Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 – 2024 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Vị trí của du lịch Nghệ An trong nền kinh tế của tỉnh

Nghệ An là một trong những tỉnh đi đầu cả nước về  phát huy nội lực sẵn có của mình để vươn lên. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến sâu sắc và có những bước tiến đáng kể. Cùng với đổi mới nền kinh tế của đất nước, trong 10 năm qua, nền kinh tế Nghệ An đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có sự đóng góp của ngành du lịch.

Bảng 3.1: Quy mô và cơ cấu GDP tỉnh Nghệ An phân theo ngành kinh tế  giai đoạn 2014 – 2024 (Giá thực tế)

Tổng GDP toàn tỉnh tăng nhanh qua các năm, năm sau có tốc độ tăng nhanh hơn năm trước.  Năm 2014, GDP toàn tỉnh đạt 7935,7 tỉ đồng, sau 5 năm đến năm 2019 con số đó tăng lên 17200,3 tỉ đồng, tăng gấp hơn 2 lần. 41427,4 tỉ đồng là con số GDP tỉnh đạt được trong năm 2024, tăng gấp 2,4 lần so với năm 2019 và gấp 5,2 lần so với năm 2014.

Xét về mức độ đóng góp của ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP qua các năm, năm 2014, khu vực dịch vụ chiếm 37,1% chỉ đứng sau khu vực Nông – lâm – thủy sản, riêng du lịch chiếm 2,3%. Đến năm 2019, sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã làm thay đổi vị trí đóng góp của các khu vực trong cơ cấu GDP. Đứng đầu là khu vực dịch vụ chiếm 36,3%, riêng ngành du lịch chiếm 2,5%, tiếp theo là khu vực nông – lâm – thủy sản và công nghiệp – xây dựng. Khu vực dịch vụ đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh khi chiếm tới 38,0 % tổng GDP năm 2024, riêng ngành du lịch chiếm tới 3,5%.

Du lịch cũng đã tạo ra và thu hút nhiều lao động vào làm việc, góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân nói chung. GDP/người của tỉnh tăng từ 2,8 triệu đồng/ người năm 2014 lên 5,9 triệu đồng/ người năm 2019 và 14,2 triệu đồng/ người năm 2024, song mới chỉ bằng 95,3% so với toàn vùng Bắc Trung Bộ và 62,3% so với cả nước (năm 2024).

Phát triển du lịch đã góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng về công tác bảo vệ tài nguyên môi trường, đặc biệt gìn giữ được bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.2. Hoạt động du lịch theo ngành

Nghệ An hội tụ đầy đủ những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch với đầy đủ các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, văn hóa… Trong những năm qua du lịch Nghệ An đã đạt được những bước tăng trưởng nhất định thể hiện ở cả khía cạnh ngành và lãnh thổ. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Phân tích thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh thể hiện qua các tiêu chí cơ bản là: Nguồn khách, doanh thu, cơ sở vật chất – kỹ thuật và lao động.

3.2.1. Nguồn khách

  • Tổng nguồn khách

 Thực hiện chính sách phát triển du lịch cùng với sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, du lịch Nghệ An đã thu hút số lượt khách đến tham quan ngày một đông. Nhìn chung, nguồn khách du lịch tăng dần qua các năm. Xuất phát từ 518,8 nghìn lượt khách năm 2014, tăng lên 634,7 nghìn lượt năm 2016 và 762,2 nghìn lượt năm 2017. Năm 2018, đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của du lịch tỉnh, lần đầu tiên đã đón vượt ngưỡng 1 triệu khách du lịch. Trên đà tăng trưởng đó, năm 2019, tiếp tục minh chứng cho sự phát triển du lịch Nghệ An với việc đón tới hơn 1,4 triệu lượt khách du lịch. Năm 2020, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành chương trình phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020 – 2024. Nhờ đó giai đoạn này được đánh giá là thời kỳ phát triển rực rỡ của du lịch tỉnh khi khách du lịch liên tục tăng nhanh qua các năm. Từ năm 2022 cùng với sự phát triển chung của cả nước, Nghệ An đã khẳng định tầm quan trọng của nền du lịch tỉnh nhà khi đón hơn 2 triệu lượt khách tới thăm. Cho đến nay (năm 2024) nguồn khách đến Nghệ An đạt 2,7 triệu lượt. Có thể thấy, tốc độ tăng trưởng bình quân càng về sau càng rõ nét hơn.

Bảng 3.2: Nguồn khách du lịch đến Nghệ An giai đoạn 2014 – 2024

Chỉ tiêu 2014 2019 2021 2022 2023 2024
Tổng số khách (nghìn lượt) 518,8 1509,8 1864,6 2262,2 2522,9 2720,0
Quốc tế (nghìn lượt) 15,8 44,4 50,4 42,6 63,9 83,7
So với Bắc Trung Bộ (%)  6,4 9,2 6,1 4,3 7,7 11,4
Nội địa (nghìn lượt) 503,0 1465,4 1814,2 2219,6 2453,0 2636,3
So với Bắc Trung Bộ (%) 32,4 37,9 33,3 36,0 36,3 29,6
Ngày lưu trú trung bình (Ngày) 1,7 1,3 1,3 1,2 1,3 1,5
Quốc tế  1,8 1,2 1,8 1,6 1,5 1,7
Nội địa  1,7 1,3 1,3 1,3 1,3 1,5

(Nguồn: Niên giám thống kê Nghệ An 2024)

  • Khách quốc tế: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Số lượng khách quốc tế: khách quốc tế đến với Nghệ An có xu hướng tăng nhanh và tăng đều qua các năm. Nếu như năm 2014, số khách quốc tế chỉ dừng lại ở mức 15,8 nghìn lượt thì đến năm 2019, con số đó là 44,4 nghìn lượt, tăng gấp 2,8 lần. Năm 2021, lần đầu tiên khách du lịch quốc tế đến Nghệ An vượt mức hơn 50 nghìn lượt đánh dấu sự phát triển mới của ngành du lịch tỉnh. Tuy nhiên sang năm 2022, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu kéo theo đó là sự giảm sút lượng khách quốc tế đến với Nghệ An, giảm hơn 7 nghìn lượt xuống còn 42,6 nghìn lượt. Năm 2024, khách quốc tế đến với Nghệ An đạt mức 83,7 nghìn lượt.

Tỉ lệ khách quốc tế trên tổng nguồn khách: khách du lịch quốc tế đến với Nghệ An còn chiếm tỉ lệ thấp trong cơ cấu nguồn khách, chưa có sự thay đổi vượt bậc trong giai đoạn 2014 – 2024, thường chỉ ở mức 2,5 – 3 % năm. Riêng năm 2022, như đã phân tích ở trên của cuộc khủng hoảng toàn cầu đã làm cho tỉ lệ khách quốc tế giảm xuống chỉ còn 1,9%.

Độ dài ngày lưu trú: Khách quốc tế đến Nghệ An có độ dài ngày lưu trú còn thấp, ở mức 1,2 – 1,8 ngày. Cụ thể, năm 2014 là 1,8 ngày, năm 2019 giảm xuống còn 1,2 ngày, năm 2021 tăng lên mức 1,8 ngày và tiếp tục giảm trong hai năm 2022 và 2023 (1,6 và 1,5 ngày). Đến năm 2024, độ dài ngày lưu trú tăng lên 1,7 ngày. Nguyên nhân độ dài ngày lưu trú còn thấp và có sự tăng giảm không đồng đều là do các yếu tố khách quan mang lại như dịch cúm gia cầm, khủng hoảng kinh tế… Thêm vào đó, số lượng sản phẩm du lịch chưa nhiều, còn đơn điệu, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách quốc tế.

  • Đặc điểm nguồn khách quốc tế:

Mục đích du lịch: Quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh – vị danh nhân văn hóa thế giới, hệ thống sinh thái đa dạng với khu dữ trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An cùng với sự phong phú của các di tích văn hóa, lịch sử, Nghệ An thu hút khách quốc tế đến chủ yếu với mục đích tham quan, nghiên cứu và nghỉ dưỡng. Một lượng nhỏ đến với mục đích công vụ.

Phương tiện đi lại: Khách du lịch quốc tế đến với Nghệ An trong những năm qua chủ yếu là đường bộ từ các khu vực ASEAN; Lào đến Nghệ An qua các cửa khẩu đường bộ. Ngoài ra, một số đoàn khách quốc tế đi theo chương trình du lịch của các công ty lữ hành tổ chức; số lượng khách đi bằng phương tiện tàu hỏa và máy bay qua sân bay Vinh có nhưng số lượng không đáng kể.

Cơ cấu nguồn khách: Nghệ An là địa điểm khá hấp dẫn đối với du khách đến từ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc… chiếm 50% thị phần. Tiếp đó là thị trường Pháp, Anh, Đức. Tỉ lệ khách tại các nước này đến Nghệ An tăng dần qua từng năm. Đây là dấu hiệu đáng mừng và có thể coi là thị trường tiềm năng để du lịch tỉnh tiếp tục khai thác.

  • Khách du lịch quốc tế đến Nghệ An so với vùng Bắc Trung Bộ:

So sánh với các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ thì Nghệ An có lượng khách quốc tế đứng thứ 3 sau Thừa Thiên Huế và Quảng Trị. Năm 2014, khách quốc tế đến Nghệ An chỉ chiếm 6,4% so với toàn vùng, đến năm 2019, tăng lên 9,2%. Năm 2022 là năm số lượt khách quốc tế đến Nghệ An đứng thứ 2 toàn vùng, vượt qua Quảng Trị và chỉ đứng sau Thừa Thiên Huế. Năm 2024, so với toàn vùng khách du lịch quốc tế chiếm 11,4%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

  • Khách nội địa:

Số lượng khách nội địa: Trong khi số lượt khách quốc tế chỉ dừng lại ở mức 83,7 nghìn lượt năm 2024 thì khách nội địa đến với Nghệ An vượt xa với 2,6 triệu triệu lượt năm 2024. Khách nội địa tăng liên tục qua các năm, mức độ tăng khá nhanh, tốc độ tăng bình quân đạt 23%/năm. Năm 2014, khách du lịch nội địa đến với Nghệ An ở mức 503,0 nghìn lượt đến năm 2019, lượng khách nội địa vượt ngưỡng 1 triệu lượt, tăng 962,4 nghìn lượt so với năm 2014. Năm 2022, Nghệ An lần đầu tiên đón trên 2 triệu lượt khách nội địa đến thăm, hai năm sau đó, lượng du khách nội địa luôn ở mức trên 2 triệu lượt (2,4 triệu năm 2023 và 2,6 triệu năm 2024).

