Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các trường Trung học phổ thông – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu về huyện Yên Lập và các trường Trung học phổ thông Lương Sơn, Yên Lập, Minh Hòa
2.1.1. Giới thiệu về huyện Yên Lập
Yên Lập có tên “Đăng Châu” (từ Thời Lý). Cũng như các huyện khác, Yên Lập là vùng đất cổ – cái nôi của người Việt. Nơi đây từ ngàn xưa đã sáng ngời những trang sử vẻ vang. Người Yên Lập từ thế hệ này sang thế hệ khác đã anh dũng chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương, bản làng. Những địa danh đã đi vào lịch sử như một bản anh hùng ca mãi mãi là niềm kiêu hãnh, tự hào của người dân Yên Lập trong sự nghiệp, bảo vệ xây dựng tổ quốc như: Chiến khu lòng chảo Minh Hòa, chiến thắng du kích Ngọc Lập, Khu di tích Đền thờ Ngô Quang Bích (Mộ Xuân, Xuân An).
Vị trí địa lý: Huyện Yên Lập là huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 70km. Tổng diện tích tự nhiên là 43.783,62ha, có 17 đơn vị hành chính (gồm 01 thị trấn và 16 xã). Phía Đông giáp huyện Cẩm Khê và Tam Nông (Phú Thọ), phía Tây giáp huyện Văn Chấn (Yên Bái), phía Nam giáp huyện Thanh Sơn, Tân Sơn (Phú Thọ) và phí Bắc giáp huyện Hạ Hoà (Phú Thọ).
Kinh tế: Huyện Yên Lập ngày nay có tình hình chính trị ổn định, kinh tế ngày một nâng cao. Khoảng 15 năm về trước, người dân Yên Lập cư trú tập trung ở các vùng thung lũng dưới chân núi, có độ cao không lớn, người dân chủ yếu là canh tác lúa nước, sản xuất nhỏ, mật độ dân số khoảng 212 người/km2. Ngày nay, nhờ có đường giao thông được nâng cấp thuận tiện, người dân Yên Lập đã sống tập trung hơn và có những chuyển biến mạnh mẽ về thay đổi tư duy sản xuất và kinh doanh. Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 43,5%; Công nghiệp và xây dựng chiếm 17,3%; Dịch vụ chiếm 39,2% [18].
Dân số: huyện Yên Lập hiện có khoảng 92.858 người (thị trấn 8.074 người (9%), nông thôn: 84.154 người 91% số liệu năm 2025). Sinh sống tại huyện Yên Lập có 13 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có khoảng 20% là dân tộc Kinh, 80% còn lại là dân tộc Mường, Tày, Dao… [36]. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Tình hình phát triển GD&ĐT: Dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, người dân Yên Lập bao đời cực khổ, luôn phải chịu cảnh “thiếu cơm đói chữ”; trước Cách mạng tháng Tám cả huyện Yên Lập chỉ có một trường cấp 1 với số HS ít ỏi. Đến trước những năm 1960, cả huyện mới có một trường cấp 2 với số lượng gần 100 HS, số người có trình độ cấp 3 cả huyện chỉ có rất ít. Ngày nay, tình hình phát triển giáo dục và đào tạo đang được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện các mục tiêu trung và dài hạn. Cơ sở vật chất trường học được đầu tư kiên cố hoá, chuẩn hoá đạt tỉ lệ 95,2%, chất lượng các nhà trường được nâng lên. Hiện nay, huyện đã thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2 và xoá mù chữ mức độ 2. Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn cũng được quan tâm thực hiện, hiện nay có 47/59 trường đạt chuẩn theo quy định ở các cấp [18].
2.1.2. Giới thiệu các trường Trung học phổ thông Yên Lập, Lương Sơn, Minh Hòa
Trường Trung học phổ thông Yên Lập được thành lập từ năm 1966. Tính đến năm 2025 trường có 53 năm xây dựng và phát triển. Địa điểm của nhà trường được xây dựng tại khu Chùa 11 – Thị trấn Yên Lập – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ. Trường đã đạt chuẩn quốc gia theo quy định và hiện nhà trường với diện tích 21.220m2 có 24 phòng học kiên cố nhà II tầng; nhà học bộ môn III tầng với 06 phòng học; Năm học 2024 – 2025 nhà trường có 59 cán bộ giáo viên, nhân viên và 864 học sinh với 21 lớp [30].
Trường Trung học phổ thông Lương Sơn được thành lập năm 1998, tiền thân là trường cấp 2-3 Lương Sơn. Địa điểm nhà trường đặt tại khu Xuân Tân – xã Lương Sơn – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ. Nhà trường hiện đã đạt chuẩn quốc gia theo quy định và hiện có diện tích 15.200m2 có 2 dãy phòng học kiên cố II tầng và dãy phòng học bộ môn III tầng với 6 phòng học; Năm học 2024- 2025 nhà trường có 48 cán bộ, giáo viên, nhân viên và 721 học sinh với 19 lớp [26].
Trường Trung học phổ thông Minh Hòa được thành lập theo quyết định số 1655 ngày 17/6/2014 của Chủ tịch UBND Tỉnh Phú thọ. Tiền thân của trường Trung học phổ thông Minh Hòa là phân hiệu Minh Hòa của trường Trung học phổ thông Yên Lập được thành lập từ năm học 2003 – 2010. Phân hiệu Minh Hòa ra đời với 05 lớp, có 279 học sinh và 08 thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy. Trường có diện tích 18.100,7m2, nhà trường hiện có 2 dãy phòng học kiên cố với 20 phòng học và các phòng chức năng. Năm học 2024 – 2025 nhà trường có 43 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và 456 học sinh với 14 lớp [28].
2.2. Thực trạng quy mô, đội ngũ, cơ sở vật chất các trường Trung học phổ thông Lương Sơn, Yên Lập, Minh Hòa Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
2.2.1. Về quy mô, số lượng, chất lượng dạy học
- Quy mô, trường lớp
Các nhà trường đều có đủ số lượng phòng học và được xây kiên cố, trong mỗi phòng học có đầy đủ quạt mát, điện thắp sáng. Số lượng phòng học bộ môn cũng được nhà nước đầu tư xây dựng đầy đủ, trong mỗi phòng học có đủ thiết bị tối thiểu cho mỗi môn học. Phòng học Tin học cũng được đầu tư xây dựng và hiện nay các phòng đều có số lượng máy tính đủ theo quy định 2 học sinh trên một máy tính.
