Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các Trường THPT Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế – xã hội Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía Đông Nam của nội thành Hà Nội, là địa bàn có vinh dự được mang tên hai vị Nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị. Phía Bắc giáp Quận Hoàn Kiếm đi theo đường Nguyễn Du, sau đó chuyển sang phố Vạn Kiếp rồi ra bờ sông Hồng. Ranh giới tự nhiên phía Đông là sông Hồng (bên kia là Quận Long Biên), phía Nam giáp huyện Thanh Trì, phía Tây giáp Quận Đống Đa và một phần nhỏ giáp Quận Thanh Xuân dọc theo trục đường Lê Duẩn và đường Giải Phóng. Đây vốn là đất của huyện Thọ Xương xưa. Đầu thế kỉ XX, phần phía Bắc thuộc tỉnh Hà Nội, còn phần phía Nam thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Trước năm 1961 lập ra khu Hai Bà Trưng thuộc nội thành Hà Nội. Từ đó đến nay, Quận Hai Bà Trưng luôn luôn được mở rộng.
Hiện nay, Quận Hai Bà Trưng có diện tích tự nhiên: 10,09km², dân số 344.589 người; 20 phường và trụ sở UBND Quận: số 32 phố Lê Đại Hành.
Năm 2025, các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của Quận Hai Bà Trưng đều cơ bản hoàn thành. Giá trị sản xuất, thương mại, dịch vụ đạt 1.585 tỷ đồng (đạt 97% kế hoạch); các công trình dự án trọng điểm hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội được tích cực triển khai; đã tổ chức gắn biển khánh thành di tích đền Cơ Xá… Vào những tháng cuối năm 2025, Quận cũng đã tập trung chỉ đạo giải ngân các dự án đầu tư cho giáo dục cũng như đẩy mạnh hoạt động chuẩn bị cho đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Quận Hai Bà Trưng cũng là địa bàn tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp của Trung ương và thành phố như dệt kim Đồng Xuân, cảng Hà Nội, cụm công nghiệp Minh Khai – Vĩnh Tuy với hàng chục xí nghiệp, nhà máy chủ yếu thuộc các ngành dệt, cơ khí, chế biến thực phẩm… Đây là điều kiện thuận lợi giúp Quận tăng cường phát triển kinh tế. Hơn nữa, kinh tế nhiều thành phần trên địa bàn Quận phát triển nhanh. Hiện trên địa bàn Quận có hơn 3.200 doanh nghiệp, trong đó 75% là thương mại, dịch vụ, còn lại là hoạt động công nghiệp. Năm 2025, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,5%; doanh thu thương mại, du lịch, dịch vụ tăng hơn 20%; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Quận đạt 1003,841 tỷ đồng.
Về công tác xã hội: Hơn 5 năm qua Quận đã hỗ trợ sửa chữa và xây dựng 167 nhà đại đoàn kết, hỗ trợ cho 1.231 hộ gia đình thoát nghèo, trên 34.000 lao động được giới thiệu việc làm. Đến nay, số hộ nghèo trong toàn Quận còn 1.005 hộ.
Công tác y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình; công tác giáo dục đào tạo; công tác thông tin tuyên truyền và tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao tiếp tục giữ vững và đạt kết quả tốt trong nhiều năm qua.
Năm 2026, Quận Hai Bà Trưng xác định tập trung phát triển kinh tế với mức tăng trưởng cao, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo hướng dịch vụ – công nghiệp, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12% và giá trị các ngành dịch vụ ngoài quốc doanh tăng 18%. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa đầu tư, phát triển ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin trong công tác quản lý. Quận cũng đặt mục tiêu quan tâm các đối tượng chính sách, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc dân sinh. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Dân số Quận không ngừng tăng. Nếu như năm 2019, toàn Quận có 306.409 người thì đến năm 2024 dân số của Quận đã tăng lên 344.589 người, dự kiến năm 2040 dân số Quận sẽ tăng lên 430.000 người.
Với quy mô và phát triển dân số tăng nhanh như vậy đã có tác động rất lớn đến quy mô giáo dục của Quận. Trung bình mỗi năm tổng số học sinh ở các cấp của Quận tăng khoảng 900 học sinh. Do vậy hệ thống trường học ở các cấp học của Quận nhìn chung bị quá tải sẽ dẫn đến tình trạng thiếu trường, thiếu lớp học; đặc biệt là ở cấp học Mầm non và Tiểu học.
2.2. Thực trạng giáo dục – đào tạo các trường trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986), đất nước ta đã mạnh mẽ chuyển đổi cơ chế, thực sự bước vào thời kì đổi mới về mọi mặt, trước hết là về kinh tế. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết Trung ương Bốn về “ Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo”, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy sự phát triển giáo dục đã thổi luồng sinh khí mới cho giáo dục. Tiếp theo đó là Nghị quyết Trung ương Hai khoá VIII về định hướng phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá. Quán triệt các Nghị quyết của Trung ương và Thành uỷ, các cấp bộ Đảng và chính quyền Quận đã đề ra các chương trình hành động, các giải pháp cụ thể phát triển GD – ĐT, khắc phục các tình trạng suy giảm của giáo dục vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, tạo tiền đề cho sự nghiệp GD – ĐT chuyển biến mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận Hai Bà Trưng nhiệm kỳ 2025 – 2031 đã đưa ra những định hướng chung về phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2025 – 2031 là “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khắc phục những tồn tại yếu kém của nền kinh tế, huy động tốt các nguồn lực, phấn đấu tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; tạo sự chuyển biến mới về văn hoá – xã hội, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội; củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới”.