Tỉ lệ khách nội địa trên tổng nguồn khách: Nhìn chung, khách du lịch quốc tế đến với Nghệ An chủ yếu là khách nội địa, luôn chiếm trên 97% so với tổng nguồn khách. Như vậy, cơ cấu giữa du khách quốc tế và du khách nội địa đến Nghệ An còn chênh lệch rõ nét, điều này đặt ra yêu cầu cho việc đầu tư, thiết kế những sản phẩm du lịch ấn tượng, phù hợp với sở thích của du khách nước ngoài nhằm thu hút lượng khách quốc tế đến với tỉnh.

Độ dài ngày lưu trú: Độ dài ngày lưu trú của khách nội địa đến với Nghệ An có mức tăng chưa cao, dao động trong khoảng 1,2 – 1,5 ngày. Số lượng khách du lịch nội địa phần lớn vẫn là khách nội tỉnh có cự lý gần, mục đích tham quan chủ yếu là các lễ hội và các di tích lịch sử nên ít sử dụng dịch vụ lưu trú; còn khách du lịch đi theo chương trình du lịch Bắc – Nam do các công ty du lịch tổ chức thì chỉ tham quan các điểm du lịch thuận tiện trên tuyến còn lưu trú có thể dịch chuyển sang địa phương khác trên đường hành trình. Bên cạnh đó, một số điểm du lịch hấp dẫn ở miền Tây Nghệ An thì chưa tổ chức được các dịch vụ du lịch phục vụ yêu cầu của khách dẫn tới độ dài lưu trú còn ngắn.

  • Đặc điểm nguồn khách nội địa:

Mục đích du lịch: khách nội địa đến với Nghệ An chủ yếu là du khách tham quan các di tích lịch sử, lễ hội, tâm linh, nghỉ dưỡng, nghiên cứu… Địa điểm đến của du khách tập trung vào các điểm du lịch nổi trội như: tham quan tìm hiểu về di tích lịch sử Kim Liên, quê hương của Bác Hồ, các điểm tài nguyên du lịch tại thành phố Vinh, các lễ hội, di tích lịch sử gắn liền với các anh hùng dân tộc, nghỉ dưỡng tại các bãi biển đẹp như: Cửa Lò, Diễn Thành, biển Quỳnh Lưu.

Cơ cấu nguồn khách: Nguồn khách du lịch nội địa đến với Nghệ An chủ yếu là từ các tỉnh miền Bắc, thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận. Ngoài ra còn có nguồn khách từ các tỉnh phía Nam đi tham quan các điểm du lịch miền Bắc và về thăm viếng quê hương Bác Hồ.

Khách du lịch nội địa đến với Nghệ An so với vùng Bắc Trung Bộ: Nghệ An là tỉnh có lượng du khách nội địa đến thăm cao nhất so với toàn vùng. Năm 2014, khách nội địa đến Nghệ An chiếm 32,4%, năm 2019, chiếm 37,9% và năm 2024, chiếm 29,6 % tổng nguồn khách toàn vùng. Đây được coi là một thế mạnh của nền du lịch tỉnh, vì thế, trong những năm tới, tỉnh cần đẩy mạnh phát triển các dịch vụ du lịch để kéo dài ngày lưu trú của du khách góp phần tăng doanh thu du lịch.

3.2.2. Cơ sở lưu trú Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Trong những năm qua, số cơ sở lưu trú tăng nhanh dựa trên việc cải tạo cơ sở cũ, xây dựng cơ sở mới theo hướng chuyên nghiệp hóa. Sự tăng nhanh được thể hiện ở cả hai mặt: số lượng và chất lượng. .

Bảng 3.3: Cơ sở lưu trú tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 – 2024

Chỉ tiêu 2014 2019 2021 2022 2023 2024
Số cơ sở lưu trú (cơ sở)

So với Bắc Trung Bộ (%)

–  Khách sạn

–  Nhà nghỉ

62

12,2

50

12

330

32,6

147

183

372

29,7

178

194

390

28,9

176

214

421

27,6

193

228

423

26,7

260

183

Số phòng (phòng)

So với Bắc Trung Bộ (%)

–  Khách sạn

–  Nhà nghỉ

2178

20,5

1778

400

6828

34,7

4521

2307

8367

30,4

5900

2467

8500

37,1

4982

3518

9064

28,2

6327

2737

10343

30,2

8056

2287

Công suất sử dụng phòng(%)
–  Khách sạn

–  Nhà nghỉ

52,0

52,9

46,6

66,0

51,0

57,0

63,2

57,0

62,2

56,6

61,3

(Nguồn: Sở Văn hóa – Thông tin – Du lịch Nghệ An)

Tổng số cơ sở lưu trú năm 2014 là 62 với 2178 phòng, chiếm 12,2% số cơ sở lưu trú so với toàn vùng Bắc Trung Bộ. Năm 2019, cùng với sự gia tăng về nguồn khách du lịch, số cơ sở lưu trú cũng tăng lên 330 cơ sở với 6828 phòng, chiếm 32% số cơ sở lưu trú so với toàn vùng Bắc Trung Bộ. Trong những năm tiếp theo, số cơ sở lưu trú liên tục tăng, đến năm 2024, toàn tỉnh có 423 cơ sở với tổng số phòng nghỉ lên tới 10343 phòng (tăng 33 cơ sở và 1843 phòng so với năm 2022). So với toàn vùng Bắc Trung Bộ, số lượng các cơ sở trên địa bàn tỉnh trong năm này chiếm 26,7%.

Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất lượng hệ thống khách sạn, nhà nghỉ cũng được tỉnh chú trọng đầu tư phát triển. Tính đến hết năm 2024, toàn tỉnh có 36 khách sạn đạt chuẩn từ 1 sao đến 4 sao. Tuy nhiên số khách sạn từ 3 sao trở lên chưa nhiều.

Bảng 3.4. Số lượng khách sạn được xếp hạng năm 2024

Khách sạn Số lượng Số phòng
4 sao 3 406
3 sao 8 508
2 sao 17 1158
1 sao 8 222
Số khách sạn đạt chuẩn 36 2349
Số khách sạn chưa xếp sao 387 7994

(Nguồn: Sở Văn hóa – Thể Thao – Du lịch Nghệ An)

Như vậy, số lượng và chất lượng khách sạn phục vụ du khách ngày càng tăng. Nhiều khách sạn chất lượng cao đáp ứng nhu cầu du khách quốc tế và trong nước, tiêu biểu như: Sài Gòn – Kim Liên, Mường Thanh, Phương Đông, khách sạn nghỉ dưỡng Bãi Lữ. Tuy nhiên, xét trên tổng thể, số lượng khách sạn 3 – 4 sao vẫn chiếm tỉ lệ rất nhỏ, chưa có khách sạn đạt chuẩn 5 sao, số lượng khách sạn trên 3 sao chỉ chiếm 2,3% tổng số khách sạn của cả tỉnh. Các cơ sở lưu trú tại tỉnh chủ yếu tập trung tại trung tâm du lịch thành phố Vinh và đô thị du lịch thị xã Cửa Lò. Tại đây, nhiều khách sạn được xây dựng với chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khách quốc tế sang trọng.

Công suất sử dụng phòng tại các khách sạn đạt mức thấp nhất là 52% vào năm 2014, năm 2021 công suất sử dụng phòng đạt mức cao nhất là 66%. Đến năm 2024, con số đó đạt 56,6%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Ngoài các cơ sở lưu trú, các cơ sở ăn uống, vui chơi giải trí ở Nghệ An đã và đang được phát triển và đưa vào khai thác. Các cơ sở ăn uống thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức bao gồm các nhà hàng, quán ăn bình dân, coffee shop, bar hay cả những quán xá vỉa hè. Các dịch vụ ăn uống có thể có mặt trong các cơ sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại các khách sạn hoặc có thể hoạt động độc lập bên ngoài các cơ sở lưu trú, ở các điểm tham quan du lịch, trong các cơ sở vui chơi giải trí… nhằm phục vụ du khách cũng như các tầng lớp dân cư địa phương. Các cơ sở ăn uống bên ngoài khách sạn chủ yếu tập trung ở  trung tâm thành phố Vinh. Trước hết phải kể đến các nhà hàng khá uy tín trong việc phục vụ nhu cầu ăn uống như: nhà hàng Sen Vàng, nhà hàng Hoàng Tử Bé, nhà hàng Việt Đức…Tiếp đến là các quán ăn bình dân với những món ăn đặc sản mang hương vị xứ Nghệ. Một số món ăn được nhắc đến nhiều ở Nghệ An gắn liền với các địa danh cụ thể như: Nhút Thanh Chương, Dê Cầu Đòn, thịt rừng, cơm ống, cháo lươn…luôn là tiêu điểm để du khách tìm đến và thưởng thức. Điều đặc biệt của ẩm thực xứ Nghệ còn là sự kết tinh của những hương vị từ mọi miền mà những người dân nhập cư đã mang đến cho vùng đất này như: phở Bắc, nem Thanh Hóa…

Tuy nhiên, hạn chế của các cơ sở ăn uống ở Nghệ An là thường có quy mô nhỏ, tác phong phục vụ khách chưa chuyên nghiệp, và phần lớn là kinh doanh còn nhỏ lẻ khó có khả năng đón các đoàn khách lớn.

Tuy ngành du lịch tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây có sự gia tăng nhanh về lượng du khách và doanh thu. Nhưng nhìn chung các cơ sở vui chơi, giải trí phục vụ du khách và dân địa phương hầu như “vắng bóng”. Đây được xem là hạn chế lớn của du lịch tỉnh nhà, điều này phần nào lý giải cho thời gian lưu trú của du khách khá ngắn và chi tiêu du lịch tỉnh tăng trưởng chậm.

Hiện nay, các cơ sở vui chơi giải trí chủ yếu tập trung tại trung tâm thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò. Tiêu biểu phải kể tới đó là: Công viên Trung tâm, quảng trường Hồ Chí Minh (Thành phố Vinh) và một số dịch vụ giải trí ở biển như câu mực đêm bằng thuyền thúng.

