Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, với xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin thì sự phát triển toàn diện của một đất nước không chỉ dựa vào tài nguyên, vốn kỹ thuật mà yếu tố quyết định chính là nguồn lực con người, tiềm năng và năng lực sáng tạo con người. Con người được xem như là nguồn tài nguyên vô giá cho sự phát triển kinh tế – xã hội, trong đó giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng tạo ra nguồn tài nguyên đó.

Các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Đại hội Đảng lần thứ VIII đến Đại hội Đảng lần thứ X đều khẳng định vai trò to lớn của con người. Tại Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo, phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng, trong đó việc phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội và kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng” [17, tr.19].

Đại hội thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” [18, tr. 94-95].

Trong sự phát triển giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên cùng với các nhà quản lý giáo dục là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo. Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh” [16, tr.10]. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Ngành GD – ĐT trong những năm qua đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn có những bất cập, hạn chế. Điều này đã được Chỉ Thị 40 – CT/TW ngày 15/6/2019 của Ban Bí thư về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” chỉ rõ: “Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, vùng miền. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển KT – XH, đa số vẫn dạy theo lối cũ, nặng nề về truyền đạt lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của người học; một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, nhân cách, chưa làm gương tốt cho học sinh, sinh viên. Năng lực đội ngũ cán bộ Quản lý giáo dục chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục …” [1, tr. 1].

Trong những năm qua đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội có nhiều đóng góp đáng ghi nhận. Song trước nhu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố và đất nước thì đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội cũng không tránh khỏi những hạn chế, bất cập: tư tưởng chưa ổn định, cơ cấu chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn còn yếu, năng lực quản lý đội ngũ còn hạn chế, …

Việc tìm ra những biện pháp thiết thực và phù hợp nhằm phát triển đội ngũ giáo viên của các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay là một đòi hỏi thực tiễn hết sức cần thiết. Với mong muốn nghiên cứu nhằm đề xuất các biện pháp thích hợp cho việc phát triển đội ngũ giáo viên, đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng cao mà xã hội đặt ra, cũng như được góp phần xây dựng nhà trường Trung học phổ thông ngày càng phát triển vững mạnh xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay“.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng đội ngũ giáo viên nhằm đề xuất những biện pháp quản lý phát triển Đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.

3. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Nếu đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên khoa học, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong các trường Trung học phổ thông thành phố Hà Nội nói chung.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ giáo viên các Trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông trong bối cảnh hiện nay.
  • Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.

6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

  • Đề tài nghiên cứu những biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội trong bối cảnh hiện nay.
  • Khách thể khảo sát
  • Cán bộ quản lý giáo dục, Sở Giáo dục & đào tạo Hà Nội
  • Cán bộ quản lý (Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn) các trường Trung học phổ thông quân Hai Bà Trưng – Hà Nội.
  • Giáo viên các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội

7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích tổng hợp hệ thống hóa các tài liệu khoa học, các văn bản có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp quan sát.
  • Phương pháp điều tra (điều tra qua phỏng vấn, bằng phiếu điều tra, bằng trắc nghiệm test).
  • Phương pháp chuyên gia (hỏi ý kiến chuyên gia, các đồng nghiệp, các nhà quản lý).
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm (kinh nghiệm bản thân, kinh nghiệm người khác, kinh nghiệm đơn vị khác).
  • Phương pháp dự báo.
  • Phương pháp khảo nghiệm.
  • Nhóm phương pháp bổ trợ: thống kê toán học để xử lý số liệu, cụ thể hóa bằng các sơ đồ, bảng biểu.

8. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Trường THPT
  • Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các Trường THPT Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
  • Chương 3: Những biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của Trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thì sự phát triển của giáo dục diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Phát triển giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu ở mỗi quốc gia, từ quốc gia đang phát triển đến quốc gia đã phát triển, nó là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Để phát triển giáo dục cần nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là đội ngũ giáo viên – nhân tố quyết định chất lượng giáo dục

Nhận thức được vấn đề đó, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, điều này được thể hiện qua các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về sự nghiệp giáo dục: trong Hiến pháp, trong Luật giáo dục 2020, các Nghị quyết TW 4 (khoá VII), TW2 (khoá VIII), Kết luận Hội nghị TW6 (khoá IX) và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X.

Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về Đội ngũ giáo viên khẳng định:

  • Nhà giáo và cán bộ quản lý là đội ngũ cán bộ đông đảo nhất, có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí, xây dựng con người, đào tạo nhân lực cho đất nước. Nhà nước ta tôn vinh nhà giáo, coi trọng nghề dạy học.
  • Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ của các cấp uỷ Đảng và Chính quyền, coi đó là một bộ phận công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước; trong đó ngành giáo dục giữ vai trò chính trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện.
  • Phát triển Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục sao cho đảm bảo về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
  • Chuẩn hoá đội ngũ về các mặt: Vững vàng về chính trị; Gương mẫu về đạo đức; Trong sạch về lối sống; Có trí tuệ, kiến thức và năng lực thực tiễn; Gắn bó với nhân dân.

Trong những năm gần đây, nhiều đề án, giải pháp về quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng:

  • Chiến lược phát triển giáo dục 2016-2025” (QĐ số 201/2016/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ). Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.
  • Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2020 – 2025” (QĐ số 09/2020/QĐ- TTg ngày 11 tháng 1 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ).
  • Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay (Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục của tác giả Hoàng Văn Chương, Trường Đại học giáo dục. ĐHQGHN)
  • Biện pháp quản lý Đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục của tác giả Trần Văn Hướng. Khoa Sư Phạm. ĐHQGHN)
  • Biện pháp phát triển Đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục của tác giả Nguyễn Tiến Dũng. Khoa Sư phạm. ĐHQGHN).
  • Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông Cát Bà, trong giai đoạn hiện nay (Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục của tác giả Hà Thị Quyến, Trường Đại học giáo dục. ĐHQGHN)
  • Phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung cấp Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay (Luận văn Thạc sĩ Quản lý Giáo dục của tác giả Trần Trang Nhung. Khoa Sư Phạm. ĐHQGHN).