Đảng bộ và các cấp chính quyền Quận luôn quan tâm đến phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Quận Hai Bà Trưng duy trì và giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục cấp Trung học cơ sở, từng bước hoàn thành phổ cập giáo dục cấp trung học; 100% các phường có trung tâm học tập cộng đồng hoạt động thường xuyên, có hiệu quả. Hệ thống trường học phát triển rộng khắp, toàn Quận có 87 trường học trong đó 38 trường mầm non, 22 trường Tiểu học, 16 trường Trung học cơ sở, 6 trường Trung học phổ thông, 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 Trung tâm kỹ thuật tổng hợp, 01 trường chuyên biệt. Quận đã đa dạng hóa các loại hình giáo dục và các hình thức học tập. Đó là những thuận lợi, tiềm năng to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
2.2.1. Quy mô, mạng lưới trường lớp, học sinh năm 2025 – 2026 Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
- Quy mô, mạng lưới trường lớp
Bảng 2.1. Quy mô, mạng lưới trường lớp Quận Hai Bà Trưng năm 2025 – 2026
Trong những năm qua, quy mô giáo dục toàn ngành khá ổn định. Duy trì sĩ số hàng năm đạt 98%, cấp tiểu học đạt 100%; tỉ lệ chuyển cấp tiểu học đạt 100%; tỉ lệ tuyển sinh vào lớp 10 đạt 90% đến 95% tổng số học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở.
- Chất lượng giáo dục các cấp học năm học 2025 – 2026
Công tác giáo dục hướng nghiệp, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục hành vi, lối sống, ý thức thực hiện nền nếp nhà trường luôn được chú trọng.
Công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật được quan tâm, trong đó chú trọng giáo dục thái độ, ý thức, hành vi nhân cách, giáo dục kĩ năng sống, giúp học sinh tự tin trong học tập và rèn luyện. Nền nếp, kỉ cương được tăng cường ở tất cả các cấp học, tỉ lệ học sinh vi phạm nội quy trường lớp ngày càng giảm, tỷ lệ hạnh kiểm khá, tốt được nâng lên. Tuy nhiên vẫn còn học sinh vi phạm các tệ nạn xã hội mặc dù tỉ lệ này không đáng kể.
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí minh” được triển khai, thực hiện nghiêm túc đã tạo nên những chuyển biến trong nhận thức của cả giáo viên và học sinh trong việc nâng cao ý thức tu dưỡng đạo đức, trong học tập và rèn luyện. Cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được triển khai thực hiện nghiêm túc đã củng nền nếp trong dạy và học ngày vững chắc; những tiêu cực trong kiểm tra, thi cử, đánh giá bị đẩy lùi, kết quả giáo dục và đào tạo đảm bảo phản ánh thực chất kết quả dạy và học của mỗi nhà trường.
Bảng 2.2. Tổng hợp xếp loại 2 mặt giáo dục năm 2025 – 2026
- Qua bảng trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Tỷ lệ học lực của các cấp học có sự biến đổi rõ rệt. Nếu như cấp tiểu học, học lực giỏi chiếm phần lớn (chiếm tới 89,00%) và không có tỷ lệ học lực yếu thì đến cấp học cao hơn (THCS và Trung học phổ thông) tỷ lệ này giảm nhanh “chóng mặt” (THCS: 48,35%, Trung học phổ thông: 19,83%) và đặc biệt đã xuất hiện học lực kém ở 2 cấp học này (THCS: 2,15%, Trung học phổ thông: 9,05%).
Hạnh kiểm ở các cấp học cũng có sự thay đổi nhưng nhìn chung đạt kết quả rất tốt, cả 3 cấp học, hạnh kiểm khá, tốt của học sinh đều đạt trên 90% và hạnh kiểm yếu cao nhất là ở cấp Trung học phổ thông cũng chỉ chiếm 0,82%.
2.2.2. Thực trạng các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng
Hiện nay, trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng đã có 06 trường Trung học phổ thông trong đó có 03 trường công lập, 03 trường ngoài công lập. Các trường được đặt ở vị trí khác nhau trên địa bàn Quận theo khu vực dân cư.
Hàng năm các trường Trung học phổ thông trong toàn Quận Hai Bà Trưng tuyển sinh được khoảng 90% – 95% học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở vào học cấp Trung học phổ thông, cao hơn so với tỉ lệ 85% – 90% trung bình của thành phố.
- Số học sinh
Số lượng HS các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.3. Số lượng HS các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng
Số lượng học sinh và số lớp học các trường Trung học phổ thông qua các năm không ngừng tăng, tuy nhiên sự biến đổi này không lớn. Nếu như năm 2023 – 2024 toàn Quận chỉ có 6565 học sinh Trung học phổ thông và 148 lớp học thì đến năm 2025 – 2026 toàn Quận có 7180 học sinh Trung học phổ thông và 159 lớp học (mỗi năm tăng 5,4% số học sinh và 5,3% số lớp học).
Số lượng học sinh tập trung chủ yếu ở các trường công lập (chiếm khoảng 90%). Điều này phần nào cũng phản ánh được chất lượng giáo dục đào tạo ở các trường Quận Hai Bà Trưng là rất tốt.
Tổng số lớp học trong toàn Quận ngày càng tăng, tuy nhiên sự biến động này chỉ tập trung vào các trường dân lập, đặc biệt phải nói đến số lượng lớp học Trường Trung học phổ thông dân lập Đông Kinh tăng quá nhanh. Nếu như năm 2023 – 2024 chỉ có 04 lớp học thì đến năm 2025 – 2026 con số này đã tăng lên 11 lớp học (tăng gần gấp 3 lần).
- Cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Trang thiết bị nhà trường phục vụ cho việc dạy và học, hiệu quả sử dụng chưa cao. Phòng thiết bị sử dụng chưa đúng chức năng chỉ là kho chứa thiết bị các bộ môn. Trong mấy năm gần đây, trường đã được trang bị một số thiết bị dạy học hiện đại nhưng so với yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Những điều này ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ trong việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các nhà trường trong những năm qua đã được chú trọng đầu tư mới, các trường đều có nhà học cao tầng khang trang, rộng rãi. Nhưng do các trường đều phát triển mạnh về quy mô nên hầu hết các trường mới đủ phòng học 2 ca/ngày, đặc biệt các trường Trung học phổ thông dân lập học sinh vẫn còn phải học ở một số phòng học cấp bốn hay học tại những cơ sở mà chưa đủ tiêu chuẩn nhà trường phải đi thuê.
Các trường Trung học phổ thông công lập đều có 2 phòng máy với tổng số máy vi tính từ 40 máy trở lên, nhưng kết nối Internet chưa đảm bảo cho việc học Tin học trong nhà trường, các trường Trung học phổ thông dân lập máy vi tính chưa được trang bị hoặc đã được trang bị nhưng bị lỗi thời.
Tất cả các trường đều không có phòng nghe nhìn và không có nhà đa chức năng phục vụ cho các hoạt động tập thể và ngoài giờ lên lớp. Thiết bị thí nghiệm, thư viện chưa được trang bị hoặc đã trang bị nhưng còn sơ sài, thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy của GV và học tập của học sinh.
- Bảng 2.4: Số liệu thống kê số phòng học, phòng chức năng năm học 2024 – 2025
Nhìn chung, cơ sở vật chất của các trường Trung học phổ thông trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng còn khó khăn, thiếu thốn chưa đáp ứng đầy đủ cho yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
- Chất lượng giáo dục của các trường
Trong các năm qua, chất lượng giáo dục toàn diện của các trường từng bước được nâng cao và ổn định, nhưng có sự chênh lệch lớn giữa các trường do chất lượng đầu vào không đồng đều.
- Bảng 2.5. Điểm chuẩn tuyển sinh vào 10 từ năm học 2023- 2024 đến nay
Bảng trên cho thấy: chất lượng đầu vào không đồng đều, có sự chênh lệch lớn giữa các trường. Các Trường có điểm đầu vào khá cao thuộc tốp các trường công lập; Ngược lại, các trường dân lập lại có chất lượng đầu vào rất thấp, đặc biệt là trường Trung học phổ thông Dân lập Mai Hắc Đế do các năm học trước là trường bán công không được thi tuyển mà phải xét tuyển sau các trường công lập. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Tuy nhiên, trong các năm qua hầu hết các trường đều chú trọng đến việc tăng trưởng mạnh về quy mô để phục vụ cho công tác phổ cập bậc Trung học phổ thông và nghề của Quận mà chưa chú ý đến chất lượng đầu vào của học sinh.
Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp Trung học phổ thông bình quân hàng năm đạt từ 95% – 99%, đạt và vượt mặt bằng chung của thành phố. Từ năm học 2023 – 2024 khi toàn ngành thực hiện cuộc vận động “hai không” của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, các trường Trung học phổ thông trong Quận đã tích cực xây dựng phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá HS nên chất lượng giáo dục vẫn được giữ vững, tỉ lệ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông đạt và vượt mặt bằng chung của thành phố và cả nước.
- Bảng 2.6. Kết quả thi tốt nghiệp Trung học phổ thông từ năm học 2023 – 2024 đến nay
Tỉ lệ học sinh thi đỗ vào ĐH – CĐ bình quân đạt 65% – 75%, thi đỗ vào các trường trung cấp chuyên nghiệp từ 75% – 85%. Mỗi năm có khoảng hơn 5000 học sinh thi đỗ vào các trường ĐH – CĐ trong cả nước. Các trường có tỉ lệ đỗ ĐH – CĐ cao vẫn tập trung chủ yếu vào các trường công lập đặc biệt là trường Trung học phổ thông Thăng Long số lượng học sinh đỗ vào ĐH-CĐ năm 2025 – 2026 đạt tỷ lệ 86,5% và có nhiều học sinh thi đỗ thủ khoa các trường ĐH – CĐ trong cả nước. Bên cạnh đó tỷ lệ học sinh đỗ vào ĐH-CĐ của các trường Trung học phổ thông dân lập lại rất thấp chỉ đạt khoảng 30,25%, đặc biệt trường Trung học phổ thông dân lập Mai Hắc Đế năm học 2025 – 2026 tỷ lệ này chỉ đạt 25,12%. Điều này cũng phản ánh chất lượng đào tạo ở các trường dân lập còn rất kém.
- Bảng 2.7. Tỷ lệ thi tuyển sinh ĐH – CĐ từ năm học 2023 – 2024 đến nay
Mặc dù kết quả chất lượng giáo dục của các trường có nhiều chuyển biến tích cực, song có nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đòi hỏi: chất lượng giáo dục đại trà còn thấp; kỹ năng sống, hoạt động tập thể của học sinh rất hạn chế.
2.2.3. Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Công tác chỉ đạo, quản lý trường học còn yếu, nhất là khâu lập kế hoạch và biện pháp chỉ đạo để thực hiện nâng cao chất lượng các môn học. Năng lực của cán bộ quản lý chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của xã hội học tập. Muốn tạo ra một xã hội học tập bản thân các nhà trường phải là nơi thu hút học sinh đến trường, tự tìm hiểu và khám phá dưới sự hướng dẫn của GV.
Ngân sách chi cho giáo dục còn thấp. Công tác quy hoạch chưa đem lại hiệu quả (một số giáo viên có năng lực sau khi được cử đi đào tạo, kết thúc khóa học đều tìm cách chuyển công tác).
