Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nền báo chí Cách mạng Việt Nam ta đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây, cũng như trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ngày nay. Chủ trương đổi mới do Đảng khởi xướng cùng với những thành tựu vĩ đại của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm cho nền báo chí nước ta ngày nay phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng. Chính vì vậy công tác quản lý nhà nước về báo chí cần được tăng cường mà vẫn tạo được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân hiện nay.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí có mối liên hệ chặt chẽ với các quyền khác, đó chính là quyền bất khả xâm phạm về nhân thân và đời tư; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tham gia quản lý nhà nước (QLNN) và xã hội.

Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do ngôn luận là một xu thế tiến bộ và mang tính chất tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Quyền tự do ngôn luận là một kênh đánh giá mức độ dân chủ của một quốc gia cũng như phản ánh tính công khai, minh bạch trong hoạt động của một nhà nước. Quyền tự do ngôn luận được tôn trọng giúp người dân của một quốc gia hiểu biết và giám sát một cách chặt chẽ những việc mà Chính phủ, nhà nước làm, giảm thiểu những hành vi lạm quyền, tham nhũng và những hành vi khác đi ngược lại lợi ích của công dân. Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Pháp luật về quyền tự do ngôn luận có vai trò quan trọng trong việc quy định về quyền của công dân khi tiếp cận những thông tin trên báo chí, đảm bảo cho mỗi công dân thực hiện quyền này một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Pháp luật về quyền tự do ngôn luận, tiếp cận thông tin cũng quy định một cách hạn chế, cụ thể những trường hợp thông tin bị giới hạn tiếp cận và các cơ chế để đảm bảo cho quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Những chủ trương, chính sách của Đảng và những văn bản QPPL được thể chế hoá của nhà nước về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân trong những năm qua đã từng bước làm dân chủ hoá, minh bạch hoá hoạt động của cơ quan nhà nước, giúp người dân tiếp cận ngày một dễ dàng và thuận lợi hơn đối với các thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ. Hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là những cơ quan có nhiệm vụ đáp ứng những yêu cầu về thủ tục hành chính hằng ngày đã công khai và thuận tiện hơn cho người dân. Các hành vi quan liêu, hách dịch, của quyền trong công việc của cán bộ, cơ quan nhà nước đã tận tình, chu đáo hơn. Ngược lại, nhận thức của người dân về quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận và phản ánh thông tin liên quan đến chủ trương, chính sách quan trọng hoặc có mối liên hệ trực tiếp đến lợi ích người dân của các cơ quan Đảng và nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng ngày một tôn trọng và nâng cao.

Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như triển khai thực hiện chủ trương, chính sách về quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, Đảng và nhà nước ta cũng đã và đang bộc lộ những hạn chế, chưa phù hợp với tình hình thực tế.

Những tồn tại như thế một phần là do hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực hoạt động báo chí còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa kịp bổ sung, sửa đổi kịp thời phù hợp với thực tiễn của hoạt động báo chí. Cần phát triển báo chí phải đi đôi với quản lý tốt, phải có sự nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về QLNN đối với hoạt động báo chí ngày nay, báo chí của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng và nhất là Việt Nam ta đã chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế gới (WTO), đang đặt ra những yêu cầu và thách thức mới.

Nếu không nắm bắt được tình hình, báo chí khó có thể đảm đương được nhiệm vụ và giữ vững được bản lĩnh của mình. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xây dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng cố nhiều mặt mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Bởi vậy, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với báo chí trong tình hình mới hiện nay là vấn đề cấp thiết. Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Trong bối cảnh và tinh thần đó Học viên quyết định chọn vấn đề về “Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, với mong muốn góp phần giải quyết những tồn tại, vướng mắc, thúc đẩy sự bảo đảm hơn về quyền này ở nước ta trong thời gian tới, đặc biệt ứng dụng đồng bộ và tương thích hơn với quốc tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Đến nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở những phạm vi khác nhau được đề cập trong nhiều đề tài, bài viết, Luận văn thạc sĩ, Luận án tiến sĩ tiêu biểu,…: Giáo trình sau đại học “Quyền con người” Chủ biên GS.TS. Võ Khánh Vinh, Học viện Khoa học xã hội, Xb 2015, Nxb KHXH; Cuốn sách “Hỏi đáp về quyền con người”, xb 2011, Nxb Hồng Đức; ThS. Vũ Thị Thuỳ Dung; Tạp chí quản lý Nhà nước – Số 209 (T6/2013); “Việt Nam với việc nội luật hoá quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn luận”, Chu Thị Thuý Hằng, Tạp chí khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 31, Số 3 (2015); “Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến môi trường báo chí Việt Nam”, Nguyễn Khắc Giang, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 1 (2015); Hiến pháp Nước Việt Nam qua các thời kỳ, (các bản hiến pháp năm 1946, 1959,1980, 1992, 2013), Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội 2017. Ngoài ra vấn đề quản lý nhà nước về báo chí luôn được đề cấp tới trong các cuốn sách nghiên cứu nghiệp vụ của các cơ sở đào tạo báo chí, trong các tác phẩm của các tác giả nghiên cứu về lý luận báo chí, về quyền tự do ngôn luận…

Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất là khi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông khác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; Việc thực hiện Quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực, quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần tiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trong chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí. Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnh các biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí. Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ các diễn biến trong đời sống chính trị – kinh tế – xã hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020.

Các công trình tiêu biểu nêu trên đã cung cấp một lượng lớn kiến thức, thông tin về đề tài Luận văn. Mặc dù vậy, các công trình trên mới tập trung đề cập đến cơ sở lý luận chung về ngôn luận, quyền tự do ngôn luận, quyền con người của mỗi công dân được thể hiện tự do trên báo chí trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như thế này là chưa đầy đủ, chưa rõ nét.

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này vẫn có tính rất cấp thiết và có ý nghĩa cả về thực tiễn lẫn lý luận.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tổng quát về tình hình thực hiện quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam, đánh giá lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan, làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam. Qua đó kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, cơ chế để nâng cao hiệu quả và đi vào cuộc sống hiện đại ngày nay, bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của mỗi công dân được bảo vệ theo pháp luật.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu, Luận văn đề ra những những nhiệm vụ:

Hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề nhận thức, lý luận về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân và sự cần thiết QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật về QLNN trong lĩnh vực báo chí. Quan điểm, chính sách, pháp luật liên quan đến việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí , từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền tự do ngôn luận với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế.

Phân tích pháp luật hiện hành liên quan đến quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam. Đánh giá về tính tương thích với các tiêu chuẩn của Luật nhân quyền quốc tế và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam hiện nay. Từ đó rút ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Kiến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm đảm bảo và tăng cường khả năng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam trong tình hình mới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, pháp lý và thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở nước ta hiện nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Vế nội dung, đề tài Luận văn không nghiên cứu mở rộng đến các quyền con người khác, mà chỉ đi sâu nghiên cứu về vấn đề lý luận, pháp luật hiện hành và thực trạng bảo đảm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt nam.

Về không gian, đề tài Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam, không mở rộng đến các quốc gia khác.

Về Thời gian, Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận thực tiễn về pháp luật và thực trạng đảm bảo quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân từ năm 1997 đến nay. Đồng thời đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân trên nền báo chí cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: Quan điểm của cộng đồng quốc tế về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam về bảo đảm thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, thông kê, lôgíc, so sánh, đối chiếu, khoa học dự báo để hình thành các khái niệm khoa học, đánh giá pháp luật, thực hiện pháp luật về QLNN trong lĩnh vực báo chí thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi công dân trong khuôn khổ pháp luật.

Luận văn khai thác tư liệu, thông tin của các công trình nghiên cứu đã công bố, các bài viết nghiên cứu để lập luận và chứng minh cho các luận điểm.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Luận văn cung cấp nhiều kiến thức, luận điểm, thông tin và đề xuất mới có giá trị tham khảo trong việc nêu cao quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở nước ta trong thời gian tới.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể còn được sử dụng làm nguồn tham khảo trong việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành về quyền con người, quyền tự do báo chí Học viện Khoa học xã hội và các cơ sở đào tạo khác có liên quan ở Việt Nam ta.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân gồm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.
  • Chương 2: Pháp luật và thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.
  • Chương 3: Quan điểm và các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN BÁO CHÍ CỦA CÔNG DÂN

1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

1.1.1. Khái niệm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Ngày nay trên thế giới, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là yếu tố hết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi đất nước, đồng thời còn là biểu hiện trực tiếp về quan niệm, chính sách nhân quyền ở đất nước đó. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyên dân sự và chính trị của Liên hợp quốc đều khẳng định về các quyền cơ bản này và nhà nước ta luôn nghiêm túc tuân thủ các cam kết.

