Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành
Trường Đại học Kinh tế trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 290/QĐ-TTg ngày 6/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Trường đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi lịch sử và có khởi nguyên từ Khoa Kinh tế Chính trị thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1974; Tháng 9/1995: Khoa Kinh tế trực thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội; Tháng 7/1999: Khoa Kinh tế trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong suốt chặng đường hình thành và phát triển, Trường Đại học Kinh tế không ngừng nâng cao chất lượng về đào tạo, nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác nhằm hướng tới mục tiêu trở thành một trường đại học định hướng nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh. Trường Đại học Kinh tế đã được xã hội biết đến như là một trường đại học trẻ, năng động, có tầm nhìn và quyết tâm phát triển theo hướng chất lượng và đẳng cấp quốc tế. Vị thế và uy tín của Nhà trường đang dần được củng cố và nâng cao.
Chiến lược và sứ mệnh thiêng liêng của Nhà trường luôn gắn với 4 giá trị cốt lõi: Khuyến khích sáng tạo, nuôi dưỡng say mê; Tôn trọng sự khác biệt, thúc đẩy hợp tác; Coi trọng chất lượng, hiệu quả; Đảm bảo hài hòa, phát triển bền vững. Đây là nền tảng vững chắc để các thế hệ giảng viên tài năng, tâm huyết và trách nhiệm tiếp tục vun đắp tạo nên những thành công mới, nâng cao các chỉ số xếp hạng, tăng trưởng chất lượng đào tạo và nghiên cứu, tạo dựng một cơ sở học thuật tiện ích, kết nối tối ưu hiệu quả các nguồn lực và giải pháp công nghệ để chuyên nghiệp hóa công tác quản trị đại học.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất
- Cơ cấu tổ chức
Ngoài Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Ban Giám hiệu và các tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể, Trường Đại học Kinh tế có 24 đơn vị chức năng, gồm: 06 đơn vị đào tạo (khoa/viện), 11 đơn vị chức năng (phòng/bộ phận) và 07 đơn vị nghiên cứu (02 viện và 05 trung tâm). Cơ cấu tổ chức của Trường được thực hiện theo quy định của Điều lệ Trường đại học và quy định về tổ chức và hoạt động của đơn vị thành viên trong Đại học Quốc gia Hà Nội và được cụ thể hóa tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường. Cụ thể, cơ cấu tổ chức của Trường như sau: Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Hội đồng Khoa học và Đào tạo
- Ban Giám hiệu
Các tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể:
- Đảng bộ
- Công đoàn
- Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
- Hội Sinh viên
- Hội Cựu sinh viên
Các Khoa và Viện đào tạo :
- Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Khoa Kinh tế Chính trị
- Khoa Kinh tế Phát triển
- Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
- Khoa Tài chính Ngân hàng
- Viện Quản trị Kinh doanh
Các phòng/bộ phận/trung tâm chức năng:
- Phòng Tổ chức nhân sự
- Phòng Hành chính – Tổng hợp
- Phòng Đào tạo
- Phòng Nghiên cứu khoa học và Hợp tác phát triển
- Phòng Kế hoạch – Tài chính
- Phòng Thanh tra và Pháp chế
- Phòng truyền thông và quản trị thương hiệu
- Bộ phận Tạp chí – Xuất bản
- Trung tâm Đảm bảo chất lượng giáo dục
- Trung tâm Hệ thống thông tin kinh tế và quản lý
- Phòng Tuyển sinh
Các trung tâm/viện trực thuộc:
- Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Phát triển
- Trung tâm Đào tạo và Giáo dục Quốc tế
- Trung tâm Nghiên cứu Quản trị kinh doanh
- Trung tâm Dữ liệu và phân tích kinh tế – xã hội
- Trung tâm Hệ thống thông tin quản lý
- Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách
- Viện Giáo dục kỹ năng và trí tuệ sáng tạo
Nguồn nhân lực: Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Tính đến nay, tổng số cán bộ của Trường Đại học Kinh tế là 215 người, gồm 135 giảng viên và 106 cán bộ khối hành chính, văn phòng.
ĐNGV của Trường hiện có 01 giáo sư, 27 phó giáo sư, 65 tiến sĩ, 42 thạc sĩ. Hầu hết GV của trường đều được đào tạo từ các cơ sở có uy tín trong và ngoài nước, có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học cũng như thực tế tại các doanh nghiệp. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.1: Thống kê số GV cơ hữu và thỉnh giảng theo chức danh
ĐNGV của Trường luôn đảm bảo trình độ ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ đào tạo và Nghiên cứu khoa học, với hơn 50% trong tổng số GV của Trường có thể giảng dạy bằng tiếng Anh, 100% giảng viên sử dụng thành thạo tin học phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu.
Ngoài ra, trên cơ sở thực hiện và ký kết các thỏa thuận hợp tác trong đào tạo và Nghiên cứu khoa học, nhà trường còn có thêm các giáo sư, chuyên gia nước ngoài đến thực hiện nghiên cứu, trao đổi và giảng dạy dài hạn (trong 1 học kỳ hoặc 1 năm học). Nổi bật có sự tham gia tư vấn, giảng dạy và hợp tác nghiên cứu của GV đến từ Đại học Alberta, Canada; nghiên cứu sinh trường Đại học Gottingen, Đức, Đại học Kinh tế Cracow, Ba Lan, giảng viên Đại học Waseda, ĐH Quốc gia Yokohama, Chuyên gia từ Ủy ban Châu Âu;.. nên số lượng GV hiện có của Trường đảm nhận tốt việc giảng dạy theo kế hoạch và Nghiên cứu khoa học trên tổng quy mô đào tạo của Trường.
Mặt khác, đội ngũ cán bộ quản lý của trường Đại học Kinh tế bao gồm 42 cán bộ (lãnh đạo từ cấp khoa và cấp phòng/bộ phận/trung tâm), trong đó có 12 PGS, 14 TS, 16 ThS; 23 cán bộ quản lý giữ chức danh nghề nghiệp GV; 19 cán bộ quản lý giữ ngạch chuyên viên. Đội ngũ Cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, số lượng cán bộ có trình độ tiến sĩ chiếm tỷ trọng lớn, hơn 70% tổng số Cán bộ quản lý của Nhà trường.
- Cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Trường Đại học Kinh tế có một hệ thống Cơ sở vật chất đem lại hiệu quả cao trong việc phục vụ cho các hoạt động đào tạo và các hoạt động khác của Nhà trường, đáp ứng được nhu cầu của CBVC, giảng viên và người học trong toàn Trường. Với lợi thế được khai thác và dùng chung hệ thống thư viện của Đại học Quốc gia Hà Nội, GV và người học của Trường Đại học Kinh tế đã được khai thác và tra cứu tối đa các thông tin, dữ liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và Nghiên cứu khoa học.
Hiện nay, Nhà trường đã đưa vào sử dụng 04 khu giảng đường gồm: (1) Giảng đường tại Trường THCS và THPT Việt – Úc Hà Nội gồm (2) giảng đường 1 tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên – Đại học Quốc gia Hà Nội (3) giảng đường E4 – 144 Xuân Thủy (4) giảng đường tại 109 đường Hồ Tùng Mậu. Tổng số phòng học tại 04 khu giảng đường là 51 phòng học. Số lượng và diện tích các phòng học của 04 khu giảng đường đều phù hợp với quy mô đào tạo hiện nay của Trường.
Hiện nay, 100% các phòng học của Trường đã được đầu tư đồng bộ với các trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy như: thiết bị âm thanh có sử dụng micro không dây đa kênh, công suất phù hợp với quy mô và diện tích từng lớp học; thiết bị trình chiếu hiện đại với màn chiếu được gắn cố định và máy chiếu có cường độ sáng đảm bảo cho việc trình chiếu bài giảng bằng slide; hệ thống wifi kết nối internet,… 100% phòng học đã được lắp đặt điều hòa treo tường công suất phù hợp với diện tích của từng phòng học. Các trang thiết bị phục vụ dạy và học được Trường đầu tư đồng bộ, hiện đại, có chất lượng; công tác hỗ trợ người dùng (CBVC, GV, người học…) luôn kịp thời.
Là trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, nên Trường Đại học Kinh tế được sử dụng Cơ sở vật chất chung trong toàn Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó có Trung tâm Thông tin – Thư viện – đơn vị phục vụ sự nghiệp trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (địa chỉ truy cập: http://www.lic.vnu.edu.vn).
Với nguồn lực hiện có được Đại học Quốc gia Hà Nội đầu tư để không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ thông tin và tư liệu. Trung tâm Thông tin – Thư viện có 5 máy chủ, hơn 100 máy trạm và tủ quang 76 giá đĩa (mỗi đĩa 9.1 GB) cho phép lưu trữ và vận hành hệ thống thư viện phục vụ tốt nhu cầu người dùng. Hiện tại, Trung tâm Thông tin – Thư viện đáp ứng đủ đầu giáo trình cho khối kiến thức chung và một phần giáo trình cho khối kiến thức cơ sở ngành.
- Bảng 2.2 Thống kê về học liệu (giáo trình, học liệu, tài liệu, sách tham khảo, tạp chí, kể cả e-book, cơ sở dữ liệu điện tử) trong thư viện
Bên cạnh đó, tại Trường hiện có 1.909 đầu sách, tài liệu trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, trong đó có 480 đầu sách tiếng Anh, chưa kể hệ thống luận văn, luận án được lưu trữ. Đối với một số chương trình đặc thù như Chương trình đào tạo cử nhân KTQT hệ CLC, cử nhân TCNH hệ CLC, cử nhân QTKD hệ đạt trình độ quốc tế, nguồn học liệu được lựa chọn, cung cấp từ các nhà xuất bản uy tín ở cả trong và ngoài nước. Thư viện tài nguyên số D’space tích hợp tra cứu thông tin trên trang web của Trường được duy trì và thường xuyên cập nhật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu của cán bộ, giảng viên và người học với 14.481 đầu sách, giáo trình, văn bản, công trình khoa học, luận văn luận án, … phục vụ công tác đào tạo và NCKH trong toàn trường.
2.1.3. Các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Hoạt động đào tạo, Nghiên cứu khoa học, hợp tác phát triển là một trong những hoạt động nổi bật của trường Đại học Kinh tế. Những hoạt động này đã bước đầu đạt được một số thành tựu cơ bản, tạo nền tảng để trường tiếp tục phát triển đột phá theo hướng chất lượng và hiệu quả:
Về đào tạo, Trường Đại học Kinh tế đang triển khai đào tạo 08 ngành đào tạo bậc cử nhân, 11 ngành đào tạo bậc thạc sĩ, 05 ngành đào tạo bậc tiến sĩ; trong đó có 01 ngành đào tạo bậc đại học và 2 ngành đào tạo bậc thạc sĩ liên kết với nước ngoài.
- Bảng 2.3: Tổng hợp các Chương trình đào tạo đang đào tạo tại trường Đại học Kinh tế
Về Nghiên cứu khoa học, hoạt động Nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Kinh tế được phát triển theo hai hướng chính: Nghiên cứu phục vụ nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu phục vụ tư vấn chính sách và doanh nghiệp, trong đó tập trung vào 3 lĩnh vực chính là: kinh tế vĩ mô; phát triển bền vững; phát triển ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp.
Trường đã và đang thực hiện nhiều dự án/đề án nghiên cứu với các nước trong khu vực và trên thế giới với sự tham gia của các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu trong nhiều lĩnh vực. Thông qua các mạng lưới nghiên cứu quốc tế, Trường đã và đang tạo ra một môi trường học thuật bổ ích, giúp các nhà nghiên cứu Việt Nam chủ động trao đổi, giao lưu tri thức với các đồng nghiệp trong mạng lưới nghiên cứu quốc tế; đồng thời thu hút được nhiều diễn giả quốc tế đến trường tham gia hội thảo, trao đổi học thuật và làm việc.
Về hợp tác, Trường Đại học Kinh tế đã xây dựng được một hệ thống gồm gần 50 đối tác chiến lược trong nước tập trung hỗ trợ học bổng, thực tập – thực tế cho sinh viên; đào tạo ngắn hạn và dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp đối tác. Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế cũng là nhân tố quan trọng góp phần tích cực vào quá trình phát triển của Trường Đại học Kinh tế. Đến nay, Nhà trường đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác với hơn 30 trường đại học, viện nghiên cứu thuộc 13 quốc gia và vùng lãnh thổ về trao đổi sinh viên, giảng viên, đào tạo và hợp tác nghiên cứu.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.2.1. Xây dựng các mẫu phiếu khảo sát
Bộ công cụ sử dụng để khảo sát thực trạng gồm phiếu trưng cầu ý kiến để tìm hiểu về nhận thức, ý kiến đánh giá và ý kiến đóng góp của GV, Cán bộ quản lý và chuyên viên về các nội dung của vấn đề nghiên cứu.
