Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Pháp Luật Và Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Pháp luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

2.1.1. Khái niệm về quá trình hình thành và phát triển của quyền tự do ngôn luận

Ở Việt Nam, trong các văn kiện chính thức của Đảng và nhà nước, cũng như trong hệ thống pháp luật không dùng khái niệm “quyền tự do biểu đạt” mà sử dụng khái niệm “quyền tự do ngôn luận”, là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền tự do ngôn luận lần đầu tiên được quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 1946 cùng với quyền tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài. Tiếp đến, trong Hiến pháp năm 1959, quyền tự do ngôn luận được quy định tại Điều 25, cùng với tự do báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình của công dân. Cần thấy rằng, trong bối cảnh chính quyền non trẻ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức, tiếp đến là trải qua hai cuộc kháng chiến chốn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 – 1975) mà nhà nước ta vẫn nỗ lực ghi nhận trong Hiến pháp các quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền tự do ngôn luận, mới thấy hết ý nghĩa lịch sử trọng đại của vấn đề này.

Khi nước nhà thống nhất, Quốc hội khoá VI đã thông qua Hiến pháp năm 1980, trong đó quyền tự do ngôn luận của công dân tiếp tục được quy định tại Điều 67 cùng với quyền tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình “phù hợp với lợi ích của CNXH và của nhân dân”. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Bước vào thời kỳ đổi mới, trong Hiến pháp năm 1992, chế định Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (chương V) có một số thay đổi quyền tự do ngôn luận được quy định tại Điều 69, bên cạnh một quyền mới – “quyền được thông tin”.

Sau hơn 20 năm tổ chức thực hiện Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung thành Hiến pháp năm 2013. Trong đó, chế định Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đổi tên thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” (chương II) và quyền tự do ngôn luận được quy định tại Điều 25, gắn với các quyền có liên quan: tự do báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình và quyền tiếp cận thông tin thay cho quyền được thông tin.

Quá trình hiến định quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam cho thấy, do hoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 không có quy định về điều kiện thực hiện (hoặc hạn chế) đối với quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, từ Hiến pháp năm 1980 về sau, việc thực hiền quyền tự do ngôn luận đều kèm theo điều kiện: “Theo quy định của pháp luật, phù hợp với lợi ích nhà nước và xã hội”. Nhìn tổng thể, quyền tự do ngôn luận của công dân và những điều kiện thực hiện quyền này đã sớm được nhà nước ta tôn trọng, ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hoá thành Luật, Nghị định, Thông tư theo các nguyên tắc, quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Tôn trọng pháp luật và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Tôn trọng pháp luật và đảm bảo thực thi quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân nói riêng. Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc hạn chế quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phù hợp với điều kiện quốc gia: Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia – dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội.

Ngày 17 – 10 – 1997, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã có Chỉ thị 22/CT-TƯ về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản. Cùng với những quan điểm chỉ đạo quan trọng về hoạt động báo chí, quan điểm “Phát triển đi đôi với quản lý tốt” là một nguyên tắc cơ bản định hướng cho nội dung QLNN về báo chí trong tình hình mới. Đây cũng là điều kiện mới để báo chí Việt Nam phát triển, hội nhập với báo chí khu vực và trên thế giới.

Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, báo chí nước ta đã chuyển hướng và hội nhập kịp thời, không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng. Chưa thời điểm nào mà mặt trận báo chí phát triển mạnh, phong phú, đa dạng, đúng hướng, tiến bộ cả về số lượng lẫn chất lượng như hiện nay. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đã và đang được đảm bảo trên thực tế. Hơn thế nữa, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân.

2.1.3. Nhận thức đúng về quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin trên báo chí của công dân

Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản, quan trọng của cá nhân được quy định trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người và đã được quy định trong các Hiến pháp nước ta, đặc biệt là Hiến pháp 2013.

