Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường trung học phổ thông kỹ thuật việt trì trong bối cảnh hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về trường trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì

2.1.1. Đặc điểm giáo dục ở nhà trường trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì

2.1.1.1. Quy mô học sinh, lớp học

Trường THPT KTVT được thành lập từ năm 2003, tiền thân là mô hình trường vừa dạy văn hóa vừa dạy nghề. Đến nay trải qua 17 năm xây dựng và trưởng thành, trường đã bỏ mô hình dạy nghề, trở thành trường phổ thông như các trường khác, tuy còn thiếu thốn nhiều về cơ sở vật chất nhưng nhà trường cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản về lớp học, đảm bảo việc học một ca trên ngày

Bảng 2.1: Số lớp, học sinh, giáo viên trường THPT KTVT

Nhìn vào bảng 2.1 cho thấy nhà trường tiếp tục được ổn định về lớp, sĩ số, CBGV. Đến nay, cơ sở vật chất trang thiết bị trường lớp đang tiếp tục được củng cố và phát triển, nâng cấp, cơ bản đã đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân. Số học sinh được thống kê trong bảng 2.1 cho thấy công tác huy động số lượng HS đến trường được tiến hành tích cực duy trì và phát triển sĩ số, tình trạng HS bỏ học rất ít Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Năm học 2017-2018 nhà trường có 20 lớp học, chưa có các phòng học chức năng theo phân môn, đến năm học 2018 – 2019 nhà trường đã hoàn thiện phòng lớp học bộ môn, đảm bảo được các điều kiện để giáo dục toàn diện cho học sinh

Số lượng học sinh có đã tăng trong giai đoạn 2018 – 2020. Năm học 2018-2019 nhà trường có 712 học sinh với 6 lớp 10, 7 lớp 11 và 7 lớp 12; năm học 2019-2020 NT đã tuyển sinh thêm 1 lớp và có tổng 725 học sinh chia đều cho 3 khối. Nhà trường luôn tiên phong đi đầu trong các phong trào của ngành, thành phố. Từ sau khi đạt chuẩn quốc gia năm 2017 nhà trường tiếp tục có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng GD toàn diện, vươn lên vị trí tốp đầu khối THPT của thành phố Việt Trì. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, nhà trường và các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên đều chủ động hoạt động có hiệu quả; nhiều năm liên tục nhà trường đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, được Bộ GD&ĐT, ủy ban nhân dân tỉnh, Sở GD&ĐT Phú Thọ tặng nhiều Bằng khen, Giấy khen, các tổ chức, đoàn thể đạt vững mạnh, vững mạnh xuất sắc.

2.1.1.2. Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên Cơ sở vật chất nhà trường

Bảng 2.2: Cơ sở vật chất của trường THPT KTVT

Năm học 2019 – 2020 nhà trường đã có tổng cộng có 21 phòng học, trong đó 100% phòng học kiên cố. Bàn ghế học sinh, bàn ghế giáo viên, bảng đúng kích thước, quy cách; phòng học có diện tích rộng rãi, thoáng mát, đủ ánh sáng, an toàn.

100% các trường có phòng làm việc cho đội ngũ CBQL, phòng Hội đồng giáo viên. Các phòng đều được trang bị tương đối đầy đủ trang thiết bị hiện đại.

Cơ bản nhà trường có đủ phòng Thư viện, Thiết bị đồ dùng dạy học, thực hành – thí nghiệm (Lý, Hóa, Công nghệ), Y tế, ĐTN. Nhà trường có nhà Đa năng phục vụ các hoạt động tập thể và thể dục thể thao. Số lượng các phòng chức năng như vậy cho thấy điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng rất thuận lợi.

Tuy nhiên trong các phòng học bộ môn nhiều thiết bị và các hóa chất đã bị hỏng không sử dụng được; máy tính, máy chiếu ở các lớp cũng cần sửa chữa và mua mới thay thế để đảm bảo phục vụ nhu cầu dạy và học.

Nhìn chung, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của trường có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực sư phạm và phương pháp giảng dạy, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Các đơn vị đảm bảo đủ về số lượng giáo viên định biên theo qui định. Về cơ bản đội ngũ giáo viên đảm bảo đồng bộ và cân đối cơ cấu. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Năm học 2019-2020, đối với cán bộ quản lý: 100% trình độ Đại học; 100% tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị; 100% cử nhân quản lý giáo dục; 100% có chứng chỉ B ngoại ngữ, A Tin học. Đánh giá chuẩn cán bộ quản lý hàng năm đều được xếp loại xuất sắc. Đối với Giáo viên: 100% trình độ trên chuẩn, 12% bồi dưỡng quản lý giáo dục; 100% giáo viên có chứng chỉ Tin học, 63% giáo viên có chứng chỉ Ngoại ngữ; 100% giáo viên đều được đánh giá chuẩn nghề nghiệp từ loại Khá trở lên, trong đó có 60% giáo viên được xếp loại xuất sắc; 100% giáo viên đều xếp loại khá, tốt về chuyên môn nghiệp vụ, không có giáo viên xếp loại Trung bình; 80% giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, 8% giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi tỉnh, 90% giáo viên được xếp loại khá, giỏi về bồi dưỡng thường xuyên, trong đó có ít nhất 30% giáo viên được xếp loại giỏi, không có giáo viên không hoàn thành kế hoạch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Khái quát về địa bàn dân cư phường Vân Phú

Trường THPT KTVT đóng trên địa bàn phường Vân Phú. Vân Phú là một phường nằm ở phía Tây Bắc thành phố Việt Trì với diện tích tự nhiên 923,6ha. Trên địa bàn phường có Quân khu 2 và các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn như: Lữ đoàn 604, Lữ đoàn 297, Công ty Tây Bắc – Quân khu 2. Là một phường có vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Phía Đông giáp xã Phượng Lâu và phường Dữu Lâu; phía Tây giáp xã Thụy Vân và phường Vân Cơ; phía Bắc giáp xã Kim Đức; phía Tây Nam giáp xã Chu Hóa, Thanh Đình, Hy Cương. Trên địa bàn phường có Quốc lộ 2 và đường Nguyễn Tất Thành chạy qua, rất thuận tiện cho việc đi lại cũng như thông thương, giao lưu buôn bán hàng hóa. Trường Cao đẳng nghề Phú thọ đóng trên địa bàn phường Vân Phú, giáp với nhà trường, đây cũng là yếu tố tác động rất nhiều đến việc giáo dục đạo đức học sinh nhà trường.