Kết cấu nội dung phiếu hỏi như sau:
- Phần I: Thông tin cá nhân, bao gồm: tuổi, số năm công tác, trình độ đào tạo, vị trí đảm nhiệm.
- Phần II: Đánh giá về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo, bao gồm: đánh giá mức độ hiểu biết về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo, đánh giá về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của trường Đại học Kinh tế, đánh giá các giải pháp hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế (xem chi tiết phụ lục 1)
2.2.2. Tổ chức khảo sát
Thu thập kết quả trưng cầu ý kiến: Tác giả tiến hành phát phiếu hỏi đến 100 GV, Cán bộ quản lý và chuyên viên. Kết quả thu về có 88 phiếu hợp lệ.
Khảo sát thực trạng qua việc trao đổi trực tiếp với Cán bộ quản lý, GV và chuyên viên: thông qua việc phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với Cán bộ quản lý, GV và chuyên viên để làm rõ hơn thực trạng và thu thập các ý kiến đề xuất về các vấn đề nghiên cứu.
2.2.3. Xử lý số liệu
Luận văn sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các phiếu điều tra thu được; lựa chọn các số liệu để phân tích, so sánh, xây dựng các biểu đồ, sơ đồ, bảng phục vụ cho việc nghiên cứu. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.3. Thực trạng các thành tố đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
2.3.1 Công tác tuyển sinh
Giai đoạn 2021 – 2025, công tác tuyển sinh được Nhà trường đặc biệt coi trọng. Đảng ủy, Ban Giám hiệu đã chỉ đạo sát sao trong việc đổi mới, đột phá căn bản trong công tác tuyển sinh của Nhà trường. Xuất phát từ chủ trương trên, bộ phận tuyển sinh nay là phòng Tuyển sinh được thành lập 2024 đã đưa công tác tuyển sinh, đặc biệt là công tác truyền thông và tư vấn trở nên chuyên nghiệp, với các hình thức đa dạng và cập nhật. Thông qua đó, thương hiệu Trường Đại học Kinh tế đến gần hơn và xã hội nói chung, thí sinh và phụ huynh nói riêng. Cụ thể:
- Một là số lượng nhập học.
Giai đoạn 2021 – 2025, số lượng SV chính quy tăng vượt bậc qua từng năm.
Hầu hết số lượng nhập học đều vượt chỉ tiêu đặt ra, đặc biệt là năm 2022. Cụ thể:
Bảng 2.4 Tổng hợp chỉ tiêu tuyển sinh và số lượng nhập học các năm
Năm 2025, nhà trường tăng chỉ tiêu tuyển sinh từ 950 (năm 2024) lên 1200.
Chỉ tiêu tuyển sinh tăng vừa tạo áp lực trong công tác tạo nguồn, thu hút thí sinh nhưng đồng thời tạo điều kiện để nhà trường tăng quy mô đào tạo, tăng nguồn thu. Với số thí sinh nhập học/chỉ tiêu là 1301/1200 đạt 108%, Nhà trường có thêm sự tự tin để điều chỉnh tăng quy mô tuyển sinh trong năm tiếp theo.
Về cơ bản, công tác tuyển sinh đại học trong những năm qua đã thành công, tạo tiền đề cho các hoạt động tuyển sinh trong năm tiếp theo và tạo động lực phát triển cho những hoạt động khác của Nhà trường.
- Hai là hình thức tuyển sinh Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Các hình thức tuyển sinh đại học của Nhà trường phong phú, đa dạng với các hình thức sau:
- Giai đoạn 2021 – 2022: tổ chức thi đánh giá năng lực, xét tuyển thẳng THPT chuyên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và xét tuyển thí sinh dự bị đại học.
- Năm 2023: xét tuyển thẳng, xét tuyển theo kết quả thi THPT quốc gia, xét tuyển theo kết quả thi đánh giá năng lực, xét tuyển theo diện dự bị đại học.
- Giai đoạn 2024 – 2025: xét tuyển thẳng học sinh THPT chuyên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, xét tuyển theo kết quả thi THPT quốc gia, xét tuyển theo kết quả thi đánh giá năng lực, xét tuyển theo diện dự bị đại học, xét tuyển diện ưu tuyển xét tuyển, xét tuyển diện kết quả SAT, xét tuyển diện kết quả A-level, xét tuyển diện đối tượng 30a.
Nhìn chung, các hình thức tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế đa dạng theo từng năm. Với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế, Nhà trường đã tăng cường áp dụng các hình thức tuyển sinh siết chặt đầu vào ngoại ngữ của thí sinh với các hình thức xét tuyển các chứng chỉ quốc tế.
- Ba là công tác nhập học
Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi nhất cho SV như: xây dựng quy trình nhập học, hỗ trợ SV đăng ký ký túc xá, hỗ trợ khám sức khỏe; tư vấn, giải đáp các thắc mắc cho phụ huynh và SV. Ngoài ra đối với những SV không thể đến nhập học đúng ngày đón tiếp, Nhà trường tiếp tục tạo điều kiện cho SV nhập học trong vòng 15 ngày.
2.3.2 Chương trình đào tạo Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Các Chương trình đào tạo cử nhân của Trường Đại học Kinh tế luôn được xây dựng trên cơ sở quy định chung của Bộ GD&ĐT, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu giáo dục và chức năng, nhiệm vụ của Nhà trường, đồng thời gắn với nhu cầu học tập của người học, nhu cầu về nguồn nhân lực của thị trường lao động, của các tổ chức, hội nghề nghiệp và của xã hội. Các Chương trình đào tạo được định kỳ bổ sung, điều chỉnh và thiết kế theo hướng liên thông hợp lý giữa các trình độ, các phương thức đào tạo trong trường, với các Chương trình đào tạo trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh ở trong nước, đã hướng đến sự liên thông với các chương trình tiên tiến ở nước ngoài.
- Một là số lượng Chương trình đào tạo hệ đại học
Tính đến năm học 2024 – 2025, Trường Đại học Kinh tế tổ chức đào tạo 13 Chương trình đào tạo bậc đại học, trong đó có 06 Chương trình đào tạo chuẩn (các ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển, Kế toán, Kinh tế quốc tế, Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng), 01 Chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế (ngành Quản trị Kinh doanh) và 02 Chương trình đào tạo CLC (các ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính – Ngân hàng), 04 Chương trình đào tạo CLC thu học phí theo chi phí đào tạo và Đảm bảo chất lượng đáp ứng Thông tư 23/2020/TT-BGDĐT (CLC TT23) (các ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Tài chính – Ngân hàng, Kế toán).
- Hai là xây dựng, điều chỉnh Chương trình đào tạo
Các Chương trình đào tạo mở mới khi xây dựng đều có sự tham gia của người học, GV, Cán bộ quản lý, đại diện các tổ chức và các nhà tuyển dụng, các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan. Nhà trường đã chú trọng hơn và cụ thể hóa một phần các ý kiến đánh giá của các nhà tuyển dụng lao động trong việc định hướng nghề nghiệp, tăng cường tính trải nghiệm thực tế cho người học và các yêu cầu Chuẩn đầu ra về kiến thức và kỹ năng của các học phần trong khung chương trình vào điều chỉnh và xây dựng các Chương trình đào tạo, đặc biệt là một số các Chương trình đào tạo CLC theo thông tư 23 (Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Tài chính – Ngân hàng, Kế toán, Kinh tế) Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Đối với hoạt động điều chỉnh Chương trình đào tạo, các sự điều chỉnh đều có sự tham khảo, đối chiếu nội dung với các Chương trình đào tạo của các trường đại học tiên tiến trong lĩnh vực tương ứng có thứ hạng trong tốp 500 trường đại học thế giới, các ý kiến đánh giá của các bên liên quan (người học, người dạy, nhà tuyển dụng lao động, các nhà quản lý, các chuyên gia trong lĩnh vực tương ứng,…). Bên cạnh đó, Chương trình đào tạo được định kỳ đánh giá và thực hiện cải tiến chất lượng dựa trên kết quả đánh giá định kỳ của SV sắp tốt nghiệp, SV đã tốt nghiệp và nhà sử dụng lao động.
Một số đánh giá của các bên liên quan về các Chương trình đào tạo của Nhà trường qua các năm như sau:
- Bảng 2.5: Tỷ lệ đánh giá đồng ý và hoàn toàn đồng ý của SV năm cuối các khóa về Chương trình đào tạo
Có thể thấy, hầu hết các tiêu chí liên quan đến nội dung Chương trình đào tạo đều được SV đánh giá cao với tỷ lệ > 50% đồng ý và hoàn toàn đồng ý. Xét trong các tiêu chí trên, chương trình học có tỷ lệ phân bố giữa khối kiến thức lý thuyết và thực hành hợp lý và nội dung Chương trình đào tạo theo định hướng thực hành/thực tế là 02 tiêu chí được đánh giá thấp nhất.
Tất cả các Chương trình đào tạo của Trường Đại học Kinh tế đảm bảo đáp ứng được những tiêu chí cơ bản trong xây dựng và hoàn thiện Chương trình đào tạo như minh bạch hóa mục tiêu đào tạo, khung chương trình đáp ứng yêu cầu về chuẩn đầu ra của Chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của thị trường,… và được thông qua bởi Hội đồng nghiệm thu cấp Trường và cấp Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhà trường đã triển khai một số hoạt động sau:
- Rà soát lại ma trận Chuẩn đầu ra, nên ghi rõ mức độ đạt được (thấp, trung bình, cao) trên ma trận Chuẩn đầu ra cũng như biểu diễn ma trận Chuẩn đầu ra theo từng học kỳ để thể hiện sự hợp lý trong việc hình thành và phát triển các kiến thức và kỹ năng của sinh viên.
- Rà soát lại các Chuẩn đầu ra, sử dụng các động từ hành động thuận lợi cho việc đánh giá.
- Rà soát lại số lượng các Chuẩn đầu ra ở mỗi môn học nhằm đảm bảo có thể đánh giá được mức độ đạt các Chuẩn đầu ra dưới nhiều hình thức mà không làm tăng tải việc thi cử.
Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của người học cũng như không ngừng nâng cao chất lượng cung cấp các kiến thức cần thiết về ngành học cho SV, Nhà trường cần lưu ý việc rà soát, thiết kế lại chương trình học, đặc biệt chú trọng hơn nữa việc tăng thời lượng thực hành/thực tế của các môn học nhằm giúp SV hiểu rõ về học phần cũng như ngành học.
- Ba là kiểm định Chương trình đào tạo.
Trong giai đoạn 2021 – 2025, trường Đại học Kinh tế đã triển khai thực hiện kiểm định chất lượng 04 Chương trình đào tạo đang đào tạo theo tiêu chuẩn AUN-QA và chuẩn chất lượng Chương trình đào tạo của Bộ GD&ĐT. Cụ thể: Quản trị Kinh doanh đạt chuẩn quốc tế (theo tiêu chuẩn AUN), Tài chính – Ngân hàng CLC, Kế toán và Kinh tế (theo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT). Ngoài ra, Nhà trường đang tiến hành viết báo cáo tự đánh giá để kiểm định chất lượng Chương trình đào tạo Kinh tế Phát triển theo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Các Chương trình đào tạo được đánh giá đều đạt được đánh giá cao, chỉ số cụ thể như sau:
- Bảng 2.6 : Tổng hợp các Chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng
Theo quy định của Thông tư số 23/2020/TT-BGDĐT ngày 18/07/2020 Thông tư ban hành quy định về đào tạo chất lượng cao trình độ đại học của Bộ GD&ĐT, Cơ sở giáo dục thực hiện đăng ký kiểm định sau khi có 02 khoá tốt nghiệp. Như vậy, trường Đại học Kinh tế mới chỉ tuyển sinh chương trình này từ năm 2022 nên chưa thực hiện đăng ký kiểm định đối với các Chương trình đào tạo CLC đáp ứng TT 23.
2.3.3 Hoạt động dạy học
Với quan điểm “lấy người học làm trung tâm”, hoạt động dạy học của các GV tại trường Đại học Kinh tế luôn phải gắn với trải nghiệm qua thực tế. Vì vậy các hoạt động dạy học của GV tại trường Đại học Kinh tế được thiết kế theo hướng giảm giờ lý thuyết, tăng giờ thảo luận, học tập tiếp cận thực tế tại cơ quan quản lý Nhà nước, Viện, các Trung tâm nghiên cứu hoặc các tổ chức dự án, doanh nghiệp hoặc dự án, tổ chức phát triển tại các địa phương… và hướng tới việc học tập chủ động, giúp SV chủ động tiếp thu kiến thức và áp dụng vào thực tiễn. Các hoạt động dạy và học được xây dựng dưới 3 hình thức chính: (i) các lớp học tập trung, (ii) đi thực tập thực tế tại doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, (iii) thực hiện niên luận và khóa luận tốt nghiệp.