Để phản đối Luật An ninh mạng, một số bài viết trên các trang mạng của một số phần tử cơ hội chính trị, chống phá Đảng, nhà nước đưa ra luận điệu rằng luật này không hề mang lại lợi ích gì cho nước, cho dân, cả chính trị và kinh tế, mà chỉ giúp cho bọn tham nhũng đang bị truy đuổi bao năm qua có khả năng “lật cờ” trỗi dậy. Một số bài viết của các đối tượng này còn đòi huỷ bỏ nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự, như Chương 9 – về các tội phạm an ninh quốc gia, Điều 79 (tội lật đổ chính quyền nhân dân)… Đây thực chất là thủ đoạn chính trị, xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước; xuyên tạc lịch sử cách mạng, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo; phá hoại mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; kích động hận thù dân tộc; phá hoại quan hệ quốc tế của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Pháp luật nước ta cũng như các quốc gia đều quy định, quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ. Hiến pháp và nhiều bộ luật nước ta đã quy định rõ các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, kể cả quyền sử dụng mạng xã hội và quyền tiếp cận thông tin. Bởi vây, hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên, người dân cần hiểu rõ và nắm vững các quy định của pháp luật về quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin.

Đặc biệt, Internet được nhà nước khuyến khích sử dụng, bao gồm báo và tạp chí điện tử, mạng xã hội, các trang thông tin điện tử… được cấp phép hoạt động. Năm 2016, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật tiếp cận thông tin, đây là một văn kiện pháp luật cụ thể hoá về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của Hiến pháp năm 2013.Theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin thì quyền Tiếp cận thông tin là một quyền có thể bị hạn chế hoặc là quyền có điều kiện: “Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng – an ninh quốc gia, đối ngoại…”; những thông tin “nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng – an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng…” (Điều 6). Những thông tin được tiếp cận có điều kiện, chẳng hạn: “Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận nếu chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý”“Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, nếu được người đó đồng ý” (Điều 7). Luật này cũng quy định quyền và nghĩa vụ của công dân (trong việc Tiếp cận thông tin), đó là những quyền: “Được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời; khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về Tiếp cận thông tin”…

2.1.4. Tôn trọng pháp luật về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bảo vệ lợi ích nhân dân Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những mục tiêu phấn đấu cơ bản của con người nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình công khai thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Tự do báo chí, tự do ngôn luận luôn là vấn đề mang tính toàn cầu, đây không chỉ là sự quan tâm của chính quyền ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà còn là một đòi hỏi cơ bản về quyền con người. Là nhu cầu tinh thần trao đổi thông tin trong quá trình tồn tại, phát triển của mỗi cộng đồng quốc gia, dân tộc nhất là trong thời đại phát triển CNTT hiện nay.

Thực tế, những năm qua báo chí Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình ấn phẩm, đội ngũ những người làm báo, số lượng độc giả, cơ sở vật chất – Kỹ thuật công nghệ, năng lực tài chính của các cơ quan báo chí, truyền thông đều được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ.

Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các giới, ngành, các tổ chức tôn giáo lớn đều được xuất bản các tờ báo riêng của mình. Đồng thời, mọi người dân đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến của mình trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Tính đến tháng 10 năm 2019, cả nước hiện có 844 cơ quan báo chí in, với 184 báo in, 660 tạp chí in; 24 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 189 giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp cho các cơ quan báo chí in, phát thanh truyền hình. Có 67 đài phát thanh – Truyền hình Trung ương và địa phương, 05 đơn vị hoạt động truyền hình. Hội Nhà báo Việt Nam quản lý hơn 22.000 hội viên, trong đó gần 18.000 nhà báo đã được cấp thẻ hành nghề đang làm việc tại hàng trăm cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương, Đảng và nhà nước ta luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để mọi nhà báo hoạt động tự do, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, vấn đề tự do công khai, minh bạch thông tin càng được Đảng và nhà nước quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển. Một trong những hoạt động được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao là hơn ba thập kỷ qua, các đài phát thanh, truyền hình đã thường xuyên truyền hình trực tiếp các buổi chất vấn của đại biểu Quốc hội dành cho các thành viên Chính phủ, kể cả Thủ tướng Chính phủ. Báo chí đã tường thuật trực tiếp các kỳ họp của Quốc hội, những kỳ họp của Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố trên cả nước. Tất cả các Bộ trưởng đều nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời” trong những buổi giao lưu trực tuyến thường xuyên. Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành cử “người phát ngôn báo chí”, có trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời về những sự việc nhân dân đang quan tâm đối với từng ngành, nghề cụ thể, các cuộc trả lời phỏng vấn về các vụ việc đang diễn ra gây bức xúc trong xã hội do các báo, đài đưa tin về các sự kiện, vụ việc tiêu cực nghiêm trọng được báo chí đề cập đã đáp ứng đòi hỏi của nhân dân về tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin.