2.1.3. Hoạt động giáo dục đạo đức của nhà trường

Công tác giáo dục đạo đức và hoạt động ngoài giờ lên lớp được chỉ đạo triển khai hiệu quả với nhiều hình thức hoạt động, có tác dụng tốt trong việc giáo dục nhân cách học sinh. Việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh cần được tăng cường. Hàng năm tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi các môn văn hoá và giáo viên giỏi chuyên đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai có nhiều đổi mới và thu được kết quả tốt.

Phong trào thi đua của nhà trường: sôi nổi, mạnh mẽ, vững chắc, được củng cố bổ sung nhiều năm, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ: Nhà trường, Công đoàn, Đoàn thanh niên là các tổ chức vững mạnh, chủ động hoạt động có hiệu quả. Đội ngũ CBGV của nhà trường đủ về số lượng, chất lượng, là những người nhiệt tình, trách nhiệm, tận tình chăm lo dạy dỗ rèn luyện học sinh, có ý thức xây dựng tập thể, đoàn kết nội bộ, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, trường còn không ít những khó khăn trong quá trình giáo dục kiến thức và đạo đức cho học sinh. Những năm gần đây, tình hình học sinh vi phạm đạo đức, nội quy, kỷ luật trường học đang có xu hướng gia tăng và trở thành hiện tượng khá phổ biến ở các lớp, kể cả những lớp có số lượng học sinh khá, giỏi chiếm tỉ lệ cao

  • Bảng 2.3: Đánh giá của HS về mức độ hành vi vi phạm đạo đức, nội quy trường học, vi phạm pháp luật
  • Bảng 2.4: Đánh giá của lực lượng giáo dục về mức độ hành vi vi phạm đạo đức, nội quy trường học, vi phạm pháp luật Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Nhìn vào bảng số liệu tình hình vi phạm đạo đức, nội quy, pháp luật của học sinh từ năm học 2017-2018 đến năm học 2019-2020 cho thấy: vi phạm trong học sinh diễn ra dưới rất nhiều hình thức, phổ biến nhất vẫn là những hành vi: nói tục, chửi bậy; không chấp hành các quy định, nội quy của trường, lớp; chỉ chào các thầy cô trực tiếp dạy mình.

Đáng lưu ý là bạo lực học đường đang có xu hướng gia tăng với rất nhiều nguyên nhân khác nhau: đùa giỡn, bênh vực bạn, vì một lời nói khích, một va chạm nhỏ đều có thể dẫn đến đánh nhau, và không ít trường hợp do giành giật “người yêu”, thậm chí do “ghen” cũng dẫn đến thiếu kiềm chế và đánh nhau. Nhiều vụ học sinh đánh nhau theo kiểu băng nhóm, lôi kéo bạn bè và gia đình tham gia để giải quyết mâu thuẫn; có trường hợp còn sử dụng hung khí được nhà trường phát hiện và xử lý kịp thời…Các vụ học sinh vi phạm đạo đức, nội quy trường học có liên quan rất nhiều đến học lực của các em: học sinh có hành vi vô lễ với thầy cô, trốn tiết, bỏ học có đến 80% học sinh học lực TB trở xuống (theo báo cáo tổng kết năm học 2018-2019 của trường THPT KTVT).

Về việc trộm cắp máy tính, tiền của các bạn khác cũng đã xảy ra. Điển hình trong năm học 2018-2019 có em L.T.H trường THPT KTVT lấy trộm xe đạp điện của bạn đem đi bán. Khi bị phát hiện và hỏi tại sao lại làm vậy thì em đó nói rằng thấy bạn để quên chìa khóa trong ổ điện thì nảy lòng tham lấy đem bán lấy tiền tiêu vặt. Khi trao đổi với mẹ của em thì được biết “bố mẹ em H đi làm suốt ngày không có nhiều thời gian quan tâm đến em. Hơn nữa bố em rất nóng tính có thể đánh con rất dữ vì bất kì lỗi gì, em rất sợ bố nhưng mẹ thì lại thường bao che những lỗi của con nên mới có sự việc trên xảy ra”. Thực tế hiện nay việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường chủ yếu là họp phụ huynh theo định kỳ, gởi phiếu điểm kèm theo sổ liên lạc. Việc trao đổi qua thư từ, điện thoại, mạng xã hội, hội phụ huynh còn rất ít hoặc sử dụng không hiệu quả, mặc dù đó là những hoạt động hàng ngày, giúp cho việc trao đổi thông tin giữa gia đình và nhà trường được thường xuyên, kịp thời, huy động được nhiều lực lượng tham gia công tác giáo dục.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.2.1. Mục đích khảo sát

Khảo sát thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân từ đó phát huy điểm mạnh tìm ra biện pháp, hạn chế điểm yếu để thực hiện công tác quản lý đạt mục tiêu giáo dục.

2.2.2. Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

  • Các nội dung khảo sát về thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT hiện nay bao gồm: Thực trạng nhận thức về vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá của giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT
  • Khảo sát công tác quản lý giáo dục đạo đức gồm: công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và công tác kiểm tra, đánh giá kết quả quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT

2.2.3. Phương pháp khảo sát

2.2.3.1. Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi.

 Để đánh giá thực trạng quản lý giáo dục đạo đức; luận văn phân loại phiếu như sau:

  • Phiếu số 1- Phụ lục 1: Xin ý kiến của cán bộ giáo viên về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.
  • Phiếu số 2- Phụ lục 2: Lấy ý kiến của học sinh về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.
  • Phiếu số 3- Phụ lục 3: Xin ý kiến của các lực lượng giáo dục khác về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.

