Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo của trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1.. Quá trình hình thành và phát triển của trường CĐ VHNT TP.HCM

2.1.1. Ba giai đoạn hình thành và phát triển :

2.1.1.1. Giai đoạn trường nghiệp vụ Văn hóa – Thông tin thành phố Hồ Chí Minh (1975 – 1981)

Ngay sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất (30/4/1975), do yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ và hạt nhân phong trào Cách mạng có khả năng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng cho nhân dân và xây dựng con người mới, nền văn hóa mới, trường Nghiệp vụ Văn hóa – Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh do Sở Văn hóa – Thông tin thành phố Hồ Chí Minh quản lý, được hình thành và đi vào hoạt động. Trong giai đoạn này, hoạt động chủ yếu của trường là mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày mang tính chất tập huấn nghiệp vụ trên các lĩnh vực chuyên ngành văn hóa thông tin (thư viện, bảo tồn – bảo tàng, quản lý văn hóa quần chúng, v.v…) nhằm từng bước hình thành đội ngũ các loại cán bộ văn hóa thông tin cơ sở, có kiến thức nghề nghiệp và phẩm chất chính trị có thể vừa làm tham mưu, vừa tổ chức hướng dẫn phong trào văn hóa quần chúng và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Để khẳng định vị trí và chức năng của đơn vị, ngày 25/12/1978, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức ra quyết định thành lập trường. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Ngay từ giai đoạn mới thành lập, bộn bề khó khăn (đội ngũ giảng viên mỏng, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu; hơn nữa, mới chỉ là một trường nghiệp vụ, v.v…) nhưng nhà trường đã góp phần tích cực vào việc ổn định đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, bước đầu xây dựng một mạng lưới cán bộ văn hóa quần chúng ở cơ sở.

2.1.1.2. Giai đoạn trường Trung Học Văn Hóa Thông Tin thành phố Hồ Chí Minh (1981 – 1996)

Trên đà phát triển chung của thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là để phát huy vai trò, nâng cao nhiệm vụ của trường, ngày 14/8/1981, được sự chấp thuận của Bộ Văn hóa và Thông tin và Bộ Giáo dục và Đào tạo, Uy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định nâng cấp trường Nghiệp vụ Văn hóa – Thông tin thành phố Hồ Chí Minh lên thành Trường Trung học Văn hóa Thông Tin TP. Hồ Chí Minh.

Năm 1985, nhằm đáp ứng các yêu cầu mới, trường được chuyển về số 5 Nam Quốc Cang, Q.I, TP.Hồ Chí Minh, với cơ sở vật chất được đầu tư tốt hơn, cơ cấu tổ chức được mở rộng hơn. Định hướng đào tạo chuyên sâu bắt đầu được khẳng định rõ nét. Trong giai đoạn này, trường đã xác định và thực hiện khá tốt 2 nhiệm vụ trọng tâm :

Đào tạo và bồi dưỡng lực lượng cán bộ ngành văn hóa thông tin có trình độ trung cấp phục vụ cho ngành văn hóa thông tin và các cơ quan hữu quan (thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, hướng dẫn viên văn hóa du lịch, v.v…)

Đào tạo và bồi dưỡng lực lượng diễn viên nghệ thuật, nhạc công, v.v… có trình độ trung cấp phục vụ cho các đơn vị (Đoàn ca múa nhạc, cải lương, nhà văn hóa, các đội nhóm tuyên truyền văn nghệ xung kích, v.v…)

2.1.1.3. Giai đoạn trường CĐ VHNT TP.HCM (1996 đến nay)

Cùng với sự phát triển vững mạnh về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, những nỗ lực to lớn vượt bậc của trường cũng đã được xã hội thừa nhận. Theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21/8/1996, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định nâng cấp Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh thành Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh. Gắn liền với sự nâng cấp, chức năng và nhiệm vụ của trường được mở rộng và nặng nề hơn.

Về chức năng – nhiệm vụ : Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh có trách nhiệm đào tạo tổng hợp và chuyên sâu nhiều bộ môn: văn hóa, thông tin, nghệ thuật – thuộc các lĩnh vực ngành nghề: âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, thư viện, bảo tàng, kinh doanh xuất bản phẩm, văn hóa quần chúng (quản lý công tác văn hóa ở cơ sở, câu lạc bộ, nhà văn hóa …), văn hóa và du lịch, v.v… nhằm mục đích trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ nghiệp vụ và quản lý công tác văn hóa hoạt động trong ngành văn hóa thông tin và ở các đoàn thể, ban, ngành, kể cả lực lượng nghệ sĩ trẻ bổ sung cho các đoàn nghệ thuật, các tụ điểm văn nghệ.