Về phương pháp giảng dạy của GV, để thúc đẩy năng lực tự học và học tập suốt đời cho SV, các PPGD của GV tập trung vào cách tư duy, phân tích và tổng hợp vấn đề, đề xuất ý tưởng qua các bài tập tình huống, phương pháp học tập theo dự án… Trên lớp, GV chỉ tập trung vào các nội dung cốt lõi, các nội dung khác SV có thể được yêu cầu học theo hướng dẫn của GV. Bài giảng các học phần thường được GV gửi vào mail lớp hoặc đăng tải trên web trường, sinh viên có thể thông qua cổng thông tin học tập trực tuyến hoặc mail lớp để tải tài liệu về nghiên cứu sâu thêm. Cách làm này giúp SV hình thành thói quen tự nghiên cứu, tìm hiểu và phát hiện vấn đề và có thể tự học một phần nào đó ngay cả khi không có GV. Bên cạnh đó, việc thực hiện bài tập nhóm, thuyết trình trên lớp, hay thảo luận nhóm giúp SV phát triển tư duy, tìm tòi khám phá, phát triển kiến thức. Khi làm bài tập nhóm SV được rèn luyện kỹ năng nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và chắt lọc thông tin, kỹ năng trình bày báo cáo thông qua sử dụng phần mềm tin học, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng truyền đạt kiến thức của mình cho người khác, kỹ năng thuyết trình trước đám đông. Với mỗi học phần, SV cần sử dụng 2-3 giáo trình bắt buộc và các giáo trình tham khảo. Việc này sẽ giúp cho SV phải đọc nhiều hơn, có sự đối sánh giữa các giáo trình khác nhau, tiếp cận nhiều góc độ khác nhau với cùng một nội dung vấn đề. Bởi vậy, SV sẽ tăng tính tư duy và phản biện, đồng thời sẽ duy trì và thúc đẩy khả năng tự học và tìm tòi cái mới.
Về hỗ trợ học tập, các báo cáo thực tập thực tế, niên luận, khóa luận hay Nghiên cứu khoa học của SV đều được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV. Trước khi triển khai, các Khoa/Viện đều tổ chức gặp mặt SV để các GV có thể chia sẻ kinh nghiệm, định hướng nghiên cứu/thực tập cho SV. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Bên cạnh đó, để đảm bảo người học có được sự hỗ trợ tốt nhất từ GV, cán bộ Nhà trường trong quá trình học tập, Nhà trường tổ chức lấy ý kiến đánh giá của SV về hoạt động giảng dạy của GV để đảm bảo rằng (i) các phương pháp dạy học khuyến khích SV tự học, tự khám phá kiến thức; (ii) SV được tạo điều kiện phát triển các kỹ năng nghề nghiệp có liên quan đến học phần; và (iii) được định hướng học tập, phát triển tư duy logic và tính sáng tạo… Nhìn chung, phương pháp dạy học của GV được SV đánh giá cao. Trên cơ sở thông tin đánh giá của SV, GV tham gia giảng dạy và BCN Khoa chủ động đề xuất các phương pháp giảng dạy cải tiến nhằm giúp SV phát triển kiến thức thực tế và kỹ năng nghề nghiệp. Các thông tin này cũng là nguồn thông tin thứ cấp phục vụ cho việc rà soát điều chỉnh chương trình, đề cương học phần, trọng số nội dung và cấu trúc đề thi… Cụ thể trong những năm qua SV đánh giá như sau:
- Bảng 2.7: Tỷ lệ % đánh giá đồng ý và hoàn toàn đồng ý của SV năm cuối về phương pháp giảng dạy của GV trên thang đo 4 điểm
Có thể thấy, SV luôn đánh giá cao trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy của GV trường Đại học Kinh tế. Đây cũng là một động lực để Nhà trường nói chung và đội ngũ GV nói riêng tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn và nuôi dưỡng lòng yêu nghề của mình.
2.3.4 Sinh viên tốt nghiệp Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Một là tình hình việc làm
Để nắm bắt tình hình tốt nghiệp của người học, hàng năm, Trường tổ chức khảo sát cựu sinh viên đã tốt nghiệp sau 12 tháng về tình hình việc làm và thu nhập, đồng thời thu thập ý kiến đánh giá của cựu SV về Chương trình đào tạo. Kết quả khảo sát trong những năm gần đây cho thấy tỷ lệ SVTN có việc làm của Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội là khá cao, đáp ứng tốt các yêu cầu của các tổ chức/doanh nghiệp sử dụng lao động. Các chỉ số đánh giá được duy trì và khẳng định qua các năm:
- Bảng 2.8: Tổng hợp số liệu tỷ lệ SVTN có việc làm từ năm 2021-2024
SV Trường Đại học Kinh tế có nhiều cơ hội tham gia học tập tại Trường và học tập trải nghiệm tại các tổ chức/doanh nghiệp… Vì vậy, SVTN của Trường không gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ngay sau khi tốt nghiệp. Số SVTN có việc làm trước và ngay sau khi tốt nghiệp của Trường chiếm khoảng 15-20% tổng số SVTN tham gia khảo sát hàng năm; tỷ lệ SVTN tự tạo việc làm cho bản thân tuy chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 2-3% tổng số SVTN tham gia khảo sát hàng năm) nhưng cũng là những con số đáng ghi nhận cho hiệu quả đào tạo và hoạt động hỗ trợ người học của Nhà trường. Sở dĩ SVTN có thể tìm được việc làm ngay sau khi hoàn thành khóa học một phần cũng bởi trong thời gian theo học tại trường Đại học Kinh tế, SV đều dành khoảng thời gian nhất định để làm thêm (chiếm từ khoảng 50-70% tổng số SVTN tham gia khảo sát hàng năm). Với kế hoạch học tập cụ thể và chương trình học được thực hiện theo chế độ tín chỉ, SV được tự chủ trong việc lựa chọn và quyết định khối lượng học tập từng học kỳ nên SV có nhiều thời gian hơn để có thể tham gia làm thêm tích lũy kinh nghiệm, gia tăng tài chính cho bản thân.
Trên cơ sở kết quả trưng cầu ý cựu người học về tình hình việc làm và Chương trình đào tạo được thụ hưởng, cho thấy có hơn 90% sinh viên tốt nghiệp sau 12 tháng có việc làm đúng và phù hợp với chuyên ngành đào tạo. Tỷ lệ này khá ổn định và có xu hướng tăng dần qua các năm: Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Bảng 2.9 Thống kê tình hình việc làm của SV tốt nghiệp
- Hai là các hoạt động hỗ trợ tăng khả năng tìm kiếm việc làm cho SV.
Từ năm 2022 cho đến nay các hoạt động tư vấn hướng nghiệp và việc làm cho sinh viên và nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ người học tiếp cận với các đơn vị, doanh nghiệp tuyển dụng được Nhà trường tổ chức thực hiện. Sự phối kết hợp giữa P.CT&CTSV, Trung tâm hỗ trợ SV và Đoàn thanh niên với các Khoa/Viện đã có tác dụng lan tỏa trong việc hỗ trợ SV tìm kiếm việc làm và tạo cơ hội được tiếp cận với các nhà tuyển dụng trong tương lai, cụ thể có các hoạt động nổi bật như sau:
Hàng năm, Nhà trường tổ chức “Ngày hội việc làm”. Nổi bật là năm 2024, Nhà trường đã tổ chức chuỗi ngày hội việc làm “UEB Job Fair” với hơn 20 tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp trong nước như: Bảo hiểm Nhân Thọ Prudential, Bảo hiểm Viettinbank, Ngân hàng MB Bank, Gia hàng tiết kiệm, ADT quốc tế, Ngân hàng VIB bank, Giải pháp phần mềm Nhật Cường, Trung tâm huyến luyện bay của Tổng công ty Hàng không VN…
Phối hợp với các nhà tuyển dụng tổ chức các buổi tọa đàm về cơ hội nghề nghiệp, khởi nghiệp, tập huấn kỹ năng phỏng vấn, tuyển dụng, tư vấn hướng nghiệp, hội chợ việc làm,… cho Thông qua hoạt động tuyển dụng của các doanh nghiệp tại hội chợ việc làm, SV sẽ có nhiều cơ hội được tuyển dụng vào các vị trí phù hợp với chuyên môn đào tạo. Các thông tin về tuyển dụng của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được Trường thông báo rộng rãi tới SV và đưa lên website của Trường, Đoàn thanh niên, Khoa để SV có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm.
Tại trường Đại học Kinh tế, các hoạt động liên quan đến người học luôn được Nhà trường quan tâm, tổ chức triển khai một cách đồng bộ, có hệ thống và đã đạt được những kết quả tốt. Các hoạt động hỗ trợ người học được thực hiện xuyên suốt ngay từ khi người học tham gia vào quá trình học tập tại Trường đến khi kết thúc chương trình học, tốt nghiệp và tìm kiếm việc làm, tập trung vào (i) Các hoạt động tư vấn hỗ trợ và cải thiện việc học tập, nghiên cứu; (ii) Các hoạt động gia tăng cơ hội nghề nghiệp: thực tập thực tế, nói chuyện chuyên đề và trao đổi cơ hội nghề nghiệp cùng chuyên gia trong lĩnh vực (Career talks), … và (iii) Các hoạt động tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm…
2.4. Thực trạng hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.4.1 Công tác tuyển sinh
- Về xác lập chuẩn
Thứ nhất, xác định ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào của nhà trường theo hướng chuẩn hóa với quy định chung, phù hợp với ngành đào tạo. Công tác xác định ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào của trường Đại học Kinh tế được thực hiện dựa trên các quy định sau:
- Thông tư số 05/2023/BGDDĐT ngày 25/01/2023 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế tuyển sinh đại học hệ chính quy, tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy
- Thông tư số 07/2024/TT-BGDĐT ngày 01/3/2024 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc sửa đổi, bổ sung tên và một số điều của Quy chế tuyển sinh đại học hệ chính quy, tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy.
- Hướng dẫn công tác tuyển sinh đại học chính quy hàng năm của Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đề án tuyển sinh hàng năm của Nhà trường
Theo đó, sau khi có kết quả của kỳ thi THPT Quốc gia, Hội đồng tuyển sinh hệ đại học của Nhà trường sẽ họp, xem xét phổ điểm của thí sinh đăng ký nguyện vọng vào Trường, các yêu cầu cần thiết của các Chương trình đào tạo đối với người học để quyết định điểm ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào để xét tuyển.
Trong trường hợp số thí sinh đạt ngưỡng trúng tuyển vượt quá chỉ tiêu ngành, các thí sinh có kết quả thi bằng điểm xét tuyển ở cuối danh sách sẽ được xét trúng tuyển lần lần theo 2 tiêu chí phụ:
- Đối với Chương trình đào tạo chuẩn: theo điểm từ cao xuống thấp của môn thi Toán và thứ tự nguyện vọng đăng ký xét tuyển vào Trường.
- Đối với Chương trình đào tạo chuẩn: theo điểm từ cao xuống thấp của môn thi tiếng Anh và thứ tự nguyện vọng đăng ký xét tuyển vào Trường. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Sau đó, Nhà trường báo cáo với Đại học Quốc gia Hà Nội và công bố trên trang thông tin điện tử của trường và Cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GDĐT trước khi thí sinh Điều chỉnh nguyện vọng về cách tính điểm xét tuyển, tiêu chí phụ để xét tuyển.
Nhìn chung, công tác xác định ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào của Nhà trường được thực hiện theo đúng quy định của Bộ GD&ĐT và Đại học Quốc gia Hà Nội, phù hợp với các yêu cầu của Chương trình đào tạo mà Nhà trường đang tuyển sinh.
Thứ hai, xây dựng các kế hoạch tuyên truyền, truyền thông thương hiệu của nhà trường và tư vấn tuyển sinh theo hướng tiếp cận người học.
Để thu hút được các thí sinh đăng ký xét tuyển, công tác tư vấn tuyển sinh, quảng bá thương hiệu của Cơ sở giáo dục là rất quan trọng. Trường Đại học Kinh tế luôn chú trọng và đầu tư cho công tác này.
Hàng năm, phòng Tuyển sinh của Nhà trường xây dựng các kế hoạch hoạt động tư vấn tuyển sinh, bao gồm các phân công công việc cụ thể như sau:
- Bảng 2.10: Quy trình tư vấn tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế
Phỏng vấn chuyên viên Lê Khánh C – Phòng Tuyển sinh cho biết: “Công tác tư vấn tuyển sinh của Nhà trường rất đa dạng, mỗi hoạt động có đặc thù khác nhau. Kế hoạch thực hiện mỗi hoạt động đều được xây dựng hợp lý và ban hành kịp thời để Phòng Tuyển sinh phối hợp với các đơn vị khác triển khai thực hiện. Tuy nhiên, thủ tục tài chính của Nhà trường nhiều khi còn chậm trễ dẫn đến việc chậm tiến độ”.
