giá linh hoạt.

Bên cạnh đó là những tiện ích cho du khách như:  Đáp ứng nhu cầu rất tốt; Linh hoạt trong thời gian hoạt động; Hỗ trợ chuyên môn hóa và sự khác biệt; Cung cấp các giao dịch phút chót; Thông tin chính xác; Hỗ trợ tiếp thị mối quan hệ; Phản ứng nhanh với nhu cầu dao động; Nhiều sản phẩm/tích hợp; Nghiên cứu thị trường.

1.2.3. Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch

Từ khi nhà nước ra đời với tư cách là một công cụ quyền lực chung để duy trì trật tự xã hội thì bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội đều phải được quản lý bởi Nhà nước. Du lịch là một hiện tượng, một dạng hay lĩnh vực, ngành kinh tế – xã hội tổng hợp bởi vậy nó ngày càng đòi hỏi có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.

Sự quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là đòi hỏi khách quan, cần thiết bởi những lý do sau:

Một là: để cho du lịch phát triển theo mục đích, mục tiêu mà Đảng và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đưa ra.

Chính sách, pháp luật của Nhà nước tạo dựng môi trường thuận lợi và an toàn để du lịch phát triển nhanh và hiệu quả hơn. Mặt khác, ngoài chính sách, pháp luật, nhà nước còn có nhiều công cụ để điều tiết quá trình phát triển của du lịch như thuế, phí, giá cả, tiền tệ, thông tin… Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Hai là: Bất cứ một ngành kinh tế nào cũng không thể phát triển độc lập, hơn thế nữa, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bản thân nó muốn phát triển phải có sự phối hợp đồng bộ với các ngành kinh tế khác. Do đó, rất cần thiết phải có sự điều tiết của nhà nước nhằm đảm bảo phát triển ngành du lịch phù hợp với định hướng và yêu cầu phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân.

Ba là: Sự quản lý của nhà nước để bảo tồn, tôn tạo, phát triển các di tích lịch sử, các giá trị văn hóa ; Mặt khác, nhằm hạn chế những yếu tố tiêu cực có thể phát sinh từ hoạt động du lịch: duy tu, bảo tồn các công trình văn hóa; chống suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động, kinh doanh du lịch… Đó là những vấn đề mà không một chủ thể nào của nền kinh tế muốn làm và có thể làm được như nhà nước.

Bốn là: phát triển du lịch vừa cải thiện mức sống, giải quyết việc làm, đồng thời nâng cao dân trí ở địa phương.

Năm là: phát triển du lịch góp phần quảng bá các sản phẩm có tính truyền thống tại địa phương.

1.3. Chủ thể, nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch

1.3.1. Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch

Chủ thể quản lý:là các cơ quan đại diện của nhà nước hoặc được nhà nước trao quyền, ủy quyền. Đây là các chủ thể duy nhất trong quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch.

Tại Điều 91, Luật Du lịch (sửa đổi) năm 2020 của Cộng hòa Dân Chủ Nhân dân Lào, quy định: Chính phủ là cơ quan quản lý tổng thể và thống nhất hoạt động du lịch trên cả nước. Chính phủ giao cho Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch là cơ quan quản lý trực tiếp và chủ động hợp tác với các bộ, cơ quan, chính quyền địa phương liên quan. Cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch bao gồm: Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch ; Sở thông tin, văn hóa và du lịch ; Phòng thông tin, văn hóa và du lịch ở huyện ; Chính quyền bản, làng.

Đối tượng quản lý:Với tư cách là đối tượng quản lý, hoạt động du lịch phải được tổ chức và vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 Công cụ quản lý: để nhà nước thực hiện sự quản lý, pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch,… phải được xây dựng trên cơ sở chính xác, đầy đủ, thống nhất là những chuẩn mực để đối tượng quản lý dựa vào đó vận động, phát triển và để chủ thể quản lý thực hiện sự kiểm tra, giám sát đối tượng quản lý.

1.3.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

1.3.2.1. Xây dựng chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển du lịch

Tùy theo điều kiện của từng quốc gia, trong từng giai đoạn phát triển mà xác định nội dung quản lý nhà nước về du lịch phù hợp. Đồng thời, nội dung quản lý nhà nước đối với du lịch còn được quy định bằng pháp luật, nó mang tính pháp lý chặt chẽ buộc các cấp chính quyền và các doanh nghiệp phải tuân thủ.