Về phạm vi hoạt động :

Ngoài nhiệm vụ trực tiếp đào tạo và bồi dưỡng lực lượng làm công tác văn hóa nghệ thuật cho thành phố Hồ Chí Minh, trường còn góp phần cùng các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành Văn hóa thông tin tiến hành phổ cập kiến thức, kỹ năng hoạt động về văn hóa, thông tin, nghệ thuật… cho đông đảo các loại đối tượng khác nhau với nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng đa dạng. Bên cạnh đó, trường cũng từng bước phấn đấu trở thành một trung tâm hoạt động hoặc liên kết hoạt động trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật và thông tin, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương, đơn vị bạn trong và ngoài nước về đào tạo và giao lưu văn hóa nghệ thuật …

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP. Hồ Chí Minh hiện nay:

2.1.2.1. Cơ cấu nhân sự:

2.1.2.1.1. Số lượng nhân sự :

Tính đến tháng 6/2004, tổng cộng toàn trường có 86 cán bộ, công chức, giảng viên, nhân viên hợp đồng, trong số đó có 54 giảng viên (kể cả các cán bộ quản lý kiêm nhiệm). Trong lực lượng giảng viên có :

  • 03 tiến sĩ (5,56%)
  • 04 thạc sĩ (7,41%)
  • 43 cử nhân (79,63%, trong số này có 01 người được Nhà nước phong danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú)
  • 04 người tốt nghiệp bậc cao đẳng, trung học (7,41%).

1.5.2.2. Cơ cấu tổ chức: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Trường có 4 phòng chức năng, 5 khoa chuyên môn và 4 bộ môn (đào tạo các môn kiến thức cơ sở, cơ bản như: triết học, kinh tế chính trị học, tiếng việt thực hành, cơ sở văn hóa việt nam v.v… chung cho tất cả các lớp của các khoa).

2.1.2.2.1. Các phòng chức năng

  • Phòng Đào Tạo
  • Phòng Khoa học và Đối ngoại
  • Phòng Tổ chức và Công tác sinh viên
  • Phòng Hành chính – Kế toán

2.1.2.2.2. Các khoa chuyên môn :

  • Khoa âm nhạc đào tạo các chuyên ngành: thanh nhạc, organ, piano, guitare, trống jazz, sư phạm âm nhạc.
  • Khoa mỹ thuật, đào tạo các chuyên ngành: hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, thiết kế thời trang, đồ họa vi tính, sư phạm mỹ thuật.
  • Khoa sân khấu đào tạo các chuyên ngành: đạo diễn sân khấu, diễn viên… cho các đoàn chuyên nghiệp và cho cả phong trào văn hóa quần chúng.
  • Khoa thông tin đào tạo các chuyên ngành: kinh doanh xuất bản phẩm, thông tin – thư viện, thông tin – quảng cáo.
  • Khoa văn hóa và du lịch, đào tạo các chuyên ngành bảo tồn – bảo tàng, quản lý văn hóa, hướng dẫn viên văn hóa du lịch.
  • Bộ môn khoa học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tương tưởng Hồ Chí Minh)
  • Bộ môn kiến thức cơ sở, cơ bản (tiếng việt thực hành, cơ sở văn hóa việt nam, đại cương pháp luật Việt Nam, v.v…)
  • Bộ môn kiến thức sư phạm (Giáo dục học, tâm lý học, phương pháp giảng dạy bộ môn, v.v…)
  • Bộ môn tin học và ngoại ngữ.

Ngoài ra, Trường còn có các Trung tâm (Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học …) chủ yếu đào tạo theo phương thực xã hội hóa.

2.2. Hoạt động đào tạo của trường CĐ VHNT TP.HCM thời gian qua

Trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ được giao, Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP. Hồ Chí Minh đã tiến hành đào tạo bậc cao đẳng (cả hệ chính quy và hệ không chính quy) và trung học, với 18 chuyên ngành thuộc lĩnh vực Văn hóa – Thông tin – Nghệ thuật, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và nghiên cứu khoa học phục vụ cho yêu cầu phát triển đời sống văn hóa – xã hội của TP. Hồ Chí Minh, thông qua các mặt hoạt động quan hệ hợp tác với các địa phương, đơn vị trong và ngoài nước về đào tạo và giao lưu văn hóa.