2.2.3.2. Phương pháp khảo sát bằng phỏng vấn sâu

Trong luận văn tiến hành phỏng vấn các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức và pháp luật cho học sinh (công an, tổ dân phố, hội phụ nữ,…) một số giáo viên, học sinh để thu thập thêm minh chứng về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT

2.2.3.3. Phương pháp nghiên cứu các tài liệu và kết quả giáo dục đạo đức.

Nghiên cứu tổng hợp các minh chứng từ các tài liệu, văn bản và kết quả giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT

2.2.4. Đối tượng khảo sát

Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh

  • Cán bộ quản lý: 04 người
  • Giáo viên: 80 người
  • Học sinh: 120 người
  • Lực lượng giáo dục khác: 15 người

2.2.5. Xử lý kết quả Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Các kết quả điều tra, phỏng vấn và các tài liệu liên quan được xử lí theo phương pháp thống kê với thang đánh giá cụ thể

2.3. Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì trong bối cảnh hiện nay

2.3.1. Thực trạng nhận thức về vai trò, ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Kỹ thuật Việt Trì

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức về vai trò và ý nghĩa của giáo dục đạo đức, chúng tôi phát phiếu điều tra trên 84 cán bộ giáo viên, 120 học sinh và 15 người thuộc các lực lượng giáo dục khác thu được kết quả như sau:

Bảng 2.5: Bảng thực trạng nhận thức về vai trò, ý nghĩa của GDĐĐ

Qua bảng trên cho thấy, nhận thức về mức độ cần thiết giáo dục đạo đức cho học sinh nhà trường của cán bộ, giáo viên đánh giá “rất cần thiết” và “cần thiết” chiếm 100% số CBGV được hỏi. Cô giáo T.T.T.L cho rằng: “Nếu không nhận thức và đánh giá đúng về vai trò của đạo đức thì không thể có sự phát triển bền vững của xã hội. Khi đạo đức đã xuống cấp thì dù có tài giỏi đến mấy cũng trở nên vô nghĩa. Con người không hiểu biết về các chuẩn mực đạo đức thì càng dễ dàng vi phạm, làm những việc trái với đạo đức con người, gây những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển chung của xã hội. Vì vậy cần phải hiểu rõ vai trò của đạo đức khi giáo dục cho học sinh trong nhà trường.”

Đối với học sinh có 94,7% các em đánh giá ở mức độ “rất cần thiết” và “cần thiết”. Khi được hỏi “tại sao các em cho rằng cần thiết phải hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của giáo dục đạo đức”, học sinh N.T.KH cho rằng “theo em chúng ta đang sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật vì vậy việc hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của giáo dục đạo đức sẽ giúp học sinh tuân thực hiện được các chuẩn mực đạo đức, không vi phạm pháp luật”.

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn bà Ph.Th.L phụ huynh học sinh “tại sao bà cho rằng không cần thiết phải hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của giáo dục đạo đức trong nhà trường” bà Ph.Th.L cho biết “học sinh có thể tự học kiến thức và hình thành được đạo đức con người nếu các con thấy cần thiết qua các kênh thông tin, qua gia đình, không nhất thiết phải được giáo dục quá nhiều cho các em ở trong nhà trường”. Quan điểm của bà L cũng có những điểm hợp lý, tuy nhiên giáo dục có 2 con đường tự phát hoặc tự giác, nếu giáo dục theo con đường tự giác có mục đích, kế hoạch thì hiệu quả sẽ cao hơn.

2.3.2. Thực trạng nhận thức về mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Kỹ thuật Việt Trì Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Để tìm hiểu về việc thực hiện mục tiêu giáo dục chúng tôi phát phiếu điều tra trên 95 người thuộc lực lượng giáo dục và 120 học sinh thu được kết quả như sau:

Bảng 2.6: Kết quả thực hiện mục tiêu GDĐĐ HS

Qua bảng trên cho thấy, phần lớn giáo viên và học sinh nhận thức đúng mục tiêu giáo dục đạo đức ( 83,7%). Tuy nhiên, vẫn có một số giáo viên cho rằng hoạt động giáo dục đạo đức chỉ cung cấp kiến thức (10,3%) cho học sinh, quan niệm này chưa đầy đủ bởi vì giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức-giáo dục pháp luật nói riêng đều nhằm phát triển cho người học cả 3 mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ.

Bên cạnh đó chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để làm rõ thực trạng và nguyên nhân của thực trạng. Kết quả thu được như sau: Giáo viên H.T.T (Giáo viên chủ nhiệm lâu năm) cho rằng “chức năng của nhà trường là dạy học và dạy đạo đức vậy thì chỉ cần cung cấp kiến thức còn việc hình thành hành vi pháp luật cần có gia đình thường xuyên giám sát và đôn đốc học sinh”. Mặt khác, cô N.T.A (Phó hiệu trưởng nhà trường) lại cho rằng “Nhà trường cần chú trọng hình thành hành vi đạo đức và tránh những hành vi vi phạm pháp luật cho học sinh, chỉ có thông qua nhà trường mới là con đường ngắn nhất hình thành cho học sinh các chuẩn mực đạo đức”

2.3.3. Thực trạng nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Kỹ thuật Việt Trì

GDĐĐ cho học sinh được xây dựng có tính hệ thống từ giáo dục Tiểu học đến giáo dục THPT. Hiện nay, các nhà trường đã đổi mới các hoạt động giáo dục, trong đó đẩy mạnh các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, qua đó góp phần giáo dục kỹ năng sống. Các trường phổ thông đã tăng cường các hoạt động kết nối tri thức từ bài học trong chương trình giáo dục phổ thông với kinh nghiệm thực tiễn nhằm giải quyết các tình huống, các vấn đề trong cuộc sống. Các cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn, cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học, cuộc thi Giao thông thông minh…đã thu hút nhiều học sinh tham gia. Từ các sân chơi tri thức, học sinh tích lũy cho mình các tri thức kinh nghiệm bổ sung cho các tri thức hàn lâm học trong sách vở. Được tham gia các hoạt động thực tiễn trong cuộc sống, học sinh rèn các kĩ năng sống như: giao tiếp, thuyết trình, làm việc theo nhóm, ra quyết định, kiên định