Xây dựng và công khai các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển du lịch là một trong những nội dung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn của chính quyền cấp tỉnh. Nó giúp cho các cá nhân, tổ chức (nhà đầu tư) an tâm khi quyết định đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực du lịch.

Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mục tiêu cuối cùng của các đơn vị kinh doanh là lợi nhuận. Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng các khu, các điểm du lịch,… hoặc dầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ… Vì thế, chính quyền cấp tỉnh phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của địa phương. Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung của cả nước. Đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới gắn với tiến trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có như vậy, mỗi đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch mới có thể xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển riêng phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển chung của địa phương.

1.3.2.2.Ban hành các văn bản hành chính, hướng dẫn, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chính sách trong hoạt động du lịch

Để phát triển du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, chính quyền cấp tỉnh phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc xây dựng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển du lịch phù hợp với điều kiện ở địa phương. Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn đất, chính sách ưu đãi tín dụng,… nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh du lịch. Tuy nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bình đẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi. Bên cạnh đó, chính quyền cấp tỉnh cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính ở địa phương theo hương chuyên nghiệp và hiệu quả. Thực hiện tiêu chuẩn hóa các thủ tục hành chính theo tinh thần triệt để tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Chính sách, pháp luật đối với nền kinh tế của một đất nước nói chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng mới chỉ những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước buộc mọi chủ thể khác (trong đó có chính bản thân Nhà nước) phải thực hiện. Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống, chính quyền cấp tỉnh và các cơ quan nhà nước nói chung phải hướng dẫn và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch cho cán bộ, công chức và nhân dân để có nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn, đảm bảo sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về du lịch một cách nghiêm túc.

1.3.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch

Về xây dựng bộ máy quản lý nhà nước bao gồm ba nội dung chính là: cơ cấu bộ máy ; xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về du lịch.

Đội ngũ cán bộ phải có đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị và khả năng công tác trong việc vận dụng đúng đắn những quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch. Nâng cao trách nhiệm cá nhân trong việc thực thi pháp luật và giải quyết các yêu cầu phát sinh từ hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch. Kiện toàn các cơ quan thi hành pháp luật về quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong hoạt động du lịch. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan như: Tổng cục Du lịch Lào và các ngành du lịch trong thực hiện pháp luật. Cải tiến các phương pháp chỉ đạo và thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước đạt hiệu quả cao nhất. Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật, rút kinh nghiệm kịp thời trong từng thời kỳ để thấy rõ những thiếu sót, nhược điểm trong công tác tổ chức thực hiện giúp đề ra những biện pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với du lịch ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

1.3.2.4. Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về du lịch

Đây cũng là nội dung không thể thiếu trong quản lý nhà nước về du lịch. Du lịch ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng, hiệu quả  của nguồn nhân lực cho du lịch ngày càng phải được nâng cao. Các hoạt động dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng, ngoại ngữ…vv… cho đội ngũ tham gia vào thị trường du lịch cũng như quản lý du lịch ngày càng nở rộ và yêu cầu phải được quản lý một cách thống nhất, chuẩn hóa. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Tiêu chí đánh giá: số lượng lao động trong lĩnh vực du lịch được đào tạo hàng năm; Mức độ đáp ứng nhu cầu của nguồn nhân lực du lịch.

1.3.2.5. Thanh tra, kiểm tra hoạt động du lịch

Nội dung này bao gồm tổng thể các hoạt động của Nhà nước nhằm phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, những khó khăn, những cơ hội để thúc đẩy ngành du lịch ở địa phương phát triển mạnh mẽ và đúng hướng. Thực chất là thực hiện nhiệm vụ phản hồi và dự báo. Hệ thống kiểm soát phản hồi chủ yếu kiểm soát những kết quả đầu ra để phát hiện sai lệch so với chuẩn mực đã được xác định (như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành du lịch đã được các cơ quan có trách nhiệm thông qua; các chính sách phát triển ngành của trung ương, của địa phương hiện hành; các quy định luật pháp…) để khắc phục, phát huy ở chu kỳ sau.