Thiết bị dạy học quá lạc hậu, các vấn đề về nhà ở cho học sinh trọ học đang là vấn đề khó khăn của các nhà trường. Tệ nạn xã hội đang tìm cách xâm nhập trường học ngày càng tinh vi, khó kiểm soát, bạo lực học đường đang có chiều hướng gia tăng, những vấn đề đó đang là những thách thức cho nhà trường, địa phương và ngành giáo dục.
Công tác thanh kiểm tra chưa được coi trọng thường xuyên, một số mảng công việc chưa được quan tâm đúng mức: Công tác quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý chuyên môn, đề bạt bổ nhiệm cán bộ chưa theo quy hoạch. Công tác điều tra khảo sát, tổ chức hội thảo để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh chưa được coi trọng. Năng lực của các tổ trưởng chuyên môn còn nhiều hạn chế, các buổi sinh hoạt chuyên môn của các tổ nặng về thủ tục hành chính kiểm tra sự vụ.
2.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
2.3.1. Số lượng và cơ cấu
- Số lượng đội ngũ giáo viên
Bảng 2.8. Số lượng cán bộ, đội ngũ giáo viên và nhân viên
- Căn cứ vào bảng thông kê số lượng giáo viên có thể rút ra nhận xét:
Tỷ lệ giáo viên/lớp ở các trường Trung học phổ thông công lập thấp hơn nhiều so với các trường Trung học phổ thông dân lập trên địa bàn Quận. Trường Trung học phổ thông Trần Nhân Tông có tỷ lệ giáo viên/lớp cao nhất ở khối trường công lập là 2,23% nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ giáo viên/ lớp của trường Trung học phổ thông dân lập Hồng Hà (trường có tỷ lệ giáo viên/lớp thấp nhất trong khối trường dân lập) và chưa bằng một nửa so với trường dân lập có tỷ lệ giáo viên/lớp cao nhất (trường Trung học phổ thông dân lập Mai Hắc Đế).
Tuy nhiên, tỷ lệ giáo viên/học sinh của các trường trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng tương đối phù hợp (trung bình 1 giáo viên dạy 19 học sinh).
- Bảng 2.9 . Số lượng giáo viên qua các năm
Số lượng giáo viên hàng năm đều tăng nhưng tỷ lệ không cao (chỉ hơn 1%/năm). Rất nhiều trường thiếu giáo viên đặc biệt là những giáo viên dạy ở các môn xã hội hoặc những môn không được chú trọng như địa lý, lịch sử…điều này đã gây không ít khó khăn trong việc phân công giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường.
Nguyên nhân thiếu giáo viên là do số sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc các môn xã hội rất ít, hằng năm hầu như không đủ để bố trí theo nhu cầu của các nhà trường. Nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp không có nhà ở Hà Nội lại quay về địa phương công tác hoặc một số thì chuyển ngành khác có mức lương cao hơn, số ít giáo viên đã công tác lâu năm hoặc có trình độ Thạc sỹ lại muốn chuyển công tác đến trường chuyên, lớp chọn của thành phố. Bên cạnh đó, ngành giáo dục chưa có chính sách đãi ngộ hợp lí để thu hút giáo viên tốt nghiệp loại giỏi các trường sư phạm về công tác tại trường mình.
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên
- Bảng 2.10. Cơ cấu đội ngũ giáo viên
Tỉ lệ nam và nữ có sự chênh lệch khá lớn. Theo thống kê từng bộ môn trong năm học 2023-2024 sự chênh lệch này còn lớn hơn nhiều. Giáo viên nam chủ yếu tập trung ở các môn khoa học tự nhiên, giáo viên nữ chủ yếu tập trung ở các môn khoa học xã hội; có bộ môn trên 90% là nữ như môn tiếng Anh, môn Địa lí, môn Lịch sử.
Đội ngũ giáo viên ngày càng được trẻ hoá, đặc biệt giáo viên tuổi dưới 30 chiếm tỉ lệ lớn, có bộ môn số giáo viên này chiếm trên 90%. Điều này cũng có nhiều thuận lợi nhưng cũng có khó khăn nhất định. Giáo viên trẻ thường nhiệt tình, sáng tạo trong công việc, mạnh dạn tiếp thu cái mới, ý thức vươn lên mạnh mẽ, có thế mạnh về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy và các hoạt động giáo dục. Có môn toàn bộ giáo viên đều trẻ, không có giáo viên nòng cốt, nên có nhiều hạn chế trong việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn – nghiệp vụ.
2.3.2. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
- Về trình độ đào tạo
- Bảng 2.11. Trình độ đào tạo đội ngũ giáo viên
Giáo viên có trình độ đào tạo sau đại học đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học phổ thông công lập khá cao (trung bình khoảng 19%) gấp xấp xỉ 2 lần giáo viên có trình độ đào tạo sau đại học ở các trường Trung học phổ thông dân lập (đạt khoảng 10%).
Giáo viên có trình độ cao đẳng ở các trường Trung học phổ thông công lập cũng thấp hơn nhiều giáo viên có trình độ cao đẳng ở các trường Trung học phổ thông dân lập trên địa bàn. Tỷ lệ giáo viên có trình độ cao đẳng các trường Trung học phổ thông dân lập cao gấp 5; 6 lần, cá biệt tỷ lệ giáo viên có trình độ cao đẳng ở trường Trung học phổ thông dân lập Mai Hắc Đế gấp 23 lần tỷ lệ giáo viên có trình độ cao đẳng ở các trường công lập. Điều này đã phản ánh trình độ đội ngũ giáo viên không đồng đều giữa trường Trung học phổ thông công lập với trường Trung học phổ thông dân lập.