2.2.1. Công tác đào tạo hệ chính quy Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

2.2.1.1. Bậc cao đẳng: có 15 chuyên ngành

  • Khoa âm nhạc có 2 chuyên ngành: Thanh nhạc; Sư phạm âm nhạc.
  • Khoa mỹ thuật có 5 chuyên ngành: Hội họa; Sư phạm mỹ thuật; Đồ họa vi tính; Thiết kế thời trang; Nhiếp ảnh.
  • Khoa sân khấu có 2 chuyên ngành: Đạo diễn; Diễn viên kịch nói.
  • Khoa thông tin có 3 chuyên ngành: Kinh doanh xuất bản phẩm; thông tin – thư viện, thông tin – quảng cáo.
  • Khoa văn hóa và du lịch có 3 chuyên ngành: Bảo tồn – Bảo tàng; Quản lý văn hóa, Hướng dẫn viên văn hóa du lịch.

2.2.1.2. Bậc trung học chuyên nghiệp:

  • Có 5 chuyên ngành, trong đó:
  • Khoa âm nhạc có 2 chuyên ngành: Thanh nhạc; Nhạc cụ (Organ – Guitare – Trống).
  • Khoa mỹ thuật có 2 chuyên ngành: Hội họa; Điêu khắc.
  • Khoa sân khấu có 1 chuyên ngành: Diễn viên kịch nói.
  • Tổng số sinh viên, học sinh hệ theo học chính quy giai đoạn 2000 – 2004 như sau:

2.2.2. Đào tạo hệ không chính quy :

Bên cạnh công tác đào tạo hệ chính quy, trường tiến hành công tác đào tạo hệ không chính quy trên cơ sở liên kết đào tạo với với các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang), ở Tây Nguyên (Đăc Lăc), vùng duyên hải Trung bộ (Khánh Hòa). Số lượng sinh viên hệ không chính quy giai đoạn 2000 – 2003 là 1036 người, với các chuyên ngành sau:

2.2.3. Đánh giá chung: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Số lượng sinh viên của trường tuy không nhiều như ở một số trường cao đẳng, đại học khác (kể cả trường Đại học văn hóa Hà Nội hay Trường Cao đẳng Văn hóa TP. Hồ Chí Minh), có lý do của nó.

Trước hết, địa bàn tuyển sinh theo phân bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo dành cho Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh là rất hạn chế, chủ yếu là tuyển các thí sinh có hộ khẩu thường trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ đến, ngoài nhiệm vụ đào tạo ngành văn hóa, trường phải thực hiện công tác đào tạo các ngành nghệ thuật, với tính chất đặc thù của công tác bồi dưỡng tài năng (những người theo học phải có năng khiếu nghệ thuật), không thể tuyển sinh đại trà. Bên cạnh đó, khi dạy và học lĩnh vực nghệ thuật thường chỉ có một thầy dạy 2 à 3 sinh viên. Tuyển nhiều sinh viên nghệ thuật rất dễ đưa đến tình hình thiếu giảng viên trầm trọng, và chất lượng sẽ hạn chế.

Thông qua kết quả đào tạo, theo thiển ý của chúng tôi, trong những năm qua, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh đã đạt được một số thành tựu và cũng có một số hạn chế nhất định.

2.2.3.1. Một số thành tựu:

Thứ nhất, trường đã hoàn thành nhiệm vụ và chức năng đã được giao. Đã đào tạo được một đội ngũ những người làm công tác văn hóa, quản lý văn hóa và nghệ thuật cho các cơ sở, các đơn vị trong và ngoài ngành văn hóa thông tin. Từ đó, trường đã dần dần khẳng định và nâng cao được vai trò, vị trí của mình trong đời sống văn hóa tinh thần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt với các chuyên ngành quản lý văn hóa, sư phạm âm nhạc và sư phạm mỹ thuật, trường đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ và nhân viên hoạt động văn hóa thiết thực, giải quyết tình trạng khan hiếm những người chuyên tâm hoạt động văn hóa và thiếu giáo viên giảng dạy các môn này ở các trường học. Vì thế, theo tinh thần thông tư liên bộ số 15/TTLB, ngày 21/8/1996, của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Văn hóa và Thông tin, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, đã phối hợp với Sở Văn Hóa và Thông Tin và Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và phương pháp sư phạm âm nhạc và sư phạm mỹ thuật cho một loạt giáo

viên. Thứ hai, thông qua liên kết, phối hợp đào tạo, trường đã tạo được hiệu quả tích cực theo hai chiều: Trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giảng viên thâm nhập thực tế, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn; đồng thời xã hội cũng nhận thức sâu sắc hơn vai trò của văn hóa nghệ thuật và khẳng định vị thế của trường; tạo cho mối quan hệ giữa trường với các đơn vị ngày càng chặt chẽ hơn; uy tín của trường ngày càng tăng.