Nếu như thời kỳ từ năm 2014 đến 2019 các cơ sở mua sắm tại Nghệ An còn đơn điệu, tiêu biểu có Chợ Vinh, siêu thị quy mô nhỏ như Maximax thì những năm gần đây đã thay đổi rõ nét. Trên địa bàn thành phố Vinh đã xuất hiện nhiều trung tâm mua sắm và các siêu thị quy mô vừa đáp ứng nhu cầu du khách và dân địa phương. Hiện nay ở Vinh có các chợ lớn như Chợ Vinh, Chợ Ga Vinh, Chợ Quán Lau, hệ thống các siêu thị: Big C, Intimax, Maximax, Metro, Vạn Xuân… Thành phố đang triển khai dự án xây dựng khu phố thương mại Vinh trên trục đường ven Sông Lam, đoạn Vinh – Cửa Lò. Tại đây sẽ xây dựng một trung tâm thương mại lớn gắn với hệ thống siêu thị cao trên 30 tầng, ngoài ra còn có các tổ hợp khách sạn cao cấp, khu văn phòng cao trên 20 tầng tạo thành một khu thương mại du lịch lý tưởng mang tầm khu vực, một hệ thống đô thị thương mại ven sông. Bên cạnh các trung tâm thương mại thì tại Vinh còn có các khu phố chuyên doanh như:

  • Đường Nguyễn Thị Minh Khai chuyên doanh các mặt hàng điện thoại di động, thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin…
  • Đường Phan Đình Phùng, Phạm Hồng Thái chuyên kinh doanh các mặt hàng vật liệu xây dựng.
  • Đường Trần Phú chuyên kinh doanh các mặt hàng trang trí, nội ngoại thất.
  • Đường Cao Thắng chuyên kinh doanh vàng bạc, đá quý và trao đổi ngoại tệ.
  • Đường Đặng Thái Thân chuyên kinh doanh mỹ phẩm, quần áo thời trang.
  • – Đường Quang Trung chuyên doanh các mặt hàng xe gắn máy, điện tử, điện lạnh…
  • Đường Đào Tấn, Nguyễn Văn Cừ chuyên kinh doanh hàng ẩm thực ăn uống, giải khát.

Ngoài ra, còn có một số cơ sở mua sắm tại các điểm du lịch. Đặc biệt là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, quà lưu niệm rất được du khách ưa thích. Tuy nhiên, các cơ sở này vẫn đang tồn tại dưới hình thức tự phát nhỏ lẻ; các sản phẩm sản xuất ra chưa ổn định và chưa quan tâm đến thị hiếu của du khách.

3.2.3. Doanh thu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Doanh thu du lịch là tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả trên địa bàn trong quá trình tham quan du lịch. Tuy nhiên, trên thực tế công tác thống kê doanh thu du lịch những năm qua chủ yếu dựa trên báo cáo các đơn vị kinh doanh là chính; còn các chi tiêu khác chưa được cập nhật đầy đủ. Đối với Nghệ An, thu nhập từ du lịch chủ yếu qua dịch vụ lưu trú, ăn uống và vận chuyển khách.

  • Tổng doanh thu qua các năm

Cùng với sự gia tăng về lượng khách, doanh thu du lịch của Nghệ An cũng đã đạt được mức tăng trưởng đáng ghi nhận. Trong giai đoạn 2014 – 2024 nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt khoảng 28,2%.

Nhìn chung doanh thu từ du lịch tăng nhanh qua các năm. Năm 2014, doanh thu đạt 135,3 tỷ đồng, năm 2015 đạt 144,1 tỷ đồng, năm 2016 đạt 172,1 tỷ đồng. Đến năm 2018, doanh thu tăng lên 266,8 tỷ đồng (tăng lên gấp gần 2 lần so với năm 2014) và đạt 346,6 tỷ đồng năm 2019. Doanh thu hàng năm thời kỳ này đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 21%. Từ năm 2020 đến 2024, doanh thu từ ngành du lịch có xu hướng tăng nhanh hơn, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 35% nếu năm 2020 dừng lại với mức doanh thu là 459,7 tỷ đồng thì năm 2024 con số đó đạt mức 760,0 tỷ đồng.

So với các tỉnh trong vùng, doanh thu du lịch tỉnh Nghệ An chỉ đứng sau Thừa Thiên Huế và cao hơn hẳn so với các tỉnh còn lại trong thời kì từ 2014 – 2020. Thời kì 2020 – 2024 doanh thu tỉnh đứng sau Thừa Thiên Huế và Thanh Hóa, chiếm 19,6% doanh thu du lịch vùng Bắc Trung Bộ.

  • Cơ cấu nguồn thu

Cơ cấu doanh thu du lịch Nghệ An khá đơn điệu. Chủ yếu tập trung vào dịch vụ lưu trú và ăn uống, chiếm khoảng 80%. Trong đó, doanh thu lưu trú đã chiếm gần một nửa doanh thu du lịch. Doanh thu cho dịch vụ ăn uống cũng có tăng lên nhờ sự hoàn thiện và nâng cấp một số nhà hàng, quán ăn mang tính đặc sản. Doanh thu từ các dịch vụ khác còn ít.

Điều này chứng tỏ đối với du lịch Nghệ An các dịch vụ có khả năng “móc túi” khách như: vui chơi giải trí, mua sắm…còn nghèo nàn. Ngay cả đến dịch vụ vận chuyển cũng chưa phát huy được vai trò của mình đối với doanh thu du lịch. Hiện nay, các đơn vị doanh nghiệp phục vụ tốt trong việc đưa khách từ các trung tâm, thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh đến Nghệ An, cũng như vận chuyển khách tại điểm đến có thể kể đến như các hãng xe: Mai Linh, Văn Minh, Vạn Xuân, Hoàng Long. Các doanh nghiệp ngày càng đầu tư phương tiện mới, hiện đại, đảm bảo ăn toàn và tiết kiệm được nhiều thời gian cho du khách so với trước đây. Trong đó, có thể thấy phương tiện vận chuyển của tuyến đường Hà Nội – Nghệ An là được chú trọng đầu tư hơn cả. Một bộ phận du khách đến với Nghệ An sử dụng phương tiện vận chuyển của chính mình.

Doanh thu từ hoạt động lữ hành tuy chỉ chiếm khoảng gần 2% doanh thu du lịch nhưng trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã xuất hiện ngày càng nhiều các công ty lữ hành hoạt động có hiệu quả.  Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có tới 24 công ty, trung tâm du lịch quốc tế và nội địa (tính đến hết ngày 30/04/2032). Trong đó có 8 công ty du lịch kinh doanh lữ hành quốc tế, còn lại là các trung tâm kinh doanh nội địa. Công ty cổ phần du lịch Nghệ an được hình thành sớm nhất với sự ra đời  ngành du lịch tỉnh nhà. Các công ty đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng sản phẩm, thiết kế chương trình du lịch. Tuy nhiên, khả năng tìm và thiết kế tour du lịch còn non kém, đơn điệu, lượng khách du lịch theo tour về Nghệ An tăng không đáng kể. Doanh thu từ hoạt động lữ hành còn thấp. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Nhìn chung, cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Nghệ An ít thay đổi qua các năm. Vấn đề đặt ra đối với du lịch tỉnh nhà là cần tăng cường đầu tư xây dựng mới và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch. Tiến hành đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch, đặc biệt là các dịch vụ có khả năng thu hút khách, tăng khả năng chi tiêu và kéo dài độ lưu trú. Góp phần tạo ra một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, hấp dẫn, tương xứng với tiềm năng đa dạng của tỉnh.

3.2.4. Lao động

Bảng 3.5: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 – 2024

Chỉ tiêu 2014 2019 2021 2022 2023 2024
Lao động (nghìn người) 2,50 4,07 4,52 5,14 5,20 5,30
So với Bắc Trung Bộ (%)  28,9 23,9 20,8 22,0 19,9 18,2

(Nguồn: Sở Văn hóa – Thông tin – Du lịch Nghệ An)

Theo số liệu thống kê giai đoạn 2014 – 2024, số lao động trong ngành du lịch Nghệ An tăng đều qua các năm do trước yêu cầu phát triển của ngành. Năm 2014, số lao động phục vụ trong ngành du lịch là 2,5 nghìn người, chiếm tới 28,9% lực lượng lao động so với toàn vùng Bắc Trung Bộ. Sau 5 năm con số đó tăng lên gần gấp đôi, đạt 4,07 người năm 2019. Đến năm 2024 lực lượng lao động du lịch tại Nghệ An đạt mức 5,30 nghìn người chiếm 18,2% so với lực lượng lao động du lịch toàn vùng Bắc Trung Bộ và 6,1% so với lao động du lịch cả nước.

Nhìn chung, lực lượng lao động trong ngành du lịch của tỉnh chất lượng chưa cao, kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ còn nhiều hạn chế và chưa được quan tâm bồi dưỡng. Điều này làm ảnh hưởng chung đến chất lượng sản phẩm du lịch. Đặc biệt, cùng với xu thế hội nhập, Nghệ An đang ngày càng thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ của đội ngũ lao động là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển du lịch tỉnh. Hiện nay, du lịch tỉnh nhà đã sử dụng được một lực lượng lao động là người bản địa, thông thạo đường sá, văn hóa truyền thống, một số người con biết ngoại ngữ. Tuy nhiên, chưa được đào tạo căn bản nên chưa mang lại hiệu quả cho các hoạt động du lịch. Đây là lực lượng tương đối trẻ, nếu được đầu tư đúng mức cho công tác đào tạo sẽ đáp ứng tốt yêu cầu trước mắt và mục tiêu du lịch sắp tới.

Vấn đề đặt ra là, trong tương lai cần chú trọng việc đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho lực lượng lao động tỉnh nhà, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên. Quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực là cư dân bản địa, góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch hoàn chỉnh đồng thời chia sẻ nhiều hiệu quả xã hội hơn đến với dân cư.

3.2.5. Vốn đầu tư Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Đầu tư trong lĩnh vực du lịch có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch ngắn hạn cũng như dài hạn, nó tạo ra động lực thúc đẩy ngành phát triển đồng thời tạo ra công ăn việc làm cho xã hội. Trong những năm qua, du lịch Nghệ An đã thu hút được nguồn vốn đầu tư du lịch qua các dự án góp phần thúc đẩy phát triển du lịch tỉnh nhà.

  • Đầu tư nước ngoài (FDI)

Trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa thu hút được các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực du lịch. Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do: cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch còn nghèo nàn, khả năng cung cấp điện nước, thông tin liên lạc đến các điểm du lịch phục vụ cho nhu cầu khách du lịch chưa đảm bảo; công tác tuyên tuyền, quảng bá, xúc tiến đầu tư chưa được chú trọng. b. Đầu tư trong nước:

Công tác đầu tư vào lĩnh vực du lịch tại Nghệ An còn nhiều hạn chế. Việc quan tâm đầu tư du lịch từ ngân sách Trung ương và Tỉnh còn quá ít. Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch chưa được quan tâm đầu tư đúng mức do vậy hạn chế tới sự phát triển du lịch của tỉnh. Theo thống kê của Sở văn hóa, thể thao và du lịch, tính đến hết năm 2024 đã có 10 dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch đã đi vào hoạt động với tổng số vốn trên 277 triệu USD (xem Phụ lục 4).