- Bảng 2.1. Số lượng lớp học, phòng học bộ môn, phòng học Tin học
- Biểu đồ 2.1: Quy mô lớp học
Về Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, học sinh: Về Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Đội ngũ Cán bộ quản lý đã đủ về số lượng và chất lượng, giáo viên, nhân viên cơ bản đã đủ về số lượng, tuy nhiên vẫn xảy ra thiếu cục bộ ở một số môn như: Trường Trung học phổ thông Lương Sơn hiện chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh, 1 giáo viên dạy GDCD.
- Bảng 2.2. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
- Biểu đồ 2.2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Về số lượng học sinh: Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Số lượng học sinh tăng qua mỗi năm học trong đó, tỉ lệ học sinh người dân tộc thiểu số chiếm hàng năm đều chiếm trên 70%.
- Bảng 2.3. Số lượng học sinh
- Biểu đồ 2.3: Quy mô học sinh
Chất lượng giáo dục học sinh
- Bảng chất lượng giáo dục trong 3 năm học 2022 – 2023, năm học 2023 – 2024, năm học 2024 – 2025
Về học lực
- Bảng 2.4. Kết quả học lực
- Biểu đồ 2.4: Kết quả học lực
Qua bảng số liệu trên ta thấy chất lượng giảng dạy ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập có sự giảm về chất lượng học sinh giỏi, tỉ lệ học sinh có học lực khá và trung bình duy trì ở mức tương đương nhau. Đặc biệt, chất lượng học lực yếu kém lại tăng đột biến.
Về hạnh kiểm
- Bảng 2.5. Kết quả hạnh kiểm
- Biểu đồ 2.5: Kết quả hạnh kiểm
Tuy chất lượng học lực giảm, nhưng hạnh kiểm lại có sự tăng tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm Tốt, Khá năm sau tăng hơn năm trước.
2.2.2. Chất lượng dạy và học môn Tin học Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
- Bảng 2.6. Chất lượng môn Tin học
- Biểu đồ 2.6: Chất lượng môn Tin học
Chất lượng dạy học môn Tin học của 3 trường được đánh giá tăng theo từng năm, nhất là kết quả học lực Khá, Giỏi. Trong đó đáng chú ý là các trường đều có 100% học sinh xếp loại môn học từ Trung bình trở lên. Không có học sinh xếp loại môn học Yếu, không có học sinh thi lại hay lưu ban liên quan đến môn Tin.
Từ đó có thể thấy, đánh giá chủ quan là các em học sinh đã ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận và sử dụng máy tính và gia đình các em cũng có sự đầu tư cho các em học tập.
2.2.3. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học Tin học
Trong các năm qua, các trường đã được đầu tư tốt về cơ sở vật chất lớp học. Đã có đủ các phòng học kiên cố, phòng thí nghiệm thực hành, phòng thư viện được đầu tư xây dựng khang trang, sạch đẹp. Các nhà trường đều có tường rào bao quanh, khuôn viên trường lớp, sân chơi bãi tập được quy hoạch thoáng mát, có nhiều cây xanh.
Trong 03 trường Trung học phổ thông Lương Sơn, Yên Lập, Minh Hoà có 02 trường đã đạt chuẩn quốc gia là: Trung học phổ thông Lương Sơn, Yên Lập nên cơ sở vật chất cơ bản là đã đủ cho việc dạy và học. Đặc biệt là việc dạy và học theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Riêng với môn Tin học thì phòng máy tính có kết nối Internet là hết sức quan trọng cho việc dạy và học. Nên 100% máy tính trong các phòng có kết nối Internet, bảng viết, tuy nhiên chỉ có 2 phòng Tin của trường Trung học phổ thông Yên Lập có máy chiếu.
- Bảng 2.7. cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Tin học
- Biểu đồ 2.7: Số lượng máy tính dùng trong dạy học
- 2.2.4. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý
- Bảng 2.8. Thực trạng cán bộ quản lý
Đội ngũ cán bộ quản lý ở 3 trường Trung học phổ thông có tuổi đời trung bình là 42 tuổi cụ thể: có 7 cán bộ quản lý dưới 42 tuổi và 4 cán bộ quản lý trên 42 tuổi. Thâm niên giữ chức vụ quản lý chủ yếu nằm ở nhóm dưới 10 năm. Như trường Trung học phổ thông Lương Sơn có có 3 người, trường Trung học phổ thông Yên Lập có 3 người, trường Trung học phổ thông Minh Hoà có 3 người. Qua đó có thể thấy thời gian giữ chức vụ quản lý ở các trường là chưa nhiều. Tuy nhiên, Cán bộ quản lý ở các trường có tinh thần trách nhiệm cao, các năm đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và chất lượng giáo dục của nhà trường được đảm bảo. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
2.2.5. Về đội ngũ Cán bộ quản lý và giáo viên dạy Tin học
Tình hình cán bộ quản lý, giáo viên (gọi chung là giáo viên) dạy Tin học tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập.
- Bảng 2.9. Thực trạng Cán bộ quản lý, giáo viên dạy Tin học
Trong các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập có 01 Cán bộ quản lý và 8 giáo viên tham gia trực tiếp giảng dạy Tin học. Trong đó, đa số giáo viên có thâm niên nghề từ 5-10 năm, các giáo viên có tuổi đời và tuổi nghề trẻ nên có tinh thần trách nhiệm và luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các trường Trung học phổ thông huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ
Nhằm đánh giá đúng thực chất của việc quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập. Tác giả đã tiến hành khảo sát cụ thể tại các trường Trung học phổ thông, trong đó có 10 cán bộ quản lý và 8 giáo viên dạy Tin học cụ thể như sau:
2.3.1. Mục tiêu, quy trình, đối tượng và phương pháp nghiên cứu thực trạng
- Mục tiêu
Nhằm tìm hiểu nội dung của việc quản lý hoạt động giảng dạy và các biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy mà Cán bộ quản lý đã và đang thực hiện tại các trường Trung học phổ thông huyện Yên Lập hiện nay. Thấy được những mặt tích cực, hạn chế, tìm ra nguyên nhân của thành công và hạn chế đó thông qua sự đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên, học sinh.