Tóm lại, xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên của mỗi cơ sở giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt vì nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà trường. Đó cũng là biện pháp để nâng cao nhận thức của những người làm công tác giáo dục cũng như toàn xã hội đối với giáo dục, đồng thời cũng là biện pháp để huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội cho sự phát triển giáo dục và đào tạo. Đây cũng là biện pháp để xây dựng một nền giáo dục có chất lượng, có khả năng để đào tạo những người có tài, có tâm và có tầm nhìn chiến lược toàn cầu, có khả năng biến tri thức thành sản phẩm mang lợi ích kinh tế và năng lực sáng tạo cái mới đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Trên cơ sở nguồn lực của từng đơn vị nhà trường, phát triển đội ngũ giáo viên phải có chiến lược lâu dài, phù hợp với mục tiêu giáo dục và điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi địa phương.

1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

1.2.1. Quản lý

Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Từ khi xuất hiện loài người, con người đã biết quy tụ thành từng bày, thành nhóm để tồn tại và phát triển. Từ lao động giản đơn đến lao động phối hợp, phức tạp, con người đã biết phân công hợp tác với nhau trong sinh hoạt cộng đồng nhằm tạo ra được năng suất lao động cao hơn, giá trị hơn. Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, đó chính là chức năng quản lý.

Sự phát triển của xã hội loài người dựa vào nhiều yếu tố trong đó có ba yếu tố cơ bản là: tri thức, lao động và quản lý. Trong đó, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng được hoàn thiện cùng với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người.

Khái niệm quản lí có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Quản lí được hiểu: quản là chăm sóc, giữ gìn; lí là sửa sang, sắp xếp làm cho ổn định và phát triển; quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức; quản lí là lái, là điều khiển, điều chỉnh – theo góc độ điều khiển; quản lí là sự tác động của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức – theo cách tiếp cận hệ thống.

  • Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu

Theo từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học – NXB Đà Nẵng 2017) giải thích: quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định [40, tr.789].

Theo từ điển Đại bách khoa toàn thư: “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức và bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [39, tr.5]. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Theo Vũ Ngọc Hải “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [26, tr.1].

Theo Đặng Quốc Bảo “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [2, tr.7].

Xuất phát từ những loại hình hoạt động quản lý, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [11, tr.1].

Theo tác giả H.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.” [23, tr.29].

Theo Frederick Wins TayLor (1856-1915) nhà lý luận quản lý Mỹ cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.

Theo Mary Parker Pollett thì: quản lý là: “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức, và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được mục đích của tổ chức” [Stoner,1995].

Theo học thuyết Mác- Lênin “Quản lý xã hôi một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay một những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội. Trên cơ sở vận dụng đúng đắn những qui luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”.[9, tr.283].

Dù có những góc độ nhìn nhận khác nhau về quản lý nhưng tất cả các tác giả đều thống nhất cơ bản về khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi: Ai quản lý? (chủ thể quản lý); quản lý ai?(khách thể quản lý)? quản lý cái gì (nội dung quản lý); quản lý như thế nào? (phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); Quản lý để làm gì? (mục tiêu quản lý).

  • Từ đó chúng tôi có thể khái quát khái niệm về quản lý như sau:

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của Chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp qui luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.

1.2.2. Phát triển Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Theo triết học Mác – Lênin, phát triển là sự biến đổi nói chung của sự vật, hiện tượng trong không gian và thời gian, theo chiều hướng từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.

Phát triển là quá trình tồn tại của bản thân sự vật. Nguồn gốc của quá trình phát triển là từ mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng. Cách thức của sự phát triển là sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất và ngược lại. Xu hướng của sự phát triển là quá trình phủ định, sự biến đổi có tính kế thừa, tiếp thu yếu tố tích cực tiến bộ của cái cũ, đồng thời loại bỏ những yếu tố lạc hậu của cái cũ. Sự tồn tại mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn của sự vật diễn ra liên tục tạo nên sự phát triển không ngừng của thế giới.

Theo từ điển tiếng Việt là: “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”

Phát triển là quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao theo đường xoáy trôn ốc. Lý luận của phép duy vật biện chứng khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hoá từ sự vật hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển tiến lên mãi.

1.2.3. Quản lý nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ. Theo nghĩa hẹp được hiểu là toàn bộ lực lượng lao động có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm. Xét trong phạm vi một đơn vị, cơ quan hay địa phương nguồn nhân lực chính là toàn bộ lao động của đơn vị, cơ quan hay địa phương đó.

Trong đời sống xã hội hiện đại nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất trong sự phát triển của mỗi tổ chức. Làm thế nào để quản lý nguồn nhân lực một cách hiệu quả đang là một trong những vấn đề làm đau đầu của nhà quản lý.

Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực.

Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể con người, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của mỗi người; phụ thuộc vào mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế. . . Thể lực con người còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền, giới tính, tuổi tác, thời gian công tác, … Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,… của từng con người.

Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người luôn là mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nguồn nhân lực. Dưới đây là một vài quan niệm về vấn đề này.

Theo Willam B. Werther và cộng sự (1996): Quản lý nguồn nhân lực là “Tìm mọi cách thuận lợi cho mọi người trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức và xã hội”.

Theo Nguyễn Thị Mĩ Lộc: Quản lí nguồn nhân lực là chức năng quản lí giúp cho người quản lí tuyển mộ; lựa chọn; xã hội hoá hay định hướng; huấn luyện và phát triển, thẩm định kết quả hoạt động; đề bạt thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải.

Dưới góc độ khoa học quản lý, quản lý nguồn nhân lực được hiểu là một trong những chức năng cơ bản của quản lý bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động nhằm mục đích thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được mục tiêu của tổ chức.

Đứng ở góc độ cụ thể việc làm của quản lý nguồn nhân lực, có thể hiểu quản lý nguồn nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó.

Tuy vậy, dù ở góc độ nào thì quản lý nguồn nhân lực vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.