Để đánh giá được thực trạng nội dung, chương trình GDĐĐ cho học sinh tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra các LLGD gồm 95 người và 120 học sinh, kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

  • Bảng 2.7: Đánh giá của học sinh về thực trạng nội dung GDĐĐ HS
  • Bảng 2.8: Đánh giá của các lực lượng giáo dục về thực trạng nội dung giáo dục đạo đức học sinh

Nhìn vào bảng kết quả cho thấy các LLGD và học sinh đánh giá những nội dung quan trọng nhất là: Tích hợp giáo dục cho học sinh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếm 2,22 đến 2,34; giáo dục truyền thống lịch sử của quê hương đất nước chiếm 2,16 đến 2,27; giáo dục nền nếp, ý thức kỷ luật, tác phong và tư tưởng 2,18 đến 2,31. Điều này cho thấy trong những năm gần đây, các LLGD và HS nhà trường rất quan tâm đến nội dung này. Kết quả cũng cho thấy đại đa số HS nhà trường đã thực hiện tốt các nội quy của trường, lớp, có ý thức học tập rèn luyện.

Giáo dục kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử và kỹ năng sống cũng được học sinh và các LLGD đánh giá là nội dung quan trọng 2,13 đến 2,19 trong đó còn bị đánh giá là ít quan trọng chiếm 2,1%. Điều này cho thấy việc phối kết hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội trong việc tuyên truyền giáo dục cho học sinh nhà trường về giáo dục kỹ năng sống phải đặc biệt giáo dục kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ra quyết định, suy xét và giải quyết vấn đề, kỹ năng đặt ra mục tiêu, khả năng ứng phó, kiềm chế và kỹ năng hợp tác và làm việc theo nhóm thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua việc thực hiện qui định về cách ứng xử có văn hóa, đoàn kết giúp đỡ nhau cần phong phú và đa dạng hơn.

Giáo dục ý thức tiết kiệm và bảo vệ của công được đánh giá điểm trung bình từ 2,16 đến 2,20; Giáo dục cho học sinh các phẩm chất đạo đức truyền thống được đánh giá điểm trung bình từ 2,13 đến 2,15. Vì vậy cần tăng cường giáo dục bảo vệ của công và đạo đức truyền thống.

Tuyên truyền, giáo dục cho học sinh các chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước 2,09 đến 2,23 trong đó số học sinh bị đánh giá là ít quan trọng chiếm 3,3%. Điều này cho thấy việc phối kết hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội trong việc tuyên truyền giáo dục cho học sinh nhà trường về chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhiều hơn nữa. Đặc biệt, vấn đề này cần các giáo viên và các nhà quản lý giáo dục đạo đức cần quan tâm thêm trong việc xây dựng nội dung phong phú hơn để giáo dục dục đạo đức cho học sinh.

2.3.4. Thực trạng hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trường THPT Kỹ thuật Việt Trì Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Ngoài nội dung chương trình, thì hình thức tổ chức cũng là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh. Để đạt được mục tiêu giáo dục, thì hình thức tổ chức, phương pháp dạy học cần phải phù hợp với nội dung chương trình, với đối tượng người học. Việc đa dạng hóa hình thức, phương pháp sẽ giúp thu hút người học, phát huy tính sáng tạo của người học. Để đánh giá giá thực trạng các hình thức tổ chức dạy học, tác giả đã tiến hành dùng phiếu điều tra, xin ý kiến của 99 là các LLGD khác và 120 học sinh. Với câu hỏi: nhà trường đã giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua những hình thức giáo dục nào? Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.9: Thực trạng sử dụng các hình thức GDĐĐ cho học sinh

Kết quả điều tra trên cho thấy, nhà trường đã đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh. Tuy nhiên, theo đánh giá của cả cán bộ, giáo viên và học sinh thì hình thức giáo dục thông qua môn giáo dục công dân là chủ đạo (học sinh chọn 84,2%; giáo viên chọn 95,7%). Sau đó, đối với giáo viên và các LLGD khác là học tập qua các môn học (93,5%). Còn đối với HS thì hình thức hiệu quả thứ hai lại là thông qua sách các hoạt động trải nghiệm. Các hình thức là giao lưu nói chuyện pháp luật và tham gia các cuộc tìm hiểu về pháp luật lại ít được quan tâm, xếp thứ hạng 7 và 8. Qua việc khảo sát cho thấy, môn học giáo dục công dân vẫn đóng vai trò chủ đạo trong giáo dục đạo đức.

Qua trao đổi với học sinh, các em cho rằng các nội dung giáo dục đạo đức thông qua các môn học chưa rõ nét, các hoạt động phong trào của đoàn thanh niên chỉ mang tính lồng ghép, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật chỉ mang tính hình thức, nội dung lồng ghép trong các buổi chào cờ và sinh hoạt lớp còn đơn điệu và tẻ nhạt… Đối với học sinh, học sinh mạng internet là hoạt động đánh giá là hiệu quả. Tuy nhiên, đây cũng là môi trường thông tin đa chiều, nên vấn đề quản lý các trang mạng cũng rất cần được quan tâm.