Quy trình khảo sát
- Bước 1: Xác định nội dung khảo sát.
- Bước 2: Xác định đối tượng khảo sát.
- Bước 3: Xây dựng nội dung phiếu khảo sát các nội dung trên.
- Bước 4: Thực hiện phát các phiếu khảo sát.
- Bước 5: Thu thập phiếu khảo sát.
- Bước 6: Tổng hợp kết quả
- Bước 7: Phỏng vấn thêm về nội dung khảo sát (tuỳ nội dung khảo sát)
Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Đối tượng khảo sát là Cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy Tin học, học sinh học tại 3 trường Trung học phổ thông Lương Sơn, Yên Lập, Minh Hoà trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
- Cán bộ quản lý của 3 trường Trung học phổ thông: 10 người.
- Giáo viên trực tiếp dạy Tin học: 8 người.
- Giáo viên các môn học khác: 39 người.
- Phương pháp nghiên cứu
Bản thân tác giả lựa chọn nhiều phương pháp trong đó tập trung vào các nội dung sau:
- Sử dụng phiếu tự đánh giá có 3 mức độ: Rất cần thiết, cần thiết và không cần thiết nhằm đánh giá nhận thức của Cán bộ quản lý về tầm quan trọng của từng nội dung trong quản lý hoạt động giảng dạy.
- Sử dụng phiếu tự đánh giá có 3 mức độ: Rất cần thiết, cần thiết và không cần thiết nhằm đánh giá nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học Tin học.
- Sử dụng phiếu đánh giá với 4 mức độ: Rất tốt,Tốt, Trung bình, Chưa tốt để tìm hiểu thực tế về tự đánh giá các mức độ thực hiện nội dung của quản lý hoạt động giảng dạy.
- Trao đổi trực tiếp với Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về các nội dung khảo sát.
- Quan sát các hoạt động quản lý, giảng dạy của giáo viên thông qua các cuộc họp và dự giờ thăm lớp.
- Nghiên cứu các văn bản liên quan đến công tác quản lý hoạt động giáo dục trong trường học.
2.3.2. Quản lý hoạt động dạy và nhận thức của Cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Để đánh giá đúng thực tế việc quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ, tác giả đã trưng cầu ý kiến đánh giá của 11 Cán bộ quản lý, 8 giáo viên dạy môn Tin học, kết quả cụ thể:
- Quản lý hoạt động dạy học
Nhằm hiểu rõ được nhận thức của cán bộ quản lý về hoạt động dạy học của giáo viên. Tác giả đã xây dựng bảng hỏi cho 10 cán bộ quản lý về công việc này.
- Kết quả được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.10. Công tác quản lý dạy học
Kết quả điều tra cho thấy, 100% Cán bộ quản lý đã nhận thức đầy đủ về công tác quản lý dạy học. 100% tự đánh giá ở mức khá và tốt. Điều này cho thấy, việc nhận thức của Cán bộ quản lý với công tác quản lý đã được quan tâm, chú trọng thực hiện. Các công việc quản lý tưởng như là thủ tục hành chính khô khan, nhưng đã được chú trọng thực hiện. Đặc biệt, Cán bộ quản lý đã rất quan tâm đến chất lượng dạy học, điển hình là việc quản lý đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đã được đánh giá ở mức tốt với 10 thầy cô nhận thấy mình đang làm tốt công việc của mình. Vì chất lượng đầu ra của học sinh phản ánh rất lớn hiệu quả của công tác quản lý nói riêng và hoạt động giảng dạy của giáo viên nói chung.
- Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV về sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Để tìm hiểu về mức độ nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên dạy Tin học về các hoạt động giảng dạy theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. Tác giả tiến hành khảo sát nhận thức của Cán bộ quản lý, giáo viên về nhu cầu hoạt động đổi mới phương pháp dạy học nhằm có cái nhìn khách quan về công tác quản lý và việc tự đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên trong thời gian vừa qua. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
- Bảng 2.11. Nhận thức đổi mới phương pháp dạy học của Cán bộ quản lý, giáo viên
Qua khảo sát có thể thấy, Cán bộ quản lý và giáo viên nhận thấy mức độ rất cần thiết và cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng với chương trình giáo dục trong thời gian tới. 100% Cán bộ quản lý, Giáo viên khi được hỏi đều cho rằng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học là việc làm rất cần thiết nhằm đáp ứng được cách dạy, cách học trong thời gian tiếp theo nhằm đáp ứng được với chương trình giáo dục phổ thông mới.
Trong đó nội dung người giáo viên cần phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo, ghi nhận những ý kiến, sự sáng tạo và hợp tác trong khi giảng dạy và học tập được tán thành rất cao với 100% đồng ý là rất cần thiết. Điều đó thể hiện mức độ sáng tạo của giáo viên trong dạy và học trong thời kỳ mới là rất quan trọng. Người giáo viên cần có tư duy đổi mới, xóa bỏ sức ỳ của chính mình trong khi cả xã hội đang thay đổi.
2.3.3. Thực trạng quản lý hoạt động học môn Tin học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
- Kế hoạch chuyên môn của giáo viên
Công việc lập kế hoạch dạy học là công việc rất quan trọng và cần được quan tâm thực hiện vì mọi công việc chúng ta đều thực hiện theo kế hoạch. Mọi công việc trong nhà trường, muốn chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra tốt đều phải dựa vào kế hoạch mà nhà trường đã định sẵn.