  • Hoạt động quản lý nguồn nhân lực bao gồm:

Tạo dựng đội ngũ: thu nhận những người với kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và năng lực chuyên biệt phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của tổ chức. Ngoài đội ngũ chuyên môn, những cán bộ với kỹ năng quản lý nguồn nhân lực cũng được chú ý. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Thăng thưởng: công việc của quản lý nguồn nhân lực còn xây dựng và thực thi hệ thống thưởng phạt phù hợp có tác dụng khuyến khích người lao động. Quy trình này bao gồm: đánh giá công việc, đánh giá việc thực hiện của người lao động và xem xét lợi ích của họ.

Phát triển người lao động: phân tích các yêu cầu đào tạo và bồi dưỡng, phát triển người lao động để họ có thể đảm đương công việc trên cơ sở những kỹ năng và năng lực mấu chốt.

Bảo vệ người lao động: đảm bảo sự an toàn lao động, vệ sinh nơi làm việc, chính sách xã hội theo quy tắc chế độ.

Mối quan hệ lao động: đảm bảo sự tham gia vào công đoàn, duy trì sự thỏa thuận, đàm phán giữa giới quản lý và đại diện công đoàn về các quyết định ảnh hưởng đến hợp đồng lao động.

Quản lý nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển. Tầm quan trọng của quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức xuất phát từ vai trò quan trọng của con người. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của tổ chức. Vì vậy, quản lý nguồn nhân lực chính là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy đến cùng mọi hoạt động quản lý đều được thực hiện bởi con người.

Quản lý nguồn nhân lực là một khoa học và là một nghệ thuật. Quản lý nguồn nhân lực là sự vận dụng một cách khéo léo và linh hoạt hệ thống các kiến thức, các nguyên tắc và các phương pháp khoa học đã được đúc rút và kiểm nghiệm qua thực tiễn cho phù hợp với từng người lao động trong từng trường hợp để thực hiện các chức năng quản lý con người, tạo động lực để thúc đẩy hoạt động của họ, liên kết và phối hợp các hoạt động của con người:

Mặt khác, quản lý nguồn nhân lực liên quan đến con người vì con người là đối tượng của quản lý. Con người luôn luôn thay đổi, luôn luôn vận động, phát triển không ngừng, luôn luôn sáng tạo và phấn đấu vươn lên những điều tốt đẹp hơn. Vì vậy, người quản lý cần phải tính đến những biến đổi về chất của đối tượng quản lý, đồng thời cũng tính đến những điều kiện khách quan, bằng trí tưởng tượng sáng tạo, có những dự đoán chính xác đúc kết thành lý luận, kinh nghiệm để áp dụng các kiến thức khoa học vào quản lý. Mọi biến đổi của các điều kiện, yếu tố nói trên đòi hỏi người quản lý phải có những thay đổi trong tư duy, trên những hình thức, phương pháp, cơ chế quản lý mới nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý nguồn nhân lực. Tất cả những điều đó không chỉ là một khoa học, mà còn là một nghệ thuật.

Trong hệ thống giáo dục – đào tạo, quản lý nguồn nhân lực chính là quản lý đội ngũ giáo viên, công nhân viên chức và cán bộ quản lý thuộc ngành giáo dục. Nếu chỉ đề cập đến đặc điểm sư phạm thì quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục – đào tạo chính là quản lý đội ngũ giáo viên và cán bộ giáo dục. Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục – đào tạo bao gồm các mặt: phát triển nguồn nhân lực (chủ yếu là đào tạo và bồi dưỡng), sử dụng nguồn nhân lực (sử dụng lao động hợp lý) và nuôi dưỡng môi trường cho nguồn nhân lực (chủ yếu là môi trường làm việc ổn định). Trong đó, việc xây dựng, phát triển, đào tạo – bồi dưỡng về phẩm chất, trình độ và năng lực của đội ngũ giáo viên là trọng tâm của quá trình quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục.

1.2.4. Khái niệm đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

  • Đội ngũ giáo viên

Đội ngũ theo Từ điển Tiếng Việt được định nghĩa như sau:

  • Đội ngũ là một khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng chiến đấu. Thí dụ: các đơn vị đã chỉnh tề đội ngũ.
  • Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc 1 nghề nghiệp, thành một lực lượng.

Tóm lại, đội ngũ có thể hiểu: là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng có lý tưởng, có mục đích chung hoạt động trong một tổ chức.

Đội ngũ giáo viên là tập hợp những giáo viên thành một lực lượng có tổ chức, có chung một lí tưởng, một mục đích, nhiệm vụ đó là thực hiện mục tiêu đã đề ra cho lực lượng, tổ chức mình. Họ cùng làm theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, nội quy, quy định của đơn vị, của ngành. Đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định nhất đối chất lượng giáo dục và đào tạo của mỗi nhà trường.

Đội ngũ giáo viên là những người trực tiếp thực hiện quyết định đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề cao. Do vậy, Đội ngũ giáo viên là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện đổi mới giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước vì:

Thứ nhất, chính GV là những người trực tiếp thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá và quyết định đổi mới, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục học sinh phát triển nhân cách trong các nhà trường. Nếu không chú trọng đến Đội ngũ giáo viên thì không thể nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Thứ hai, trong xu thế hội nhập hiện nay thì nhà trường chỉ có thể đáp ứng được nhanh nhạy các yêu cầu đặt ra khi có Đội ngũ giáo viên đủ mạnh, luôn sẵn sàng thích ứng, điều chỉnh một cách linh hoạt trong điều kiện mới; đó là sự phát triển của khoa học – công nghệ, sự phát triển của kinh tế – xã hội, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa nền kinh tế tri thức.

Thứ ba, chính Đội ngũ giáo viên bằng năng lực, sự tận tâm với nghề nghiệp và khả năng thích ứng cao, mới có thể đảm bảo cung cấp cho xã hội loại sản phẩm có giá trị nhất, quyết định sự phát triển, đó là nguồn nhân lực được đào tạo, nguồn lực có hàm lượng chất lượng chất xám cao.