2.3.5. Thực trạng phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Kỹ thuật Việt Trì

Nội dung chương trình, phương pháp dạy học là những yếu tố vô cùng quan trọng trong dạy học và giáo dục. Song để đạt được kết quả cao, cần phải có mối quan hệ tổng hòa giữa chương trình, phương pháp dạy và phương pháp của người học. Phương pháp học cần phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, và đôi khi cả với đặc điểm của từng cá nhân. Để có được những đánh giá, nhận xét về phương pháp học tập của học sinh, từ đó đưa ra những phương pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả. Tôi đã tiến hành điều tra 120 học sinh và các LLGD gồm 99 người và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.10: Kết quả khảo sát về các phương pháp GDĐĐ cho học sinh

Bảng 2.10 cho thấy các biện pháp GDĐĐ được nhà trường thường xuyên sử dụng đó là: Nêu yêu cầu để học sinh thực hiện (xếp thứ 1); phát động thi đua (xếp thứ 2); phê phán hành vi, biểu hiện xấu (xếp thứ 3); tổ chức nề nếp sinh hoạt để học sinh thực hiện (xếp thứ 4). Các biện pháp còn ít được quan tâm sử dụng là: Nói chuyện về đạo đức (xếp thứ 11); tạo tình huống để học sinh giải quyết tranh luận(xếp thứ 12); thảo luận về đạo đức (xếp thứ 13); mời báo cáo viên (xếp thứ 14).

Như vậy, nhà trường đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhưng ít có sự gia công, đổi mới nên một số phương pháp chưa đạt hiệu quả cao. Các phương pháp có tính năng động, có ảnh hưởng trực tiếp và tác động mạnh tới cá nhân học sinh lại chưa được quan tâm sử dụng nhiều. Vì thế chưa tạo được hứng thú, chưa kích thích được học sinh nỗ lực phấn đấu và chưa khơi dậy được ý thức tự giác, tự tu dưỡng rèn luyện của học sinh, chưa tạo ra được môi trường và bầu không khí GDĐĐ sống động, lôi cuốn học sinh tích cực tham gia vào hoạt động này.

Bảng 2.11: Mức độ đánh giá các lực lượng tham gia GDĐĐHS

Qua kết quả trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Lực lượng chính tham gia giáo dục đạo đức là đội ngũ giáo viên và Đoàn thanh niên với ĐTB 2.5. Để làm rõ kết quả này, chúng tôi phỏng vấn sâu cô giáo H.T.H.L chủ nhiệm 11A1 được biết “Giáo viên có nhiều điều kiện thuận lợi trong giáo dục đạo đức kết hợp với giáo dục pháp luật cho học sinh như lồng ghép trong các môn học hay tổ chức các hoạt động”. Phỏng vấn thầy giáo Đ.G.S được biết “Giáo viên là lực lượng trực tiếp thực hiện hoạt động giáo dục và là lực lượng chính trong nhà trường”.

Lực lượng xếp vị trí thứ 2 là “Bí thư ĐTN”. Trong thực tế hoạt động Đoàn thường lồng ghép với các hoạt động giáo dục. Vì vậy, trong các buổi sinh hoạt Đoàn thường lồng ghép các nội dung giáo dục đạo đức thông qua hình thức kể chuyện, nêu gương, các hình thức hoạt động như trò chơi… Trong bảng trên cho thấy, BGH đứng thứ 3 trong 5 lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh. Bởi vì, BGH không phải là người tham gia trực tiếp mà là người quản lý, chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức.

2.3.6. Thực trạng đánh giá, xếp loại công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Kỹ thuật Việt Trì

Một minh chứng cho thực trạng về hành vi đạo đức của học sinh là kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh qua các năm học 2016 – 2017; 2017 – 2018; 2018 – 2019. Kết quả được thể hiện ở biểu đồ

  • Biểu đồ 2.1: Kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh các khối năm học 2016 – 2017
  • Biểu đồ 2.2: Kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh các khối năm học 2017 – 2018
  • Biểu đồ 2.3: Kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh các khối năm học 2018 – 2019

Qua điều tra khảo sát thực trạng đạo đức cho học sinh qua các năm học cho thấy được sự tương quan giữa nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh trường THPT KTVT không có sự thay đổi nhiều, đặc biệt tỉ lệ học sinh đạt hạnh kiểm trung bình – yếu còn nhiều.

Để có được những đánh giá, nhận xét về kết quả đạo đức cũng như kết quả học tập của học sinh, từ đó đưa ra những phương pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả. Tôi đã tiến hành điều tra 120 học sinh của ba khối và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.12: Kiểm tra mức độ hình thành nội dung GDĐĐ HS

Kết quả trên cho thấy, kết quả giáo dục ở mức độ vận dụng các nội dung là trên 50%. Trong đó nội dung “Giáo dục cho học sinh các phẩm chất đạo đức truyền thống” được đánh giá cao nhất ở mức độ vận dụng cao nhất 61,7%. Điều này phù hợp với thực tế thành phố Việt Trì và tình hình nhà trường trong thời gian qua. Theo báo cáo của Sở giáo dục tỉnh Phú Thọ trong 3 năm qua số học sinh vi đạt hạnh kiểm khá, tốt tăng lên, các hoạt động giáo dục đa số đạt được kết quả tốt.

Qua kết quả trên cho thấy, việc tuyên truyền các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đã có những tác động đáng kể đến học sinh nhưng kết quả chưa cao. Như vậy cần có chung tay góp sức của các lực lượng giáo dục để nâng cao kết quả giáo dục đạo đức cho các em học sinh lứa tuổi THPT. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì trong bối cảnh hiện nay

2.4.1. Thực trạng lập kế hoạch công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Hoạt động lập kế hoạch có chức năng quan trọng trong quản lý vì muốn thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đều phải dựa vào kế hoạch ban đầu.

Khảo sát về công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức kết hợp với giáo dục pháp luật với LLGD 99 người và học sinh 120 em chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:

Bảng 2.13: Mức độ lập kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Qua bảng trên đã cho thấy nhà trường, phụ huynh cũng đã thường xuyên chú ý tới kế hoạch ngắn hạn cho từng học kỳ từ 18,7% đến 18,8%; kế hoạch từng tháng chiếm tỷ lệ phần trăm 18,8%; kế hoạch từng tuần từ 18,3% đến 18,9%. Nhưng nhà trường chưa tập trung vào kế hoạch dài hạn theo năm học từ 18,5% đến 18,8%; Kế hoạch cho các ngày lễ, kỷ niệm từ 18,2% đến 18,7%. Chính vì thế mà hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay vẫn chưa cao và đạt hiệu quả tuyệt đối. Trên thực tế, qua trao đổi, nghiên cứu đã cho thấy kế hoạch của nhà trường chưa được xây dựng, chỉ đạo thường xuyên, cũng chưa xác định rõ mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh.