- Trình độ ngoại ngữ, tin học
- Bảng 2.12. Trình độ ngoại ngữ, tin học đội ngũ giáo viên
Tất cả giáo viên các trường Trung học phổ thông trên địa bàn Quận đều có trình độ ngoại ngữ, và trình độ tin học từ loại A trở lên. Tuy nhiên, số giáo viên có chứng chỉ C ngoại ngữ trở lên còn rất thấp (đạt khoảng 30%), trình độ tin học C trở lên đối với các trường dân lập còn thấp đặc biệt trường Trung học phổ thông dân lập Đông Kinh và Trung học phổ thông dân lập Mai Hắc Đế chỉ có mỗi một cán bộ có trình độ C tin học trở lên.
Nhìn chung, nhiều giáo viên đã biết sử dụng máy vi tính để soạn giáo án, sử dụng bài giảng điện tử, khai thác mạng internet để phục vụ cho dạy học. Điều này là tín hiệu rất tốt để nâng cao chất lượng dạy học của các giáo viên cũng như chất lượng truyền đạt bài giảng cho học sinh Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
- Xếp loại đội ngũ giáo viên
- Bảng 2.13. Xếp loại phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống Đội ngũ giáo viên
Phầm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ giáo viên nhìn chung là tốt, tỷ lệ giáo viên cả trường Trung học phổ thông công lập và dân lập đạt kết quả từ khá trở lên rất cao (trên 95%). Chỉ rất ít giáo viên đạt kết quả trung bình về đạo đức, chính trị và lối sống (chỉ 1 đến 2 giáo viên). Điều này nói lên các giáo viên thực hiện rất nghiêm nội quy, quy chế cơ quan cũng như sự chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chính trị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Bảng 2.14. Xếp loại chuyên môn – nghiệp vụ đội ngũ giáo viên
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên ở các trường công lập khá, tốt (chiếm hơn 95%), ngược lại giáo viên các trường dân lập có trình độ chuyên môn – nghiệp vụ kém hơn (chỉ chiếm khoảng 80%) và đặc biệt cả 3 trường Trung học phổ thông dân lập đều có giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ kém. Điều này cũng phần nào phản ánh kết quả học tập của học sinh các trường.
- Bảng 2.15. Tổng hợp ý kiến đánh giá của chuyên gia về phẩm chất Đội ngũ giáo viên
Sau khi khảo sát 150 giáo viên về phẩm chất đội ngũ giáo viên ở các trường Quận Hai Bà Trưng (Phụ lục 01), chúng tôi đã thu được kết quả sau:
Từ bảng xếp loại đội ngũ giáo viên hàng năm và tổng hợp ý kiến đánh giá của chuyên gia trên cho thấy: hầu hết các tiêu chí xếp loại khá, tốt đều đạt từ 90% trở lên, trong đó tiêu chí 3 và 5 tỉ lệ khá, tốt đạt 100%. Điều đó chứng tỏ đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng có lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sáng, lành mạnh, tận tuỵ, gắn bó với nghề và có uy tín cao trong học sinh và nhân dân; có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau, có nghị lực vượt khó để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Những phẩm chất đạo đức của đội ngũ giáo viên được đánh giá cao, điều đó cũng có nghĩa là đạo đức của người người giáo viên phải chuẩn mực. Do vậy những chuẩn mực đạo đức xã hội phải hội tụ ở người thầy thì mới giúp học sinh phát triển toàn diện, hoàn thiện nhân cách; người thầy phải chuẩn mực mới đảm đương được nhiệm vụ “trồng người” cao cả. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
- Bảng 2.16. Tổng hợp ý kiến đánh giá của chuyên gia về kiến thức, năng lực chuyên môn – nghiệp vụ của Đội ngũ giáo viên
Sau khi khảo sát 150 giáo viên về kiến thức, năng lực chuyên môn – nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên ở các trường trong Quận Hai Bà Trưng (Phụ lục 02), chúng tôi đã thu được kết quả sau:
Kết quả tổng hợp xin ý kiến chuyên gia và bảng kết quả xếp loại cho thấy: trình độ kiến thức, năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên nhìn chung đều đạt yêu cầu, đảm nhiệm được công việc chuyên môn được giao theo chuyên ngành đã được đào tạo. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ chưa đồng đều, số giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi còn ít, một số giáo viên cao tuổi ngại đổi mới phương pháp, chưa tiếp cận được với công nghệ thông tin. Giáo viên được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn đào tạo từ cử tuyển và các lớp tạo nguồn năng lực chuyên môn cũng như khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục còn nhiều hạn chế nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học của các trường.