Để có một đội ngũ giáo viên mạnh trong nhà trường, đòi hỏi mỗi thầy giáo, cô giáo phải có trình độ chuyên môn cao, có đạo đức trong sáng, có lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo. Do vậy, trong nhà trường, người hiệu trưởng phải có kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên như: Lãnh đạo việc thu hút đội ngũ, tạo môi trường học tập, lãnh đạo các hình thức học tập định kỳ, quá trình tự học, tự bồi dưỡng, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học và tự bồi dưỡng. Có kế hoạch hỗ trợ giáo viên, đánh giá và khen thưởng đội ngũ giáo viên để tạo ra động lực phấn đấu trong môi trường sư phạm.

  • Phát triển đội ngũ

Phát triển đội ngũ là việc tạo ra hiệu quả của mỗi thành viên và hiệu quả chung của tổ chức đội ngũ gắn với việc không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng của đội ngũ. Xây dựng đội ngũ giáo viên là góp phần tạo ra một đội ngũ có phẩm chất đạo đức tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu để đảm nhận thực hiện các hoạt động giáo dục, giảng dạy trong các nhà trường Trung học phổ thông một cách toàn diện và có chất lượng.

Phát triển đội ngũ giáo viên là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho đội ngũ đó nhằm đạt được mục đích đủ số lượng theo tỷ lệ quy định, phù hợp về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có đủ phẩm chất về năng lực chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm.

Phát triển đội ngũ giáo viên một mặt có ý nghĩa là củng cố, kiện toàn đội ngũ hiện có, mặt khác còn phải định hướng cho việc phát triển về số lượng, về cơ cấu và nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài. Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ giáo viên phải tạo ra một môi trương liên nhân cách để phát triển mọi nhân cách: nhân cách học sinh, nhân cách giáo viên, nhân cách người quản lý. Đó là một môi trường giáo dục đem tới cho con người khả năng tự giáo dục.

Không những vậy, phát triển đội ngũ giáo viên phải xây dựng được tập thể “biết học hỏi”. Chính tập thể này mới có khả năng phát triển từng cá nhân trong tổ chức, từ đó tổ chức phát triển.

1.2.5. Khái niệm trường trung học, giáo viên trường trung học

  • Trường trung học Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Trong Điều lệ trường trung học phổ thông (năm 2022) xác định rõ:

  • Vị trí của trường trung học: trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng (Điều 2), nhiệm vụ và quyền hạn (Điều 3) của trường trung học.

Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

  1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương trình giáo dục phổ thông.
  2. Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên.
  3. Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trọng phạp vi cộng đồng.
  5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn nhân lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
  6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước.
  7. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
  8. Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiên định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
  9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Những quy định về tổ chức bộ máy và nhiệm vụ của mỗi đơn vị trong trường trung học (từ điều 13 đến điều 20).

  • Những quy định về các hoạt động giáo dục và công tác quản lý các hoạt động trong trường học (điều 21,24,25,26).
  • Những quy định về nhiệm vụ của các thành viên trong trường trung học (điều 17,29,30,36).

Việc bổ nhiệm ban giám hiệu nhà trường thì tuỳ theo việc phân cấp trường loại 1,2,3 mà cấp trên bổ nhiệm cán bộ quản lý (điều 16).

  • Giáo viên trường trung học

Điều 30, Điều lệ trường trung học 2022) ghi: Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường cấp trung học. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Điều 70, Luật Giáo dục 2020 đã chỉ rõ:

  1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
  2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
  3. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt:
  4. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
  5. Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp:
  6. Lý lịch bản thân rõ ràng.
  7. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giáo viên.

1.2.6. Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý trường học.

  • Khái niệm Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng tiến lên.

Quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung và là một khoa học tương đối độc lập.

Cũng như quản lý xã hội, Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được những mục đích giáo dục đã đề ra. Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hóa mục đích, nghĩa là biến cái hình mẫu ý tưởng của đối tượng trong tương lai, mà ta gọi là mục đích trạng thái thành hiện thực. Mục đích của giáo dục nằm trong mục đích của quản lý giáo dục.

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo định nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [3, tr.31].

Theo tác giả M.I. Kôndakôp:“Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính …) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [33, tr.93].

Từ những khái niệm trên ta thấy có ba thành tố của Quản lý giáo dục đó là: chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Ba yếu tố này có mối quan hệ gắn bó với nhau. Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân tác động lên khách thể quản lý. Khách thể quản lý nằm ngoài hệ quản lý, nó có thể là hệ thống khác hay các ràng buộc của môi trường…nó có thể chịu tác động hoặc tác động trở lại hệ quản lý. Vấn đề đặt ra với chủ thể quản lý là làm như thế nào để cho những tác động từ phía khách thể quản lý đến quá trình giáo dục là những tác động tích cực, cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung.

Ở tầm vĩ mô, chủ thể Quản lý giáo dục là quản lí của Nhà nước mà cơ quan quản lí trực tiếp là Bộ giáo dục và đào tạo, tiếp đến là Sở giáo dục và đào tạo, Phòng giáo dục và đào tạo. Ở tầm vi mô là quản lí của hiệu trưởng các cơ sở giáo dục, cũng như các nhà trường. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Phải có hệ thống tác động quản lí theo nội dung, chương trình, kế hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội.

Phải có một hệ thống đông đảo những người làm công tác giáo dục cũng hệ thống cơ sở vật chất tương ứng.

Đối tượng của Quản lý giáo dục là hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện chương trình giáo dục và đào tạo nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy định với chất lượng giáo dục cao.

Mục đích của Quản lý giáo dục chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường. Những thông số này được xác định trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn phát triển của kinh tế đất nước. Mục tiêu này gồm đảm bảo quyền học sinh vào các ngành học, các bậc học, lớp học đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn. Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đạt hiệu quả đào tạo, phát triển tập thể sư phạm đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ và đời sống vật chất.

Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo.

Quản lí giáo dục có tính xã hội cao, vì vậy cần tập trung giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh – quốc phòng để phục vụ cho công tác giáo dục thì Quản lý giáo dục mới có hiệu quả.

Vậy Quản lý giáo dục về thực chất là quản lý quá trình giáo dục – đào tạo. Quản lý quá trình giáo dục – đào tạo là quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình giáo dục – đào tạo nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo – giáo dục đặt ra.