Việc quản lý kế hoạch dạy học của giáo viên rất quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên. Quản lý tốt thì nó sẽ giúp cho Cán bộ quản lý nắm được tiến trình thực hiện, kết quả thực hiện các nhiệm vụ của người giáo viên trong năm, trong nhiệm kỳ. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động lập kế hoạch dạy học của giáo viên được đánh giá thông qua bảng sau:
- Bảng 2.12. Thực trạng hoạt động lập kế hoạch dạy học
Từ bảng khảo sát trên ta thấy, nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cá nhân rất được các nhà trường quan tâm thực hiện. Thường, vào đầu mỗi năm học, Hiệu trưởng triển khai nhiệm vụ năm học mới của các cấp quản lý và nhiệm vụ năm học của nhà trường. Sau đó, tổ chuyên môn và giáo viên tiến hành xây dựng các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của tổ chuyên môn, đồng thời xây dựng kế hoạch cá nhân thực hiện nhiệm vụ của mình. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Qua bảng trên ta thấy, Cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá rất cao việc chỉ đạo thực hiện việc lập kế hoạch cũng như việc thực hiện xây dựng kế hoạch dạy học của giáo viên. 100% đánh giá việc triển khai thực hiện và tổ chức thực hiện tốt việc lập kế hoạch của giáo viên.
- Hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên cần được quan tâm thực hiện và đây cũng là tiêu chí quan trọng để xếp loại giáo viên hàng năm.
Bảng sau là bảng khảo sát về hồ sơ chuyên môn của giáo viên:
- Bảng 2.13. Hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Từ bảng khảo sát trên, ta thấy hồ sơ chuyên môn của giáo viên được quan tâm thực hiện, 100% nhận thấy Cán bộ quản lý đã chủ động chỉ ra rõ ràng số lượng hồ sơ giáo viên cần thực hiện trong năm học. Công tác lập kế hoạch, tổ chức hướng dẫn thực hiện việc làm hồ sơ giáo viên cơ bản được đánh giá ở mức tốt.
Tuy nhiên, việc kiểm tra đột xuất hồ sơ chuyên môn của giáo viên được thực hiện chưa thực sự tốt, 70,18% người được hỏi đánh giá xếp loại tốt, 24,56% người được hỏi đánh giá khá, 16,67% đánh giá trung bình. Qua đó có thể thấy, các nhà trường không thường xuyên thực hiện kiểm tra đột xuất, thực tế tại trường Trung học phổ thông Lương Sơn trong năm học 2023-2024 chỉ có 02 lần kiểm tra hồ sơ giáo viên đột xuất. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Một công việc cũng hết sức quan trọng là cập nhật hồ sơ sau kiểm tra, ta thấy các trường thực hiện ở mức bình thường, chỉ có 61,4% xếp loại tốt và có tới 38,6% xếp loại khá. Tức là sự quan tâm đến việc cập nhật, bổ sung hồ sơ của giáo viên sau khi kiểm tra có hạn chế nhất định, cả phía Cán bộ quản lý và phía giáo viên.
- Phân công giảng dạy cho giáo viên
Phân công giảng dạy là công việc quan trọng và mang tính khoa học, nghệ thuật. Vì nếu phân công công việc đúng thì sẽ mang lại hiệu quả cao trong công việc, giáo viên sẽ phát huy được năng lực, sở trường của mình trong các công việc được giao. Tuy nhiên, nếu làm không tốt hoặc không hợp lý có thể ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của giáo viên, nó còn ảnh hưởng đến uy tín của giáo viên, nhà trường. Tạo tâm lý làm việc không tốt cho giáo viên. Kết quả khảo sát thực trạng phân công giảng dạy cho giáo viên thu được như sau:
- Bảng 2.14. Thực trạng phân công giảng dạy
Qua bảng trên ta thấy, các nhà trường đã thực hiện rất tốt việc phân công giảng dạy cho giáo viên. Các trường đã căn cứ tình hình thực tế của đơn vị mình để phân công giảng dạy phù hợp với điều kiện nhân sự của từng trường. Các trường đặc biệt chú ý đến điều kiện thực tế nhà trường, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm giảng dạy và độ uy tín của giáo viên. Trong 3 trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập duy chỉ có trường Trung học phổ thông Yên Lập là đủ giáo viên, các trường còn lại thiếu so với biên chế giao đầu năm. Trường Trung học phổ thông Lương Sơn đánh giá 1 trung bình do trường này hiện thiếu 10 giáo viên so với chỉ tiêu biên chế, nên rất khó khăn cho việc sắp xếp nhân sự. Chỉ số 2 về mức độ phù hợp của việc phân công giảng dạy với trình độ đào tạo của giáo viên cũng được các nhà trường thực hiện tốt với 100% khá tốt. Việc sắp xếp theo đề nghị của tổ chuyên môn cũng được nhà trường thực hiện tốt, tuy nhiên không phải lúc nào cũng theo đề nghị của tổ chuyên môn được. Việc sắp xếp dạy học theo nguyện vọng của giáo viên được các trường thực cơ bản tốt. Tuy nhiên, có 5,26% đánh giá ở mức trung bình trong tiêu chí này, điều đó nói lên chỉ có số ít nguyện vọng của giáo viên khó được đáp ứng, còn cơ bản các nhà trường đã tạo môi trường làm việc tốt nhất cho giáo viên.
- Hoạt động dạy học của giáo viên Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
- a) Thực trạng quản lý việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp của giáo viên theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới.
Soạn bài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp của giáo viên có vai trò rất quan trọng trong thực tiễn giảng dạy. Thực tiễn giảng dạy đã cho thấy, nếu giáo viên có ý thức soạn bài và chuẩn bị bài tốt thì chất lượng giảng dạy của giáo viên đó sẽ tốt và chất lượng chuyên môn của giáo viên đó cũng rất tốt. Ngược lại, nhiều giáo viên chủ quan hoặc lười không soạn bài, chuẩn bị bài đầy đủ thường là những giáo viên có chất lượng chuyên môn chưa thực sự tốt.