Hầu hết các tiêu chí mức trung bình chiếm tỉ lệ còn cao, điều này cũng đồng nghĩa với việc đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên phải có sự nỗ lực rất lớn trong việc nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ mới hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
- Danh hiệu thi đua
Bảng 2.17. Danh hiệu thi đua đạt được của đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Số giáo viên đạt các danh hiệu thi đua đặc biệt là danh hiệu “Chiến sĩ thi đua thành phố” nhìn chung còn thấp, đặc biệt có 02 trường Trung học phổ thông dân lập không có ai đạt “Danh hiệu chiến sĩ thi đua thành phố”. Điều này cũng cho thấy số giáo viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ còn ít, chưa có nhiều điển hình tiên tiến làm nòng cốt cho các hoạt động dạy học và giáo dục, đội ngũ chưa mạnh về chất lượng. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
2.4. Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Để tìm hiểu về thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên của trường trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã điều tra, khát sát 150 cán bộ quản lý, giáo viên của trường (Phụ lục 03) và thu được kết quả sau đây:
Bảng: 2.18: Khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên của các trường về nội dung phát triển đội ngũ giáo viên
2.4.1. Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tổ chức cán bộ đã chỉ rõ: “Công tác tổ chức cán bộ còn nhiều yếu kém. Đội ngũ cán bộ xét cả về số lượng, chất lượng cơ cấu còn nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài chưa ngang tầm với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Trong việc xây dựng công tác quy hoạch phát triển Đội ngũ giáo viên, các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng chỉ thực hiện việc lập kế hoạch tuyển chọn GV cho từng năm học mà chưa xây dựng được kế hoạch chiến lược và quy hoạch phát triển Đội ngũ giáo viên trong giai đoạn trung hạn 3 – 5 năm hay 5 – 10 năm. Hiệu trưởng nhà trường thường căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh, số học sinh đào tạo trong năm, số lượng Đội ngũ giáo viên hiện có, các điều kiện về CSVC,… để lập kế hoạch bổ sung GV cho năm học mới. Việc lập kế hoạch đã vận dụng một cách khéo léo giữa hai mô hình quản lý phát triển Đội ngũ giáo viên, đó là:
Mô hình phát triển Đội ngũ giáo viên từ trên xuống dưới, trong đó người hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính trong việc xác định nhu cầu, thiết kế thực hiện và đánh giá hoạt động phát triển Đội ngũ giáo viên trên cơ sở kế hoạch của nhà trường; từ đó vạch ra các biện pháp về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và tạo động lực để phát triển Đội ngũ giáo viên.
Mô hình phát triển Đội ngũ giáo viên từ dưới lên trên, trong đó, cá nhân và tập thể các Khoa, Bộ môn chỉ ra những mặt mạnh, hạn chế và nhu cầu phát triển của từng cá nhân, Khoa, Bộ môn. Từ đó tự đề ra nhu cầu và tham gia tự giác vào quá trình phát triển Đội ngũ giáo viên dưới sự quản lý của lãnh đạo nhà trường.
2.4.2. Triển khai công tác tuyển chọn, sử dụng đội ngũ giáo viên Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Công tác tuyển chọn giáo viên là công tác quan trọng nhằm phát triển về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng Đội ngũ giáo viên trong hệ thống các trường Trung học phổ thông.
- Việc thực hiện tuyển chọn đội ngũ được thực hiện theo quy trình các bước sau:
Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch đã được xây dựng, Hiệu trưởng nhà trường tiến hành tuyển chọn giáo viên cho các bộ môn còn thiếu. Việc tuyển chọn chủ yếu là dành cho các giáo sinh mới ra trường về làm công tác giảng dạy hợp đồng thử việc tại trường. Số lượng giáo viên được tuyển chọn làm công tác giảng dạy hợp đồng thường bằng hoặc ít hơn số lượng giáo viên cần tuyển dụng, hầu như không tuyển dôi dư do các nhà trường không có kinh phí chi trả. Bên cạnh đó một số bộ môn lại không có giáo sinh mới để tuyển chọn.
Do các trường Trung học phổ thông là đơn vị trực thuộc Sở GD&ĐT nên công tác tuyển dụng viên chức nhà nước được tiến hành theo quy định của liên Sở GD& ĐT – Sở nội vụ. Việc tiến hành tuyển dụng không được diễn ra liên tục hàng năm mà diễn ra từng đợt theo quy định của UBND thành phố.
- Thẩm quyền tuyển dụng có sự khác nhau giữa hai đợt tuyển dụng:
Đợt 1: Sở GD&ĐT tổ chức tuyển dụng cho các trường, các trường làm công tác tiếp nhận giáo viên;
Đợt 2: Các trường mới được giao trực tiếp tuyển dụng GV trên cơ sở số lượng định biên của UBND thành phố cho từng đơn vị, Sở GD&ĐT làm công tác giám sát.
- Hình thức tuyển dụng được tiến hành đó là: Thi tuyển, xét tuyển hoặc phối hợp cả hai tuỳ theo từng trường, từng bộ môn.
Thực tế hiện nay công tác tuyển chọn đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập. Các trường Trung học phổ thông nơi trực tiếp sử dụng đội ngũ giáo viên nhưng lại không được quyền tuyển dụng mà chỉ tham gia ý kiến trong việc bổ nhiệm vào ngạch viên chức vì thế có những bất cập trong đội ngũ, có những giáo viên chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng, vẫn bố trí giảng dạy, có bộ môn giáo viên thừa ở trường này lại thiếu ở trường khác.
Nhiều bộ môn do còn thiếu giáo viên nên số giờ dạy của một số giáo viên còn trên 20 tiết/tuần, ngoài ra còn phải kiêm nghiệm công tác khác, do đó thiếu thời gian cho việc soạn giảng, chấm trả bài, tự học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả công việc.
Trong năm học vừa qua một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng đã mạnh dạn bố trí những giáo viên có mới ra trường dạy lớp 12 ở những bộ môn khoa học cơ bản Toán, Văn, Hóa. Ban đầu, các giáo viên này rất rụt rè và có phần lúng túng nhưng được sự động viên khích lệ của BGH, sự ủng hộ của các tổ trưởng chuyên môn, các đồng nghiệp số giáo viên này sau một năm trình độ tay nghề đã được khẳng định, tự tin trong các hoạt động giảng dạy.
2.4.3. Tổ chức công tác đào tạo và bồi dưỡng Đội ngũ giáo viên Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Việc đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn, nâng chuẩn; bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng theo chu kỳ; bồi dưỡng đổi mới GDPT, bồi dưỡng thay sách được thực hiện theo kế hoạch của Sở GD&ĐT, các trường là đơn vị thực hiện.