- Về tổ chức thực hiện
Trong những năm qua, trường Đại học Kinh tế thường xuyên đầu tư, đẩy mạnh công tác tư vấn tuyển sinh với nhiều hình thức khác nhau. Các kế hoạch tư vấn tuyển sinh được thực hiện theo đúng quy trình đã đề ra. Kết quả đạt được như sau:
Về hoạt động tư vấn tuyển sinh cùng với Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường đã tham gia và luôn đồng hành cùng các sự kiện tư vấn tuyển sinh theo đoàn tại các sự kiện tư vấn tuyển sinh của báo Tuổi trẻ tại các tỉnh thành như Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ, Hải Phòng, … Thông qua các hoạt động tư vấn tuyển sinh tại các ngày hội và phương châm ONE VNU đã nhận được sự quan tâm và phản hồi rất tích cực từ học sinh và phụ huynh. Ngoài ra, trường Đại học Kinh tế đã tham gia tư vấn trực tuyến tại Đại học Quốc gia Hà Nội để giải đáp và tư vấn cho thí sinh về các ngành, cơ hội việc làm, chỉ tiêu, tổ hợp xét tuyển ngành…; tham gia công tác quản trị fanpage Tư vấn tuyển sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội tại địa chỉ https://www.facebook./VNU.DHQG/, đăng bài quảng bá về trường, giải đáp và hướng dẫn những thắc mắc của thí sinh kịp thời; tham gia trả lời những câu hỏi, thắc mắc của thí sinh và phụ huynh trên cổng tuyển sinh Đại học Quốc gia Hà Nội tại địa chỉ http://tuyensinh.vnu.edu.
Về các hoạt động tư vấn tuyển sinh riêng của trường Đại học Kinh tế, Nhà trường đã tổ chức nhiều hoạt động khác nhau như:
- Tư vấn trực tiếp tại các trường THPT trong khu vực Hà Nội cũng như đẩy mạnh hoạt động ký kết hợp tác chiến lược với một số trường THPT. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Đẩy mạnh quảng bá hình ảnh Trường và truyền tải thông tin tuyển sinh đại học thông qua các kênh online.
- Website: Bên cạnh website trường là ueb.vnu.edu.vn, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội đã xây dựng mới trang website riêng dành cho tuyển sinh ĐH: tuyensinhdaihoc.ueb.edu.n. Cập nhật đầy đủ thông tin tuyển sinh, phương thức, ngành, tổ hợp xét tuyển, các câu hỏi thường gặp, học phí, học bổng…
- Facebook: Đẩy mạnh truyền tải thông tin tuyển sinh, các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt sinh viên, giao lưu trao đổi quốc tế… của trường lên fanpage Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Tư vấn thí sinh và phụ huynh qua hình như trả lời tin nhắn, bình luận.
- Triển khai mạnh mẽ hoạt động tư vấn tuyển sinh trong group UEB-VNU do chính các em sinh viên quản trị, Phòng Tuyển sinh lên định hướng nội dung và hướng tư vấn.
- Lan tỏa thông tin tuyển sinh của Trường qua các fanpage vệ tinh: fanpage các Khoa/Viện, câu lạc bộ Sinh viên, trang facebook của các cán bộ nhà trường.
- Email marketing: Gửi email thông tin tuyển sinh đại học năm 2025 của Trường Đại học Kinh tế tới hơn 60,000 email.
- Xây dựng clip quảng bá tuyển sinh đại học, clip về các chương trình trao đổi sinh viên quốc tế, …
Lan tỏa thông tin tuyển sinh thông qua cầu nối là các em sinh viên: Năm học 2024 – 2025, Nhà trường tổ chức và huy động hiệu quả hoạt động hỗ trợ của SV trong trường thông qua chương trình “sứ giả sinh viên”, SV hiện tại của Nhà trường chính là cầu nối giữa nhà trường và các trường THPT mà các em đã học.
Nhìn chung, các hoạt động tư vấn tuyển sinh trên đã giúp nâng cao thương hiệu của nhà trường và lan tỏa mạnh hơn các thông tin của nhà trường tới phụ huynh và học sinh ở các trường đối tác. Đánh giá của các GV, Cán bộ quản lý và chuyên viên về thực trạng Đảm bảo chất lượng tuyển sinh cũng cho thấy điều đó:
Hình 2.1: Tỷ lệ % đồng ý về các nhận định về Đảm bảo chất lượng tuyển sinh
- Về đánh giá mức độ thực hiện
Hiện nay, việc giám sát, đo lường, đánh giá thực hiện hoạt động tuyên truyền, truyền thông thương hiệu, tư vấn tuyển sinh của Nhà trường được đánh giá thông qua báo cáo định kỳ kế hoạch nhiệm vụ theo KPIs (Key Performance Indicator) – chỉ số đánh giá hiệu quả công việc, là công cụ đo lường, đánh giá hiệu quả công việc được thể hiện qua số liệu, tỉ lệ, chỉ tiêu định lượng, nhằm phản ánh hiệu quả các hoạt động của Nhà trường. Các chỉ số đánh giá hiệu quả công tác tuyển sinh được xác định từng năm, năm 2025 có các chỉ số sau đây:
- Bảng 2.11: KPIs về công tác tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế
Năm 2025, công tác tuyển sinh thực hiện đạt 92% so với chỉ tiêu đã đề ra. Có thể thấy, các tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện của công tác tuyển sinh đã được trường Đại học Kinh tế xác định cụ thể, hợp lý với quy mô tuyển sinh của Nhà trường.
2.4.2. Chương trình đào tạo Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Về xác lập chuẩn và quy trình
Các Chương trình đào tạo của trường Đại học Kinh tế được xây dựng và điều chỉnh theo quy định của ĐHQHGN, cụ thể là các quy định sau:
- Công văn số 1204/ĐHQGHN-ĐT ngày 10/4/2018 Về việc điều chỉnh Chương trình đào tạo theo Chuẩn đầu ra.
- Quy định mở mới và điều chỉnh Chương trình đào tạo ở Đại học Quốc gia Hà Nội (ban hành theo Quyết định số 1366/QĐ-ĐHQGHN ngày 25/04/2018 của Đại học Quốc gia Hà Nội).
- Quy chế đào tạo đại học (ban hành theo Quyết định 5115/QĐ-ĐHQGHN ngày 25/12/2020 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)
Tuy nhiên, để phù hợp với đặc thù đào tạo của trường Đại học Kinh tế, Nhà trường đã tiến hành xây dựng quy trình ISO về Mở mới, cập nhật và điều chỉnh Chương trình đào tạo, Trường đã sửa đổi 03 lần kể từ năm ban hành 2015. Quy trình mới nhất được cập nhật vào năm 2019 với các cập nhật về qui định của Đại học Quốc gia Hà Nội về tiêu chí các trường ĐH nước ngoài tham khảo, thành phần hội đồng thẩm định, các biểu mẫu, bổ sung phần cập nhật, điều chỉnh Chương trình đào tạo. Các mốc chuẩn được xác lập có thể tóm tắt như sau:
- Bảng 2.12 : Quy trình mở mới Chương trình đào tạo
- Bảng 2.13 Quy trình cập nhật, điều chỉnh Chương trình đào tạo
Có thể thấy, quy trình ISO Mở mới, cập nhật và điều chỉnh Chương trình đào tạo của trường Đại học Kinh tế được xác lập khoa học, chặt chẽ; đảm bảo đúng quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội và Bộ GD&ĐT; cụ thể hóa được các công việc cần làm giúp cho các đơn vị có liên quan trong Trường cũng như các cán bộ trực tiếp thực hiện có căn cứ để triển khai thực hiện dễ dàng.
Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng và điều chỉnh các quy trình trên, Nhà trường đã lấy ý kiến của các thành phần tham gia xem xét quy trình bao gồm Ban Giám hiệu, chủ nhiệm Khoa/Viện, trưởng đơn vị các Phòng/Ban. Tuy nhiên, Nhà trường chưa lấy ý kiến phản hồi của GV về quy trình này. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Về tổ chức thực hiện
Thứ nhất, Nhà trường đã tổ chức bồi dưỡng nhân sự thực hiện công tác xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo.
Về trình độ chuyên môn của nhân lực phụ trách công tác xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo, Nhà trường có đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp Khoa/Viện và phòng Đào tạo cũng như GV có nhiều năm kinh nghiệm trong việc xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo. Đội ngũ chuyên viên phụ trách các thủ tục hành chính có liên quan cũng là đội ngũ có nhiều năm kinh nghiệm, thông hiểu và nắm vững các thủ tục của Nhà trường cũng như của Đại học Quốc gia Hà Nội.
Phỏng vấn chuyên viên Đặng Thị T – Phòng Đào tạo cho biết: “Công tác xây dựng và điều chỉnh các Chương trình đào tạo luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Khoa/Viện và phòng Đào tạo để đảm bảo thực hiện đúng quy trình mà Nhà trường đã đề ra cũng như các quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội. Các hồ sơ, minh chứng có liên quan là rất nhiều, đòi hỏi người làm công tác này phải cẩn thận và tỉ mỉ. Đội ngũ chuyên viên của các Khoa/Viện của Nhà trường đều là những người làm lâu năm rồi nên họ nắm được các quy trình rất rõ, hạn chế được các sai sót trong quá trình làm việc”.
Về tập huấn bồi dưỡng, Nhà trường đã tổ chức nhiều cuộc tập huấn nội bộ về xây dựng Chương trình đào tạo cũng như các buổi chia sẻ kinh nghiệm giữa phòng Đào tạo, các Khoa/Viện, các GV. Ngoài ra, Nhà trường cử cán bộ tham gia các buổi tập huấn và tọa đàm của Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức. Điển hình như năm 2025, Trường đã cử 91 lượt cán bộ bao gồm GV, lãnh đạo các Khoa/Viện, lãnh đạo và chuyên viên phòng Đào tạo, Trung tâm Đảm bảo chất lượng GD tham gia buổi tập huấn “Xây dựng Chuẩn đầu ra phù hợp với yêu cầu Kiểm định chất lượng” và tọa đàm “Xây dựng đề cương học phần đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động giảng dạy tại Đại học Quốc gia Hà Nội”.
Thứ hai, Nhà trường đã tổ chức và chỉ đạo thực hiện đúng quy trình xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo.
Trong những năm vừa qua, Nhà trường liên tục mở mới thành công mã ngành cử nhân CLC đáp ứng theo thông tư 23 của Bộ GD&ĐT như: ngành Kinh tế, Kế toán, Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế Quốc tế, Quản trị Kinh doanh.
Bên cạnh đó, trường Đại học Kinh tế là đầu mối triển khai mở mới các Chương trình đào tạo liên ngành bậc cử nhân và thạc sĩ, đến nay đã tổ chức nghiệm thu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội 04 đề án: thạc sĩ Kinh tế dịch vụ du lịch, thạc sĩ Kinh tế báo chí truyền thông, thạc sĩ Tài chính định lượng và quản trị rủi ro và cử nhân Kinh tế và quản lý; đã tổ chức hội thảo cấp trường đề án thạc sĩ Quản lý kinh doanh văn hóa nghệ thuật, Đề án cử nhân Quản trị Kinh doanh cho các tài năng thể thao, đề án cử nhân CLC ngành KTPT. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Tuy nhiên, tiến độ mở mới các Chương trình đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra do quy định mở mới các Chương trình đào tạo liên ngành phức tạp, nguồn lực thực hiện chưa đảm bảo được yêu cầu và chưa quyết tâm cao trong xây dựng và hoàn thiện dự án để triển khai.
- Về đánh giá mức độ thực hiện
Việc giám sát thực hiện quy trình, kế hoạch xây dựng và điều chỉnh chính là kết quả của việc ban hành các Chương trình đào tạo mới, Chương trình đào tạo đã điều chỉnh.
Theo quy trình, các Chương trình đào tạo được xây dựng mới hoặc điều chỉnh đều phải thông qua Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt. Vì vậy, để ban hành các Chương trình đào tạo mới, Chương trình đào tạo điều chỉnh thì quy trình thực hiện, thể hiện qua các minh chứng, hồ sơ lưu trữ có sự giám sát và kiểm tra của Đại học Quốc gia Hà Nội. Đồng thời, tùy vào kế hoạch nhiệm vụ năm học hoặc kế hoạch đột xuất của Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Đào tạo – Đại học Quốc gia Hà Nội có thể tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác này.