Tự do ngôn luận trên báo chí thuộc các quyền cơ bản của con người trong một xã hội phát triển. Song thực hiện quyền tự do trên báo chí như thế nào lại là vấn đề cần đề cập một cách cự thể, căn cứ vào sự lựa chọn với tình hình phát triển của mỗi quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia đó, cùng với tiêu chí các tiêu chí của nền văn hoá mà trực tiếp là đạo đức. Nên dù thực hiện các quyền này theo pháp luật để phù hợp với truyền thống văn hoá, phục vụ lợi ích quốc gia, của dân tộc, của cộng đồng. Vì vậy, báo chí không thể lợi dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí mà xâm phạm tới quyền và lợi ích của mọi tổ chức, cá nhân, của đất nước. Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Đó là những vấn đề tất yếu mà chỉ từ vấn đề nhận thức đầy đủ, nghiêm túc thì mỗi công dân, mỗi cơ quan báo chí, mỗi người làm báo mới có thể sử dụng quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí một cách thiết thực, hiệu quả, có ý nghĩa tích cực với xã hội và con người, qua đó thể hiện tinh thần “sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật”. Chúng ta luôn tin tưởng rằng, từ quan điểm, chính sách đúng đắn của nhà nước Việt Nam về tự do ngôn luận, tự do báo chí hiện nay và lâu dài, mọi người dân Việt Nam sẽ được hưởng các quyền này mày một đầy đủ hơn, được tạo các điều kiện để phát triển toàn diện và hài hoà, từ đó có những đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước.

1.1.2. Đặc điểm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí đã được C.Mác nêu với cung bậc là đỉnh cao của tự do: “báo chí là nơi để con người thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, bởi một nền báo chí tự do là hiện thân trí tuệ của nhân dân”. Ở Việt Nam trong Luật Báo chí Điều 4, Chương 1 đã ghi rõ “báo chí là diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân”.

Như vậy, tự do báo chí và tự do ngôn luận có phần đồng nhất. Đó là quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền được tự do tìm kiếm thông tin, chia sẻ thông tin hoặc ý kiến của mình trên váo chí.

Với tính chất mở và liên kết rất rộng của báo chí nói chung, mạng xã hội… nói riêng là nơi ít có và khó kiểm soát chặt chẽ hết của nhà nước. Đây là vấn đề rất dễ bị lợi dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí. Không có quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là vô hạn, hay nói cách khác, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là có giới hạn. Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Tự do ngôn luận trên báo chí chỉ được bảo vệ khi những phát ngôn, bình luận, chia sẻ… trên báo chí khi không bị xâm phạm lợi ích hợp pháp chính đáng của quốc gia và cộng đồng, hay không xâm phạm những quyền, tự do chính đáng của người khác. Đây là điều phù hợp với các quy định trong Tuyên ngôn quốc tế và Nhân quyền.

1.1.3. Quan niệm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền” luôn bao gồm: Quyền và nghĩa vụ. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” 1966, đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí. Theo đó người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền. Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, và việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác như: Bảo vệ An ninh Quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.

Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt nam (2013) và được cụ thể hoá trong nhiều đạo luật, Nghị định như: Luật Báo chí (2016), Luật tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội. Điều đó khẳng định và thể chế hoá quan điểm nhất quán của Đảng và nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, v.v Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn, đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không gian mạng nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, Tiếp cận thông tin. Vì vậy, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin. Phải chịu trách nhiệm về những nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội… Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Tuy nhiên, cũng như các quyền con người khác, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật. Quy định rõ mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ công dân: “Không được xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Việc hạn chế các quyền này theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do: Quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng là một tất yếu. Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm cá nhân… đều bị pháp luật xử lý. Việc tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được pháp cung cấp. Do vậy, “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “Một số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp Luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với Luật quốc tế về Quyền con người.

Hiện nay, quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Nhiều vụ tham nhũng lớn được người dân phản ánh, báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của nhà nước. “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích. Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ra sao và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan, tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước.