3.2.6. Hoạt động xúc tiến đầu tư du lịch

 Năm 2024, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch tỉnh Nghệ An đã có nhiều bước phát triển. Bằng nhiều hình thức khác nhau và hướng ứng chương trình hành động của ngành du lịch Việt Nam với trọng tâm là chiến dịch “Ấn tượng Việt Nam”, du lịch Nghệ An đã tích cực đưa hình ảnh của mình đến với công chúng.

Tuyên truyền quảng bá hình ảnh “Nghệ An là một điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch Việt Nam” được thực hiện bằng việc truyền bá rộng rãi và ấn tượng các hình ảnh, lợi thế, nét đặc trưng về thiên nhiên, con người và văn hóa Nghệ An thông qua các sản phẩm du lịch cụ thể song song với việc đầu tư tương xứng về cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông, hệ thống lưu trú, hệ thống dịch vụ phục vụ du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Trung tâm xúc tiến Du lịch đã biên tập, in ấn và phát hành các ấn phẩm quảng bá du lịch tỉnh Nghệ An như: Bản tin nội bộ hàng tháng; 1.000 tập gấp Ba quốc gia một điểm đến; 1.000 tập gấp Một ngày ăn cơm ba nước bằng tiếng Anh; Sách cẩm nang Du lịch Nghệ An.

Năm 2023,  trung tâm phối hợp với Đài phát thanh truyền hình Nghệ An, đài truyền hình Việt Nam thực hiện các chương trình phóng sự chuyên đề về du lịch, các lễ hội lớn, các sự kiện trong ngành du lịch trong năm như :

  • Phóng sự Lễ hội sông nước Cửa Lò và khai trương mùa du lịch biển 2023
  • Khai trương du lịch biển Thành (Diễn Châu), biển Quỳnh(Quỳnh Lưu)
  • Giới thiệu Khu di tích Kim Liên (Nam Đàn) tại chuyên mục Lựa chọn cuối tuần trong tuần lễ kỷ niệm ngày sinh nhật Bác trên kênh VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam.

Phối hợp với Báo Nghệ An xây dựng chuyên trang về du lịch Lễ hội, du lịch biển, đảo…Trung tâm xúc tiến du lịch là đơn vị quản trị, duy trì, cập nhật thông tin và vận hành trang web Du lịch Nghệ An, trang web được bạn đọc và doanh nghiệp Du lịch đánh giá là có hiệu quả, tính đến 25/6/2023 đã có 682.084 nghìn lượt truy cập. Ngoài ra trung tâm còn cung cấp các thông tin du lịch, thông tin về các lễ hội cho các hãng báo chí, các đơn vị kinh doanh du lịch trong tỉnh và các đơn vị kinh doanh lữ hành trên toàn quốc… Công tác  xúc tiến du lịch, xúc tiến đầu tư du lịch được triển khai có trọng tâm, hiệu quả với nhiều hoạt động như chủ trì, phối hợp với các phòng ban liên quan tổ chức cho các doanh nghiệp tham dự.

Du lịch Nghệ An cũng đã hợp tác với các thành phố lớn và tổng cục thực hiện chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch. Tham dự diễn đàn Du lịch ASEAN – ATF tại Hà Nội; Tham dự Ngày hội các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô – Hà Nội; Quảng bá, xúc tiến tại Hội nghị xúc tiến đầu tư do UBND tỉnh tổ chức tại Thành phố Vinh. Phối hợp với Tổng Cục Du lịch, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Khonkean, Thái Lan tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến du lịch đường bộ  ba nước Việt Nam, Lào, Thái Lan tại Thái Lan. Tổ chức thành công Hội thảo Phát triển du lịch biển, đảo các tỉnh Bắc Miền Trung tại Cửa Lò.

3.3. Thực trạng phát triển lãnh thổ du lịch

3.3.1. Điểm du lịch

  • Điểm du lịch quốc gia * Bãi biển Cửa Lò:

Bãi biển Cửa Lò thuộc thị xã Cửa Lò, cách thành phố Vinh 18km. Biển rộng dài, là một trong những bãi tắm đẹp nhất nước, ở đây có nguồn hải sản phong phú, đặc biệt có mực nhảy và mực câu nổi tiếng cả nước. Cửa Lò nằm giữa quần thể du lịch – văn hóa xứ Nghệ và đang tiến dần đến “công nghiệp du lịch” nhưng thị xã biển này vẫn giữ được nhiều nét “hoang sơ”. Nơi tiếp giáp Cửa Hội, Cửa Lò đang hình thành khu du lịch sinh thái. Với bãi tắm rộng dài hơn 10km, dọc đường Bình Minh (con đường rộng, thoáng nhất thị xã) được bao quanh bởi rừng phi lao bạt ngàn, rừng cây vừa chắn cát, vừa là điểm dạo chơi lý thú.

Sông Lam đổ ra Cửa Hội, dòng chảy mạnh ra biển Đông theo hải lưu hướng về phía nam mang theo bao phù sa để biển Cửa Lò quanh năm trong xanh, nước biển trong vắt nhìn thấy cát, nước biển Cửa Lò không mặn chát mà vừa phải. Mùa hè, cũng là lúc gió tây nam vượt Trường Sơn đổ về, buổi sáng gió tây nam đìu hiu ru sóng biển dập dìu; chiều muộn, trước khi hoàng hôn buông xuống thì cũng là lúc gió tây ngừng thổi nhường chỗ cho gió nồm. Trong một ngày, Cửa Lò đón hai luồng gió, với hai cảm giác khác nhau.

  • Vườn quốc gia Pù Mát: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Vườn quốc gia Pù Mát cách thành phố Vinh 120km theo quốc lộ 7 về phía Tây Nam theo đường bộ, thuộc địa phần 3 huyện: Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương. Vườn có diện tích 91.113 ha được xem là khu vực có diện tích rừng tự nhiên rộng nhất miền Bắc Việt Nam, được nhà nước công nhận là vườn quốc gia năm 2015.

Vườn quốc gia Pù Mát được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là một trong những khu rừng đặc dụng có giá trị đa dạng sinh học cao của vùng Bắc Trung Bộ cũng như của Việt Nam. Pù Mát không chỉ biết đến là một khu vực ưu tiên về bảo tồn đa dạng sinh học mà còn là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn với những cảnh đẹp vừa hùng vĩ, vừa nên thơ mà thiên nhiên ban tặng cho Nghệ An.

Vườn có hệ thực vật rất đa dạng và phong phú: có tới 1.513 loài thực vật bậc cao thuộc 159 họ 545 chi. Trong vườn có tới 220 loài cây thuốc quý giá như: hà thủ ô, thổ phục linh, quế, ba kích, hoài sơn… và các loài cây lấy gỗ, có trầm hương và có hơn hàng trăm loại rau, cây ăn quả các loại. Hệ động vật có 42 loài thú lớn, 20 loài thú nhỏ, 295 loài chim… Có thể kể tên một số loài như: hổ, báo hoa mai, báo gấm, heo rừng, voọc, vượn đen, gấu chó… Vườn quốc gia Pù Mát là nơi có đàn voi lớn nhất Việt Nam, các loài chim quý như: Trĩ Sao, Gà Lôi, Gà Tiêu…

Vào vườn quốc gia Pù Mát, du khách như lạc vào xứ sở của thiên đường với cây cảnh muôn loài. Trên các triền núi cao từ 1.500m trở xuống gọi là rừng lùn, nhiều nơi được coi là cảnh tiên. Cây rừng khổng lồ xen giữa những hòn non bộ, mỗi cây là kỷ vật của tạo hoá với nhiều dáng vẻ. Điểm du lịch này rất thuận lợi để phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám phá và tìm hiểu phong tục tập quán của các bản dân tộc, các lễ hội tiêu biểu, và du lịch mạo hiểm. b. Điểm du lịch địa phương

Các điểm du lịch tại thành phố Vinh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

  • Khu lâm viên núi Quyết: với di tích thành Phượng Hoàng Trung Đô

Phượng Hoàng Trung Đô là kinh thành do vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ, 1752-1792) xây dựng bên dòng sông Lam và núi Dũng Quyết; nay là thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Khu du lịch núi Quyết nằm ở chân núi Quyết, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Trên đường vào Nam ra Bắc qua phà Bến Thuỷ, nhìn về phía tây, có một dãy núi nhỏ, đó là rú Quyết ngút ngàn thông reo và trở thành lâm viên núi Quyết, một điểm du lịch kiểu mới của tỉnh Nghệ An. Khu du lịch núi Quyết có diện tích gần 160ha (diện tích núi 56ha) gồm nhiều tiểu khu: khách sạn nhà nghỉ ở phía tây nam, nhìn ra bờ sông Lam là các khách sạn nhà nghỉ theo kiểu biệt thự mini và làng văn hoá dân tộc; tiểu khu vui chơi giải trí gồm bể bơi, cầu trượt nước, thuỷ cung, nhà hát múa rối nước, rạp chiếu phim, khu cắm trại, sân bãi thể thao, đặc biệt là cáp treo du lịch qua sông Lam nối hai vùng đất Nghệ An – Hà Tĩnh; tiểu khu dịch vụ gồm siêu thị, nhà thuyền, bãi đỗ xe…; tiểu khu di tích thành cổ, nhà bia…

Từ trên thành có thể nhìn thấy sông Lam, sông Vĩnh Doanh và kênh nhà Lê uốn lượn giữa cánh đồng Hưng Nguyên, Nam Đàn trải rộng. Hướng về phía đông có thể dõi về hòn Ngư, hòn Mát, cận kề với tám cảnh đẹp của Nghi Xuân (Nghi Xuân bát cảnh). Từ chân núi Quyết, du khách có thể đi thuyền xuôi sông Lam đến bãi chim Hưng Hoà, len lỏi trong rừng nguyên sinh hoặc ngược dòng sông La, con sông của niềm thương nỗi nhớ để đến với Hương Sơn, Đức Thọ…

  • Thành cổ Vinh:

Thành cổ Vinh, còn gọi là thành Nghệ An, thuộc  thành phố Vinh. Thành được xây từ năm 1804 đời vua Gia Long, ban đầu thành xây bằng đất. Đến đời vua Minh Mạng, năm 1831 thành được xây bằng đá ong với quy mô to lớn, kiên cố hơn. Thành có 6 cạnh, 6 góc, chu vi khoảng 2.520m. Trên mặt thành có bố trí các công trình quân sự chiến đấu.