2.2.3.2. Một số hạn chế: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Trước hết, chất lượng đào tạo và bồi dưỡng chưa cao. Tuy đây là tình hình chung của nền giáo dục nước ta hiện nay, song từ phía chủ quan của từng địa phương, từng trường mà ở đây là Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh cũng cần phải thừa nhận điều này.

Chất lượng đào tạo và bồi dưỡng của trường chưa cao có thể thấy qua nhiều khía cạnh.

  • Kết quả học tập của sinh viên ngày càng khá hơn, tuy nhiên số sinh viên giỏi, xuất sắc không nhiều.
  • Là một đơn vị có điều kiện đào tạo những sinh viên làm công tác nghệ thuật (Biểu diễn, sáng tác) bài bản, hệ thống. Nhưng số sinh viên của trường có mặt tại các cuộc thi do ngành văn hóa nghệ thuật tổ chức không nhiều và kết quả không cao (số đoạt giải khá ít).
  • Sức hút (đầu tư) của trường đối với xã hội chưa mạnh, chưa rộng.

Tiếp theo, phải kể đến, vị thế của trường chưa được khẳng định. Với bề dày một phần tư thế kỷ hoạt động, nhưng ảnh hưởng của trường đối với các tỉnh, thành ở miền Nam nói riêng, cả nước nói chung, hình như chưa tương xứng với tầm của trường. Ngay tiếng nói của trường trong đời sống văn hóa tinh thần của thành phố Hồ Chí Minh không thật nổi trội trong quan hệ so sánh với một số trường cao đẳng, đại học và đơn vị hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật có mặt ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Những hạn chế trong hoạt động đào tạo của trường thời gian qua, có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân xuất phát từ hướng hoạt động quản lý.

2.3. Tình hình quản lý hoạt động đào tạo của trường CĐ VHNT TP.HCM thời gian qua. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Để có cơ sở đánh giá tình hình quản lý hoạt động đào tạo của trường, thiết nghĩ cần đề cập đến những khó khăn và thuận lợi của trường trong quá trình triển khai hoạt động này.

2.3.1. Một số thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý của trường CĐ VHNT TP.HCM

2.3.1.1. Một số thuận lợi:

Trước hết là sự quan tâm đặc biệt của các tổ chức Đảng và Nhà nước ta từ TW đến thành phố. Điều này có thể thấy qua sự ra đời khá sớm và sự nâng cấp nhanh để thành Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật như hôm nay. Thực ra, thuận lợi này bắt nguồn từ vai trò của thành phố Hồ Chí Minh đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Với tư cách là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đầu tư về mọi mặt. Sự ra đời và phát triển của trường CĐ VHNT TP.HCM thể hiện sự quan tâm ấy.

Thứ đến, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có sức hút rất lớn, nhất là trong lĩnh vục kinh tế và văn hóa. Riêng về lĩnh vực văn hóa, thành phố Hồ Chí Minh là nơi văn hóa phát triển nhanh, mạnh và rất sôi động, đồng thời là nơi giao lưu, đón nhận nhanh, nhạy và rộng rãi văn hóa thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi thử thách, nảy sinh những tài năng văn hóa nghệ thuật. Vì thế, các trường đào tạo nghệ thuật đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có trường CĐ VHNT TP.HCM luôn luôn có sức thu hút thí sinh theo nguyên tắc “đất lành chim đậu”.

2.3.1.2. Một số khó khăn:

Thứ nhất, khó khăn đầu tiên và lớn nhất của trường là cùng một lúc phải đảm nhiệm đào tạo và bồi dưỡng theo hai khối : khối văn hóa và khối nghệ thuật (biểu diễn, sáng tác). Chức năng kép này làm cho trường gặp không ít khó khăn về việc tổ chức đội ngũ giảng viên, về việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, về tổ chức hệ thống giáo trình, giáo án, v.v… chẳng hạn, các nghệ sĩ ưu tú thường có khuynh hướng tham gia hoạt động ở các đoàn nghệ thuật hoặc giảng dạy ở các Nhạc viện, các trường đại học mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, tức những đơn vị thiên về chức năng nghệ thuật. Vì thế, có hàng chục nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân giảng dạy ở những đơn vị này, trong khi chỉ có một nghệ sĩ ưu tú giảng dạy ở trường CĐ VHNT TP.HCM.