Tự do ngôn luận và quyền tự do ngôn luận có mối liên hệ mật thiết với các quyền như: Quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin… Thuật ngữ tự do biểu đạt (Freedom of expression) đôi khi còn được dùng để đề cập đến cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, bất kể bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông nào.

Ở một góc độ khác, tự do ngôn luận thể hiện ở sự tự do phát biểu mà không bị kiểm duyệt hoặc hạn chế. Quyền này có thể bị hạn chế, chẳng hạn như sự hạn chế với những phát ngôn reo rắc sự hận thù (Hate speech), hay phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới, tôn giáo, tín ngưỡng… Trong thực tiễn cũng không tồn tại quyền tự do ngôn luận tuyệt đối trong các hệ thống pháp luật và các xã hội trên thế giới.

Theo Điều 25, Hiến pháp (2013): “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”, các hạn chế đối với tự do ngôn luận phải được luật pháp quy định và chỉ được quy định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng.

Như vậy, Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền mà công dân được tự do thể hiện ý kiến, quan điểm trên báo chí mà không trái với pháp luật quốc gia và quốc tế. Đó là quyền của công dân thông qua báo chí, mạng xã hội,… được thực hiện thông qua việc phát ngôn tự do trên phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng, cung cấp phục vụ cho công dân, mà không bị kiểm duyệt. Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

1.1.4. Công tác quy hoạch báo chí trong trong thời kỳ phát triển công nghệ thông tin

Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất là khi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông khác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; việc thực hiện quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực, quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới. Đến nay, việc triển khai đã đạt được một số kết quả ban đầu, nhận thức của cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí thực hiện quy hoạch đã được nâng lên.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần tiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trong chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí. Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnh các biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí. Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ các diễn biến trong đời sống chính trị – kinh tế – xã hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020.

Đồng thời người làm báo tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm người công dân, sứ mệnh người làm báo nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, giữ vững niềm tin vào nhân dân, vào sự lãnh đạo của Đảng.

1.2. Trách nhiệm bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu và ban hành Luật đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân, coi đây là một biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và nhà nước.

1.2.1. Lý luận bảo đảm về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

Việt Nam là quốc gia thực sự có tự do báo chí, tự do ngôn luận: Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được đảm bảo trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí. Tại Điều 10 của Luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Luật báo chí năm 2016 thì:

Điều 10: Quyền tự do báo chí của công dân:

  • Sáng tạo tác phẩm báo chí.
  • Cung cấp thông tin cho báo chí.
  • Phản hồi thông tin trên báo chí.
  • Tiếp cận thông tin báo chí.
  • Liên kết với các cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí.
  • In, phát hành báo in.

Điều 11:Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:

  • Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới.
  • Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
  • Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

1.2.2. Trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Luật báo chí 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của nhà nước, của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân:

Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, theo Điều 12 của Luật báo chí 2016:

  • Đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phầm báo chí khác của công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích và không có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của luật này; trong trường hợp không đăng, phát phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu.
  • Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn bản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến.

Theo Điều 13 của Luật Báo chí 2016: Trách nhiệm của nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân:

  • Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
  • Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích chủa nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
  • Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng. Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.

1.3. Các yếu tố tác động đến bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

1.3.1. Tâm lý con người

Con người là chủ thể quan trọng trong sáng tạo và thông tin, trên đó con người thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội như trao đổi, học tập, lao động, giao tiếp, sáng tạo, tiêu dùng… đây là hành vi có ý thức, phục vụ nhu câu cuộc sống cũng như sự phát triển của xã hội loài người. Đồng thời là kết quả của sự tương tác của con người phương tiện như báo chí và các dich vụ khác diễn ra trên không gian mạng, trên phương tiện truyền thông đại chúng. Nếu như thiếu sự tương tác của con người, sẽ không có thông tin trao đổi thì mọi việc lại không tồn tại, sự phát triển và tồn tại của phương tiện thông tin hoàn toàn do ý muốn của con người và vì con người. Vì vậy, tâm lý con người tác động rất lớn đến quyền tự do ngôn luận trên báo chí cũng như trên mạng xã hội hiện đại ngày nay.