Thành có tường cao 4,8m bao xung quanh có hào sâu và rộng. Lúc khởi công, triều đình nhà Nguyễn đã huy động 1.000 lính Thanh Hoá, 4.000 lính Nghệ An. Đến thời Tự Đức, khi nâng cấp phải lấy 8.599 phiến đá sò từ Diễn Châu và đá ong từ Nam Đàn, 4.848 cân vôi, 155 cân mật mía, với tổng kinh phí là 3.688 quan tiền – một số tiền khổng lồ lúc bấy giờ. Thành Vinh có 3 cửa ra vào: cửa Tiền, cửa Tả, cửa Hữu, không có cửa Hậu.

Thành Vinh ra đời nhằm tạo ra một trung tâm chính trị, quân sự, vừa là một công trình phòng thủ của tỉnh Nghệ An nhưng chế độ phong kiến nhà Nguyễn đang trên con đường suy vong nên thành Vinh chưa phát huy được vai trò tích cực theo ý đồ thiết kế mà sớm thành trung tâm chống đối lại các phong trào yêu nước, đã trở thành chứng tích của một thời kỳ bi thương mà hào hùng của nhân dân Nghệ An. Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, sự phá hoại của chiến tranh, di tích thành Vinh hầu như là phế tích, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồ bao quanh. Gần đây thành cổ Vinh đang được tu tạo lại để xứng đáng với vị thế lịch sử của mình và trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn du khách.

  • Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh đóng tại số 10 đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, được thành lập vào ngày 15 tháng 1 năm 1960; là chi nhánh của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Bảo tàng được xây dựng trên đất khu nhà lao Vinh trước đây, là nơi từng giam cầm hàng ngàn chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong năm 1929 – 1931.

Đây là nơi lưu giữ các hiện vật, hình ảnh gốc chứng minh cho phong trào từng địa phương và các bộ sưu tập như ưu tập những chiếc trống dùng trong đấu tranh, sưu tập ấn loát, sưu tập vũ khí, sưu tập các con triện, sưu tập các hiện vật nuôi giấu cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và một danh sách hệ thống 49 di tích Xô Viết Nghệ Tĩnh được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

  • Khu du lịch Hồ Cửa Nam

Nằm cách trung tâm thành phố Vinh gần 1km, khu du lịch hồ Cửa Nam có diện tích 14ha, phía bắc khu du lịch là quốc lộ 46, phía tây là hệ thống ao hồ, phía nam là sông Cửa Tiền tạo ra một không gian thoáng mát, hấp dẫn, thơ mộng.

Khu du lịch hồ Cửa Nam bao gồm nhiều khu vui chơi giải trí như: khu vui chơi giải trí thiếu nhi, khu nhà bát giác, bến du thuyền, nhà hàng thuỷ tạ, cụm công viên sinh vật cảnh, sân chơi thể thao, bể bơi, công viên nước thu nhỏ, khu nhà nghỉ cuối tuần. Tại khu nhà nổi Hoa Sen, du khách có thể thưởng thức nhiều món ăn Âu, Á và các món ăn đặc sản của Nghệ An với giá cả từ bình dân đến cao cấp. Ðể tận hưởng không khí trong lành, khách du lịch có thể thuê du thuyền thưởng ngoạn trên hồ Cửa Nam (diện tích khoảng 10ha), hoặc có thể mang theo cần câu để tham gia loại hình câu cá giải trí trên mặt hồ rộng lớn này.

Khu du lịch hồ Cửa Nam đang được mở rộng cả về diện tích và qui mô để đến khi khu du lịch Lâm Viên Núi Quyết cách đó không xa được hoàn thành sẽ tạo nên một quần thể du lịch hấp dẫn… Khi đó nơi đây có thể tổ chức các cuộc đua thuyền, các buổi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ trên thuyền, nhiều loại hình dịch vụ, vui chơi liên hoàn từ Lâm Viên Núi Quyết đến hồ Cửa Nam và ngược lại.

  • Du lịch Bãi Lữ – Mũi Rồng (huyện Nghi Lộc)

Với diện tích gần 160 ha, Bãi Lữ nằm trên địa phận 2 xã Nghi Yên và Nghi Tiến, thuộc phía Đông Bắc huyện Nghi Lộc, trong vòng cung biển Đông Nam Lạch Vạn – Cửa Hiền – Cửa Xá, cách thành phố Vinh 25km về phía Bắc và cách Hà Nội khoảng 270 km về hướng Nam. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Theo quyết định đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt ngày 3/5/2019, tổng đầu tư của dự án Khu du lịch Bãi Lữ lên tới 770 tỷ đồng với các hạng mục công trình chủ yếu như: Hệ thống nhà nghỉ, bể bơi, khách sạn cao cấp từ 4 – 5 sao; Hệ thống nhà hàng và các loại dịch vụ; Tượng Phật Thích Ca cùng tượng cá Voi (Đông Hải Đại Ngư ông ); Bảo tàng Hải dương học, hệ thống sân tập golf, khuôn viên, nhạc nước… Bãi Lữ hiện có ba chục ngôi biệt thự khép kín với gần 150 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn 4 sao, ba nhà hàng có sức chứa gần 800 thực khách.      

  • Đền Cuông:

Đền nằm trên núi Mộ Dạ, một ngọn núi thuộc dãy Đại Hải, bên quốc lộ số 1A, trên địa bàn xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu; cách thành phố Vinh khoảng 30km về phía bắc. Đền thờ Thục An Dương Vương.

Ðền Cuông là một di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng và cũng là một danh thắng mà bất cứ ai đã đến sẽ khó quên bởi sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc và cảnh sắc thiên nhiên như thể đã có một sự thoả thuận từ ngàn đời trước giữa tạo hoá và bàn tay con người.

Kiến trúc đền theo kiểu chữ “Tam”. Tam quan đồ sộ, cổ kính rêu phong, cổng giữa ba lầu, chằng chịt rễ cây si leo bám càng tôn nét cổ kính của ngôi đền. Toà trung điện theo kiểu chồng diêm 8 mái, các toà khác trong đền đều có kiến trúc 4 mái, đầu đao cong vút. Các công trình đều đồ sộ, cột to, tường dày vững chắc nhưng không thô vì các chi tiết, hoa văn được đắp, chạm tinh tế, mà lại toát lên vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát. Thượng điện đặt ban thờ Thục An Dương Vương, qua khoảng sân hẹp sang trung điện đặt ban thờ Cao Lỗ, tướng giúp vua chế tác nỏ thần. Đền Cuông có nhiều di vật quý: trống, chiêng, tượng thờ, đồ tế khí… Nơi đây còn lưu giữ nhiều tư liệu bằng chữ Hán trên các bức hoành phi, cột, trụ biểu nhắc nhở con cháu, muôn dân luôn nhớ ân đức vua Thục An Dương Vương. Đến đền Cuông là dịp được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cảnh quan, nét đẹp kiến trúc và tưởng nhớ vị vua An Dương Vương huyền thoại.

  • Đền Cờn:

Đền Cờn nằm trên Gò Diệc, thuộc địa phận xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; cách thành phố Vinh khoảng 75km. Đền được xây dựng kiên cố từ thế kỷ 15, thế cận biển, kề sông, liền đường, sát núi. Đền thờ tứ vị Thánh Nương, Đế Bính, Trương Thế Kiệt và Lục Tá Phù.

Đền Cờn có hệ thống kiến trúc cổ được chạm trổ tinh vi trên tường, gỗ còn lưu giữ được cho đến ngày nay, đặc biệt đền còn có 28 pho tượng đá, nhiều tượng gỗ và các cột đình to từ thời nhà Lê. Sản phẩm du lịch chủ yếu là tham quan, nghiên cứu lịch sử và lễ hội. Đền Cờn cách không xa các bãi biển thuộc huyện Quỳnh Lưu vì vậy cần kết hợp thêm các loại hình du lịch khác góp phần phong phú thêm sản phẩm du lịch nơi đây.      

  • Thác Xao Va: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Thác thuộc địa bàn huyện Quế Phong, cách thành phố Vinh khoảng 170km về phía tây bắc. Thác Xao Va cao, rộng, mỗi chiều chừng 30 đến 35m, nước từ trên cao mạnh mẽ dội xuống vách đá hai bên và chân thác tung bọt trắng xoá phả vào quý khách một cảm giác mát mẻ, tươi mới lạ thường. Hoà trong tiếng thác chảy là tiếng con chim rừng lảnh lót, đây đó có tiếng những làn điệu dân ca của đồng bào Thái, Thổ. Đến thăm Xao Va, du khách có thể có cơ hội để cùng các chàng trai, cô gái Thái chung uống một sừng rượu cần, hát một điệu nhuôn, lăm… Điểm du lịch này rất thích hợp cho loại hình du lịch cuối tuần.        

  • Hang Bua:

Nghệ An không những nổi tiếng với hang Thẳm Ồm, Thẳm Chàng (tiếng Thái là Hang Voi), mà còn có hang Thẳm Bua (hang Bua), được xem là một di tích lịch sử danh thắng cấp quốc gia, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Hang Bua là một thắng cảnh đẹp của miền Tây Nghệ An, nằm trong dãy núi đá vôi “Phà Én” thuộc bản Na Nhàng, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Hợp.

Cách thành phố Vinh 170km về hướng Tây Bắc. Núi “Phà Én” nằm ở phía Bắc dãy Trường Sơn, có nhiều hang động được hình thành trong quá trình kiến tạo địa tầng, nhưng hang Bua kỳ thú nhất và có diện tích lớn nhất. Đây là một di tích lịch sử gắn liền với những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộcThái xưa và có thể là một trong những di tích khảo cổ học của Nghệ An. Lòng hang rất rộng, có nhiều măng đá, nhũ đá tạo nên những hình thù vô cùng sống động và có thể chứa được hàng trăm du khách. Điều đặc biệt là khi đến đây, khách tham quan có dịp chiêm ngưỡng quang cảnh bên trong với những hình thù kỳ lạ, những hòn đá được kiến tạo một cách tự nhiên thành hình ông già thổi sáo, bộ cồng chiêng, cây cổ thụ bằng đá được đánh bóng, ruộng bậc thang… và những dụng cụ sinh hoạt thời xưa của cư dân Thái như bó lúa, cái liềm.