Thứ hai, hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh có một loạt trường cao đẳng và đại học thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của trung ương và địa phương. Từ đây nảy sinh một thực tế: có sự cạnh tranh trong đào tạo giữa các đơn vị này với nhau. Thông thường, trường nào “có giá” , có nhiều nghệ sĩ có danh tiếng hơn hoặc “đầu ra” thuận lợi hơn cho người học (sinh viên, học viên) sẽ có sức hút mạnh hơn, hấp dẫn người học hơn. Về phương diện này, dù không nói ra, trường CĐ VHNT TP.HCM không có “sức hấp dẫn” như nhiều trường khác. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Thứ ba, đời sống văn hóa tinh thần của thành phố Hồ Chí Minh hết sức đa dạng, phong phú, sôi động và rất phức tạp. Trong bối cảnh ấy, với tư cách là một đơn vị đào tạo văn hóa nghệ thuật của riêng thành phố Hồ Chí Minh, trường CĐ VHNT TP.HCM không dễ gì đáp ứng đầy đủ về văn hóa nghệ thuật của công chúng và đảm nhiệm tốt nhất công việc do ngành giao cho.

2.3.2. Một số kết quả trong công tác quản lý hoạt động đào tạo của trường CĐ VHNT TP.HCM.

Dù gặp nhiều khó khăn như đã nêu, trong công tác quản lý hoạt động đào tạo, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh đã thực hiện được một số kết quả đáng ghi nhận.

  • Trường đã có những điều chỉnh về tổ chức nhân sự, về nội dung, chương trình,… đào tạo mỗi khi trường thay đổi về chức năng, nhiệm vụ do sự nâng cấp trường. Những điều chỉnh này đã tạo điều kiện cho trường hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ chính trị được giao.
  • Mỗi cán bộ, giảng viên, công nhân viên đều xuất phát từ chung một mục đích: phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo, tạo chỗ đứng vững chắc trong quá trình phát triển.
  • Ban giám hiệu tích cực chỉ đạo các phòng chức năng cùng với các khoa xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể, đầy đủ cho từng lớp, từng khoá học, v.v…
  • Thông qua hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học của các khoa, bộ môn, mỗi giảng viên; trên cơ sở mở rộng liên kết đào tạo với các trung tâm, các trường của các địa phương, bước đầu trường đã gắn hoạt động đào tạo và bồi dưỡng của đơn vị với việc giải quyết những vấn đề văn hóa nghệ thuật đặt ra ở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ở xã hội nói chung. Từ đây, vị thế của trường dần được khẳng định.

2.3.3. Một số vấn đề đặt ra về phương diện quản lý đối với trường CĐ VHNT TP.HCM.

Trong những năm gần đây, tuy Trường có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý đào tạo nhưng trên thực tế, công tác quản lý đào tạo của Trường vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, nổi cộm nhất là một số vấn đề sau đây:

2.3.3.1.  Vấn đề về cơ chế quản lý Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Theo ý kiến của bà Lê Tú Cẩm (nguyên Phó Giám đốc Sở Văn Hóa và Thông Tin TP. Hồ Chí Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh) thì hiện nay (tính đến thời điểm cuối tháng 12/2003), vẫn chưa có một cơ chế hoạt động rõ ràng về công tác quản lý trong mối quan hệ giữa trường CĐ VHNT TP.HCM với Sở Văn Hóa và Thông Tin TP. Hồ Chí Minh và với Ủy Ban Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh.

Căn cứ theo quyết định số 564/TTg, ngày 21/8/1996 của Thủ tướng Chính phủ thì Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trực thuộc sự quản lý của Ủy Ban Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh và chịu sự quản lý ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sau đó, Ủy Ban Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh đã giao cho Sở Văn Hóa và Thông Tin TP. Hồ Chí Minh trực tiếp quản lý trường CĐ VHNT TP.HCM. Thế nhưng cho đến nay, trường và Sở Văn Hóa và Thông Tin vẫn chưa xây dựng được quy chế quản lý riêng cho phù hợp với tính chất, chức năng, nhiệm vụ hoạt động v.v… của một cơ sở đào tạo nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, mà vẫn quản lý Trường theo như cách quản lý các đơn vị hành chính sự nghiệp khác trực thuộc Sở Văn Hóa và Thông Tin. Điều này khiến cho các hoạt động của trường thường bị chậm trễ, ách tắc.

2.3.3.2.  Vấn đề nhân sự

Về đội ngũ cán bộ quản lý : Ban giám hiệu :

Trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2003, trường CĐ VHNT TP.HCM có đến ba lần thay đổi hiệu trưởng vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Số lượng các phó hiệu trưởng cũng thay đổi theo.

Năm 1999, Trường có một hiệu trưởng (ông Nguyễn Đức Hữu), hai phó hiệu trưởng (ông Hoàng Đức Tín và ông Huỳnh Quốc Thắng).