Cụ thể như sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương… Do đó, chính quyền cấp tỉnh phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên kiểm tra, thanh tra và giám sát với hoạt động du lịch để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra. Để thực hiện tốt nội dung nay, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các khu, điểm du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng lý và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành,…; đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn.

1.3.2.6. Xã hội hóa và hợp tác quốc tế về du lịch

Xã hội hóa hoạt động du lịch thực chất là xã hội hóa quyền tổ chức và điều hành các hoạt động sản xuất sản phẩm du lịch theo hướng đa dạng hóa chủ thể quản lý, nhằm thu hút đông đảo lực lượng xã hội, tập thể và tư nhân đứng ra chăm lo cho các hoạt động du lịch. Tổ chức và điều hành quá trình sản xuất sản phẩm du lịch theo đúng pháp luật của nhà nước. Đây là quá trình tăng cường sự quản lý của nhà nước trên cơ sở vận động và tổ chức, quản lý sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp du lịch nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ, sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân.

Hợp tác quốc tế về du lịch: nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc phát triển hoạt động du lịch trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với quy định của pháp luật trong nước và điều ước quốc tế.

Nội dung hợp tác quốc tế về du lịch bao gồm: Xây dựng và thực hiện chương trình, dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường thiên nhiên; Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại trong lĩnh vực du lịch; Trao đổi các cuộc triển lãm giới thiệu về du lịch; Đào tạo, bồi dưỡng, trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong việc phát triển du lịch.

1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở một số địa phương và bài học cho tỉnh Bò Kẹo Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

1.4.1. Tỉnh Quảng Nam, Việt Nam

Khẳng định tiềm năng và lợi thế về du lịch, đồng thời nhận thức rõ giá trị của những di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận (Đô thị cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm). Những năm qua, Quảng Nam luôn xem bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá và phát triển du lịch bền vững là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.

Cùng với bảo tồn, tôn tạo, trùng tu các giá trị di sản văn hóa vật thể là gìn giữ các phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng và văn nghệ dân gian mang đậm chất văn hóa xứ Quảng. Song song đó, tỉnh Quảng Nam cũng huy động cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn các giá trị di sản văn hóa. Việc phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch đã đạt được một số kết quả tích cực, tạo dựng được thương hiệu du lịch Quảng Nam mà đặc biệt là phố cổ Hội An và Khu di tích Mỹ Sơn. Thành phố Hội An đã quyết định hướng đi: Phát triển du lịch Hội An bền vững trên nền tảng gắn kết văn hoá và sinh thái từ những thực tiễn trong quá trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với du lịch, như: Phát triển du lịch dựa trên cơ sở bảo tồn văn hoá và môi trường; Phát triển sản phẩm du lịch gắn với di sản; Xây dựng sản phẩm du lịch văn hoá gắn với văn hoá du lịch; Quy hoạch hướng tới sự phát triển bền vững; Khoanh vùng di sản và giảm tốc quá trình đô thị hoá trong khu vực di sản; Giảm thiểu tốc độ thương mại hoá và tăng cường thông tin để nâng cao nhìn nhận ý thức của người dân và du khách… Tôn trọng và nghiêm túc thực hiện công tác bảo tồn các giá trị văn hoá, giá trị sinh thái, bảo vệ môi trường được coi là quyết định sống còn của du lịch. Việc đưa các di sản văn hoá, thiên nhiên thế giới vào phát triển du lịch nhưng vẫn bảo đảm được rằng, du lịch sẽ không làm ảnh hưởng, xâm hại tới di sản. Do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhà quản lý, cộng đồng và người làm du lịch thì rất cần chủ trương định hướng phát triển những hoạt động du lịch lựa chọn, có trách nhiệm. Chính quyền tỉnh Quảng Nam xác định, di sản phải được quản lý hiệu quả, đem lại kết quả tích cực cho cả du lịch và di sản. Bên cạnh việc xây dựng các sản phẩm du lịch chất lượng cao, vấn đề bảo vệ di sản, tạo mối quan hệ lợi ích hài hoà giữa các bên tham gia khai thác và bảo vệ di sản phải được đặt lên hàng đầu. Chỉ có bảo vệ di sản một cách tốt nhất thì di sản mới đem lại lợi ích cho những người khai thác di sản. Đây thiết nghĩ là bài học đơn giản nhưng không phải ở nơi nào cũng đã học tập và làm theo được một cách hiệu quả như Quảng Nam.