Với thời đại công nghiệp 4.0 ngày nay, việc sử dụng Internet là phổ biến, Việt Nam có trên 30 triệu người sử dụng Facebook hàng ngày, đó là chưa kể số người sử dụng các mạng xã hội khác. Với bản chất chất phát, thật thà, cởi mở của người Việt, họ không ngần ngại chia sẻ những thông tin ngày một nhiều hơn trên các báo chí, diễn đàn xã hội, nếu không tuân thủ các quy định pháp luật dẫn đến trao đổi, lưu trữ hoặc công khai các thông tin, tài liệu bí mật nhà nước, bí mật nội bộ hay vô tình tham gia vào việc tạo ra, lưu hành, tuyền bá các thông tin xấu, bịa đặt, xuyên tạc sai sự thật sẽ rất nguy hại đến đất nước.

Cho nên việc trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng về công nghệ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn vẫn là xây dựng ý thức và văn hoá ứng xử trong thời đại kết nối toàn cầu ngày nay.

1.3.2. Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội

Trong khi tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường về nhiều mặt thì sự phát triển kinh tế – xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam vẫn luôn đạt mức tăng trưởng khả quan so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2019, GDP tăng 6,98% – mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp, bình quân 9 tháng tăng 2,5% – mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3%. Thu ngân sách nhà nước tăng cao (10,1%), bội chi còn 3,4% GDP, nợ công còn dưới 57% GDP… Đó là những số liệu minh chứng một cách thuyết phục về sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, cũng như môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sự xuất hiện của ngày càng nhiều các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới…

Thực tế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, để phù hợp với tình hình thực tiễn, trong bối cảnh “thế giới phẳng” toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã điều chỉnh, bổ sung, xây dựng nhiều đạo luật mới, đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do Internet.

Như vậy, trước sự tương tác đa chiều thì ngôn luận có trách nhiệm mỗi công dân trên internet là tiếng nói quan trọng nhằm đạt tới sự đồng thuận xã hội cũng như góp phần phát hiện tình hình, giúp cho sự điều chỉnh các chủ trương, chính sách và kinh tế, văn hoá – xã hội của các cấp có thẩm quyền.

1.3.3. Nội luật hoá hệ thống pháp luật Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Công ước quốc tế về các quyền Dân sự – chính trị (1966) đã ghi nhận về quyền tự do ngôn luận là một quyền con người quan trọng, mà Việt Nam là thành viên của Công ước này từ năm 1982. Việc nội luật hoá các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia được Việt Nam thực hiện theo những lộ trình nhất định. Quá trình đó thể hiện đòi hỏi nội tại về phát triển tự do của con người Việt Nam và thể hiện cam kết của nước ta khi tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người.

Là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, việc nội luật các quy định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia được Việt Nam thực hiện theo những lộ trình nhất định. Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền quan trọng của con người, do vậy quyền này được bảo vệ không chỉ ở cấp độ đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia là Hiến pháp mà còn được chi tiết hoá trong các văn bản luật của Việt Nam.

Tiểu kết chương 1

Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do ngôn luận là điều mà được Đảng, nhà nước ta luôn coi trọng. Bởi quyền tự do ngôn luận là một kênh đánh giá mức độ dân chủ của một quốc gia một cách công khai, minh bạch trong hoạt động của nhà nước, Chính phủ… giúp người dân hiểu biết và giám sát chặt chẽ việc nhà nước làm, giảm thiểu hành vi lạm quyền, tham nhũng và những hành vi khác đi ngược lại lợi ích của công dân. Đồng thời mong muốn góp phần giải quyết những tồn tại, vướng mắc, thúc đẩy sự đảm bảo hơn về quyền này ở nước ta trong thời gian tới, đặc biệt ứng dụng đồng bộ và tương thích hơn với luật quốc tế.

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân là quyền được phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối , chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác.

Trong thời gian qua, nhà nước ta đã rất chú trọng đến quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân, điều này được thể hiện trong chủ trương, chính sách của nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận này của người dân vẫn còn khó khăn. Vì vậy, nhà nước ta cần chú trọng hơn nữa bằng cách cần thay đổi cơ chế pháp lý hữu hiệu, thực tế nhằm đáp ứng, phù hợp hơn với tình hình mới của thời đại công nghệ 4.0, để mỗi công dân thực hiện quyền của mình vào quá trình QLNN một cách chủ động, thực chất và hiệu quả hơn. Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993