Từ năm 1999 đến năm 2002, Trường có một hiệu trưởng (bà Lê Tú Cẩm, Phó Giám đốc Sở Văn Hóa và Thông Tin TP. Hồ Chí Minh kiêm nhiệm), bốn phó hiệu trưởng (Ông Huỳnh Quốc

Thắng, ông Lương Bửu Hoàng, ông Hồ Văn Thành, ông Lê Ngọc Hóa). Năm 2003, Trường có một hiệu trưởng (ông Huỳnh Quốc Thắng), và hai phó hiệu trưởng (ông Lương Bửu Hoàng, ông Lê Ngọc Hóa).

Việc thay đổi nhân sự Ban giám hiệu liên tục như vậy đưa đến hệ quả là các hoạt động của nhà trường không thể giữ được sự ổn định trong một thời gian cần thiết để có thể phát triển.

Về các phòng chức năng: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Đến thời điểm tháng 6/2004, trong số bốn phòng chức năng của Trường, có hai phòng không có trưởng phòng (Phòng Khoa học & Đối ngoại và Phòng Hành chính – Kế toán).

Với lực lượng thiếu thốn như đã nêu, cộng thêm với việc một số cán bộ quản lý được bổ nhiệm xuất thân là giảng viên, chưa hề được đào tạo về nghiệp vụ quản lý, khiến cho hoạt động quản lý của các phòng chức năng chưa được đồng đều, thống nhất và hoạt động lúng túng, kém hiệu quả.

Về các đơn vị đào tạo

Các khoa:

Đầu năm 2004, Trường đã thay đổi, sáp nhập Khoa Văn hóa Du lịch và Khoa Nghiệp vụ văn hóa thành Khoa Văn hóa và Du lịch. Giải thể Khoa Kiến thức đại cương và thành lập 4 Bộ môn.

Như vậy, trong năm 2004, Trường có 5 khoa chuyên môn (Khoa Âm nhạc, Khoa Mỹ thuật,

Khoa Sân khấu, Khoa Văn hóa và Du lịch, Khoa Thông tin), trong số đó có Khoa sân khấu chưa có Trưởng khoa.

Hầu hết các khoa, phòng chưa xây dựng được các văn bản hướng dẫn quy trình tác nghiệp cụ thể. Từ đó dẫn đến việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên chưa thật sự khoa học.

Tổ bộ môn:

Mặc dù chủ trương, định hướng của Ban giám hiệu là xây dựng trường CĐ VHNT TP.HCM theo mô hình Trường 3 cấp: Trường – Khoa – Tổ bộ môn, thế nhưng cho đến nay, chưa có khoa nào thành lập được tổ bộ môn chuyên môn.

Hiện nay, Nhà trường đã giải thể Khoa kiến thức đại cương và thành lập 4 Bộ môn (với khái niệm Bộ môn tương đương với cấp Khoa), đó là :

Bộ môn Triết học Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh Bộ môn kiến thức cơ sở cơ bản Bộ môn Tin học – Ngoại ngữ

Bộ môn nghiệp vụ sư phạm Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Thực chất các Bộ môn này chỉ là nhóm các tổ bộ môn có nội dung gần với nhau mà có thể gọi theo cách khác là các liên tổ bộ môn của các học phần thuộc khối kiến thức đại cương, trước đây được tổ chức gộp chung vào thành Khoa kiến thức đại cương.

Lực lượng giảng viên – Số tiết giảng thực hiện

Số lượng giảng viên:

Tính đến tháng 6/2004, trường có tổng cộng 54 giảng viên. Trong đó có : 03 tiến sĩ (5,56%), 04 thạc sĩ (7,41%), 43 cử nhân (79,63%), 04 người tốt nghiệp bậc cao đẳng, trung học (7,41%).

Với số lượng giảng viên cơ hữu như vậy, so với số lượng 1800 sinh viên, học sinh hiện đang đào tạo (năm 2004), tính trung bình có 33 SV-HS/01 giảng viên, cao hơn gấp 2 lần so với định mức của Bộ Giáo dục và Đào tạo (12 à 15 SV-HS / 01 giảng viên). Số lượng giảng viên cơ hữu (kể cả số cán bộ quản lý kiêm nhiệm) của trường mới chỉ đạt 50% so với yêu cầu. Tất yếu, nhà trường thường xuyên phải thỉnh giảng hơn 100 giảng viên ngoài trường hỗ trợ công tác giảng dạy, khiến cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo của nhà trường luôn luôn bị động.

Số tiết giảng dạy:

Theo kế hoạch đào tạo năm học 2003 – 2004, toàn trường phải thực hiện 55.478 tiết học cho 45 lớp thuộc hệ chính quy.