Trên cơ sở thực tế của từng nhà trường, các nhà trường sẽ có các biện pháp quản lý việc soạn – giảng và chuẩn bị bài của giáo viên. Thực trạng quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài của giáo viên qua điều tra 57 Cán bộ quản lý, giáo viên về mức độ thực hiện các yêu cầu về soạn bài, chuẩn bị lên lớp được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.15. Thực trạng soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp
Qua bảng trên ta thấy, các nhà trường đã quan tâm, trú trọng đến công tác soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên. Đã triển khai đầy đủ các văn bản của cấp trên triển khai đến đơn vị, có 12,28% đánh giá là khá do đôi khi có trường triển khai chậm. Các nhà trường có đầy đủ quy chế chuyên môn, kế hoạch kiểm tra việc soạn giảng của giáo viên. Tuy nhiên, việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột suốt giáo án của giáo viên được thực hiện chưa đúng với kế hoạch nên có 5,26% đánh giá chỉ đạt trung bình về việc thực hiện nội dung này. Có 91,23% Cán bộ quản lý, giáo viên cho rằng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên được thực hiện tốt, tuy nhiên, còn 5,26% đánh giá trung bình do việc này chưa được thực hiện thường xuyên, định kì. Các nhà trường hàng năm đều có kế hoạch bổ sung cơ sở vật chất dạy học, tuy nhiên do hàng năm chỉ có một đợt mua sắm lúc đầu năm, nên trong năm học khó thực hiện đợt mua sắm bổ sung, chỉ có 85,96% đánh giá tốt và có tới 14,03% đánh giá khá và trung bình. Việc sử dụng kết quả kiểm tra giáo án và chuẩn bị bài nhằm đánh giá, xếp loại giáo viên được các trường thực hiện tốt và nó là một tiêu chí cứng trong việc thực hiện chuyên môn của giáo viên.
- b, Thực trạng quản lý thực hiện giờ dạy của giáo viên
Quản lý việc thực hiện giờ dạy của giáo viên là quá trình theo dõi việc dạy học của giáo viên có theo đúng phân phối chương trình không? trong quá trình dạy học có nghỉ không? giáo viên thực hiện dạy thay, dạy bù như thế nào? Cán bộ quản lý quản lý tốt các công việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng giờ dạy của mỗi giáo viên. Cán bộ quản lý cần chủ động đưa ra các biện pháp quản lý sao cho phù hợp với điều kiện làm việc của từng trường. Qua khảo sát thực tế tại các trường Trung học phổ thông về việc quản lý thực hiện giờ dạy của giáo viên ta thu được kết quả như bảng sau:
- Bảng 2.16. Thực trạng quản lý thực hiện giờ dạy của giáo viên
Qua bảng trên ta thấy, các nhà trường cơ bản thực hiện tốt việc quản lý giờ dạy của giáo viên. Các biện pháp quản lý được quy định cụ thể trong Quy chế chuyên môn của mỗi nhà trường, các công việc như theo dõi ngày công lao động, theo dõi việc dạy thay, dạy bù, theo dõi việc thực hiện kế hoạch giảng dạy được các nhà trường nghiêm túc thực hiện.
Tuy vẫn có hiện tượng giáo viên dạy bù, dạy thay không báo cáo hoặc báo cáo sau khi đã thực hiện nhưng tỉ lệ đó không nhiều (8,77%). Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
- c, Thực trạng quản lý hoạt động dự giờ, đánh giá giờ dạy của giáo viên
Hoạt động dự giờ, nhận xét, đánh giá giờ dạy của giáo viên có vai trò quan trọng trong công tác quản lý. Các hoạt động này giúp giáo viên, đồng nghiệp có thời gian cùng nhau trao đổi, đóng góp ý kiến để bài giảng (quá trình thực hiện giờ dạy) của giáo viên được tốt hơn từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Qua khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dự giờ, đánh giá giờ dạy của giáo viên, tác giả thu được cụ thể tại bảng sau:
- Bảng 2.17. Thực trạng quản lý hoạt động dự giờ, đánh giá giờ dạy của giáo viên
Nhìn chung kế hoạch dự giờ đều được các nhà trường quan tâm thực hiện, cụ thể trong việc thực các hoạt động dự giờ, đánh giá giờ dạy của giáo viên cũng được nêu cụ thể trong Quy chế chuyên môn của mỗi nhà trường. Đặc biệt công tác xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện luôn được các nhà trường quan tâm chỉ đạo thực hiện, cụ thể có 91,23% các thầy cô được hỏi đánh giá tốt trong việc xây dựng kế hoạch. Các tiêu chí khác đều được đánh giá ở mức tốt với từ 70,18% trở lên.. Qua trao đổi trực tiếp, tác giả được biết do việc dự giờ đột suốt trong năm diễn ra ít, mỗi trường chỉ từ 5-7 tiết/năm học. Các trường rất chú trọng trong việc đánh giá, xếp loại giờ dạy của giáo viên, việc đánh giá, rút kinh nghiệm giờ sau khi dạy được các trường thực hiện tốt đạt hiệu quả cao. Trong thời gian nhận xét, không có nhận xét chung chung mà đi thẳng vào những việc đã làm được, chưa làm được và đặc biệt là đánh giá những hoạt động của giáo viên có tạo được động lực của học sinh.
- d, Thực trạng quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Thực hiện các yêu cầu dạy học hiện nay, chuyển dạy học lấy nội dung làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm. Nên đổi mới phương pháp dạy học là điều tất yếu trong giai đoạn hiện nay. Việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại như đặt vấn đề, chia nhóm, thực hiện dự án… cùng với những kỹ thuật dạy học mới như: bể cá, tia chớp… có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Hiện nay, Cán bộ quản lý và giáo viên đã nhận thức rất đầy đủ về việc đổi mới PP trong dạy học. Tác giả đã tiến hành khảo sát việc đổi mới phương pháp dạy học và thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.18. Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học
Qua bảng trên ta thấy, việc thực hiện các quy định về đổi mới phương pháp dạy học được các trường làm rất tốt, cụ thể có 98,25% tự xếp loại tốt, cùng với đó là nhận thức tầm quan trọng của Cán bộ quản lý, giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học cũng đạt mức rất cao 100% tự xếp loại khá, tốt. Hiện nay, trong việc đánh giá xếp loại giờ dạy của giáo viên có một yếu tố rất quan trọng là đổi mới phương pháp dạy học, nên 100% Cán bộ quản lý, giáo viên đánh giá tốt với tiêu chí Tổ chức các giờ dạy mẫu về đổi mới phương pháp dạy học hoặc kết hợp trong giờ thực tập giáo viên. Các giờ thao giảng của giáo viên nhân các dịp lễ lớp như 10-11, 20-10, 8-3 đều có yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học và được các thầy cô giáo viên đón nhận nhiệt tình. Công tác đánh giá, xếp loại giờ dạy của giáo viên được các nhà trường quan tâm thực hiện, đặc biệt có các yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học, qua bảng trên ta thấy có 100% đánh giá khá tốt về tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy có đổi mới phương pháp dạy học. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Tuy nhiên, việc bồi dưỡng nâng cao năng lực về phương pháp dạy học cho giáo viên chỉ đạt 52,63% loại tốt, có tới 38,6% xếp loại khá và 8,77% xếp loại trung bình, từ đó nhận thấy tuy là hoạt động rất quan trọng nhưng chủ yếu người giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học, việc này phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực của người giáo viên. Nếu người giáo viên không tự thay đổi, tự rèn luyện thì cũng rất khó để đạt được mục đích của việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng kỹ năng sử dụng thiết bị cũng chủ yếu thông qua các hoạt động tự học của giáo viên, nên tiêu chí này có 42,11% xếp loại khá và trung bình.