2.4.2. Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Khảo sát về việc triển khai kế hoạch GDĐĐ cho học sinh tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.10

Bảng 2.14: Triển khai kế hoạch công tác GDĐĐ cho học sinh

Từ bảng kết quả trên chúng tôi thấy việc triển khai kế hoạch công tác GDĐĐ cho học sinh của nhà trường, bên cạnh những ưu điểm đã đạt được của các ý kiến cho rằng việc triển khai kế hoạch có 61,6% là kịp thời, đầy đủ, khoa học; 59,8% điều chỉnh linh hoạt, phù hợp trong quá trình triển khai; 57,5% đồng bộ; 68,9% đúng kế hoạch; 60.7% là cụ thể, thiết thực. Nhưng cũng nhiều ý kiến cho rằng việc triển khai kế hoạch còn có những hạn chế như: 38,4% chưa kịp thời;42,5% không đồng bộ; 31,1% không đúng kế hoạch; 40,2% máy móc theo kế hoạch đã định; 39,3% chung chung và có đến 92,2% ý kiến trả lời là kế hoạch GDĐĐ không được chú trọng triển khai bằng kế hoạch chuyên môn. Đây vừa là những hạn chế trong khâu triển khai kế hoạch lại vừa là những hệ quả tất yếu có tính dây chuyền từ công đoạn xây dựng kế hoạch.

BGH tiến hành triển khai kế hoạch cho công tác GDĐĐ chủ yếu là qua phát bảng kế hoạch, tập trung nghe phổ biến, các hình thức khác như quan hệ thống bảng tin, qua chương trình truyền thanh, lễ phát động và đăng ký thực hiện kế hoạch, triển khai kế hoạch gắn với sinh hoạt của các bộ phận, đoàn thể và việc phối kết hợp các hình thức triển khai chưa được quan tâm thực hiện. Vì thế kế hoạch chưa được quán triệt một cách thấu đáo, chưa thật sự thường trực và thấm sâu trong từng bộ phận, đoàn thể, từng cá nhân cán bộ, giáo viên, học sinh; chưa tạo được sự chú ý và quyết tâm thực hiện kế hoạch.

2.4.3. Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh

Khảo sát về công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức với LLGD 99 người và học sinh 120 của ba khối tôi thu được kết quả ở bảng sau:

Bảng 2.15: Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý GDĐĐ cho học sinh

Kết quả điều tra cho thấy công tác chỉ đạo giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT thường được quan tâm chỉ đạo trực tiếp đến những đối tượng chủ chốt là CBQL, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên (xếp thứ 1); các nhà trường chưa chủ động mà chủ yếu có sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp trên (xếp thứ 2); tiếp theo công tác chỉ đạo do tập thể CBQL (xếp thứ 3); Có nội dung GDĐĐ rõ ràng cho tập thể học sinh (xếp thứ 4) . Bảng trên cũng cho thấy chỉ đạo cho tập thể học sinh được giao độc lập hoạt động (xếp thứ 7); có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường – Gia đình – Xã hội (xếp thứ 6); kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ cho học sinh (xếp thứ 8). Đây là những điểm hạn chế trong GDĐĐ cho học sinh trường THPT. Vì muốn tạo ra sức mạnh tổng hợp và tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh trong và ngoài nhà trường quản lý GDĐĐ cho học sinh thì cần phải có sự phối hợp tốt giữa tập thể sư phạm và tập thể học sinh; giữa gia đình, nhà trường và xã hội đồng thời phải chú ý chỉ đạo chặt chẽ khâu kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ cho học sinh.

2.4.4. Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Để hiểu rõ hơn về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho học sinh THPT Kỹ thuật Việt Trì. Kết quả điều tra 219 người gồm các LLGD và học sinh được thể hiện như sau:

Bảng 2.16: Mức độ thực hiện các phương thức đánh giá kết quả GDĐĐ

Kết quả trên cho thấy: việc đánh giá kết quả giáo dục GDĐĐ cho học sinh nhà trường “ĐG đầy đủ các mặt, khách quan, vô tư” có kết quả cao (xếp thứ 1); “Phối hợp tự đánh giá của học sinh với tập thể HS, giáo viên chủ nhiệm, nhà trường” có số ĐTB xếp thứ 2; “Chú trọng đến học tập các môn văn hóa” với số ĐTB xếp thứ 3. Chứng tỏ việc đánh giá kết quả GDĐĐ theo học kỳ, năm học, có tiêu chí rõ ràng và đánh giá thường xuyên được đội ngũ CBQL, GV quan tâm chú trọng nhất, đánh giá một cách khách quan, thẳng thắn nhằm đưa công tác GDĐĐ cho học sinh ngày càng đi vào thực tiễn và hiệu quả hơn.

Một số nội dung có điểm trung bình thấp: Thường xuyên, học kỳ …. Đã phản ánh các hoạt động này đã được các trường thực hiện nhưng chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao. Việc kiểm tra, đánh giá phần lớn là kiểm tra, đánh giá được các mặt chính có tính chất định lượng như việc lập và thực hiện kế hoạch, hồ sơ sổ sách, việc chấp hành kỷ cương – nề nếp, kết quả xếp loại thi đua, xếp loại hạnh kiểm… Còn mặt định tính rất phức tạp của lĩnh vực GDĐĐ thì chưa chú ý đến.