Nội dung bồi dưỡng, tự bồi dưỡng tại các nhà trường được tiến hành đó là:
- Bồi dưỡng về quy chế hành chính chuyên môn;
- Bồi dưỡng về nội dung, chương trình và Sách giáo khoa mới;
- Bồi dưỡng về đổi mới phương pháp giảng dạy;
- Bồi dưỡng đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh;
- Bồi dưỡng cách sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học ;
- Bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác chủ nhiệm;
- Báo cáo chuyên đề và viết sáng kiến kinh nghiệm giảng dạy,…
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng: các lớp nâng cao trình độ học theo chương trình quy định của trường đại học, học tập trung hoặc vừa học, vừa làm; các lớp bồi dưỡng tổ chức theo bộ môn học tập trung tại Sở hoặc bồi dưỡng tại các đơn vị theo nội dung quy định.
Tổ chức học tập bồi dưỡng tại các trường thông qua các tổ nhóm chuyên môn: Sinh hoạt chuyên đề theo tổ nhóm; thao giảng trên lớp, hội giảng, dự giờ rút kinh nghiệm; hội thảo khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm,…
Tự bồi dưỡng: thông qua hoạt động dự giờ, tự nghiên cứu tài liệu,…
- Bảng 2.19: Thống kê số lượng giáo viên tham gia các khoá bồi dưỡng từ năm 2023 – 2024 đến nay
Từ bảng thống kê cho thấy, các trường đã chú trọng cho các GV chưa đủ chuẩn bằng cấp đi đào tạo đạt chuẩn. Công tác bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ: đổi mới nội dung, chương trình và Sách giáo khoa mới được các nhà trường chú trọng.
- Tuy nhiên, công tác đào tạo bồi dưỡng cho Đội ngũ giáo viên còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế đó là:
Việc đào tạo nâng chuẩn; bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ chưa được chú trọng đúng mức. Số lượng GV đi học trên chuẩn hàng năm rất ít; số lượng GV được bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ hàng năm rất hạn chế.
Công tác xã hội hoá, định hướng cho giáo viên trẻ chưa được chú ý dẫn đến hiện tượng giáo viên hay mắc phải các sai sót không đáng có trong công tác.
Công tác bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn, GV đầu đàn chưa được chú trọng nên năng lực quản lý của họ còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Công tác tự bồi dưỡng, Nghiên cứu khoa học của giáo viên còn hình thức, chưa thiết thực, hiệu quả không cao.
2.4.4. Tổ chức kiểm tra, đánh giá Đội ngũ giáo viên
Để phát triển đội ngũ giáo viên trong trường thì việc kiểm tra, đánh giá chuyên môn nghiệp vụ cũng như đạo đức của giáo viên luôn được coi trọng và đặt lên hàng đầu. Hàng năm, cứ sau một học kỳ, các trường thường tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy cũng như trình độ chuyên môn của giáo viên thông qua buổi dự giờ, sinh hoạt chuyên môn và sinh hoạt khoa học. Bên cạnh đó, các trường cũng xây dựng phiếu đánh giá của học sinh đối với giáo viên của các môn.
Qua công tác kiểm tra, đánh giá các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng trong 03 năm vừa qua, có thể rút ra một số nhận xét:
Việc đánh giá, xếp loại GV của các trường Trung học phổ thông về cơ bản đảm bảo khách quan, công khai, dân chủ, phản ánh đúng năng lực và phẩm chất của GV. Làm rõ được ưu khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực và hiệu quả công tác, khả năng phát triển của giáo viên. Thông qua đó giúp Hiệu trưởng các trường bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ chính sách đối với GV một cách tương đối hợp lý và có hiệu quả.
- Tuy nhiên, công tác đánh giá, sàng lọc Đội ngũ giáo viên còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế:
Chưa có thang thước chuẩn với các tiêu chuẩn, tiêu chí chung để đánh giá giáo viên. Chưa có nội dung, phương pháp đánh giá thống nhất cho các trường trong huyện. Vì vậy, tạo ra kết quả khác nhau trong đánh giá GV giữa các trường.
Việc đánh giá ở một số trường còn mang tính hình thức, nâng đỡ là chính nên chưa phản ánh đúng năng lực và phẩm chất của GV. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
2.4.5. Thực hiện chế độ, chính sách đối với Đội ngũ giáo viên
Hoàn cảnh sống của cán bộ, giáo viên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động và sự phát triển của nhà trường. Vì vậy, người lãnh đạo phải luôn có sự quan tâm các chế độ chính sách đãi ngộ cho Đội ngũ giáo viên.
Trong những năm qua, nhà trường đã huy động mọi nguồn lực có thể để có những chính sách đối với cán bộ, giáo viên được tốt nhất. Các cán bộ, giáo viên trong trường được trang bị những đồ dùng, thiết bị làm việc, giảng dạy đầy đủ và hiện đại, luôn được làm việc trong môi trường thuận lợi.
Những giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường là viên chức, công chức nhà nước được hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước và theo quy định chung cứ 3 năm lại lên lương 1 lần. Đồng thời họ cũng được hưởng mọi chế độ như: phụ cấp ưu đãi, nâng lương, chế độ nghỉ an dưỡng, ốm đau, chế độ nghỉ hưu theo đúng quy định. Bên cạnh đó các chế độ biểu dương khen thưởng Đội ngũ giáo viên các trường được ngành giáo dục thực hiện đầy đủ, đề nghị nhà nước tặng các danh hiệu: Huy chương vì sự nghiệp giáo dục; Nhà giáo ưu tú; Chiến sĩ thi đua các cấp; Giáo viên dạy giỏi các cấp;…
Tuy nhiên, chính sách này vẫn còn hạn chế là chỉ thu hút nguồn giáo viên trong biên chế, còn đối với giáo viên chưa vào biên chế hoặc giáo viên đã có bằng thạc sỹ, tiến sỹ thì chưa có chính sách đãi ngộ thỏa đáng. Chính vì vậy mà chỉ có dưới 20% số người được hỏi cho rằng chính sách đãi ngộ trên là có hiệu quả.