- Hoạt động học của học sinh
Hiện nay, theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. Học sinh là trung tâm của hoạt động dạy học, mọi hoạt động giảng dạy của giáo viên đều nhằm mục đích phát triển năng lực cho các em học sinh. Người giáo viên có hoàn thành nhiệm vụ dạy học hay không phụ thuộc rất lớn vào yếu tố học sinh, học sinh có tiếp thu bài không, có hợp tác trong các hoạt động. Người giáo viên cũng phải hết sức linh hoạt, sáng tạo trong khi thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của mình. Người Cán bộ quản lý cũng phải có các biện pháp quản lý khác nhau nhằm tác động vào hoạt động học của học sinh, để thúc đẩy quá trình nhận thức và nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và học của học sinh.
Kết quả khảo sát việc quản lý hoạt động học của học sinh cụ thể như sau:
- Bảng 2.19. Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh
Qua bảng trên ta thấy, các nhà trường cơ bản đã thực hiện tốt việc quản lý nề nếp học tập của học sinh. Có các biện pháp quản lý nhằm giúp các em học sinh có thể phát huy được năng lực, sở trường của mình thông qua các hoạt động giáo dục. Có 96,49% đánh giá tốt trong việc xây dựng nội quy, nề nếp lớp học nhằm tạo môi trường học an toàn, lành mạnh và công bằng.
Một số biện pháp được đánh giá tốt trong công tác quản lý học tập của học sinh như: Biện pháp bồi dưỡng động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho học sinh, khả năng tự học của học sinh được đánh giá từ 92,98%, điều đó cho thấy nhận thức của Cán bộ quản lý, giáo viên đều rất coi trọng, tuy nhiên, bồi dưỡng khả năng tự học của học sinh có 01 thầy cô đánh giá trung bình, cũng có thể thấy việc này có thể được thực hiện chưa thường xuyên hoặc chưa đồng bộ trong trường học.
Tiêu chí tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được đánh giá 92,98% tốt, tuy nhiên có 2 thầy cô (tương ứng 3,51%) đánh giá trung bình cũng có thể thấy rằng hoạt động này tuy đã làm tốt nhưng chưa thường xuyên. Ví dụ như trường Trung học phổ thông Lương Sơn khi xây dựng kế hoạch mỗi tháng một chủ đề, chủ điểm tuy nhiên khi thực hiện thì vì nhiều lý do nên không thể thực hiện hết. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Tiêu chí quản lý việc thực hiện nề nếp học sinh được đánh giá 91,23% tốt, tuy nhiên có 5,26% đánh giá trung bình. Điều này có thể thấy do nhiều nguyên nhân như tác động của môi trường bên ngoài ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nề nếp của học sinh.
Tiêu chí Xây dựng và quản lý mối quan hệ giữa thầy và trò có 100% đánh giá tốt, khá. Điều đó cho thấy trong các nhà trường không có hiện tượng giáo viên trù dập hay đối xử không công bằng với học sinh. Các thầy cô luôn được học trò tin yêu, quý trọng.
Công tác khen thưởng, kỷ luật của các trường cũng được quan tâm thực hiện và thường xuyên có các hình thức khen thưởng kịp thời như: khen thưởng học sinh có thành tích trong các cuộc thi học sinh giỏi, thi KHKT… Trong các năm, việc duy trì kỷ luật học sinh cũng được các trường thực hiện tốt, trong 3 năm gần đây có tất cả 7 vụ việc học sinh vi phạm nội quy đến mức phải mở hội đồng kỷ luật để xử lý.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh và giáo viên, đặc biệt là với cán bộ quản lý. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cung cấp cho Cán bộ quản lý những thông tin rất hữu ích về thực trạng dạy và học trong một nhà trường, để từ đó có những chỉ đạo kịp thời, khắc phục những điểm chưa tốt, hỗ trợ những sáng kiến hay và đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục chung. Kiểm tra, đánh giá giúp giáo viên có những thông tin về chất lượng các lớp giảng dạy, các năng lực nhận thức của học sinh từ đó giúp giáo viên phân loại được đối tượng học sinh và có những điều chỉnh về nội dung dạy học, phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể. Kiểm tra, đánh giá giúp học sinh tự nhận thấy những điểm mạnh, điểm yếu về kiến thức, năng lực của mình. Từ đó có ý thực tự học, tự rèn luyện để phát triển được năng lực của mình. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Kết quả khảo sát đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới:
- Bảng 2.20. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được các nhà trường rất quan tâm thực hiện. 100% các trường đều có kế hoạch và Ban giám hiệu nhà trường trực tiếp chỉ đạo việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Công tác đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng được các nhà trường quan tâm với 100% đánh giá khá, tốt. 100% các tổ, nhóm chuyên môn được đánh giá khá, tốt với tiêu chí như: phân công xây dựng ma trận, nội dung đề kiểm tra học kỳ, công tác tổ chức coi kiểm tra học kỳ, đánh giá xếp loại kết quả học tập của học sinh.
Tiêu chí công tác kiểm tra hồ sơ về kiểm tra, lên điểm của tổ chuyên môn có 3,51% đánh giá trung bình do và tiêu chí công tác kiểm tra việc chấm, trả bài cho học sinh có 7,02% đánh giá trung bình, điều đó có thể thấy các công việc này chưa được các nhà trường quan tâm thực hiện thường xuyên, liên tục. Giáo viên có một phần nhỏ chưa thực hiện nghiêm túc việc chấm, trả bài cho học sinh.