Để làm rõ hơn mức độ thực hiện quy trình, xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo, tác giả thực hiện ĐTKS GV, Cán bộ quản lý trong Nhà trường, kết quả như sau:
- Hình 2.2: Tỷ lệ % đánh giá của GV, Cán bộ quản lý, chuyên viên về xây dựng Chương trình đào tạo
- Nhìn vào biểu 2.2 ta thấy:
GV được chủ động tham gia vào việc xây dựng Chương trình đào tạo, Chương trình đào tạo được xây dựng và phê chuẩn theo một quy trình chặt chẽ có sự tham gia các bên liên quan là 02 yếu tố được đánh giá cao nhất với 85.23% ý kiến đồng ý và hoàn toàn đồng ý.
Xếp sau là nội dung Chương trình đào tạo thường xuyên được cập nhật theo thực tế chuyên môn nghề nghiệp với 81.82% ý kiến đồng tình.
Tiêu chí được đánh giá thấp nhất với 68.18% ý kiến đồng ý là Chương trình đào tạo được phân bổ hợp lý giữa lý thuyết với thực hành. Qua các cuộc khảo sát thường kỳ của Nhà trường, người học cũng đồng ý với nhận định này và thường xuyên kiến nghị tăng thời lượng thực hành trong các học phần, tăng thời lượng thực tập/thực tế cho họ trong quá trình học.
2.4.3 Hoạt động dạy học Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Về xác lập chuẩn và quy trình
Một là xây dựng tiêu chí thực hiện hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chuẩn đầu ra.
Để các hoạt động dạy học vào nề nếp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và thương hiệu của Nhà trường, trường đã ban hành quy định về thực hiện kỷ cương dạy và học tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (ban hành kèm theo quyết định 1593/QĐ-ĐHKT ngày 26/8/2017) và Quy định một số nội dung về đào tạo đại học tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (ban hành kèm theo Quyết định số 5267/QĐ-ĐHKT ngày 17/12/2021).
- Theo đó, liên quan đến hoạt động giảng dạy của GV có các tiêu chí như sau:
GV thực hiện nghiêm túc thời gian lên lớp (đầy đủ, đúng giờ, đảm bảo những quy định và yêu cầu của đề cương môn học đã được phê duyệt). Sau khi kết thúc môn học (không quá 05 ngày) gửi hồ sơ học phần cho Phòng Đào tạo.
GV điểm danh hàng ngày và chấm điểm chuyên cần cho SV. Ký nhận vào sổ theo dõi giảng dạy – học tập (đầu giờ, cuối giờ mỗi buổi học).
Phòng Thanh tra và Pháp chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về đảm bảo kỷ cương dạy-học của toàn trường, kịp thời phát hiện những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện Quy định, có kiến nghị với đơn vị phụ trách và Ban Giám hiệu các biện pháp khắc phục, giải quyết. Báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất các biện pháp đảm bảo việc thực hiện kỷ cương dạy – học cho Ban Giám hiệu trong các buổi giao ban hàng tháng hoặc báo cáo đột xuất nếu thấy cần thiết.
Trung tâm Đảm bảo chất lượngGD tham gia giám sát quy trình kiểm tra, đánh giá thông qua quản lý trọng số nội dung và cấu trúc đề thi (TSND&CTĐT), ngân hàng câu hỏi thi (NHCHT), cung cấp đề thi kết thúc học phần…. nhằm đảm bảo việc kiểm tra đánh giá người học được thực hiện theo quy định, đánh giá đúng năng lực người học theo từng học phần đã tuyên bố.
Hai là chuẩn hóa hoạt động dạy học thông qua trưng cầu ý kiến người học về hoạt động giảng dạy của GV hàng kỳ.
Cho đến nay, việc triển khai trưng cầu ý kiến người học về hoạt động giảng dạy của GV vẫn được thực hiện theo đúng quy định của Bộ GD&ĐT, Đại học Quốc gia Hà Nội và Nhà trường. Các tiêu chí cụ thể:
Duy trì và phát triển việc kiểm tra đánh giá theo hướng chuẩn hóa hoạt động giảng dạy trong trường Đại học Kinh tế thay vì chuẩn hóa công tác đào tạo nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu trong chương trình học, học phần, đảm bảo người học nhận được “dịch vụ” tốt nhất tại Trường. 100% GV tham gia giảng dạy các học phần trong các Chương trình đào tạo đều được đánh giá thông qua việc trưng cầu ý kiến của người học. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Các kết quả ĐTKS hoạt động giảng dạy của GV theo từng học kỳ được tổng hợp và gửi trực tiếp đến các bên liên quan: Ban giám hiệu, phòng Thanh tra và Pháp chế, phòng Tổ chức nhân sự, Ban chủ nhiệm Khoa/Viện QTKD và GV, nhằm giúp các đơn vị có hướng điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy – học, đề xuất giải pháp hỗ trợ GV trong việc phát triển và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu dạy – học.
Thực hiện báo cáo định kỳ theo năm/quý về hoạt động kiểm tra đánh giá GV gửi Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua Viện Đảm bảo chất lượng, đảm bảo các yêu cầu của Bộ GD&ĐT và Đại học Quốc gia Hà Nội trong thực hiện công tác Đảm bảo chất lượng dạy – học.
- Tổ chức thực hiện
Một là, các quy định được công bố công khai tới GV.
Sau khi được tuyển dụng, các quy định liên quan đến hoạt động dạy học được phòng Tổ chức Nhân sự gửi qua email tới GV để GV biết và chấp hành các quy định của Nhà trường. Bên cạnh đó, Nhà trường sử dụng hệ thống quản lý văn bản điều hành E-office theo quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội, các văn bản quản lý được công bố công khai trên trang quản lý công văn điện tử E-office của Trường để cán bộ, GV toàn Trường được biết và thống nhất thực hiện. Trường đã tạo thư mục “Tài liệu dùng chung” để cập nhật, quản lý các văn bản nội bộ của Trường, phục vụ nhu cầu tra cứu của cán bộ, GV.
Phỏng vấn GV. Nguyễn Thị Phương L – Khoa KT&KDQT cho biết: “Tôi được tuyển dụng vào Trường từ năm 2023. Ngay từ lúc được tuyển dụng, tôi đã biết các quy định cơ bản của Nhà trường thông qua email của phòng Tổ chức Nhân sự. Ngoài ra, khi có các văn bản mới ban hành, chuyên viên phụ trách của Khoa sẽ gửi tài liệu qua email để phổ biến cho GV. Các thắc mắc được các đơn vị chức năng giải thích, làm rõ khi có yêu cầu”.
Hai là, tổ chức thực hiện quy trình, kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chuẩn đầu ra.
Việc tổ chức thực hiện quy trình, kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học có sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng và các Khoa/Viện. Cụ thể Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Về công tác chuẩn bị triển khai giảng dạy:
Phòng đào tạo: thực hiện xây dựng thời khóa biểu của kỳ học, tổ chức cho SV đăng ký học phần, phối hợp với các Khoa/Viện để phân công GV giảng dạy; tiến hành gửi danh sách điểm danh, phiếu nhập điểm của các lớp học phần về các đơn vị chuyên môn phụ trách và đăng lên Website của Nhà trường.
Phòng Hành chính Tổng hợp: kiểm tra Cơ sở vật chất bao gồm bàn ghế trong phòng học, loa, micro, điều hòa, hệ thống chiếu sáng, máy chiếu, hệ thống wifi. GV: chuẩn bị slide bài giảng; các học liệu, tài liệu liên quan đến học phần để cung cấp cho SV.
- Về triển khai giảng dạy:
Phòng Chính trị và Công tác SV: theo dõi quá trình giảng dạy của GV bao gồm giờ giấc giảng dạy để đảm bảo các tiết học được GV dạy đầy đủ, đúng giờ và công tác thanh toán giờ giảng cho GV được chính xác.
GV: thực hiện điểm danh SV; giảng dạy theo đề cương đã tuyên bố với người học; cung cấp các tài liệu, học liệu liên quan đến học phần cho SV; thực hiện kiểm tra – đánh giá kiến thức, năng lực của SV.
Phòng Thanh tra và pháp chế: thực hiện thanh tra, kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất việc chấp hành kỷ luật giờ giảng của GV.
Các Khoa/Viện: Bộ môn thực hiện dự giờ đối với GV thuộc bộ môn tối thiểu 1 tiết giảng/1 học phần, đảm bảo 100% các GV tham gia giảng dạy trong năm học được dự giờ; tổ chức trao đổi, rút kinh nghiệm sau từng đợt dự giờ tại các buổi sinh hoạt chuyên môn của Bộ môn/Khoa/Viện.
- Về đánh giá quá trình giảng dạy:
Trung tâm Đảm bảo chất lượng giáo dục: tổ chức thực hiện lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy của GV và các điều kiện Đảm bảo chất lượng học phần, đảm bảo 100% các học phần giảng dạy trong học kỳ được đánh giá; gửi kết quả ĐTKS tới Ban giám hiệu, GV và các bên liên quan khác.
Các Khoa/Viện: tổ chức đánh giá nội bộ dựa trên kết quả ĐTKS của TT Đảm bảo chất lượng giáo dục gửi và các tiêu chí khác do Bộ môn/Khoa/Viện đặt ra. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Nhìn chung, hoạt động dạy học được thực hiện đúng quy trình, quy định.
- Đánh giá mức độ thực hiện
Công tác giám sát, đánh giá việc thực hiện quy trình, kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chuẩn đầu ra của Nhà trường do Phòng Thanh tra và Pháp chế thực hiện.
Vào đầu mỗi kỳ học, Phòng Thanh tra và Pháp chế thực hiện kiểm tra công tác chuẩn bị triển khai dạy học với các nội dung: 1) Thời gian thông báo thời khóa biểu đến SV qua các đợt đăng ký; 2) Thời gian mở đăng ký môn học cho SV; 3) công tác phân công giảng viên, ký hợp đồng giảng dạy với GV ngoài; 4) Công tác gửi hồ sơ lớp học phần đến GV; 5) Thời gian hoàn thành sổ theo dõi giảng dạy và học tập; 6) Công bố đề cương học phần lên Cổng thông tin đào tạo.
Bên cạnh đó, theo kế hoạch nhiệm vụ hàng năm, phòng Thanh tra và Pháp chế kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm các đơn vị chức năng và Khoa/Viện về việc thực hiện kỷ cương dạy và học tại Trường, bao gồm trách nhiệm của Phòng Đào tạo, các Khoa/Viện, Phòng Chính trị và Công tác SV, TT Đảm bảo chất lượng giáo dục, phòng Kế hoạch – Tài chính, phòng Hành chính – Tổng hợp, GV, SV và xử lý các vi phạm của cán bộ, SV, các đơn vị trong Nhà trường.
Báo cáo đã đảm bảo được các yêu cầu về đánh giá tình hình thực hiện, kiến nghị và đề xuất giải pháp nhằm tư vấn, tham mưu cho Ban Giám hiệu Nhà trường khắc phục vấn đề, cải tiến quy trình thực hiện được hiệu quả hơn. Công tác này cũng được đánh giá cao bởi các GV và Cán bộ quản lý trong Nhà trường với 86.36% ý kiến đồng ý.
- Hình 2.3: Đánh giá của GV, Cán bộ quản lý và chuyên viên về công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo
2.4.4 Sinh viên tốt nghiệp Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Về thiết lập chuẩn và quy trình
Một là xây dựng quy trình thực hiện ĐTKS SV tốt nghiệp để thu thập thông tin về tình hình việc làm.
Theo quy định của Bộ GD&ĐT tại Công văn số 2919/BGDĐT-GDĐH ngày 10/7/2023 về việc khảo sát tình hình việc làm của SV tốt nghiệp, hàng năm các Cơ sở giáo dục phải thực hiện ĐTKS SV tốt nghiệp sau khoảng 01 năm tốt nghiệp với mục đích thu thập thông tin về tình hình việc làm và khả năng tham gia vào thị trường lao động của SV sau khi tốt nghiệp. Đây cũng là một trong những căn cứ để Nhà trường nghiên cứu, điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh, cơ cấu ngành đào tạo, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo và tăng cường các điều kiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tỷ lệ SV có việc làm.
Theo đó, Bộ GD&ĐT đã quy định về các tiêu chí thực hiện ĐTKS như sau:
- Đảm bảo tính khách quan, trung thực, lưu giữ các minh chứng và tài liệu thuộc hồ sơ lưu trữ bao gồm: các văn bản gửi Bộ GD&ĐT, mẫu phiếu khảo sát, minh chứng kết quả phản hồi của SV tốt nghiệp.
- Quy trình, cách thức, công cụ khảo sát do thủ trưởng các Cơ sở giáo dục quyết định và chịu trách nhiệm giải trình.
- Mẫu khảo sát phải được chọn ngẫu nhiên trong số SV tốt nghiệp theo ngành đào tạo, đảm bảo tính đại diện cho số SV tốt nghiệp về vùng miền, giới tính, độ tuổi, …
- Số lượng SV tốt nghiệp được khảo sát có phản hồi phải trong phạm vi mẫu khảo sát được chọn; đảm bảo tỷ lệ phản hồi tối thiểu theo quy định.