Để phát triển được đội ngũ giáo viên, các cán bộ, các cấp quản lý trong các trường Trung học phổ thông cần phải quan tâm, tính toán, điều chỉnh chế độ, chính sách hợp lý, từ đó mới có thể thu hút được những người có năng lực, có trình độ về phục vụ lâu dài cho nhà trường.
2.4.6. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
- Mặt mạnh
ĐNGV các trường Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng có phẩm chất chính trị vững vàng, tư cách đạo đức tốt, yêu nghề và hết lòng vì học sinh.
ĐNGV phần lớn là giáo viên trẻ, được đào tạo bài bản, nhanh nhạy, dễ tiếp thu cái mới, có ý thức vươn lên, đây là một thuận lợi cho các hoạt động đổi mới giáo dục hiện nay.
Phần lớn giáo viên có trình độ đạt chuẩn, nhiệt tình trong giảng dạy, có ý thức trách nhiệm cao, tinh thần khắc phục khó khăn, sáng tạo trong công việc. Một bộ phận giáo viên khoảng 30% có trình độ chuyên môn vững vàng là nòng cốt trong công tác chuyên môn của các trường.
- Mặt yếu
Số lượng GV hiện tại còn thiếu nhiều so với quy định đặc biệt là giáo viên ở các môn khoa học xã hội.
Cơ cấu bộ môn, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giới tính còn có sự bất hợp lý góp phần làm cho tình trạng thiếu GV của các trường trầm trọng hơn.
Chất lượng Đội ngũ giáo viên còn nhiều hạn chế, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay:
Còn một bộ phận không nhỏ giáo viên chưa đạt chuẩn đào tạo.
Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ không đồng đều giữa các trường, các bộ môn. Tỉ lệ GV giỏi các cấp chỉ chiếm khoảng 30%, tỉ lệ này có xu hướng giảm dần khi thực hiện đổi mới chương trình GDPT. Tỉ lệ GV xếp loại TB khá cao gần 23%, trong thực tế tỉ lệ này còn cao hơn vì việc đánh giá xếp loại của các trường còn dễ dãi, nâng đỡ, động viên là chính.
Trình độ ngoại ngữ và tin học của phần lớn GV thấp nên khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức về giáo dục trong nước và quốc tế rất hạn chế; Vì vậy, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD và xu thế hội nhập quốc tế.
- Nguyên nhân của những hạn chế
- Nguyên nhân khách quan
Do việc thực hiện đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa Trung học phổ thông từ năm học 2021 – 2022 và tăng tỉ lệ giáo viên Trung học phổ thông từ 2,1 GV/ lớp lên 2.25 GV/lớp nên làm cho số lượng GV trên toàn Quận thiếu và chất lượng GV chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
Do việc tăng số lượng học sinh, số lớp của các trường dẫn đến nguyên nhân thiếu hụt giáo viên của các trường Trung học phổ thông trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng.
- Nguyên nhân chủ quan
Phần lớn Đội ngũ giáo viên là GV trẻ chiếm khoảng 70%, có sự nhiệt tình nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy và và giáo dục HS nên chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp, làm ảnh hưởng đến chất lượng chung của các trường.
Một số GV thiếu ý chí vươn lên, an phận, không muốn học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngại đổi mới phương pháp dạy học, không biết sử dụng các trang thiết bị hiện đại và phần mềm trong giảng dạy nên phương pháp dạy học lạc hậu không cuốn hút được HS; chính vì vậy, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Một số giáo viên giỏi chỉ tập trung vào dạy thêm để tăng thu nhập kinh tế cho gia đình, không muốn học nâng cao trình độ trên chuẩn.
Một số giáo viên trẻ có ý thức học tập phấn đấu vươn lên khẳng định mình nhưng với mục đích khi thành danh để thuyên chuyển đến nơi thu nhập tốt hơn mà không ở lại huyện công tác.
Nhiều trường chưa chú ý đúng mức đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV. Cá biệt một số lãnh đạo các trường không muốn tạo điều kiện cho GV học tập nâng cao trình độ vì nhiều lý do khác nhau.
Tiểu kết chương 2
Trên cơ sở lí luận và kết quả khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi nhận thấy:
Công tác quản lí phát triển đội ngũ giáo viên Quận Hai Bà Trưng đã có những bước phát triển. Số lượng, cơ cấu tương đối đồng bộ và hợp lí, phẩm chất và trình độ năng lực đội ngũ cơ bản đáp ứng được việc thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong từng vấn đề cụ thể về quản lí phát triển đội ngũ còn nhiều bất cập. Đứng trước yêu cầu phát triển giáo dục trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất và hội nhập quốc tế hiện nay thì chất lượng đội ngũ giáo viên còn nhiều vấn đề được đặt ra, cần phải có những giải pháp hợp lí, thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.
Việc nâng cao nhận thức của cán bộ quản lí và đội ngũ giáo viên về quản lí về phát triển đội ngũ giáo, công tác xây dựng quy hoạch, công tác tuyển dụng bố trí cán bộ, công tác đào tạo bồi dưỡng, kiểm tra đánh giá, thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ cho đội ngũ phát triển là những nội dung quan trọng. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường THPT.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên của Trường THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