- Quản lý bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên dạy Tin học
Để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên thì việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ là rất cần thiết và có ý nghĩa rất to lớn với mỗi giáo viên.
Kết quả khảo sát thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên cụ thể như sau:
- Bảng 2.21. Thực trạng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên
Qua bảng trên ta thấy, công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên rất được các trường quan tâm thực hiện. Công tác quán triệt, giới thiệu các nội dung về bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ tới giáo viên được các nhà trường thực hiện nghiêm túc với 100% đánh giá loại tốt. 75,44% đánh giá tốt công tác kiểm tra dự giờ, thăm lớp của giáo viên.
Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng HSG, làm SKKN, hướng dẫn học sinh thi KHKT mặc dù đã thực hiện tốt, nhưng có 3,51% xếp loại trung bình. Điều này là do, ví dụ: công tác bồi dưỡng HSG thường chỉ giao cho 01 người phụ trách đội tuyển, hay chỉ có 01 người tham gia hướng dẫn học sinh thi KHKT, nên công tác bồi dưỡng giáo viên thông qua hình thức này là phù hợp nhưng chưa phủ rộng cho toàn bộ giáo viên. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
- Thực trạng quản lý có sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng thực hành Tin học
CSVC và thiết bị dạy học là một trong những thành tố cơ bản của quá trình dạy học. Nếu không có thành tố cơ bản này, các hoạt động dạy học không thể diễn ra thuận lợi và đạt được mục tiêu dạy học là phát triển năng lực cho người học. Trong giai đoạn hiện nay, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là phương tiện quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Kết quả khảo sát thực trạng quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ cho hoạt động dạy và học Tin học tại các trường Trung học phổ thông được mô tả ở bảng sau:
- Bảng 2.22. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng thực hành Tin học
Qua kết quả khảo sát trên ta thấy: Các nhà trường đã thực thấy được tầm quan trọng của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong công tác dạy và học của giáo viên. Hàng năm, các nhà trường đều có quy định rõ ràng trong quy chế chuyên môn về việc sử dụng thiết bị trong dạy và học. Từ việc xây dựng kế hoạch sử dụng thiết bị dạy học đầu năm của các tổ chuyên môn, kế hoạch sử dụng chi tiết đến từng bài, chương theo phân phối chương trình. Tuy nhiên, có 3,51% đánh giá trung bình từ đó có có thể thấy, kế hoạch xây dựng còn mang tính hình thức nên dẫn đến có 3,51% đánh giá việc theo dõi việc sử dụng thiết bị dạy học loại trung bình. Trong một tiết dạy của giáo viên, việc đánh giá, xếp loại giờ dạy là hết sức quan trọng và được các trường thực hiện tốt có 92,98% đánh giá xếp loại tốt, tuy nhiên, có 3,51% đánh giá xếp loại trung bình, có thể thấy vẫn có giáo viên sử dụng không hiệu quả hoặc dạy chay trong các bài học.
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
2.4.1. Những điểm mạnh
Thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng, quy định của Chính phủ, quy định của ngành về công tác giáo dục. Các nhà trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập đã nhận thức đầy đủ các yêu cầu, quy định của ngành về đổi mới về phương pháp quản lý, phương pháp dạy học trong các nhà trường. Cùng với đó là sự chỉ đạo quyết liệt của đội ngũ Cán bộ quản lý trong việc thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác dạy và học. Môn Tin học với vai trò là môn học bắt buộc từ lớp 3 theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Nên trong những năm gần đây cũng được các nhà trường quan tâm chỉ đạo thực hiện và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
CBQL các nhà trường đã có sự chỉ đạo sát sao và quan tâm đến việc xây dựng các kế hoạch dạy học của môn học, trong đó có môn Tin học. Các nhà trường đã chú trọng xây dựng các kế hoạch môn học phù hợp với thực tế của nhà trường như tình hình đội ngũ, tình hình học sinh, tình hình cơ sở vật chất, thiết bị. Từ đó, các nhà trường đã chỉ ra các biện pháp quản lý các hoạt động dạy và học nhằm đạt mục tiêu chung chất lượng giáo dục của nhà trường. Các biện pháp quản lý, luôn được các nhà trường cải tiến linh hoạt sao cho từng thời điểm, từng vị trí làm việc thì hoạt động dạy và học vẫn được đặt lên hàng đầu. Trong đó, các nhà trường cũng rất chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra – đánh giá với tất cả các môn học, trong đó có môn Tin học.
Bên cạnh việc cải tiến các biện pháp quản lý, các nhà trường cũng rất quan tâm đến tăng cường kỷ luật chuyên môn nhằm tạo mặt bằng chung cho tất cả giáo viên phát huy được năng lực, sở trường của mình trong công việc. Không phân biệt môn chính, môn phụ khi thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, từ đó tạo được sự chuyển biến trong nề nếp dạy và học.
Các nhà trường cũng đã xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống tốt, có tình yêu với nghề và trách nhiệm sư phạm rất cao trong công việc. Tập thể giáo viên trong nhà trường đoàn kết tốt, yên tâm công tác. Trình độ chuyên môn của giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn, và ngày càng được nâng cao. Năng lực đội ngũ giáo viên Tin học hiện tại có đủ phẩm chất, năng lực để đáp ứng được yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông năm 2024.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, các nhà trường cũng rất chú trọng đến đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Nhất là đã quan tâm đầu tư môn Tin học với yêu cầu tài chính thường rất lớn. Các nhà trường đều có phòng Tin học hiện đại và đầy đủ trang thiết bị. Hoạt động của các phòng thực hành Tin học được dùng cho nhiều mục đích khác nhau bên cạnh việc dạy môn Tin học như: tổ chức các buổi thi trên toàn trường thông qua Internet, hỗ trợ học sinh, giáo viên tra cứu tài liệu… Nhìn chung cơ sở vật chất của các nhà trường đã từng bước đáp ứng được yêu cầu đổi mới với chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay.