- Việc xử lý dữ liệu kết quả ĐTKS và thống kê số liệu phải có căn cứ khoa học và minh chứng. Sau mỗi lần khảo sát phải phân tích và đề xuất các vấn đề cần cải tiến đối với công tác khảo sát tình hình việc làm của SV tốt nghiệp và tăng cường các điều kiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tỷ lệ SV tốt nghiệp có việc làm.
- Báo cáo ĐTKS hàng năm theo từng ngành đào tạo được gửi về Bộ GD&ĐT, đăng tải công khai lên trang thông tin điện tử và đưa vào đề án tuyển sinh hàng năm của Cơ sở giáo dục.
- Báo cáo và các minh chứng kèm theo phải được lưu trữ trong thời gian 05 năm kể từ khi có kết quả ĐTKS.
Ngoài ra, trên cơ sở các quy định của Bộ GD&ĐT và Đại học Quốc gia Hà Nội, để phù hợp hơn với đặc thù đào tạo của trường Đại học Kinh tế, Nhà trường đã xây dựng và ban hành Quy định số 3081/QĐ-ĐHKT ngày 07/11/2019 quy định về các hoạt động ĐTKS, khảo sát đánh giá hoạt động đào tạo, công tác tổ chức, đoàn thể và hỗ trợ người học tại trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội trong đó có quy định về “Trưng cầu ý kiến Cựu SV về tình hình việc làm và Chương trình đào tạo được thụ hưởng tại Trường”. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Việc thu thập, lựa chọn, xử lý và sử dụng thông tin phản hồi được thực hiện đúng theo trình tự, khoa học mà kế hoạch của các cuộc ĐTKS đã đề ra. Quy trình để thực hiện 01 cuộc ĐTKS gồm 7 bước cơ bản từ (i) Lập kế hoạch điều tra, khảo sát đánh giá; (ii) Thiết kế, điều chỉnh công cụ/xây dựng cơ sở dữ liệu câu hỏi, nhóm câu hỏi (chủ đề) và bảng hỏi; (iii) Thu thập thông tin qua hình thức online hoặc phát phiếu tay, phỏng vấn trực tiếp; đến (iv) Mã hóa, làm sạch số liệu; (v) Nhập dữ liệu và phần mềm chuyên dụng; (vi) Xử lý số liệu và viết báo cáo và (vii) Thông báo kết quả đến các bên liên quan.
- Hai là xây dựng công cụ khảo sát SV tốt nghiệp.
Cuộc ĐTKS sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến được thiết kế thành một bảng hỏi dạng đóng gồm 4 phần đề cập đến các vấn đề sau:
- Thông tin cá nhân;
- Khảo sát về tình hình việc làm;
- Khảo sát sự phản hồi của SV tốt nghiệp về Chương trình đào tạo;
- Đề xuất, góp ý nhằm nâng cao chất lượng Chương trình đào tạo.
Để có bức tranh toàn cảnh về tình hình việc làm của SV sau 01 năm tốt nghiệp, cuộc khảo sát tập trung thu thập thông tin về tình hình việc làm của SV, bao gồm: các công việc làm thêm và các công việc hiện tại (dưới nhiều loại hình tổ chức/doanh nghiệp; vị trí công việc; thu nhập; sự thích nghi và hòa nhập với công việc và môi trường mới trong thực tế…) và đánh giá năng lực thích ứng của các cá nhân đối với yêu cầu công việc.
Đối với các thông tin phản hồi của SVTN về Chương trình đào tạo, bảng hỏi tập trung vào một số lĩnh vực chính gồm:
- Đánh giá chung về sự tác động của các yếu tố đầu vào (như nội dung chương trình, phương pháp dạy học, cơ sở vật chất, tổ chức đào tạo…) đối với sản phẩm đầu ra – chất lượng SVTN;
- Tính thực tiễn của Chương trình đào tạo;
- Tự đánh giá về năng lực chuyên môn và kỹ năng mềm sau khi tốt nghiệp;
- Phản hồi về đội ngũ GV và PPGD;
- Phản hồi về công tác hỗ trợ đào tạo trong quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế, bao gồm thư viện, học liệu, Cơ sở vật chất phục vụ dạy – học; Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Phản hồi về công tác tổ chức thực hiện đào tạo;
- Đánh giá chung về điểm mạnh, điểm tồn tại của Chương trình đào tạo và tự xác định nhu cầu học tập lên cao sau khi tốt nghiệp.
Nhìn chung, công cụ khảo sát SV tốt nghiệp của trường Đại học Kinh tế được xây dựng đã đáp ứng được các yêu cầu của Bộ GD&ĐT và Đại học Quốc gia Hà Nội. Đồng thời, công cụ đánh giá cũng dần được điều chỉnh và hoàn thiện theo thời gian cho phù hợp với xu thế phát triển và nội lực của trường Đại học Kinh tế, tránh thực hiện kiểm tra đánh giá mang tính hình thức và đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo.
Đánh giá về Đảm bảo chất lượng đầu ra, các GV, Cán bộ quản lý và chuyên viên có đánh giá khá tốt.
- Cụ thể:
Hình 2.4: Đánh giá của GV, Cán bộ quản lý và chuyên viên về Đảm bảo chất lượng đầu ra
- Về tổ chức thực hiện
Để thực hiện cuộc ĐTKS SV tốt nghiệp, Nhà trường giao cho TT Đảm bảo chất lượng GD đầu mối thực hiện. Hàng năm, Nhà trường ban hành kế hoạch thực hiện với các bước thực hiện cụ thể như bảng sau:
- Bảng 2.14: Nội dung thực hiện ĐTKS SVTN tại trường Đại học Kinh tế
Hàng năm, TT Đảm bảo chất lượng GD tiến hành tập huấn cho các cán bộ thu thập phiếu ở Khoa/Viện phương pháp phỏng vấn với những hướng dẫn chi tiết, cụ thể về cách thức tham gia trả lời phiếu khảo sát; thời gian thích hợp để phỏng vấn, … Ngoài ra, TT Đảm bảo chất lượng GD đã có 01 cán bộ chuyên trách về kiểm tra đánh giá, có kinh nghiệm và chuyên môn về đo lường đánh giá, xử lý số liệu.
Bên cạnh đó, việc khảo sát đều đảm bảo tính khách quan, trung thực. Hồ sơ cuộc ĐTKS được lưu trữ theo từng năm và đầy đủ theo quy định. Số lượng SV tốt nghiệp được khảo sát có phản hồi đều trong phạm vi mẫu khảo sát được chọn; đảm bảo tỷ lệ phản hồi tối thiểu theo quy định. Việc xử lý dữ liệu kết quả ĐTKS và thống kê số liệu có căn cứ khoa học và minh chứng, các báo cáo kết quả ĐTKS đều phân tích sâu các vấn đề liên quan đến tình hình việc làm và đề xuất được các vấn đề cần cải tiến đối với công tác khảo sát tình hình việc làm của SV tốt nghiệp và tăng cường các điều kiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tỷ lệ SV tốt nghiệp có việc làm. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Mặt khác, báo cáo ĐTKS hàng năm theo từng ngành đào tạo được gửi về Bộ GD&ĐT và Đại học Quốc gia Hà Nội theo đúng thời hạn quy định. Nhà trường đã đăng tải công khai lên trang thông tin điện tử tại địa chỉ: và đưa vào đề án tuyển sinh hàng năm của Trường.
Nhìn chung, các nhiệm vụ đặt ra của cuộc ĐTKS đều được thực hiện theo đúng quy trình, quy định đã đề ra. Tuy nhiên, việc trưng cầu ý kiến “lần theo dấu vết” gặp một số khó khăn nhất định, cụ thể: (i) Nhiều thông tin về SV tốt nghiệp có thay đổi so với dữ liệu hồ khai báo ban đầu trên Cổng thông tin SV – Đại học Quốc gia Hà Nội (2) Phần nhiều các thông tin thu thập từ SV tốt nghiệp được thực hiện thông qua phỏng vấn qua điện thoại và email. SV tốt nghiệp đa phần đều đang trong quá trình ổn định công việc, không bố trí được thời gian gặp trực tiếp nên số các trường hợp phỏng vấn trực tiếp không nhiều. Vì vậy, giai đoạn thu thập thông tin thường chậm tiến độ so với kế hoạch đã đề ra.
Bên cạnh đó, Trường chưa có hệ thống phần mềm riêng để quản lý và cập nhật tình hình SV tốt nghiệp, tình hình việc làm SV sau tốt nghiệp tạo kết nối giữa nhà trường – người học – người sử dụng lao động. Nhà trường mới chỉ giao cho đơn vị đầu mối là TT.ĐBCLGD phối hợp với P.ĐT, P.CT&CTSV, các Khoa/Viện thực hiện giám sát và tạo kênh kết nối trên cơ sở thực hiện cuộc ĐTKS.
- Về đánh giá mức độ thực hiện
Thứ nhất: quy trình thực hiện và công tác lưu trữ hồ sơ được thanh tra, kiểm tra
Hàng năm, thực hiện theo chức năng – nhiệm vụ, Phòng Thanh tra và Pháp chế tiến hành thanh tra, kiểm tra công tác ĐTKS trong Nhà trường trong đó có cuộc ĐTKS SV tốt nghiệp. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Điển hình là năm 2024, thực hiện quyết định số 2785/QĐ-ĐHKT ngày 16/10/2024 và kế hoạch số 40 /KH-TT&PC, ngày 28/9/2024 về việc kiểm tra tình hình thực hiện hoạt động ĐTKS năm 2024 của Nhà trường và thành lập Tổ kiểm tra hoạt động ĐTKS, Tổ kiểm tra đã kiểm tra công tác tổ chức thực hiện các cuộc ĐTKS theo định kỳ của Trường Đại học Kinh tế.
Theo đó, Tổ kiểm tra bao gồm các thành viên của phòng Thanh tra và Pháp chế đã thực hiện công tác kiểm tra và kết luận như sau: (1) Hoạt động ĐTKS đã được triển khai thực hiện theo đúng quy trình quy định của Trường: Có kế hoạch được phê duyệt; Công văn thông báo cho các đơn vị, SV để thực hiện, các đơn vị để phối hợp; Tổ chức lấy phiếu, xử lý số liệu, viết báo cáo kết quả ĐTKS gửi các nơi theo yêu cầu, (2) Các đơn vị phối hợp cơ bản đáp ứng được yêu cầu theo chức năng nhiệm vụ. (3) Các cuộc ĐTKS đều có BC chi tiết về nội dung cuộc ĐTKS và được gửi cho các đơn vị liên quan để biết và sử dụng. Các BC đã được khai thác, sử dụng trong các công việc theo mục đích đề ra, (3) Công tác lưu trữ hồ sơ: Được thực hiện tương đối đầy đủ, bao gồm các loại bản cứng và bản mềm. Có danh mục các tập hồ sơ lưu. (4) Thời gian thực hiện hầu hết đều bị chậm tiến độ 1-2 tháng.
Thứ hai là công cụ khảo sát được rà soát kịp thời để điều chỉnh cho phù hợp với các quy định hiện hành
Hằng năm, các nội dung thu thập thông qua bảng hỏi của các cuộc ĐTKS SV tốt nghiệp luôn được rà soát trước khi tiến hành thu thập để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với các quy định của Bộ GD&ĐT, Đại học Quốc gia Hà Nội và trường Đại học Kinh tế.
Đặc biệt, năm 2025, Nhà trường thành lập tổ công tác rà soát phiếu điều tra, khảo sát với mục đích tư vấn, đề xuất cho Ban Giám hiệu phương án điều chỉnh, bổ sung các phiếu điều tra, khảo sát phù hợp theo quy định và mục tiêu phát triển của Nhà trường. Tổ công tác đã thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao, đề xuất điều chỉnh một số nội dung phù hợp với yêu cầu hiện tại của Nhà trường.
Như vậy, có thể thấy, công tác đánh giá mức độ thực hiện ĐTKS SV tốt nghiệp đã được Nhà trường thực hiện đầy đủ và có chất lượng.
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.5.1 Các yếu tố khách quan
- Thứ nhất, yếu tố KT – XH
Yếu tố KT – XH đã ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của các Cơ sở giáo dục nói chung và trường Đại học Kinh tế nói riêng. Cụ thể:
Triển khai ứng dụng hệ thống học tập trực tuyến, ứng dụng phần mềm quản lý đào tạo, qua đó dần hoàn thiện hệ thống quản lý và các quy định, quy chế theo hướng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho GV trong hoạt động giảng dạy, nhập điểm, chấm thi, …
Chú trọng đẩy mạnh tính thực tiễn của các Chương trình đào tạo thông qua đổi mới hoạt động thực tập thực tế, mời các chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp đến giảng dạy cho SV.