Điều này phản ánh việc GDĐĐ cho học sinh THPT KTVT nên sử dụng lời khen, chê. Đánh giá ngay tại thời điểm thực hiện sẽ giúp người học có thể “sửa sai” và tham gia điều chỉnh các hoạt động được kịp thời và hiệu quả hơn. Cần phải khắc phục những mặt hạn chế này thì kết quả đánh giá sẽ đảm bảo công bằng, chính xác hơn. Qua đó HS mới phát huy được ý thức tự rèn luyện, nâng cao nhân cách, giúp người quản lý trong nhà trường nâng cao trách nhiệm của qua công tác kiểm tra, đánh giá.

Nói tóm lại các nhà trường thường thiên về kiểm tra đánh giá các hoạt động chuyên môn, chất lượng dạy và học, chưa thực sự quan tâm, đầu tư cũng như có kế hoạch, biện pháp kiểm tra, đánh giá thoả đáng, thường xuyên đối với hoạt động GDĐĐ cho học sinh. Nội dung kiểm tra, tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động này còn chung chung, chưa tạo nên được tác động mạnh nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

2.4.5. Thực trạng đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội

Kết quả khảo sát về hiệu quả phối hợp thực hiện giữa CBQL 5 người, GVCN 21 người và CMHS người trong nhà trường:

Bảng 2.17: Hiệu quả phối hợp với CMHS và các LLGD trong nhà trường

Số liệu trên cho thấy ý kiến của CBQL và GVCN cùng đánh giá ở mức độ khá với tỉ lệ 38.1% đến 60%, như vậy có sự khác biệt ý giữa 2 nhóm đối tượng. Sự khác biệt trên có thể do khác nhau về đặc thù nhiệm vụ của 2 đối tượng. CBQL trực tiếp thực hiện việc phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường để xây dựng môi trường lành mạnh, tạo điều kiện cho công tác GD đạo đức HS được thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy, ý kiến tự đánh giá của CBQL về nội dung này dựa trên cơ sở thực tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nên có độ tin cậy cao.

Tìm hiểu những ưu điểm cũng như hạn chế về nội dung trên, tác giả trao đổi trực tiếp với Hiệu trưởng ở trường, được biết: việc chủ động phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường rất được quan tâm. Cụ thể hằng năm nhà trường tổ chức đầy đủ các buổi hội nghị CMHS để trao đổi, tìm ra những giải pháp tích cực nhằm phối hợp chặt chẽ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trường. Bên cạnh đó, công tác phối hợp vẫn còn gặp khó khăn, các buổi họp CMHS thường dự không đầy đủ, một bộ phận gia đình do điều kiện kinh tế khó khăn nên phải đi làm xa ít có điều kiện phối hợp với nhà trường. Phụ huynh còn tư tưởng giao phó cho nhà trường, ít quan tâm đến việc giáo dục các em và cho rằng những cuộc họp đó không quan trọng. Vì vậy, nhà trường cần có sự đầu tư nhiều hơn nữa về nội dung, hình thức tổ chức đại hội nhằm tạo bầu không khí thân mật, gần gũi, gắn kết giữa nhà trường với gia đình, tạo được niềm tin ở CMHS đối với nhà trường là điều cần thiết.

Nhà trường phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương cùng các ban ngành đoàn thể, tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động tập thể, tham gia công tác xã hội khi có yêu cầu như dự mit ting ngày quốc tế phòng chống ma túy 26/6, mit ting nhân kỷ niệm ngày sinh nhật Bác ngày 19/5, tham gia chiến dịch mùa hè xanh…Tuy nhiên, việc phối hợp với các lực lượng bên ngoài nhà trường để xây dựng tốt môi trường giáo dục cũng chưa thật tốt, vẫn còn nhiều địa điểm gần trường còn kinh doanh các trò chơi giải trí không lành mạnh mà chưa có biện pháp giải quyết triệt để. Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo đức ở nhà trường. Nội dung, hình thức phối hợp để tổ chức các hoạt động giáo dục cho HS cũng chưa được phong phú. Từ những cơ sở đó cho thấy công tác phối hợp ba môi trường giáo dục cũng chưa thật chặt chẽ, hiệu quả chưa như mong muốn.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Kỹ thuật Việt Trì

2.5. 1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Bảng 2.18: Những ưu điểm trong quản lý GDĐĐ

Từ việc lấy ý kiến nhận xét của cán bộ, giáo viên và phụ huynh về một số tiêu chí cơ bản đánh giá hoạt động quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh, chúng tôi thấy những ưu điểm chính của quản lý trường THPT KTVT thể hiện cụ thể như:

Việc lập kế hoạch GDĐĐ được tiến hành một cách đầy đủ, đảm bảo được các nội dung GDĐĐ cho học sinh thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục luôn được quan tâm, có sự lựa chọn, sắp xếp, bố trí nhân sự khá hợp lý. Đồng thời xác định được điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian cho việc thực hiện kế hoạch.Việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi kế hoạch được thực hiện tốt. Điều đó thể hiện lãnh đạo nhà trường có sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động GD đạo đức học sinh trên quan điểm giáo dục toàn diện.

Công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch GD đạo đức có chú trọng việc phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia công tác GD đạo đức cho HS.

Phát huy khá tốt vai trò của GVCN, Đoàn thanh niên trong các hoạt động GD. Chương trình, kế hoạch của Đoàn thanh niên luôn gắn kết với kế hoạch của nhà trường. Điều đó thể hiện sự nhất quán trong nhận thức và hành động trong việc tổ chức các hoạt động GD đạo đức của nhà trường

Tuy nhiên, những ưu điểm này chưa thật sự được đánh giá cao, chưa phát huy được hết tác dụng của nó. Bên cạnh đó, còn có những điểm yếu