2.4.2. Những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
Trong công tác quản lý hoạt động dạy và học môn Tin học trong các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập. Các nhà trường đã chủ động đề ra nhiều biện pháp thực hiện và đã mang lại nhiều kết quả. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục, cụ thể:
Nhận thức của giáo viên về chương trình giáo dục phổ thông mới hiện mới đang dừng ở mức nhận biết. Các nhà trường chưa có kế hoạch cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng với chương trình mới. Chủ yếu trông đợi vào các đợt tập huấn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT hoặc việc tự học của giáo viên.
Môn Tin học hiện nay được coi là môn học phụ nên Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh đều chưa chú trọng đến việc dạy và học theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông mới. Có những giáo viên còn dạy học hình thức, qua loa chưa chú trọng đến việc đầu tư, xây dựng nội dung, hình thức dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn.
Việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên dạy Tin học như chuẩn bị bài lên lớp, quản lý sinh hoạt chuyên môn, việc thực hiện chương trình dạy học, quản lý nề nếp giờ dạy chưa chặt chẽ, đôi khi còn hình thức.
Công tác đầu tư xây dựng bài giảng đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới kiểm tra đánh giá chưa được giáo viên quan tâm đúng mức. Một số giáo viên còn dạy chay (tức không sử dụng máy tính hoặc bài giảng điện tử khi giảng bài), dẫn đến việc đổi mới phương pháp dạy học còn mang tính hình thức (chỉ đầu tư khi có giáo viên dự giờ…)
Cơ sở vật chất trong những năm gần đây được các nhà trường quan tâm đầu tư. Từ phòng máy tính thực hành, đến số lượng máy tính, máy chiếu trên các phòng học. Tuy nhiên, do đầu tư không đồng bộ nên lượng máy tính bị hỏng nhiều, ảnh hưởng đến việc dạy và học thực hành. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT đã có nhiều văn bản điều hành về việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, công tác nhân sự đôi khi ngoài tầm kiểm soát của các trường như việc điều chuyển giáo viên dẫn đến có trường thiếu giáo viên, khó thực hiện các công việc quan trọng, dài hạn.
Công tác quản lý của Cán bộ quản lý chưa nhạy bén trong tình hình mới. Các biện pháp quản lý đôi khi chưa được thực hiện đồng bộ, đội ngũ Cán bộ quản lý chưa quyết liệt, mạnh dạn trong việc thực hiện nhiệm vụ.
Công tác kiểm tra giảng dạy, kiểm tra giáo án, hồ sơ giáo viên dạy Tin học còn xem nhẹ, vì coi là môn phụ không quan trọng nên việc kiểm tra, giám sát cũng dừng lại ở mức độ nhắc nhở, góp ý khi có lỗi hoặc không thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu.
Công tác quản lý, sử dụng khai thác cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học chưa hiệu quả, các nhà trường đều có cán bộ quản lý các phòng học Tin học, tuy nhiên do kiêm nhiệm nhiều nội dung thực hiện nên hiệu quả chưa cao.
Giáo viên Tin học ở các nhà trường tuy được đào tạo đúng chuyên môn nhưng do điều kiện kinh tế thị trường, họ thường có các công việc làm tăng thu nhập như có người có quán bán, sửa chữa đồng hồ, có người buôn bán chè, chim hoặc cây cảnh… Cũng có ảnh hưởng đến việc đầu tư chuyên môn của giáo viên.
Chất lượng tuyển sinh đầu vào của các trường đều thấp, điều kiện kinh tế ở địa phương khó khăn nên việc đầu tư cho việc học hành của các em còn nhiều hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Nhìn chung cán bộ quản lý ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ đã nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng của công tác quản lý dạy và học. Đã đề ra được nhiều biện pháp quản lý và mang lại hiệu quả trong công tác dạy và học của các nhà trường. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy và học môn Tin học đã được chú trọng trong thời gian gần đây. Môn Tin học cũng đang dần là môn học cơ bản, nền tảng cho các môn học khác ứng dụng vào công tác dạy và học. Đội ngũ giáo viên ở các trường đều là giáo viên trẻ, nhiệt tình trong công việc. Học sinh hiện nay được tiếp cận nhiều với công nghệ, điều kiện học tập có nhiều tiến bộ hơn trong thời gian trước.
Qua khảo sát thực tế tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Lập, có thể nhận thấy các Cán bộ quản lý, giáo viên ở các trường này đã có những nhận thức đầy đủ về công cuộc đổi mới từ việc xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá đối với học sinh. Các nhà trường cũng rất chú trọng đến công tác bồi dưỡng giáo viên trong tình hình mới, cập nhật các văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT; công tác đầu tư sửa chữa, nâng cấp phòng máy cũng được quan tâm thực hiện.Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, việc quản lý hoạt động dạy và học trong chương trình hiện tại còn có những bất cập như: Việc chỉ đạo các thực hiện các quy định về việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình giảng dạy môn Tin học theo định hướng phát triển năng lực chưa có sự chỉ đạo thực hiện thống nhất. Dẫn đến, hoạt động dạy học được thực hiện không đồng đều, có giáo viên nhận thức đầy đủ, và thực hiện tốt, tuy nhiên, cũng có những giáo viên nhận thức chưa đầy đủ và làm chưa thật tốt. Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy và học đã được các trường đầu tư mua sắm, sửa chữa hàng năm tốt, nhưng việc bảo quản, sử dụng còn những khó khăn nhất định như: tính đồng bộ của thiết bị chưa cao dẫn đến số lượng máy tính hỏng hóc cao ảnh hưởng lớn đến việc dạy và học Tin học. Công tác tự bồi dưỡng giáo viên theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới còn thụ động, các trường chưa xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng hoặc xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng cho giáo viên nhằm giúp giáo viên tiếp cận và chuẩn bị tốt nhất cho chương trình mới.
Từ những khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các trường Trung học phổ thông huyện Yên Lập, cùng với những cơ sở lý luận đã tìm hiểu ở chương I. Luận văn nhận thấy cần có những biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động dạy học Tin học theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện giúp học sinh phát triển toàn diện và tiếp cận đầy đủ với chương trình giáo dục phổ thông mới. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý dạy học môn tin học tại trường THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