  • Chợ vùng biên Nậm Cắn:     

Chợ nằm ở phía tây tỉnh Nghệ An, giáp biên giới Việt – Lào, bên kia là đất nước Triệu Voi. Chợ nằm ở khu đất bằng phẳng hình bán nguyệt bao quanh là dòng suối Nậm Cắn. Chợ phiên họp vào đầu và giữa tháng. Đặc biệt nếu đến đây vào mùa xuân, du khách sẽ được tham dự một phiên chợ độc đáo, thắm tình hữu nghị Việt -Lào.

Từ chiều hôm trước phiên chợ, từ hai ngả biên giới, từng đoàn xe chở người và hàng hoá lũ lượt kéo tới tập kết trước đồn biên phòng Nậm Cắn để xuống chợ. Quang cảnh đường biên nhộn nhịp, náo động lạ thường. Họ dựng lều, quán để chuẩn bị cho phiên chợ ngày mai. Hàng hoá không xếp như ở trong quầy mà được bày trên mặt đất hay trên cỏ nhưng rất gọn gàng ngăn nắp. Hàng hoá tại đây rất phong phú: hàng Lào, hàng Việt, hàng Thái Lan đều có mặt. Các thiếu nữ H’Mông, thiếu nữ Lào duyên dáng trong các bộ váy dân tộc. Du khách có thể chọn mua những mặt hàng ưa thích, trả bằng tiền Lào hoặc Việt đều được.  

3.3.2. Tuyến du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

  • Tuyến du lịch nội tỉnh

Hệ thống giao thông Nghệ An được chia thành hai hướng chính đó là hướng Bắc Nam với trục giao thông chính theo quốc lộ 1A và hướng Đông Tây theo các đường số 49, số 48 và số 7.

  • Vinh – Cửa Lò – Hòn Ngư

 Đây là tuyến du lịch quan trọng của tỉnh nối liền trung tâm du lịch thành phố Vinh với đô thị du lịch biển Cửa Lò. Đây cũng là tuyến du lịch được hình thành từ sớm có hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phát triển nhất toàn tỉnh. Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch tìm hiểu di tích lịch sử kết hợp với tham quan nghỉ giải trí, nghỉ dưỡng biển.

  • Các điểm du lịch chính:

Tham quan các di tích lịch sử văn hóa của thành phố Vinh. Tiêu biểu như: thành cổ Vinh, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bảo tàng Quân khu IV, đền thờ Quang Trung – vị anh hùng áo vải.

  • Tham quan các hệ thống bãi tắm Cửa Lò, Hòn Ngư
  • Tham quan các khu du lịch ven biển như: Khu du lịch Bãi Lữ, Mũi Rồng (huyện Nghi Lộc).
  • Tham quan tìm hiểu đền thờ Nguyễn Xí, đề thờ Nguyễn Sĩ Hội, đền và đình Trung Kiên.

Vinh – Diễn Châu – Quỳnh Lưu – Nghĩa Đàn

Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch tham quan các di tích lịch sử kết hợp với tìm hiểu văn hóa vùng. Điểm du lịch chính:

  • Tham quan và thắp hương tại Đền An Dương Vương (Đền Cuông) thuộc huyện Diễn Châu thờ Thục phán An Dương Vương, là nơi gắn liền với huyền thoại chuyện tình bi thương Mị Châu – Trọng Thuỷ.
  • Tham quan di chỉ khảo cổ Làng Vạc; cầu tài cầu lộc tại Đền Cờn (Quỳnh Lưu) – nơi thờ Tứ Vị Thánh Nương rất linh thiêng (lễ hội tổ chức ngày 20/1/Âm lịch hàng năm); thăm làng văn hoá Quỳnh Đôi.
  • Tham quan, nghỉ dưỡng tại bãi biển Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương; biển Diễn Thành.

Vinh – Nam Đàn – Rừng nguyên sinh Pù Mát (huyện Con Cuông):

Hành trình tuyến đi bằng đường bộ theo quốc lộ 49 hoặc đi bằng đường thủy thăm quan cảnh quan du lịch hấp dẫn bên bờ sông Lam. Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch tìm hiểu, tưởng nhớ chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan các di tích lịch sử văn hóa.

Hệ thống các điểm du lịch chính theo tuyến: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Cụm di tích lịch sử văn hóa của thành phố Vinh

Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên – Nam Đàn, quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (viếng thăm mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu của Người, thăm quê ngoại Làng Chùa – nơi Bác sinh ra và quê nội Làng Sen – nơi gắn bó nhiều kỉ niệm tuổi thơ của Bác).

Tham quan cảnh quan núi Thiên Nhẫn; Đền thờ vua Mai Hắc Đế tại núi Đụn; Đình Hoành Sơn; Mộ Nguyễn Thiếp

Tham quan Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, thả bộ trong khu vườn nguyên sinh, vườn hoa, vườn thú… ; Thăm bảo tàng Gene – nơi trưng bày, lưu giữ tiêu bản và gien của nhiều loại động thực vật quý hiếm; tham quan Thác Khe Kèm – ngọn thác hùng vĩ đổ từ độ cao 100m dội xuống, thăm Suối Nước Mọc (Rốn Cô Tiên) – tìm hiểu dòng nước phun trào lên từ lòng đất.

Vinh – Anh Sơn – Con Cuông – Tương Dương – Kỳ Sơn

Tuyến du lịch này dọc theo quốc lộ 7 với sản phẩm du lịch chủ yếu là du lịch sinh thái kết hợp với du lịch biên giới thông qua các cửa khẩu.

Các điểm du lịch chính:

  • Tham quan nhà thờ Bảo Nham; lèn Kim Nhan (huyện Anh Sơn)
  • Tham quan kết hợp nghiên cứu tìm hiểu tại rừng nguyên sinh Pù Mát; thủy điện Bản Vẽ
  • Du lịch biên giới tại cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn

Vinh – Qùy Hợp – Khu du lịch sinh thái Quỳ Châu – Quế Phong

Đây là tuyến du lịch có hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn vô cùng hấp dẫn, có khả năng thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Sản phẩm du lịch chính là du lịch sinh thái kết hợp du lịch tìm hiểu văn hóa cộng đồng các dân tộc. Tuyến được hình thành dọc quốc lộ 48 với các điểm du lịch chính:

Tham quan làng văn hóa dân tộc Thái; Thác Xao Va; Đền thờ 9 gian – là nơi thờ cúng tổ tiên và tổ chức sinh hoạt cộng đồng của 9 bản Mường Thái (huyện Quế Phong).

Tham quan hang Bua – tìm hiểu về lễ hội vui xuân của các dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An; Bảo tàng dân tộc học Quỳ Châu; tham quan làng dệt vải thổ cẩm, làng văn hoá dân tộc Thái bản địa và tìm hiểu phong tục tập quán của dân tộc Thái được lưu giữ đến ngày hôm nay.

Sau khi tuyến đường quốc phòng từ Nậm Giải đến Hạnh Dịch có chiều dài trên 30km hoàn thành đã nối tuyến đến tham quan du lịch rừng nguyên sinh Pù Huống – huyện Quế Phong, nơi đây có cảnh quan tự nhiên hấp dẫn, là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm như Bò tót, Hổ, Gấu…

  • Tuyến du lịch liên tỉnh:

Đường bộ

  • Tuyến Vinh – Nghi Xuân – Hương Sơn (Hà Tĩnh)
  • Tuyến Vinh – Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai
  • Tuyến Vinh – Hà Nội – Lạng Sơn – Cao Bằng
  • Tuyến Vinh – Hà Nội – Mộc Châu – Sơn La
  • Tuyến Vinh – Huế – Đà Nẵng – Nha Trang – Thành phố Hồ Chí Minh
  • Đường thủy:
  • Vinh – Hạ Long
  • Vinh – Huế – Nha Trang – Vũng Tàu

Đường hàng không

  • Vinh – Hà Nội
  • Vinh – Hải Phòng
  • Vinh – Đà Nẵng – Sài Gòn Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Thông qua đường hàng không có thể nối tuyến du lịch liên tỉnh, thành phố với du lịch quốc tế đến nước bạn Lào, Trung Quốc, Hồng Kông… Trong đó các tuyến du lịch từ Vinh đến thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh được xác định là các tuyến du lịch quan trọng, góp phần vào phát triển du lịch tỉnh Nghệ An vì đây là các trung tâm nối đến các vùng du lịch khác trong cả nước và các nước khác trong khu vực, trên thế giới.

  • Tuyến du lịch quốc tế:

Đường thủy

  • Vinh – Phòng Thành, Quảng Tây – Trung Quốc

Đường hàng không

  • Vinh – Đảo Hải Nam, Trung Quốc

Đường bộ

  • Vinh – Kỳ Sơn qua cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn – Lào – Thái Lan
  • Vinh – Quế Phong qua cửa khẩu Thông Thụ – Lào – Thái Lan
  • Vinh – Thanh Chương qua cửa khẩu Thanh Thủy – Lào – Thái Lan
  • Vinh – Hương Sơn (Hà Tĩnh) qua cửa khẩu Cầu Treo – Lào – Thái Lan

3.3.3. Cụm du lịch

  • Cụm du lịch Nam Đàn và vùng phụ cận

Nằm trên trục đường 46, cách thành phố Vinh 13km, Nam Đàn là vùng đất địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra nhiều bậc danh nhân, hào kiệt. Hiện nay Nam Đàn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hoá có ý nghĩa to lớn đặc biệt là Khu tích Kim Liên gắn liền với thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Ngoài ra quý khách đến đây còn có thể được nhận thức một cách đầy đủ hơn về lịch sử, văn hóa và con người Nghệ An với quần thể di tích và điểm hẹn thiên nhiên hấp dẫn như núi Thiên Nhẫn, thành Lục Niên, khu mộ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ở xã Nam Kim, nhà lưu niệm Phan Bội Châu ở thị trấn Nam Đàn, đền thờ, lăng mộ Mai Hắc Đế và mộ mẹ nhà vua, đình Hoành Sơn, đền Hoàng Sơn, đình Trung Cần tại xã Khánh Sơn và hồ Tràng Đen thuộc xã Nam Nghĩa.

Từ Nam Đàn theo quốc lộ 15A, đường Hồ Chí Minh, khách du lịch có thể đến các huyện Thanh Chương, Đô Lương, Tân Kỳ, Yên Thành với nhiều điểm du lịch hấp dẫn khác như: Hang Mắt Trắng, vườn cò Hoa Sơn, suối nước nóng Giang Sơn (Đô Lương), hồ Sông Sào (Nghĩa Đàn)…, những di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng như: Tượng đài thanh niên xung phong Truông Bồn, tượng đài khởi nghĩa (Đô Lương), đền Bạch Mã, đình Võ Liệt (Thanh Chương), cộc mốc số 0 đường chiến lược Hồ Chí Minh (Tân Kỳ), các làng nghề truyền thống như: Làng nghề nồi đất ở Trù Sơn, nghề bánh đa ở Đà Sơn.

  • Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên:

Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là một trong những khu du lịch trọng điểm quốc gia; một trong bốn khu di tích quan trọng bậc nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt. Tài nguyên nơi đây là vô giá – gắn liền với thời niên thiếu, sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh và gia đình Bác. Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên bao gồm 3 cụm di tích:

  • Cụm di tích Hoàng Trù: Cụm di tích Hoàng Trù nằm gọn trong khu đất 3500m2, ở đó toạ lạc ngôi nhà thờ chi nhánh họ Hoàng Xuân, nhà cụ Hoàng Đường và ngôi nhà nơi sinh ra vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam mới.
  • Làng Sen: Cách Hoàng Trù 2km, làng Kim Liên ngát hương sen, còn gọi là làng Sen, là quê nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh – nơi Bác sống hồi niên thiếu. Năm 1901, khi cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh đỗ phó bảng, dân làng Sen đã quyên góp xây tặng cụ ngôi nhà 5 gian lợp tranh, dựng bằng tre và gỗ.

Ngôi nhà này Bác Hồ đã ở cùng với gia đình từ năm 11 tới năm 16 tuổi. Nơi đây còn có khu nhà tưởng niệm Bác Hồ trưng bày các kỉ vật gợi nhớ lại hai lần Bác về thăm quê năm 1957 va 1961.

Mộ bà Hoàng Thị Loan: Năm 1958, nhân dịp kỉ niệm lần thứ 95 ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Nghệ An đã xây phần mộ bà trên núi Động Tranh, thuộc xã Nam Giang cách quê ngoại Bác 4km. Từ chỗ chỉ đơn thuần là một ngôi mộ thì khu vực này đã được đầu tư xây dựng thành một khu tưởng niệm rộng lớn, liên kết với Khu di tích Kim Liên, khu lăng mộ Mai Hắc Đế tạo thành một quần thể di tích lịch sử.

Du khách hành hương về Kim Liên để được tìm hiểu về mảnh đất đã sinh ra và nuôi dưỡng một con người vĩ đại, một nhân cách lớn – chủ tích Hồ Chí Minh.

  • Cụm du lịch Cửa Lò và vùng phụ cận Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Khu du lịch biển Cửa Lò cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 16km về phía Đông, nằm bên bờ biển Đông, được ôm gọn giữa hai cửa biển Cửa Lò ở phía Bắc và cửa Hội ở phía Nam.

Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch tham quan các di tích, lê hội kết hợp nghỉ dưỡng với các điểm du lịch: bãi biển Cửa Lò, biển Cửa Hội, hệ thống các đảo; các di tích lịch sử đền thờ quốc công Nguyễn Xí, đình Trung Kiên, núi Mộ Dạ; làng nghề đóng tàu ở Nghi Thiết

Cách Cửa Lò khoảng 6km, khách du lịch sẽ đến với khu nghỉ dưỡng Bãi Lữ, dải bãi tắm thiên nhiên hoang sơ, cát trắng nước xanh. Hàng năm vào ngày 30/4, 1/5 nhân dân Cửa Lò lại tổ chức lễ hội sông nước Cửa Lò, khai trương mùa du lịch biển, thu hút hàng vạn du khách đến tham quanvà nghỉ dưỡng.

  • Đô thị du lịch – Thị xã Cửa Lò

Cách thành phố Vinh 16km về phía Đông, Thủ đô Hà Nội gần 300km về phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh 1.400km về phía Nam. Với bờ biển dài 10.2km và các điểm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, Cửa Lò đang trở thành điểm đến của những du khách trong và ngoài nước.

Cửa Lò có hệ thống tài nguyên du lịch phong phú. Thị xã Cửa Lò chạy dọc theo biển và nằm giữa hai cửa biển; khu du lịch biển Cửa Lò nổi tiếng bởi có bãi tắm dài 8km, cát mịn và phẳng, nước biển trong xanh, độ mặn vừa phải; biển Cửa Lò lại giàu về hải sản đủ cung cấp cho khách du lịch. Xa xa bãi biển có các đảo Lan Châu, đảo Song Ngư, đảo Mắt… có thể xây dựng và phát triển các loại hình dịch vụ du lịch thương mại. Cửa Lò có nhiều tài nguyên nhân văn như di tích các đền, đình, lễ hội và các làng nghề truyền thống.

Trải qua hơn 100 năm với những thăng trầm của lịch sử, chỉ chừng 20 năm qua Cửa Lò mới thực sự được đánh thức và đang dần khẳng định vị thế của mình trên lộ trình phát triển của đất nước nói chung và của tỉnh Nghệ An nói riêng. Với cơ sở vật chất hạ tầng hiện có 216 nhà nghỉ, khách sạn, gần 6000 phòng nghỉ đủ phục vụ cho trên 1.3 vạn khách nghỉ qua đêm (năm 2024). Trong số 261 cơ sở lưu trú có 18 khách sạn được xếp hạng từ 1 sao trở lên, có một khách sạn 4 sao (khách sạn Sài Gòn – Kim Liên) và một khách sạn 3 sao(khách sạn Xanh). Nhờ thế, Cửa Lò đã đón trên 1.2 triệu lượt khách trong đó có 811 ngàn khách lưu trú chiếm gần 44% tổng số lượt khách toàn tỉnh. Doanh thu dịch vụ du lịch tính đến hết năm 2024 đạt 600 triệu đồng chiếm 44,7% doanh thu toàn tỉnh. Tỷ trọng kinh tế du lịch chiếm 64.3%.

Hiện nay đến với Cửa Lò, quý khách có thể đi bằng đường bộ,đường sắt, đường thủy, đường hàng không đều rất thuận lợi. Từ Cửa Lò, tham gia vào một trong các tour du lịch hấp dẫn khác ở trong và ngoài Thị Xã như: Kim Liên (Nam Đàn), Quảng trường Hồ Chí Minh (Thành phố Vinh), rừng nguyên sinh Pù Mát (Con Cuông), Lạc Xao (Lào) và Thái Lan. Với những giá trị vốn có và cảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng, Cửa Lò có thể phát triển nhiều loại hình du lịch với sắc thái ý nghĩa riêng.

Sản phẩm du lịch đặc trưng phục vụ du khách gắn liền với tài nguyên biển như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cảm giác mạnh được tổ chức trên biển như lướt sóng, đua thuyền, thám hiểm đại dương và các dịch vụ bổ sung đáp ứng nhu cầu du khách. Du lịch sinh thái: tham quan Đảo Ngư, Đảo Mắt, khu du lịch sinh thái Cửa Hội, Hang Bua, nước khoáng Kim Sơn; Du lịch tâm linh: tham quan chùa Song Ngư, chùa Lô Sơn, đền Vạn Lộc, đền Thu Lũng, các khu di tích, khu lưu niệm. Qua đó du khách sẽ cảm nhận được các giá trị văn hóa của Cửa Lò được vun đắp qua hàng trăm năm qua.

Du lịch Cửa Lò, với 100 năm hình thành và phát triển đã và đang thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước, đây cũng là ngành quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của Cửa Lò nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.

  • Cụm du lịch Quỳ Châu và phụ cận: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Cụm du lịch này nằm trên trục đường quốc lộ 48 bao gồm các huyện: Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong. Cụm du lịch này lấy thị trấn Kim Sơn thuộc huyện Quế Phong là điểm trung tâm lan tỏa khách du lịch đi tham quan các điểm tài nguyên trong khu vực.

Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch sinh thái nghỉ dưỡng kết hợp leo núi mạo hiểm, du lịch tham quan nghiên cứu tự nhiên và thắng cảnh, nghiên cứu văn hóa truyền thống các dân tộc, du lịch tâm linh.

Cụm du lịch này có hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú. Tài nguyên tự nhiên bao gồm hệ thống hang động như hang Thẩm Ồm, hang Thảm Chàng (Quỳ Châu); rừng nguyên sinh Pù Hoạt, Pù Huống; Thác Sao Va và thác 7 tầng; hồ thủy điện Hủa Na (Quế Phong); khe suối nước nóng Bản Kháng, Hạt, Bản Bo, Bản Lăng và Yên Hợp (Quỳ Hợp). Tài nguyên nhân văn có bảo tàng dân tộc Thái với 280 hiện vật truyền thống; đền thờ Chín Gian; phong tục tập quán, lễ hội, sinh hoạt của cộng đồng dân tộc Thái; các làng nghề truyền thống.

  • Khu du lịch văn hóa lịch sử, sinh thái Quỳ Châu – Quế Phong:

Khu du lịch văn hoá lịch sử, sinh thái Quỳ Châu – Quế Phong cách thành phố Vinh 145km về phía tây bắc đi theo tuyến đường 48. Do sự kiến tạo địa chất xảy ra hàng chục triệu năm đã tạo cho vùng tây bắc của tỉnh một hệ thống núi non trùng điệp, sông sâu, những thung lũng xanh, những hang động kỳ thú, những thác nước hùng vĩ như: thác Xao Va, hang Bua, hang Thẩm Ồm..

Không chỉ được thiên nhiên ban tặng cho một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà miền tây Nghệ An còn có những nét văn hoá độc đáo, nhiều sắc màu. Vùng đất này có nhiều dân tộc cư trú, mỗi dân tộc mang một vẻ đẹp văn hoá riêng đã tạo cho khu du lịch phát triển loại hình du lịch văn hoá, lễ hội.

Điểm du lịch nổi bật:

  • Tham quan các danh thắng: hang Bua, hang Thẩm ồm, thác Xao Va
  • Tham quan Bảo tàng Văn hóa Quỳ Châu
  • Tham dự và tìm hiểu lễ hội Hang Bua
  • Tham quan làng nghề dệt Thổ Cẩm Châu Tiến – Quỳ Châu

3.2.4. Trung tâm du lịch – Thành phố Vinh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Thành phố Vinh có tọa độ địa lý từ 18°38’50” đến 18°43’38” vĩ độ Bắc, từ 105°56’30” đến 105°49’50” kinh độ Đông, nằm ở trung tâm đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, là đồng bằng rộng thứ 3 của Việt Nam. Vinh là thành phố nằm bên bờ sông Lam, phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Nghi Xuân, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Hưng Nguyên. Thành phố Vinh cách thủ đô Hà Nội 295 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.424 km, cách thủ đô Viên Chăn (Lào) 400 km về phía Tây.