1.4.2. Tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Thừa Thiên Huế là một trong số ít địa phương có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng và có giá trị cao cả về tự nhiên lẫn nhân văn. Nổi bật nhất là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn với cố đô Huế – nơi bảo tồn gần như nguyên vẹn tổng thể kiến trúc cố đô cổ với hệ thống lăng tẩm, thành quách, cung điện, chùa chiền… hài hòa với khung cảnh thiên nhiên – được coi là một kiệt tác kiến trúc đô thị cổ của khu vực Đông Nam Á và thế giới. Với nguồn tài nguyên du lịch và vị trí địa lý thuận lợi, du lịch Thừa Thiên Huế đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều kết quả tích cực.

Để đạt được các kết quả trên, Thừa Thiên Huế đã phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển du lịch. Trong đó, nâng cấp tuyến đường ven biển từ Thuận An đến Tư Hiền, tuyến đường cụm lăng Minh

Mạng – Gia Long, xây dựng một số bến thuyền du lịch đầm phá (Đầm Chuồn, Cồn Tộc…), nâng cấp một số tuyến trong nội thị thành phố Huế… Thúc đẩy tăng cường các chuyến bay hiện có và mở tuyến bay mới đến một số thị trường du lịch trọng điểm. Khuyến khích xây dựng các cơ sở lưu trú 4 – 5 sao, mô hình homestay tại các điểm du lịch cộng đồng; tích cực kêu gọi hỗ trợ các thủ tục pháp lý để triển khai nhanh các dự án du lịch có quy mô lớn, các khu vui chơi giải trí cao cấp, các trung tâm thương mại, resort, sân golf…

Tỉnh cũng tập trung phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, dịch vụ đặc trưng như văn hoá di sản, phát triển các loại hình sản phẩm mới dựa trên tiềm năng thế mạnh của tỉnh. Đổi mới mô hình quản lý Trung tâm bảo tồn Di tích cố đô Huế, Trung tâm Festival Huế theo hướng xã hội hóa để nâng cao hiệu quả hoạt động. Mở cửa Đại Nội và triển khai các dịch vụ về đêm; phát triển du lịch tâm linh tại các cơ sở tôn giáo Điện Hòn Chén, Đền Huyền Trân…, các loại hình du lịch sinh thái, cộng đồng, làng nghề, nhà vườn, các loại hình vui chơi giải trí, mua sắm…

Đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch theo hướng phù hợp với thực tế, tập trung ở các trung tâm du lịch đầu mối như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang và các thị trường quốc tế trọng điểm, chú trọng quảng bá trên các phương tiện truyền thông trong nước và quốc tế, các trang mạng quốc tế và xã hội… Đồng thời, thay đổi phương thức xúc tiến, quảng bá tại các hội chợ du lịch, đặc biệt là hội chợ du lịch quốc tế. Nâng cao hiệu quả website du lịch Thừa Thiên Huế ít nhất 2 thứ tiếng Việt và Anh với tên miền bằng tiếng Anh (huetourism.gov.), liên kết với website quảng bá của Tổng cục Du lịch…

Chú trọng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch với việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng, nghiệp vụ du lịch cho các doanh nghiệp, cộng đồng nhằm hướng tới sự chuyên nghiệp, đảm bảo phục vụ tốt nhất cho khách du lịch. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kết nối với các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng. Ngoài ra, hỗ trợ các khóa tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng du lịch tại vùng biển, đầm phá bị ảnh hưởng sự cố môi trường biển. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Hoàn thiện môi trường du lịch và tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch dịch vụ, trong đó tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự, niêm yết công khai giá dịch vụ, đảm bảo hệ thống nhà vệ sinh công cộng sạch và tiện nghi, giải quyết dứt điểm vấn đề chèo kéo, ăn xin tại các điểm du lịch đông người. Triển khai Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Thừa Thiên Huế đến năm 2027, tầm nhìn đến năm 2040; đồng thời triển khai bộ quy tắc ứng xử du lịch và phát động tuyên truyền để bộ quy tắc đi vào thực tế.