Tăng cường các điều kiện Đảm bảo chất lượng và từng bước xây dựng hệ thống Đảm bảo chất lượng bên trong tiến tới xác định phương hướng và nguồn lực để thực hiện đánh giá Chương trình đào tạo theo hướng chuẩn quốc tế (ACBSP, QS, …) Thực hiện theo hướng đánh giá khả năng cung cấp dịch vụ, đáp ứng yêu cầu của người học đối với quá trình đào tạo. Hình thành hệ thống phản hồi thông tin với các bên liên quan (người học, người dạy, các chuyên gia, nhà sử dụng lao động, …) nhằm phục vụ công tác đánh giá nâng cao chất lượng và kiểm định.
Hình thành các quy trình, thủ tục trong việc kiểm soát hoạt động dạy học để hướng đến kiểm tra đánh giá người học theo Chuẩn đầu ra đã công bố: quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi thi, xây dựng trọng số nội dung và cấu trúc đề thi, quy trình quản lý và sử dụng bộ đề thi, … đảm bảo chính xác, công bằng, hiện đại và phù hợp với mục tiêu đào tạo của học phần, góp phần chuẩn hoá và nâng cao chất lượng giảng dạy.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế tri thức, hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của trường Đại học Kinh tế cần có giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài. Hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo phải bám sát với yêu cầu, đòi hỏi của phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo tính công bằng, thích hợp và chất lượng.
- Thứ hai, hệ thống hành lang pháp lý và chính sách Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Hiện nay, cơ chế chính sách và hệ thống các quy định pháp lý về GD&ĐT nói chung và các văn bản quy phạm pháp luật về Đảm bảo chất lượng nói riêng ở nước ta đã cơ bản đầy đủ và có tính hệ thống. Cụ thể:
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2019 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chiến lược phát triển giáo dục 2017 – 2026 (ban hành theo quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ); Luật số 34/2024/QH14 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Giáo dục đại học; Thông tư số 12/2023/TT-BGDĐT ngày 19/05/2023 của Bộ GD&ĐT Ban hành quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học; Công văn số 766/QLCL-KĐCLGD ngày 20/4/2024 Hướng dẫn tự đánh giá cơ sở giáo dục đại học; Thông tư 04/2022/-TT-BGDĐT ngày 14/03/2022 của Bộ GD&ĐT Thông tư ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học; Công văn số 1074/KTKĐCLGD-KĐĐH ngày 28/6/2022 Công văn hướng dẫn chung về sử dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Chương trình đào tạo các trình độ của Giáo dục đại học; …
Ngoài ra, hệ thống văn bản của cơ quan chủ quản Đại học Quốc gia Hà Nội liên quan đến hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo cũng tương đối đầy đủ. Một số văn bản nổi bật như: Chiến lược đảm bảo chất lượng giáo dục của Đại học Quốc gia Hà Nội (giai đoạn 2019-2026, tầm nhìn 2030), Hướng dẫn số 5076/HD-ĐHQGHN ngày 23/12/2020 Hướng dẫn so chuẩn chất lượng giáo dục, Quy định về đảm bảo chất lượng trong Đại học Quốc gia Hà Nội (ban hành kèm theo quyết định số 628/QĐ-ĐHQGHN ngày 10/02/2021, …
Nhìn chung, các văn bản của Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành đều dựa trên các quy định của Bộ GD&ĐT và có các điều chỉnh riêng để phù hợp với đặc thù, mô hình đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội. Các cơ chế chính sách của Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các trường Đại học Kinh tế thực thi hiệu quả, nhanh chóng.
- Thứ ba, yếu tố xu thế hội nhập giáo dục, quốc tế hóa.
Quốc tế hóa Giáo dục đại học đang là xu thế phát triển chung của các trường đại học trên thế giới và Việt Nam. Quốc tế hóa Giáo dục đại học đã và đang góp phần nâng cao chất lượng trải nghiệm học tập toàn cầu, thúc đẩy quá trình hội nhập của GDDH Việt Nam trong khu vực và trên thế giới để từ đó mang lại tiềm năng nghề nghiệp cho sinh viên.
- Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều cách để tiếp cận quốc tế hóa Giáo dục đại học, điển hình như:
Trao đổi SV và GV ra nước ngoài. Việc trao đổi SV và GV từ nước ngoài đến Việt Nam và ngược lại nhằm mục đích nâng cao thứ hạng quốc tế của các trường đại học Việt Nam, góp phần làm phong phú trải nghiệm đa văn hóa và ngôn ngữ cho SV, GV Việt Nam qua việc tiếp xúc với SV, GV nước ngoài, tạo chất xúc tác cho việc đổi mới Chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Đào tạo liên kết quốc tế. Trong những năm vừa qua, các chương trình liên kết quốc tế tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Hiện nay có khoảng hơn 300 chương trình liên kết và bằng đôi cấp các chứng chỉ hoặc bằng cấp được hợp tác với 32 nước, tăng lên so với 133 chương trình vào năm 2013. Các Chương trình đào tạo liên kết quốc tế đã tạo điều kiện hợp tác quốc tế cho các trường đại học Việt Nam và việc nhập khẩu các chương trình học của nước ngoài. Tuy nhiên, có những vấn đề liên quan đến mô hình chương trình liên kết mà Việt Nam đang thiếu khung quy định chặt chẽ và minh bạch cho việc đảm bảo và Kiểm định chất lượng và thiếu các chiến lược để đảm bảo tính bền vững cho các chương trình xuyên quốc gia này.
Thành lập các Cơ sở giáo dục đại học quốc tế. Trong những năm qua, các chính sách của Chính phủ đã bắt đầu tạo các điều kiện và cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư quốc tế và các trường đại học nước ngoài mở các cơ sở chi nhánh quốc tế tại Việt Nam như trường Đại học RMIT Việt Nam – RMIT University Vietnam, và trường Đại học Anh quốc Việt Nam – British University Vietnam) hoặc hợp tác với các trường đại học địa phương.
Sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy. Việc mở thêm các khóa học, các quy định sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy là một trong những yếu tố then chốt trong việc thu hút thêm nhiều SV quốc tế cũng như trang bị ngôn ngữ cho chính SV trong trường. Điển hình như Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 23/2020/TT-BGDĐT ngày 18/7/2020 Thông tư ban hành quy định về đào tạo CLC trình độ đại học quy định “Có ít nhất 20% số tín chỉ các học phần thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, ngành và chuyên ngành được dạy bằng ngôn ngữ của Chương trình đào tạo nước ngoài hoặc Tiếng Anh”.
Quốc tế hóa đã góp phần làm phong phú và đa dạng hóa hệ thống Giáo dục đại học Việt Nam về mặt kiến trúc và hoạt động của trường, chương trình, hoạt động, và các mô hình trao đổi và dịch chuyển SV.
Tuy nhiên, việc quốc tế hóa Giáo dục đại học cần được thực hiện một cách bài bản hơn khi đối tượng có thể theo học như hiện nay đang còn hẹp, chủ yếu là những SV có thể đủ khả năng chi trả tiền học phí và thỏa mãn được các yêu cầu về đầu vào của các Chương trình đào tạo quốc tế hóa. Đồng thời, việc tuyển sinh vào các Chương trình đào tạo liên kết cũng gây nghi vấn về chất lượng, vì các chương trình này thường không đòi hỏi phải thi tuyển sinh hoặc nhận SV dựa vào điểm số học tập thấp hơn so với yêu cầu cho các Chương trình đào tạo khác tại các Cơ sở giáo dục công của Việt Nam. Bên cạnh đó, các hoạt động quốc tế hóa chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nghề nghiệp có nhu cầu cao như kinh tế, kinh doanh và kế toán.
Cùng với xu thế hội nhập, quốc tế hóa giáo dục tác động mạnh mẽ đến các trường đại học nói chung và trường Đại học Kinh tế nói riêng. Với chủ trương quốc tế hóa giáo dục mạnh mẽ, Nhà trường đã và đang từng bước tiếp cận với việc đào tạo liên kết quốc tế với các trường Đại học danh tiếng như: Đại học Troy – Top 100 trường Đại học tốt nhất nước Mỹ, Đại học Benedictine – Đại học Top 1 khu vực Trung và Bắc Mỹ, Đại học Uppsala – Đại học Top 2 Thụy Điển, Top 87 thế giới; triển khai đào tạo Chương trình đào tạo cử nhân CLC đáp ứng theo Thông tư 23/TT-BGDĐT; cử GV đào tạo ở nước ngoài; cử SV đi trao đổi quốc tế và đón nhiều lượt SV và nghiên cứu sinh từ các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Đan Mạch. Quốc tế hóa giáo dục đặt ra yêu cầu cấp bách về đổi mới đào tạo, tính liên thông với các Chương trình đào tạo tại các trường ĐH hàng đầu trên thế giới sẽ mở ra nhiều cơ hội liên kết đào tạo dưới mô hình 2+2, hay 3+1, vừa tăng uy tín cho trường Đại học Kinh tế, vừa tạo ra giá trị gia tăng cho SV. Song để đáp ứng được yêu cầu của trường đối tác nước ngoài, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của Nhà trường phải được cải thiện và không ngừng cải tiến để đáp ứng yêu cầu của các tiêu chuẩn quốc tế.
2.5.2 Các yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Thứ nhất, nhận thức của lãnh đạo và các thành viên trong nhà trường về Đảm bảo chất lượng đào tạo
Nhận thức của lãnh đạo nhà trường về Đảm bảo chất lượng đào tạo là yếu tố quyết định các cơ chế, chính sách để xây dựng, duy trì và cải tiến hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của trường Đại học Kinh tế.
Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế luôn đề cao và coi trọng công tác Đảm bảo chất lượng nói chung và hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo nói riêng, điều đó phần nào thể hiện qua “Chiến lược phát triển Trường Đại học Kinh tế đến năm 2026, tầm nhìn đến năm 2030” với mục tiêu đến năm 2026 trường Đại học Kinh tế “Trở thành một trong những trường đại học định hướng nghiên cứu hàng đầu ở Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, đạt tiêu chuẩn kiểm định trong nước, trong đó có một số ngành được kiểm định theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN-QA); được xếp hàng ngang tầm với một số đại học tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á trong một số ngành và lĩnh vực”. Theo đó, các giải pháp trọng tâm mà Nhà trường đặt ra để thực hiện được mục tiêu và gắn với Đảm bảo chất lượng đào tạo là 1) Tiếp tục cải tiến nội dung, tổ chức thực hiện các Chương trình đào tạo phù hợp với các tiêu chuẩn kiểm định trong nước và quốc tế. Xây dựng ngân hàng đề thi và đáp án chuẩn cho các môn học. Đảm bảo kỷ cương học và dạy trong toàn Trường; 2) Thực hiện thường xuyên công tác kiểm định nội bộ các Chương trình đào tạo theo các tiêu chuẩn của một số tổ chức Kiểm định chất lượng có uy tín trong và ngoài nước 3) Đẩy mạnh công tác Đảm bảo chất lượng của Trường, thiết lập hệ thống Đảm bảo chất lượng giáo dục nội bộ theo các tiêu chuẩn Đảm bảo chất lượng của khu vực quốc tế.
Có thể thấy, lãnh đạo Nhà trường đã quan tâm đúng đắn tới Đảm bảo chất lượng đào tạo của Nhà trường. Tuy nhiên các giải pháp trọng tâm đặt ra còn mang tính chất chung chung, chưa có các giải pháp cụ thể đi sâu vào hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo. Công tác hậu Kiểm định chất lượng các Chương trình đào tạo, Kiểm định chất lượng Cơ sở giáo dục chưa được chỉ đạo sát sao; công tác tài chính đầu tư để hoàn thiện hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo chưa được chú trọng; …
Bên cạnh đó, một số bộ phận GV, chuyên viên, Cán bộ quản lý chưa nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo cho Nhà trường, dẫn đến tình trạng làm việc đối phó, khó khăn trong quá trình phối hợp để thực hiện các công việc có liên quan đến Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Khảo sát cho thấy, nhận định trên là hoàn toàn đúng đắn. Cụ thể:
Hình 2.5: Đánh giá của GV, Cán bộ quản lý, chuyên viên về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của trường Đại học Kinh tế. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Tài chính cho hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu là yếu tố gây ảnh hưởng nhiều nhất với 89.8% ý kiến đồng ý.
Xếp sau là hệ thống văn bản quản lý chất lượng đào tạo thiếu và chưa đồng bộ; nhận thức của cán bộ, GV, SV về Đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đầy đủ với 87.5% ý kiến đồng ý. Số lượng và chất lượng NNL còn hạn chế; chính sách và văn hóa chất lượng chưa đầy đủ chiếm 86.4% ý kiến đồng tình.