Như vậy, mỗi lớp phải học trung bình hơn 1.200 tiết/năm. Tổng số tiết học do lực lượng giảng viên cơ hữu của Trường đảm nhận là 27.118 tiết (chiếm tỷ lệ 48,88%). Phần còn lại (chiếm tỷ lệ 51,12%) phải nhờ vào lực lượng giảng viên thỉnh giảng (chưa tính toàn bộ chương trình Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất phải dựa hoàn toàn vào Trường Quân sự thành phố)

Lực lượng giảng viên cơ hữu của các khoa Mỹ thuật, Âm nhạc – có khả năng đảm nhận được hơn 50% số tiết giảng. Lực lượng giảng viên cơ hữu của các khoa: Thông tin, Văn hóa và Du lịch – chỉ đảm nhận được khoảng hơn 30% số tiết giảng.

Riêng Khoa Sân khấu, chỉ có 2 giảng viên cơ hữu, phải dạy khoảng hơn 1.000 tiết/người/năm học, tức là gần bằng với tổng số tiết học cả năm của một lớp. Điều đó phản ánh tính không khoa học của chương trình đào tạo các lớp thuộc Khoa sân khấu.

Việc thiếu lực lượng giảng viên cơ hữu dẫn đến hậu quả là các khoa, bộ môn thường xuyên bị lúng túng, bị động, chậm trễ trong công tác thực hiện kế hoạch đào tạo. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

2.3.3.3. Công tác tuyển sinh:

Công tác tuyển sinh của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong những năm gần đây được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ, tuân thủ đầy đủ các quy chế, quy định về công tác tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Nhìn chung, các kỳ thi tuyển sinh những năm gần đây của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh được chuẩn bị chu đáo từ khâu nhận hồ sơ cho đến khâu tổ chức thi. Các quy trình công tác tổ chức thi được thực hiện chặt chẽ, đúng quy chế và bảo đảm an toàn, chính xác. Lãnh đạo nhà trường sớm đề ra kế hoạch cho công tác tuyển sinh, tích cực, sâu sát, kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh trong suốt thời gian chuẩn bị và tổ chức thi. Công tác tập huấn cán bộ coi thi được đặc biệt coi trọng. Tài liệu hướng dẫn công tác coi thi được thực hiện chi tiết, chặt chẽ. Các loại biểu mẫu biên bản xử lý vi phạm quy chế được chuẩn bị kỹ lưỡng, dự kiến tối đa các tình huống, khả năng tiêu cực có thể xảy ra và chuẩn bị sẵn các phương án, biện pháp xử lý. Các cán bộ coi thi và thí sinh được phổ biến quy chế, nội quy phòng thi một cách đầy đủ, nghiêm túc, đồng thời kết hợp với các biện pháp tuyên truyền trực quan tại các phòng thi nên ít xảy ra tình trạng vi phạm quy chế thi.

Số lượng thí sinh đăng ký dự thi vào trường ngày càng tăng, cụ thể như sau:

Tuy nhiên, từ năm 1999 đến năm 2003, chỉ có năm 2001 Trường hoàn thành chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy được Nhà nước giao. Tính chung, tỷ lệ giữa số sinh viên, học sinh nhập học năm thứ nhất chỉ đạt 82,68% so với chỉ tiêu được giao. Trong một vài năm gần đây, công tác tuyển sinh của trường luôn bị động, chậm trễ do văn bản quyết định giao chỉ tiêu tuyển sinh cho trường phải đi qua rất nhiều khâu trung gian mà cơ chế quản lý nhà nước đã tạo ra.

2.3.3.4. Vấn đề về nội dung đào tạo

2.3.3.4.1. Chương trình đào tạo:

Chương trình đào tạo của trường vẫn chưa có tính pháp lý, vì chưa có sự phê duyệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường tự ban hành các chương trình khung (Curriculum Standard) của các ngành học trong trường một cách tùy tiện, biểu hiện ở chỗ: tên một số môn học, số tiết, số đơn vị học trình, v.v… không đúng theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Số tiết học tại lớp của một số ngành quá lớn (4.500 tiết/ 3 năm), vượt khung quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khiến cho sinh viên không còn thời gian tự học và tham gia các sinh hoạt khác. Về mặt lý thuyết, có thể có tối đa 60 tiết học/tuần (10 tiết/ngày x 6 ngày/tuần), và các khoa thường bố trí cho giảng viên lên lớp từ 40 à 48 tiết/tuần. Hệ quả tất yếu là sinh viên, học sinh không còn thời gian để tự học và chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Trong số 280 sinh viên được thăm dò, có tới 235 sinh viên (83,91%) chỉ tự học dưới 20giờ/tuần, trong khi phải học từ 40 à 48 giờ/tuần tại lớp.