Như vậy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch đã giúp cho du lịch Huế ngày càng phát triển. Đó cũng chính là bài học kinh nghiệm giá trị đối với phát triển du lịch ở tỉnh Bò Kẹo, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bò Kẹo, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Từ kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với du lịch ở một số địa phương ở Việt Nam, có thể rút ra kinh nghiệm cho tỉnh Bò Kẹo:

Một là, phải xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cho thời gian dài, hợp lý; có chiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng thúc đẩy du lịch phát triển.

Để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có và để du lịch đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của Bò Kẹo, tỉnh cần có tầm nhìn dài hạn, lựa chọn những ý tưởng, phương án quy hoạch phù hợp, lựa chọn các nhà tư vấn có kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển du lịch và phải đúc kết, học tập kinh nghiệm từ sự thành công cũng như thất bại trong xây dựng, thực thi chính sách phát triển du lịch của các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Tỉnh cần chú ý quy hoạch, xây dựng các cơ sở hạ tầng du lịch phù hợp với quy hoạch tổng thể, thống nhất với quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác.

Hai là, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng thời tạo ra được các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách.

Xã hội càng văn minh, nhu cầu của khách du lịch càng phong phú, đa dạng. Vì vậy, việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách là một tất yếu cần được thực hiện tốt. Với Bò Kẹo cần hướng tới sản phẩm du lịch đặc thù gắn với văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó cần có sự học hỏi để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, từ đó phát triển du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng… xây dựng một ngành du lịch đa sắc màu.

Ba là,, làm tốt hoạt động tuyên truyền, xúc tiến du lịch. Mục đích của tuyên truyền, xúc tiến trong kinh doanh du lịch là nhằm giới thiệu, hình thành và định hướng nhu cầu của du khách đối với các sản phẩm du lịch của địa phương. Để làm tốt hoạt động này, cần bố trí nguồn kinh phí hợp lý. Ngân sách về tuyên truyền, quảng bá du lịch càng tăng thì hiệu quả của nó đem lại càng lớn.

Bốn là, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các vùng, các doanh nghiệp với nhau để phát triển du lịch. Việc liên kết hợp tác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành các tour, tuyến du lịch và trong việc thực hiện xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch,… để thu hút du khách, nhất là du khách quốc tế.

Năm là, quan tâm đến việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch của địa phương. Du lịch là ngành kinh tế – dịch vụ, có đối tượng phục là con người. Hơn nữa, con người ở đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng, một nước mà còn bao gồm cả du khách quốc tế. Vì vậy, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch không giống với các ngành kinh tế và dịch vụ khác, nó phải mang tính toàn diện, từ cán bộ quản lý đến nhân viên phục vụ đều phải được trang bị đầy đủ kiến thức về du lịch để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch ngày càng cao.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

Để đảm bảo quản lý nhà nước đối với du lịch có hiệu quả, cần phải làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề này. Chương 1 luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã hệ thống hóa các kiến thức về du lịch. Cụ thể:

  • Khái niệm du lịch: là một ngành kinh doanh tổng hợp mang lại nhiều giá trị kinh tế và văn hóa thông qua việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho du khách bao gồm cung cấp chỗ ở cho du khách, thực phẩm và đồ uống phục vụ sinh hoạt, vận tải hành khách, hoạt động lữ hành, các hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động giải trí và hoạt động khác.
  • Khái niệm hoạt động du lịch: là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.
  • Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch: là phương thức mà thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch nhà nước tác động vào đối tượng quản lý để định hướng cho hoạt động du lịch vận động, phát triển đến mục tiêu đã đặt ra trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế.

Đồng thời, Chương 1 của  Luận văn đã chỉ ra được đặc điểm, vai trò và những nội dung quản lý nhà nước về du lịch ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở một số địa phương rất thành công của Việt Nam trong vấn đề này. Từ đó, luận văn đã chỉ ra được các giá trị tham khảo cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung, tỉnh Bò Kẹo nói riêng. Những kết quả trên đây là cơ sở lý luận quan trọng của luận văn. Đồng thời, là luận cứ khoa học cho nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Bò Kẹo thời gian tới một cách có hiệu quả. Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng QLNN về hoạt động du lịch tỉnh Bò Kẹo

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước về hoạt động du dịch tỉnh Bò Kẹo […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993