- Thứ hai, số lượng và chất lượng của đội ngũ phụ trách Đảm bảo chất lượng đào tạo
Hiện nay, đội ngũ chuyên trách công tác Đảm bảo chất lượng có 04 người với trình độ chuyên môn như sau: 03 thạc sĩ chuyên ngành Đo lường đánh giá trong giáo dục, Quản lý Kinh tế, Luật và 01 cử nhân chuyên ngành Khoa học Quản lý. Đội ngũ này là đội ngũ đã gắn bó lâu năm tại Trường, có nhiều kinh nghiệm trong việc tư vấn, tổ chức thực hiện các hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác Đảm bảo chất lượng luôn có ý thức trau dồi kiến thức bằng việc tham gia các lớp tập huấn do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, học thêm các lớp nghiệp vụ như phần mềm xử lý số liệu SPSS, STATA, … và hiện đang có 01 người đang theo học Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, 01 người đang theo học Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
Bên cạnh đó, đội ngũ thực hiện công tác Đảm bảo chất lượng đào tạo của Nhà trường rải rác ở các phòng chức năng như phòng Đào tạo, phòng Thanh tra và Pháp chế, Phòng Hành chính – Tổng hợp, phòng Tổ chức – Nhân sự và các Khoa/Viện. Hầu hết đội ngũ có trình độ chuyên môn thạc sĩ trở lên và đã có thâm niên công tác tại Trường, có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện các công tác tuyển sinh, xây dựng/điều chỉnh Chương trình đào tạo, Cơ sở vật chất, ….
Tuy nhiên, vai trò chủ động và tính trách nhiệm của đơn vị đào tạo là các Khoa/Viện trong các hoạt động giám sát, kiểm tra đánh giá việc thực hiện các chính sách và quy trình Đảm bảo chất lượng, hay tham gia trực tiếp vào việc đánh giá sinh viên, định kỳ thẩm định các hoạt động cốt lõi của Chương trình đào tạo, … chưa được thể hiện rõ. Công tác Đảm bảo chất lượng đào tạo ở các cấp Khoa/Viện trong thực hiện quản lý Chương trình đào tạo gần như bị bỏ ngỏ, trách nhiệm dường như đang thuộc về bộ phận Đảm bảo chất lượng chuyên trách của nhà trường. Chính vì vậy, việc quản lý chất lượng giữa các cấp trường, bộ phận, Khoa/Viện đối với Chương trình đào tạo còn thiếu đồng bộ, thiếu sự liên kết, tương trợ lẫn nhau. Do đó, để thiết lập một hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo có cấu trúc để giám sát chất lượng, để cải thiện chất lượng và để đánh giá chất lượng, trường Đại học Kinh tế cần chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ cấp Khoa/Viện/CTĐT thực hiện công tác Đảm bảo chất lượng (phát triển từ đội ngũ cán bộ giảng viên, chuyên viên/trợ lý Khoa) Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.6. Đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng hoạt động đào tạo đại học tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
2.6.1. Điểm mạnh
- Về xác lập chuẩn và quy trình
Hầu hết các hoạt động đều đã xây dựng quy trình thực hiện, có các tiêu chí và mốc chuẩn để đào tạo gắn với Chuẩn đầu ra, phù hợp với các quy định của Bộ GD&ĐT, Đại học Quốc gia Hà Nội và mục tiêu mà Nhà trường đã đặt ra:
Công tác tuyển sinh: Thực hiện hiệu quả các kế hoạch tuyển sinh với kết quả số lượng SV nhập học ngày càng tăng và thường xuyên vượt chỉ tiêu; góp phần quan trọng trong việc quảng bá thương hiệu Nhà trường.
Xây dựng/điều chỉnh Chương trình đào tạo: xây dựng các tiêu chí xây dựng/điều chỉnh Chương trình đào tạo rõ ràng; quy trình thực hiện được xây dựng khoa học giúp các bên liên quan dễ dàng theo dõi và thực hiện, hạn chế được các sai sót không đáng có.
Hoạt động dạy học: các tiêu chí thực hiện hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chuẩn đầu ra; quy trình, kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chuẩn đầu ra được xây dựng theo hướng lấy người học làm trung tâm.
SV tốt nghiệp: Các tiêu chí thu thập, xử lý thông tin đầu ra bám sát yêu cầu Chuẩn đầu ra; Quy trình thực hiện khảo sát SVTN được xác lập khoa học; Kế hoạch thu thập, xử lý thông tin được xây dựng hàng năm và điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế, tăng hiệu quả thực hiện.
- Về tổ chức thực hiện Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Công tác tuyển sinh: Thực hiện hiệu quả các kế hoạch tuyển sinh với kết quả số lượng SV nhập học ngày càng tăng và thường xuyên vượt chỉ tiêu; góp phần quan trọng trong việc quảng bá thương hiệu Nhà trường. Hoạt động tư vấn tuyển sinh phong phú, đa dạng.
Xây dựng/điều chỉnh Chương trình đào tạo: Tổ chức và chỉ đạo thực hiện đúng quy trình xây dựng và điều chỉnh Chương trình đào tạo.
Hoạt động dạy học: Các hình thức phổ biến thông tin đến GV để họ thực hiện hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu Chuẩn đầu ra đa dạng, công khai và minh bạch, GV có thể tra cứu thông tin dễ dàng với nhiều hình thức khác nhau. Đội ngũ cán bộ phụ trách thuộc các phòng đào tạo, phòng tổ chức nhân sự, trung tâm Đảm bảo chất lượng giáo dục luôn nhiệt tình giải đáp, giúp đỡ GV thông hiểu quy trình, quy định khi có yêu cầu. Kế hoạch dạy học được GV và các bên liên quan thực hiện đúng quy định.
SV tốt nghiệp: Đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động thu thập, xử lý thông tin ĐTKS SVTN có nhiều năm kinh nghiệm cũng như trình độ chuyên môn để thực hiện tốt hoạt động này. Ngoài ra khả năng phối hợp thực hiện của đội ngũ này rất tốt, giúp cho việc thực hiện kế hoạch thu thập được thuận lợi và nhanh chóng
- Về đánh giá mức độ thực hiện
Công tác tuyển sinh: Công cụ giám sát, đo lường, đánh giá thực hiện hoạt động tuyên truyền, truyền thông thương hiệu của nhà trường, tư vấn tuyển sinh cụ thể, rõ ràng, đánh giá chính xác mức độ thực hiện.
Hoạt động dạy học: hoạt động giám sát, đánh giá việc thực hiện quy trình, kế hoạch thực hiện hoạt động dạy học được thực hiện bài bản và hiệu quả, giúp Nhà trường phát hiện ra các bất cập, tồn tại trong quá trình dạy học.
SV tốt nghiệp: Hoạt động giám sát, đánh giá việc thực hiện quy trình, kế hoạch thu thập, xử lý thông tin ĐTKS SVTN được thiết lập và thực hiện.
2.6.2. Điểm tồn tại và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Trường Đại học Kinh tế đã nỗ lực trong công tác đào tạo và Đảm bảo chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu về nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng Chuẩn đầu ra nhưng cũng còn bộc lộ một số hạn chế:
- Về xác lập chuẩn
Công tác tuyển sinh: Tuy việc xác định ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào được thực hiện đúng quy định và phù hợp với ngành đào tạo nhưng ngưỡng Đảm bảo chất lượng đầu vào còn thấp, hạn chế khả năng sàng lọc các thí sinh có trình độ tốt.
- Hoạt động dạy học:
+) Chưa có 01 bộ tiêu chí thực hiện hoạt động dạy học đầy đủ, các tiêu chí thực hiện đang được quy định bởi nhiều văn bản khác nhau, cần thống nhất và xây dựng 01 bộ tiêu chí chung để các bên liên quan dễ dàng thực hiện.
+) Các tiêu chí còn rời rạc, chưa tập trung đi sâu vào đánh giá kết quả giảng dạy của GV.
+) Quy định kỷ cương dạy và học được xây dựng từ năm 2017, có nhiều điểm hạn chế, bất cập như: chưa quy định rõ ràng trách nhiệm Khoa/Viện quản lý về mặt chuyên môn (chất lượng giảng dạy các học phần), các phòng ban chức năng quản lý về mặt hành chính, vai trò, trách nhiệm, hoạt động của Ban cán sự các lớp học phần,
- Về tổ chức thực hiện
Hoạt động dạy học: SV tham gia ĐTKS đánh giá hoạt động giảng dạy của GV chưa tốt, còn mang tính hình thức dẫn đến nhiều lượt giảng dạy không được đánh giá, khó khăn cho Nhà trường trong việc quản lý, đánh giá chất lượng giảng dạy của GV.
- SV tốt nghiệp:
+) Nhiều thông tin liên lạc của SVTN có thay đổi so với dữ liệu hồ sơ khai báo ban đầu nên khó khăn trong việc liên lạc.
+) Phần nhiều các thông tin thu thập từ SVTN được thực hiện thông qua phỏng vấn qua điện thoại và email, SVTN đa phần đều đang trong quá trình ổn định công việc, không bố trí được thời gian gặp trực tiếp nên số các trường hợp phỏng vấn trực tiếp không nhiều. Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
+) Chưa có chế tài/chính sách động viên SVTN đóng góp ý kiến cho Nhà trường.
- Nguyên nhân của tồn tại
Những tồn tại đang mắc phải được xác định bởi các nguyên nhân sau:
- Nhận thức, sự đồng thuận trong thực hiện và đầu tư nguồn lực tài chính cho hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo của lãnh đạo và các thành viên trong Nhà trường còn chưa
- Nguồn nhân lực thực hiện các hoạt động Đảm bảo chất lượng còn thiếu về số lượng và năng lực còn hạn chế. Đặc biệt là chưa chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ cán bộ cấp Khoa/CTĐT thực hiện công tác Đảm bảo chất lượng (phát triển từ đội ngũ cán bộ GV, chuyên viên/trợ lý Khoa).
- VHCL chưa trở thành yếu tố then chốt trong hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo của Nhà trường.
- Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo chưa khuyến khích và thúc đẩy thường xuyên vai trò chủ động, tích cực của các bên liên quan vào công tác Đảm bảo chất lượng đào tạo;
- Hệ thống văn bản về chính sách về chất lượng đào tạo chưa thống nhất với chính sách chất lượng, chưa xác định theo thứ tự ưu tiên liên quan đến việc định hướng cho quá trình cải tiến liên tục hệ thống Đảm bảo chất lượng.
- Chưa áp dụng mạnh mẽ nền tảng công nghệ thông tin vào việc thực hiện Đảm bảo chất lượng đào tạo.
Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Kết quả nghiên cứu ở chương 2 cho thấy:
Hoạt động đào tạo tại trường Đại học Kinh tế đã có nhiều thành tích nổi bật trong những năm vừa qua, nổi bật nhất là công tác tuyển sinh, hoạt động dạy học với số lượng SV nhập học ngày càng tăng; Đội ngũ giảng viên và Cán bộ quản lý tăng về số lượng và chất lượng, đảm bảo trẻ hóa đội ngũ này; hoạt động dạy học luôn lấy người học làm trung tâm, giảng dạy theo hướng định hướng thực hành/thực tế; Cơ sở vật chất luôn được Nhà trường đầu tư và tăng cường các thiết bị dạy học.
Về hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo, trường Đại học Kinh tế đã xây dựng được các quy trình thực hiện, có các tiêu chí và mốc chuẩn để đào tạo gắn với Chuẩn đầu ra, phù hợp với các quy định của Bộ GD&ĐT, Đại học Quốc gia Hà Nội và mục tiêu mà Nhà trường đặt ra, nổi bật là quy trình tuyển dụng, quy trình xây dựng/điều chỉnh Chương trình đào tạo, quy trình quản lý Cơ sở vật chất với các bước thực hiện rõ ràng, thuận lợi cho việc phối hợp thực hiện giữa các phòng, Khoa/Viện; tổ chức thực hiện các quy trình đầy đủ, góp phần bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo; đặc biệt là giúp cho cán bộ, GV, SV nhà trường thích ứng với mô hình Quản lý chất lượng phù hợp với Giáo dục đại học nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo của trường Đại học Kinh tế trong thời gian qua vẫn gặp phải nhiều tồn tại và hạn chế cần được khắc phục, đó là: Nhận thức, sự đồng thuận trong thực hiện và đầu tư nguồn lực tài chính cho hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo của lãnh đạo và các thành viên trong Nhà trường còn chưa cao; nguồn nhân lực thực hiện các hoạt động Đảm bảo chất lượng còn thiếu về số lượng và năng lực còn hạn chế; Văn hóa chất lượng chưa trở thành yếu tố then chốt trong hoạt động Đảm bảo chất lượng đào tạo của Nhà trường; … Luận văn: Thực trạng hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp hệ thống Đảm bảo chất lượng đào tạo

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