Thành phố Vinh là một trong những trung tâm du lịch của tỉnh Nghệ An và là một điểm đến quan trọng trong tour du lịch con đường di sản miền Trung. Thành phố Vinh từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu của một đô thị xứ Nghệ. Đến với thành phố Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng…Thành phố còn có nhiều di tích, danh thắng trong đó có tới 13 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 16 di tích được xếp hạng của tỉnh Nghệ An, tiêu biểu như: thành cổ Vinh, đền Hồng Sơn, Núi Dũng Quyết và Phượng hoàng Trung Đô, ngã ba Bến Thủy, di tích nhà máy Điện Vinh (phường Trung Đô), chùa Cần Linh. Thành phố Vinh có các bảo tàng quy mô khá lớn như: Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bảo tàng Tổng hợp Nghệ An, bảo tàng Quân khu IV cùng một số thư viện, trung tâm thông tin…

Bên cạnh hệ thống di tích trên địa bàn thành phố, du khách đến với thành phố Vinh có thể tham quan các công trình quy mô lớn như quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh, Nhà chiếu hình vũ trụ..; tham quan vui chơi giải trí tại công viên trung tâm thành phố, công viên Hồ Cửa Nam, vườn hoa Cửa Bắc.

Năm 2012, nhân kỷ niệm 210 năm Phượng Hoàng Trung Đô – Vinh, công ty du lịch thành phố Vinh đã khai trương tour du lịch trên sông Lam. Du khách sẽ được nghe các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh tha thiết trên sông và được ghé thăm các địa điểm du lịch nổi tiếng nằm ven sông Lam của thành phố Vinh và tỉnh Nghệ An như Đền Ông Hoàng Mười, khu di tích cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong của vùng quê Hưng Nguyên, đến với Đình Trung Cần và Hoành Sơn, khu di tích Kim Liên, lăng và mộ Mai Hắc Đế, khu di tích danh nhân Phan Bội Châu…Từ bến thuyền Hưng Hòa, ngược nguồn dòng Lam du khách sẽ đến với quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du, danh nhân Nguyễn Công Trứ và sẽ được đắm chìm trong giai điệu mượt mà của ca trù Cổ Đạm…

Vinh còn là đầu mối trung chuyển cho các tour du lịch trong tỉnh và các địa phương lân cận. Từ thành phố Vinh, cách 5 km là khu mộ của đại thi hào Nguyễn Du, cách 15 km là khu di tích Kim Liên – quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh và cách 17 km là bãi biển Cửa Lò – một trong những bãi biển đẹp nổi tiếng của khu vực miền Trung và cả nước.

Bên cạnh tài nguyên phong phú thì hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của thành phố cũng khá phát triển. Hệ thống khách sạn, nhà hàng được phát triển trên khắp thành phố. Hiện tại thành phố có khoảng 23 khách sạn trên 105 số cơ sở lưu trú được xếp hạng, trong đó có 2 khách sạn 4 sao.

Nguồn tài nguyên du lịch đa dạng cùng với sự phát triển ngày càng mạnh hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, trong những năm qua, du lịch thành phố Vinh có bước phát triển vượt bậc. Tổng nguồn khách du lịch đến thành phố Vinh tính đến hết năm 2024 là 1.096,2 lượt khách chiếm 40% tổng số lượt khách toàn tỉnh. Doanh thu từ du lịch đạt 313,2 triệu đồng, chiếm 30,2% tổng doanh thu toàn tỉnh.

3.4. Đánh giá tổng hợp hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014 – 2024 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

3.4.1. Thành tựu

Những năm qua ngành du lịch tỉnh Nghệ An đã có nhiều nỗ lực nhằm đánh thức tiềm năng của tỉnh. Các chỉ tiêu về lượt khách, doanh thu có sự tăng trưởng, đáng kể là lượng khách quốc tế tăng nhanh, bên cạnh những thị trường truyền thống, Nghệ An còn đón khách từ những thị trường mới, đặc biệt nguồn khách từ các nước Châu Âu.

Cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch cũng được chú trọng đầu tư, đã xây dựng mới một khách sạn 4 sao, đủ tiêu chuẩn phục vụ khách nước ngoài ở một vị thế khá lý tưởng – bên cạnh Bãi Lữ. Ngành du lịch Nghệ An bước đầu đã thu hút được lực lượng dân cư bản địa tham gia vào hoạt động du lịch của tỉnh, đặc biệt là hướng dẫn viên người dân tộc thiểu số, và các dịch vụ bán quà lưu niệm tại một số điểm đến là các buôn làng.

Để đưa Nghệ An đến với bạn bè trong nước và quốc tế, ngành du lịch của tỉnh cũng đã quan tâm đến việc xây dựng các chương trình hành động quốc gia, tham gia các sự kiện hoạt động du lịch toàn quốc cũng như trong khu vực. Đặc biệt, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động bất lợi, ngành du lịch Nghệ An đã triển khai nhiều biện pháp kích cầu du lịch nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế và góp phần thúc đẩy du lịch nội địa. Tới nay, du lịch tỉnh Nghệ An cũng đã thu hút được một số dự án đầu tư trong nước, đặc biệt là các điểm du lịch có nhiều tiềm năng như Vườn quốc gia Pù Mát, các bãi biển thuộc thị xã Cửa Lò và một số làng dân tộc khu vực Quỳ Châu, Quế Phong được đánh giá cao trong các dự án phát triển du lịch cộng đồng.

Ngành du lịch Nghệ An đã lập kế hoạch quy hoạch tổng thể và chi tiết các điểm, tuyến du lịch. Một số điểm du lịch mới đã được khám phá và bước đầu tiến hành khai thác. Một số làng dân tộc được đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển theo mô hình du lịch cộng đồng. Việc gắn kết các điểm du lịch có cùng chủ đề và phối kết hợp đa dạng các loại hình du lịch khác nhau trên cùng một tuyến đã tạo ra nhiều chương trình khá hấp dẫn. Một số chương trình khi đưa vào thử nghiệm đã nhận được phản hồi khá tốt đối với du khách, đặc biệt là chương trình du lịch “trekking” mang tính chất trải nghiệm, khám phá rất thích hợp ở vùng đất này.

Với sự phát triển của hạ tầng cơ sở mà cụ thể sự khai thông các tuyến Đông – Tây, Bắc – Nam, điển hình như tuyến đường Hồ Chí Minh, du lịch Nghệ An đã mạnh dạn xây dựng một số tuyến liên tỉnh, hướng tới khai thác thị trường khách trong nước của vùng Bắc Bộ cũng như duyên hải Nam Trung Bộ.

3.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

Bên cạnh những kết quả khả quan, ngành du lịch Nghệ An vẫn còn nhiều hạn chế bộc lộ sự non trẻ của mình.

Thực trạng hoạt động ngành: Các chỉ tiêu về khách cũng như doanh thu còn bé nhỏ chưa đóng góp nhiều cho GDP của tỉnh. Khách du lịch quốc tế đến Nghệ An chỉ chiếm 3% tổng nguồn khách đến, dẫn đến thu nhập từ các dịch vụ du lịch còn thấp, chưa tạo ra được bước chuyển biến đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu khá chậm.

Chất lượng các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh được đánh giá thấp, thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách. Chỉ mới có một số cơ sở du lịch ở trung tâm được đầu tư, còn tại các điểm du lịch ở miền Tây Nghệ An hầu như không có một cơ sở vật chất kĩ thuật nào đáng kể.

Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, thiếu tính hấp dẫn. Ngoài tắm biển, nghỉ dưỡng ở Cửa Lò, thăm khu di tích Kim Liên, du lịch tại trung tâm thành phố Vinh, không còn gì để hấp dẫn du khách đến tham quan. Do vậy số ngày khách lưu lại trên đất Nghệ An còn ngắn, số lần quay lại ít. Hoạt động du lịch nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng dịch vụ đã có nhiều đổi mới cải tiến nhưng đang ở trình độ thấp.

Nhìn chung, nguồn nhân lực phục vụ du lịch tại tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng. Không chỉ thiếu về số lượng mà chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ cũng chưa đảm bảo và không đồng đều. Công tác quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn chưa được chú trọng. Đặc biệt trong xu thế hiện nay, việc mở cửa và giao lưu với bạn bè trong nước và thế giới, sự tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch vững về nghiệp vụ, am hiểu sâu sắc văn hóa tỉnh là một yêu cầu bức thiết.

Trong giai đoạn 2014 – 2024, công tác xúc tiến quảng bá du lịch tỉnh Nghệ An đã được đẩy lên một bước song chưa đủ sức quảng bá du lịch Nghệ An ra thị trường trong nước và thế giới. Vì vậy, các đoàn khách du lịch, các tour du lịch mà đặc biệt là tour du lịch quốc tế đến Nghệ An còn ít. Bên cạnh đó, văn minh du lịch chưa được thiết lập tốt, nhiều tệ nạn xã hội vẫn còn hoành hành ở các điểm du lịch như tệ nạn chèo kéo, đeo bám…

Thực trạng hoạt động lãnh thổ: Mặc dù có nhiều tiềm năng đã được khám phá, nhưng phần lớn các điểm du lịch chưa được đầu tư nhiều để tạo nên một sản phẩm du lịch ấn tượng và bền vững.  Hiệu quả khai thác tại các điểm du lịch chưa cao thể hiện qua doanh thu tại điểm đến và thời gian lưu trú của khách. Nhiều dự án phát triển các điểm du lịch vẫn là dự án treo. Bên cạnh đó, tại một số điểm du lịch hoạt động khai thác chưa thực hiện tốt với công tác bảo tồn, dẫn đến tình trạng phá vỡ cảnh quan, mai một bản sắc như ở một số lễ hội. Nghệ An là một tỉnh nằm trên dải đất miền Trung thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, phá hủy nhiều kiến trúc có giá trị.

Các tuyến du lịch vẫn chưa khai thác tương xứng tiềm năng, các cơ sở vật chất phục vụ du lịch cũng như các hoạt động vui chơi giải trí hỗ trợ tuyến du lịch còn yếu kém và đơn điệu dẫn đến việc hạn chế tạo ra một sản phẩm du lịch độc đáo. Sự gắn kết giữa các điểm, các địa phương trên tuyến chưa được quy hoạch hoàn chỉnh và thực hiện một cách chuyên nghiệp. phần lớn là dựa trên thế mạnh sẵn có của tự nhiên và nhân văn.

Công tác quy hoạch và quản lý các tuyến điểm du lịch còn nhiều bất cập, chồng chéo cũng là một hạn chế lớn cho việc định hướng phát triển tổ chức không gian du lịch tỉnh nhà. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nghệ An

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993