Cũng như quản lý nói chung, Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, nó có những đặc trưng riêng và là một dạng lao động xã hội đặc biệt. Trước hết, Quản lý giáo dục là quản lý con người, nghĩa là tổ chức một cách khoa học những người tham gia vào quá trình giáo dục. Trong Quản lý giáo dục, các tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý mang tính chất mềm dẻo, đa chiều, không có những mệnh lệnh cứng nhắc, dập khuôn, máy móc vì đối tượng quản lý không phản ứng lại một cách thụ động các tác động quản lý. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Quản lý giáo dục vừa là nghệ thuật, vừa là khoa học. Người quản lý không những nắm những nội dung cơ bản của khoa học quản lý mà còn phải nắm được các quy luật chi phối quá trình giáo dục. Nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả tốt. Mặt khác nhà quản lý cần phải vận dụng nghệ thuật quản lý một cách khéo léo. Nghệ thuật Quản lý giáo dục là sự tích hợp của khoa học giáo dục, khoa học Quản lý giáo dục, kinh nghiệm quản lý và sự sáng tạo của chủ thể quản lý. Như vậy, trong Quản lý giáo dục, nhà quản lý phải biết kết hợp tính khoa học và tính nghệ thuật. Nếu chỉ chú ý đến khoa học thì dễ rơi vào cứng nhắc, máy móc và giáo điều. Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến tính nghệ thuật thì hoạt động của nhà quản lý chỉ mang tính ngẫu hứng, kết quả hoạt động thiếu bền vững, thiếu ổn định và có tính may rủi.

  • Khái niệm quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường là một trong những vấn đề cơ bản nhất của quản lý giáo dục, vì nhà trường là cơ sở giáo dục, là hạt nhân của hệ thống giáo dục quốc dân, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục, khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước – Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước.

Quản lí nhà trường là một bộ phận của Quản lý giáo dục, nhà trường chính là nơi tiến hành giáo dục – đào tạo có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định.

Khái niệm nhà trường: Nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội, nhằm thực hiện chức năng truyền thụ các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng và xã hội.

Nhà trường được tổ chức và hoạt động với chức năng truyền thụ và lĩnh hội tri thức nhân loại để nhằm mục tiêu tồn tại và phát triển cá nhân, phát triển cộng đồng và xã hội. Nhà trường được hình thành và hoạt động dưới sự điều chỉnh với các quy định của các chế định xã hội, có tính chất và nguyên lý hoạt động, có mục đích hoạt động rõ ràng và nhiệm vụ cụ thể; có nội dung và chương trình giáo dục được chọn lọc một cách khoa học, có tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ được đào tạo; có phương thức và phương pháp giáo dục luôn luôn đổi mới, được cung ứng các nguồn lực vật chất cần thiết; có kế hoạch hoạt động và được hoạt động trong một môi trường (tự nhiên và xã hội) nhất định, có sự đầu tư của người học, cộng đồng, nhà nước và xã hội.

  • Quản lý nhà trường: Quản lý nhà trường được nhìn nhận từ 2 góc độ:

Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu: “Quản lý nhà trường (một cơ sở giáo dục) là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có khoa học, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên và người học…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục”.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường, Quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu ĐT đối với ngành GD và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh” [24, tr. 61]. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối ưu các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đạo tạo trong nhà trường” [41, tr. 205].

Như vậy, ta có thể hiểu quản lý nhà trường chính là những công việc mà người cán bộ quản lý trường học phải thực hiện những chức năng nhiệm vụ của mình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà trường đã đề ra.

Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung, nhiều mặt: quản lý Đội ngũ giáo viên, công nhân viên; quản lý học sinh; quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học; quản lý tài chính; quản lý quá trình dạy học – giáo dục,…Trong đó quản lý Đội ngũ giáo viên là việc làm quan trọng nhất vì Đội ngũ giáo viên là nhân tố chủ yếu quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường.

1.3. Trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục Quốc dân

1.3.1. Trường trung học phổ thông

1.3.1.1 Chức năng trường trung học phổ thông

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục Trung học cơ sở hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc. THPT là cấp học cuối cùng của ngành học phổ thông, là nơi hoàn thiện kiến thức cơ bản toàn diện cho học sinh.

Học sinh Trung học phổ thông là lớp người có độ tuổi từ 15 đến 18. Hầu hết học sinh trong lứa tuổi này đều thể hiện ước mơ hoài bão của mình. Họ có nhiều nỗ lực cá nhân nhằm giải quyết các mâu thuẫn giữa năng lực bản thân với yêu cầu của xã hội.

Đặc điểm về bậc học, độ tuổi, gia đình, việc làm đã phân hóa nguyện vọng của học sinh Trung học phổ thông theo 2 hướng chính. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

  • Một là: Đa số học sinh có nguyện vọng tiếp tục học cao hơn vào các trường Đại học, Cao đẳng.
  • Hai là: Tham gia vào thị trường lao động để kiếm sống sau đó có điều kiện sẽ học lên.

Vì vậy, trường Trung học phổ thông là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển, áp dụng các phương pháp, các biện pháp quản lý để thực hiện kế hoach giáo dục, nhiệm vụ năm học và xa hơn là thực hiện mục tiêu giáo dục lâu dài của nhà trường.

1.3.1.2. Vai trò của trường trung học phổ thông

THPT là cấp học nối tiếp cấp trung học cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường Trung học phổ thông có vai trò hết sức quan trọng trong việc trang bị kiến thức tương đối toàn diện ở cấp Trung học phổ thông giúp các em có cơ sở vững chắc để tiếp tục học đại học, cao đẳng, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

Để đạt được những nhiệm vụ trên, thì nhân tố có tính chất quyết định và cũng là động lực của sự phát triển giáo dục chính là nhân tố con người, là đội ngũ các thầy, cô giáo mà trong đó có đội ngũ các thầy cô Trung học phổ thông.

1.3.2. Đội ngũ giáo viên trung học phổ thông

  • Luật Giáo dục 2020 khẳng định:

Giáo viên là nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp [8, tr 56].

Điều 30 – Chương IV điều lệ trường trung học ghi: Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên phụ trách đoàn đội. Vì thế, ta có thể hiểu Đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông là tập hợp những giáo viên thành một lực lượng có tổ chức, chung lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ, đó là: thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra cho lực lượng của tổ chức mình. Họ làm theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật.

  • Chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông

Đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông là những người có trình độ đại học hoặc sau đại học về chuyên môn giảng dạy và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

  • Tiêu chuẩn giáo viên trung học phổ thông
  • Phẩm chất đạo đức trong sáng;
  • Đạt trình độ chuẩn về đào tạo chuyên môn;
  • Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
  • Lý lịch bản thân rõ ràng.

Chức năng, nhiệm vụ:

  • Giáo dục, giảng dạy theo đúng chương trình, kế hoạch, soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm, kiểm tra đánh giá quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục, tham gia các hoạt động giáo dục, các hoạt động bộ môn;
  • Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục;
  • Thực hiện nghĩa vụ công dân, pháp luật của nhà nước và điều lệ nhà trường;
  • Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;
  • Phối hợp với các đoàn thể, tổ chức xã hội trong các hoạt động giáo dục, tham gia các hoạt động giáo dục;
  • Thực hiện nghĩa vụ công dân, pháp luật của nhà nước và điều lệ nhà trường;
  • Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín nhà giáo;
  • Phối hợp với các đoàn thể, tổ chức xã hội trong các hoạt động giáo dục.
  • Vị trí, vai trò của đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông

Đội ngũ giáo viên là nhân tố quan trọng quyết định sự nghiệp GD&ĐT. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đánh giá cao công lao của các thầy giáo, cô giáo, của nhà trường đối với việc đào tạo thế hệ trẻ.

Đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Họ là những người trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh ở trường Trung học phổ thông, trang bị kiến thức toàn diện, phát triển và hoàn thiện nhân cách cho học sinh.

Đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt của chương trình cải cách và đổi mới giáo dục. Đội ngũ giáo viên là người trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Nghị quyết Trung ương Hai khóa VIII đã khẳng định: “Giáo viên là khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục và phải biết chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như đội ngũ quản lý giáo dục”.

Từ sự phân tích trên, ta thấy rõ: Đội ngũ giáo viên có nhiệm vụ, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển GD&ĐT của mỗi quốc gia. Vì vậy cần phải đổi mới công tác quản lý đội ngũ giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục.

1.4. Chủ trương của đảng và nhà nước về phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước ta đưa ra rất nhiều các chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Ngày 15 tháng 6 năm 2019 Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị số 40-CT TW nêu rõ: phải xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2016 – 2025 và chấn hưng đất nước. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm nghề nghiệp của nhà giáo, thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Dự thảo chiến lược giáo dục 2024-2040 (lần thứ 13) ghi rõ “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục: để tạo sự cạnh tranh lành mạnh và ý thức phấn đấu trong đội ngũ nhà giáo, tiến tới thực hiện chế độ hợp đồng thay cho biên chế trong quá trình tuyển dụng và sử dụng các giáo viên và các viên chức khác. Năm 2024 bắt đầu thí điểm ở một số trường phổ thông và trường đại học, tới năm 2025 có 100% số giáo viên mới được tuyển dụng làm việc theo chế độ hợp đồng thay thế biên chế.” “Để đến năm 2040 có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện, dạy học các môn học tích hợp, dạy học phân hoá, dạy học 2 buổi/ngày ở phổ thông, để đảm bảo tỷ lệ giáo viên trên lớp, học sinh trên giáo viên, tiếp tục tăng cường đội ngũ nhà giáo cho các cơ sở giáo dục. Có chính sách miễn giảm học phí, cung cấp học bổng để thu hút học sinh giỏi vào học các trường sư phạm”, “Rà soát sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; xây dựng lực lượng cán bộ quản lý tận tâm, thạo việc, có năng lực điều hành chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục; có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với cán bộ quản lý. Khuyến khích các cơ sở giáo dục ký hợp đồng với các nhà giáo, nhà khoa học có uy tín và kinh nghiệm trong nước và ngoài nước quản lý và điều hành cơ sở giáo dục”.

Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là đội ngũ cán bộ đông đảo nhất, có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.

Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng và chính quyền, coi đó là bộ phận công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước về giáo dục, trong đó ngành GD giữ vai trò chính trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện.

Xây dựng đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý GD phải được tiến hành đồng bộ với việc thực hiện đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với cán bộ, viên chức bảo đảm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục.

1.5. Những nội dung cơ bản của quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông

Từ các quan điểm và lí luận nêu trên cho phép xác định được nội dung phát triển đội ngũ giáo viên như sau:

1.5.1. Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Muốn phát triển Đội ngũ giáo viên trước hết phải định hình được đội ngũ. Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII đã khẳng định: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài” [6, tr.82].

Quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn. Quy hoạch được hiểu theo nghĩa chung nhất là bước cụ thể hoá chiến lược ở mức độ toàn hệ thống, đó là kế hoạch mang tính tổng thể, thống nhất với chiến lược về mục đích, yêu cầu và là căn cứ để xây dựng kế hoạch.

Quy hoạch đội ngũ giáo viên là bản luận chứng khoa học về phát triển đội ngũ đó để góp phần thực hiện các định hướng của địa phương và của chính nhà trường về công tác nhân sự, phục vụ việc xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong công tác quản lý, chỉ đạo các cấp quản lý.

Quy hoạch Đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông là lập kế hoạch để đáp ứng những nhu cầu hiện tại cũng như tương lai về Đội ngũ giáo viên của các trường Trung học phổ thông khi tính đến cả những nhân tố bên trong và những nhân tố của môi trường bên ngoài.

Nội dung của quy hoạch Đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông bao gồm:

  • Đánh giá thực trạng Đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông;
  • Dự báo quy mô giáo viên: về số lượng, cơ cấu, chất lượng;
  • Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng Đội ngũ giáo viên THPT;
  • Xây dựng các biện pháp thực hiện quy hoạch.

Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên chuyên ngành phải đảm bảo được yêu cầu về chuyên môn vừa phải đảm bảo yêu cầu về năng lực sư phạm, khuyến khích những giáo viên thật sự tâm huyết, trách nhiệm với nghề, cống hiến tài năng cho sự nghiệp giáo dục đồng thời có cơ sở để thay thế những giáo viên, cán bộ quản lý không đủ phẩm chất, năng lực công tác. Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn chất lượng đội ngũ nhà giáo và giáo viên chuyên ngành.

  • Phải tổ chức điều tra, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ giáo viên chuyên ngành về tình hình tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy… Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.
  • Hàng năm phải rà soát, bố trí, sắp xếp lại những giáo viên không đáp ứng yêu cầu của nhà trường bằng các giải pháp như: luân chuyển, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ…
  • Có kế hoạch chuẩn bị Đội ngũ giáo viên theo quy định của Bộ

Tóm lại, việc quy hoạch Đội ngũ giáo viên phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của địa phương, của nhà trường, trên cơ sở phân tích đánh giá Đội ngũ giáo viên hiện có, dự kiến khả năng phát triển quy mô của đội ngũ trong tương lai, xem xét khả năng phát triển của Đội ngũ giáo viên hiện tại và tính đến khả năng bổ sung từ nguồn bên ngoài từ đó xây dựng kế hoạch tổng thể, xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng giai đoạn cụ thể. Quy hoạch Đội ngũ giáo viên cần làm rõ số lượng, chất lượng về trình độ chuyên môn – nghiệp vụ sư phạm, cơ cấu của từng trường cụ thể và tính đến quy hoạch chung cho các trường trong Quận làm cơ sở cho việc quản lý, tổ chức, chỉ đạo trong từng giai đoạn phát triển của trường. Tất cả hướng đến mục tiêu: đảm bảo đủ về số lượng, ổn định về chất lượng để thực hiện tốt kế hoạch, nội dung, đào tạo của trường

1.5.2. Công tác tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên phổ thông

  • Công tác tuyển chọn đội ngũ giáo viên

Để có một đội ngũ giáo viên có đủ trình độ, năng lực thì việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên phải được tiến hành theo một trình tự nhất định, hợp lý và khách quan.

Tuyển chọn bao gồm hai bước: tuyển mộ và lựa chọn, trong đó tuyển mộ là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng kí, nộp đơn xin việc làm, sau đó tập hợp danh sách lại xem xét trong số đó ai là người hội tụ đủ các tiêu chuẩn theo yêu cầu rồi quyết định tuyển.

Lựa chọn giáo viên là quá trình xem xét những người có đủ tiêu chuẩn làm giáo viên theo qui định của ngành, của cấp học, của các nhà trường. Căn cứ vào Luật Giáo dục, Pháp lệnh công chức và nhu cầu sử dụng của nhà trường để đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn giáo viên. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

  • Việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Nghiên cứu hồ sơ cá nhân, chú ý tới nguồn đào tạo thành tích giảng dạy, công tác, học tập. Qua nghiên cứu hồ sơ và qua tiếp xúc có thể đánh giá sơ bộ những nét cơ bản về giáo viên mình sẽ tuyển, từ đó đưa ra quyết định lựa chọn hay không lựa chọn.

Bước 2: Thử thách: những người được duyệt hồ sơ, cần cho họ thử việc. Cử bộ phận phụ trách (gồm lãnh đạo, tổ trưởng, nhóm trưởng bộ môn, giáo viên có khá, giỏi bộ môn) để xem xét, đánh giá trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của giáo viên.

Bước 3: Xem xét và tiếp nhận: thành lập hội đồng tư vấn xem xét và kết luận, lập hồ sơ trình Sở giáo dục và đào tạo ra quyết định tuyển dụng.

Thực tế cho thấy, hiệu quả của việc tuyển chọn giáo viên không chỉ phụ thuộc vào việc tuyển chọn mà còn ở chỗ người đứng đầu đơn vị và các tổ chức trong nhà trường có trách nhiệm: giúp đỡ họ thích ứng với nghề nghiệp thông qua các khâu bố trí công việc ban đầu.

  • Công tác sử dụng đội ngũ giáo viên

Sử dụng đội ngũ giáo viên là sắp xếp, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm giáo viên và giao nhiệm vụ, gắn với chức danh cụ thể, nhằm phát huy khả năng hiện có của Đội ngũ giáo viên để vừa hoàn thành được mục tiêu của tổ chức và tạo ra sự đồng thuận trong cơ quan đơn vị, hạn chế sự bất mãn ít nhất.

Để sử dụng Đội ngũ giáo viên có hiệu quả thì phải giao đúng người, đúng việc. Nếu bố trí sử dụng giáo viên hợp lý thì sẽ phát huy được những khả năng tiềm ẩn, vốn có của từng giáo viên. Thực hiện tốt việc này đòi hỏi người quản lý cần:

  • Hiểu rõ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực, sở trường cũng như thế mạnh của từng giáo viên từ đó bố trí đúng người, đúng việc;
  • Xem xét đến nguyện vọng của cá nhân và ý kiến thống nhất từ tổ bộ môn để quyết định;
  • Gắn chặt nghĩa vụ và quyền lợi của giáo viên, đảm bảo công bằng về đãi ngộ;
  • Đảm bảo tính kế thừa để có sự ổn định trong một thời gian nhất định tránh sự xáo trộn quá lớn có thể gây trì trệ công việc ở một số bộ phận; Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Thực hiện thanh tra, kiểm tra thường xuyên để điều chỉnh việc bố trí nếu cần và để đánh giá trình độ năng lực của đội ngũ.

1.5.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phổ thông

Đào tạo đội ngũ giáo viên là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, nguồn lực sư phạm, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn của người giáo viên phù hợp với yêu cầu của ngành và của cơ sở giáo dục (nhà trường).

Theo UNESCO, bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp.

Xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng, do vậy nhà trường cũng không ngừng thay đổi để phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội. Việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên của các trường phải được diễn ra thường xuyên, liên tục và phải có kế hoạch dài hạn, nếu không sẽ bị tụt hậu và bị đào thải.

Việc đào tạo, bồi dưỡng có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau để tạo điều kiện tốt nhất để tạo ra những giáo viên có chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu của nhà trường.