Trong khi đó, nếu căn cứ theo chuẩn (đã được quy định tại mục 4, điều 1 của qui chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp cho các hệ đào tạo Đại học và Cao đẳng chính quy, được ban hành kèm theo quyết định số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/02/1999 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì thời gian tự học của sinh viên phải tương đương với thời gian học có sự hướng dẫn của giảng viên ở tại lớp. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

2.3.3.4.2. Nội dung – kết cấu chương trình đào tạo :

Nội dung chương trình đào tạo:

Nội dung chương trình đào tạo của các môn học, ngành học chưa được xây dựng một cách khoa học, một số môn học chưa xác định được mục tiêu đào tạo một cách rõ ràng, chưa có tính pháp lý. Chính vì chưa xây dựng được nội dung chương trình đào tạo nên không phân định được số tiết học tại lớp và số tiết sinh viên phải tự học trong tổng số tiết mà chương trình đào tạo đưa ra. Thậm chí, chương trình đào tạo cũng chưa phân định được một cách rõ ràng số tiết lý thuyết và số tiết thực hành của từng môn học.

Vì vậy, đã có hiện tượng mỗi giảng viên dạy theo một nội dung khác nhau, mặc dù cùng là một học phần, và nếu giảng viên A dạy mà giảng viên B ra đề thi thì sinh viên sẽ không làm được bài thi. Do mục tiêu đào tạo môn học thanh nhạc không rõ ràng đã dẫn đến sự bất đồng trong số các giảng viên dạy chuyên môn thanh nhạc và kết quả là mỗi giảng viên dạy một kiểu.

Kết cấu chương trình đào tạo:

Việc phân bổ trình tự thực hiện giảng dạy các học phần vẫn còn qua loa, đại khái, chưa có tính khoa học, tính hệ thống, tính kế thừa, dẫn đến việc một số học phần bị triển khai không đúng trình tự, không phù hợp. Một số môn học có số tiết học nhiều như: Thanh nhạc, Hội họa, Trang trí, Kỹ thuật biểu diễn, v.v… chưa được phân chia nội dung đào tạo thành các học phần một cách khoa học, theo đúng quy định trong quy chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp cho các hệ đào tạo Đại học và Cao đẳng chính quy.

Kế hoạch đào tạo:

Do sự yêu cầu quyết liệt của Ban giám hiệu và Phòng Đào Tạo, các khoa cũng buộc phải cố gắng làm cho xong kế hoạch đào tạo hàng năm cho từng lớp. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

Tuy nhiên, kế hoạch mà các khoa xây dựng chưa có tính khả thi cao. Hệ quả là thời gian kết thúc học kỳ và kết thúc năm học luôn bị chậm so với yêu cầu. Thậm chí, có khoa không thể hoàn thành kế hoạch dạy học.

Hiệu quả công tác đào tạo:

Thống kê kết quả đào tạo hệ chính quy từ năm 1998 đến năm 2003 của trường CĐ VHNT TP.HCM như sau :

  • Tổng chỉ tiêu Nhà nước giao : 996
  • Tổng số SV-HS nhập học năm thứ nhất : 696
  • Tổng số SV-HS tốt nghiệp : 467

Sau quá trình đào tạo, tỷ lệ số sinh viên, học sinh đạt yêu cầu tốt nghiệp là 67,1% so với số sinh viên, học sinh nhập học năm thứ nhất.

Nếu so sánh với chỉ tiêu Nhà nước giao cho Trường thì tỷ lệ này chỉ đạt 46,89%.

Công tác nghiên cứu khoa học:

Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến công tác nghiên cứu khoa học. Trường CĐ VHNT TP.HCM thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm về các vấn đề khoa học mà nhà trường và xã hội đang quan tâm. Một số giảng viên của nhà trường có tham gia vào công tác nghiên cứu các đề tài khoa học của Sở Văn Hóa và Thông Tin TP. Hồ Chí Minh và của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm gần đây, nhà trường rất quan tâm, khuyến khích sinh viên tập nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện cho các sinh viên có kết quả học tập toàn khóa từ loại khá trở lên được làm luận văn tốt nghiệp. Tuy nhiên, kể từ khi Trường được nâng cấp lên bậc cao đẳng, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học độc lập từ cấp Trường trở lên. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp công tác quản lý đào tạo của trường cao đẳng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường cao đẳng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993