2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.5.2.1. Hạn chế

Bảng 2.18: Những hạn chế trong quản lý GDĐĐ học sinh

Kết quả thu được ở bảng 2.16 cho thấy những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh của trường THPT Kỹ thuật Việt Trì chủ yếu là: chưa xây dựng được kế hoạch GDĐĐ khoa học, hợp lý (82,2%) – xếp thứ 1; chưa làm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nhận thức rõ vai trò của việc GDĐĐ cho học sinh và trách nhiệm đối với công tác này (78,1%) – xếp thứ 2; công tác kiểm tra đánh giá chưa chặt chẽ (76,7%) – xếp thứ 3. Các hạn chế khác có tỷ lệ người được hỏi ý kiến tán thành thấp hơn, đó là: chỉ đạo thực hiện tốt sự phối hợp giữa các bộ phận, đoàn thể trong trường và sự phối hợp của nhà trường – gia đình – xã hội trong GDĐĐ cho học sinh xếp thứ 4 với 66,5% ý kiến tán thành; Chỉ đạo chưa sát sao, hiệu quả hoạt động GDĐĐ cho học sinh của giáo viên chủ nhiệm và chưa làm tốt công tác bồi dưỡng được đội ngũ giáo viên chủ nhiệm (63,1%) – xếp thứ 5. Bên cạnh đó không phải tất cả các tiêu chí khác là hoàn toàn tốt, nhưng về cơ bản đã đạt được yêu cầu từ mức trung bình trở lên và có triển vọng tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

2.5.2.2. Nguyên nhân

Bảng 2.19: Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý GDĐĐ

Qua thực tế tìm hiểu công tác quản lý hoạt động của các trường THPT KTVT và qua kết quả điều tra chúng tôi thấy: BGH nhà trường trong quá trình quản lý tổng thể và đặc biệt là trong quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh đã gặp phải không ít những khó khăn, trở ngại dẫn đến việc mặc dù đã quan tâm và có nhiều cố gắng để làm tốt công tác này nhưng nhà trường vẫn không tránh khỏi còn những tồn tại, hạn chế mà nguyên nhân của những hạn chế đó chủ yếu là do: Mặt trái của đời sống xã hội ảnh hưởng đến môi trường giáo dục, đạo đức, ý thức pháp luật và công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh; sự biến đổi sâu sắc về quan niệm sống, nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi đạo đức, lối sống của con người, nhất là của học sinh THPT thời kỳ hội nhập, mở cửa. Những nguyên nhân này lại tiếp tục kéo theo, chi phối đến hàng loạt những nguyên nhân (khó khăn, thách thức) khác ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh của các trường.

Việc thiếu các văn bản pháp quy cho công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cũng là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến những khó khăn cho người quản lý công tác này.

Bên cạnh đó còn rất nhiều nguyên nhân khác cần được tìm cách giải quyết như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ giáo viên về vai trò, nhiệm vụ của công tác GDĐĐ cho học sinh chưa đầy đủ dẫn đến sự chỉ đạo khó thống nhất, việc thực hiện bị buông lỏng, thiếu trách nhiệm; sự quan tâm, phối hợp của các lực lượng xã hội trong GDĐĐ cho học sinh chưa chặt chẽ, đồng bộ và một số gia đình chưa, hoặc thiếu quan tâm tới giáo dục đạo đức cho con em dẫn đến không những sức mạnh tổng hợp không được phát huy mà còn làm cho công tác này gặp rất nhiều khó khăn.

Ngoài những nguyên nhân khách quan căn bản trên không thể không kể đến những nguyên nhân chủ quan như:

Sự tác động tiêu cực của môi trường xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến việc GD đạo đức cho HS. Những tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, ma túy, băng đĩa đồi trụy, chơi bời lêu lổng, uống rượu bia, quậy phá… hàng ngày tác động tới nhận thức, hành vi của HS, phá vỡ niềm tin, tình cảm và thói quen tốt của các em. Đây là những nguyên nhân đẩy các em vào con đường sử dụng những chất gây nghiện, vi phạm pháp luật và các tệ nạn xã hội. Những hành vi của người lớn vi phạm pháp luật, ứng xử thiếu văn hóa, dẫn HS đến quan niệm sai lệch và không nhận thức được tác hại và trách nhiệm về hành vi của mình. HS dễ dàng bị sa ngã nếu chúng ta buông lỏng sự chăm lo giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội.

Sự thiếu quan tâm và phối hợp chưa nhiệt tình từ một bộ phận CMHS đối với việc GD con cái phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả GD đạo đức của nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

Các trường còn hạn chế về nguồn kinh phí, đây cũng là trở ngại lớn trong việc tổ chức các hoạt động GD đạo đức cho HS.

Những hạn chế nêu trên đã tác động rất lớn đến hoạt động quản lý GDĐĐ cho HS. Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp để khắc phục những hạn chế, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý công tác GDĐĐ cho HS là một vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay ở các trường THPT nói chung và trường THPT KTVT nói riêng.

Tiểu kết chương 2

Kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT KTVT và quản lý giáo dục đạo đức cũng cho thấy:

Nhà trường luôn chú trọng xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho HS ngay từ đầu năm học, kế hoạch từng tháng theo các đợt thi đua chủ điểm, theo hoạt động trải nghiệm. Tuy nhiên, kế hoạch chưa thực sự thể hiện như một chương trình hành động cụ thể, thiết thực bao gồm tất cả các yếu tố cần thiết của một kế hoạch, chương trình hành động một cách chi tiết như: công tác tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, thi đua khen thưởng mà mới chỉ ra các việc làm cần thực hiện, thời gian hoàn thành.

Các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức quản lý cho CBQL và GV trong trường được về kiến thức GDĐĐ cho học sinh còn ít. Các CBQL còn khá bỡ ngỡ khi thực hiện hoạt động quản lý công tác này, bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh.

Nhà trường mới chỉ quan tâm chú trọng đến yếu tố giáo dục từ nhà trường còn việc phối hợp các lực lượng cùng tham gia và chuẩn bị CSVC cho các hoạt động chưa thật sự được quan tâm. Sự phối hợp giữa các lực lượng chưa đồng bộ.

Vì vậy để khắc phục những hạn chế tồn tại, cần có những giải pháp mang tính đồng bộ, toàn diện. Từ tư tưởng nhận thức của CBGV, đến những giải pháp cụ thể. Trên cơ sở đó đề tài đã xây dựng một số biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh THPT được đề tài trình bày tại chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993