Việc bồi dưỡng nhằm mục tiêu đạt chuẩn theo quy định của bậc học, ngành học và để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Bên cạnh việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng tri thức, văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, người hiệu trưởng cũng cần phải coi trọng việc bồi dưỡng tư tưởng, chính trị, đạo đức cho giáo viên để họ có thể hoàn thiện mình hơn đáp ứng được yêu cầu của nhà trường và của xã hội.

1.5.4. Kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên phổ thông Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng trong công tác phát triển đội ngũ vì chỉ có kiểm tra, đánh giá đúng mới lựa chọn và sắp xếp cán bộ hợp lý và mới sử dụng được khả năng tiềm ẩn của mỗi người.

Kiểm tra là một chức năng quản lí, thông qua đó xem xét việc thực hiện nhiệm vụ được giao của từng cá nhân trong tương quan với các mục tiêu và tiêu chuẩn của tổ chức. Kích thích, động viên cán bộ, giáo viên thông qua các điều khoản về đánh giá, ghi nhận và hỗ trợ.

Đánh giá cán bộ, GV thực chất là xem xét nhân cách của họ, đây là vấn đề rất nhạy cảm và tế nhị. Theo Nguyễn Đức Chính thì đánh giá bao gồm cả việc thu thập, phân tích, giải thích và thu thập thông tin về con người nói chung. Nói cách khác đó là sự thu thập các “bằng chứng” về các hoạt động mà người giáo viên phải làm với tư cách nhà giáo, công dân,…Trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét nhằm giúp giáo viên tiến bộ và qua đó nhiệm vụ của nhà trường cũng được hoàn thành.

Việc kiểm tra, đánh giá còn ảnh hưởng đến uy tín của người lãnh đạo. Đánh giá đúng, chính xác thì sẽ là nguồn kích thích, động viên cán bộ, giáo viên nâng cao hiệu quả công tác, uy tín người lãnh đạo tăng. Ngược lại, kiểm tra, đánh giá sai lệch, thiên vị, không công bằng làm cho uy tín lãnh đạo giảm, cán bộ, giáo viên thì chán nản, không tập trung trong công việc, ảnh hưởng đến tâm lý và không khí làm việc của tập thể.

Hiệu quả đánh giá phụ thuộc vào nghệ thuật đánh giá. Tiêu chuẩn đánh giá phải dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn trong văn bản Nhà nước và văn bản của bản thân các trường. Tiêu chuẩn cơ bản nhất trong đánh giá là sự công tâm.

1.5.5. Thực hiện chế độ chính sách đối với đội ngũ giáo viên phổ thông

Thực hiện đầy đủ chế độ chính sách đối với giáo viên theo các văn bản qui định của nhà nước như chế độ tiền lương, phụ cấp lương, phụ cấp trách nhiệm, chế độ làm thêm giờ, phụ cấp độc hại, chế độ bảo hiểm… Mỗi một nhà trường đều có quy định, chuẩn riêng để duy trì nề nếp, trật tự, kỷ cương của trường mình. Người làm tốt thì được khen thưởng, người vi phạm sẽ bị kỷ luật. Việc khen thưởng và kỷ luật chính xác sẽ tạo nên sự công bằng trong tập thể và sẽ đạt được hiệu quả giáo dục cao. Khen thưởng kịp thời sẽ có tác dụng động viên mọi thành viên trong tập thể phấn đấu. Kỷ luật nghiêm minh sẽ tạo nên nề nếp kỷ cương cho tập thể.

Người quản lí cần đảm bảo cho mỗi thành viên được hưởng quyền lợi chính đáng, đồng thời cũng thấy rõ được bổn phận và trách nhiệm của mình trong tập thể.

Thực hiện tốt chế độ chính sách đối với giáo viên là điều kiện cần để động viên, khuyến khích giáo viên cống hiến tốt hơn nữa cho công tác giảng dạy. Một chế độ chính sách tốt sẽ là sự động viên kịp thời giáo viên, giúp họ tái tạo sức lao động tốt hơn và ngược lại. Vì vậy, trong công tác phát triển đội ngũ giáo viên cần phải rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, chính sách, chế độ về bổ nhiệm, sử dụng, đãi ngộ, kiểm tra, đánh giá đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục cũng như các điều kiện bảo đảm việc thực hiện các chính sách, chế độ đó, nhằm tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục. Có chế độ phụ cấp ưu đãi thích hợp, có chính sách và quy định cụ thể thu hút các trí thức, cán bộ khoa học có trình độ cao …

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Để làm rõ cơ sở lý luận quản lý đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông chúng tôi đã phân tích nội dung một số khái niệm liên quan đến đề tài như: quản lý, phát triển, quản lý nguồn nhân lực, đội ngũ giáo viên, phát triển đội ngũ giáo viên, trường trung học, giáo viên trường trung học, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường quản lý nhà trường, để làm sáng tỏ về các đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ, vai trò của trường Trung học phổ thông đồng thời cũng làm rõ, nhiệm vụ, vai trò của đội ngũ giáo viên trường Trung học phổ thông trong thời kỳ đổi mới giáo dục hiện nay, phân tích rõ ràng, toàn diện những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý các nhà trường.

Chúng tôi nhận biết được những vấn đề lí luận mang tính định hướng cho việc phát triển đội ngũ giáo viên trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Phát triển đội ngũ giáo viên là phát triển nguồn nhân lực sư phạm làm tăng giá trị vật chất, giá trị tinh thần, đạo đức và thể chất… là con đường làm giàu kiến thức, trình độ, năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên.

Phát triển đội ngũ giáo viên là chăm lo cho đội ngũ đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, vững vàng về trình độ, năng lực nghiệp vụ; làm tốt công tác tuyển chọn, sắp xếp, bố trí, đề bạt, thuyên chuyển, kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, kỉ luật, đào tạo bồi dưỡng, xây dựng môi trường phát lí và môi trường sư phạm, đảm bảo thực hiện tốt chế độ chính sách, xây dựng tổ chức đoàn kết, thống nhất để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

Từ cơ sở lí luận trên, chúng tôi thấy nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là vấn đề cấp thiết, cần được quan tâm đúng mức thì mới có đươc đội ngũ có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay. Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993