Có thể nói, với vai trò phản ánh và tham gia phản biện xã hội, báo chí là một kênh quan trọng để các cơ quan chức năng tham khảo nhằm bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước sao cho phù hợp với đời sống của người dân. Cùng với việc phát hiện, biểu dương nhân tố mới báo chí tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, chống tham nhũng, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác được nhân dân đồng tình ủng hộ. Trong bất kỳ thể chế chính trị xã hội nào thì tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ mang tính tương đối, bởi tự do báo chí phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, được pháp luật điều hành và quản lý cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước. Chúng ta ngày nay đã và đang hội nhập sâu rộng toàn cầu, luôn xây dựng và phát triển một nền báo chí tự do. Trong đó nhà báo được tự do hành nghề, tự do sáng tạo để phục vụ công chúng theo đúng đạo đức và trách nhiệm của người làm báo chân chính vì mục đích cao cả là “phục vụ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đem lại sự tin tưởng cho người dân. Ngoài sự chi phối của pháp luật, còn có sự chi phối của đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm và sự giác ngộ chính trị của mỗi người. Không thể có “tự do báo chí tuyệt đối”, tự do sáng tạo trong báo chí, trước hết phải được thể hiện ở việc nhà báo cần tự tin, bản lĩnh chọn lọc thông tin cung cấp trung thực, mang đến cho người đọc thông tin có chất lượng tốt, từ đó mang lại nhận thức tốt cho người đọc. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Vấn đề nữa cần quan tâm là, ngoài các qui định về pháp luật, mỗi nhà báo khi tác nghiệp, đều cần cân nhắc kỹ việc xử lý thông tin; một sự việc, một hiện tượng đang diễn ra đều phải suy nghĩ, cân nhắc để tự trả lời câu hỏi: có nên phản ánh sự kiện đó lên mặt báo hay không? nếu sự việc đó làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mình thì cần kiên quyết loại bỏ. Các thế lực cơ hội, thù địch từng la lối “Việt Nam đàn áp những người bất đồng chính kiến” đây là sự vu cáo, chụp mũ trắng trợn, trong thực tế có một số tờ báo đã bị xử phạt hành chính, bị nhắc nhở, hoặc bị đình chỉ xuất bản. Vì họ đã sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin xuyên tạc, bịa đặt, kích động chống lại Đảng, nhà nước ta. Thực tiễn cho thấy ở nước ta đã thực sự có tự do ngôn luận, tự do báo chí trên cơ sở mỗi nhà báo, người làm công tác báo chí, truyền thông đều thực hiện đúng pháp luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Nếu ai đó cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để công khai công kích chống Đảng, nhà nước đi ngược lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh bằng pháp luật. Đây là sự nghiêm minh, bình đẳng trong pháp luật để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc mà không có một thế lực thù địch nào có thể dùng lời lẽ để chống phá, công đích được.

2.2. Thực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở Việt Nam

2.2.1. Thành tựu về quyền tự do ngôn luận qua tương tác trên mạng xã hội của công dân

Theo như quy định của Hiến pháp, quyền tự do ngôn luận của mọi công dân là quyền được tự do có quan điểm và giữ vững quan điểm của mình, cũng như được tự do tìm kiếm và tiếp nhận, chia sẻ thông tin nhưng phải nằm trong giới hạn mà pháp luật quy định, không phải tuỳ tiện, vu khống, bôi nhọ, lừa bịp, làm lộ bí mật quốc gia, xâm hại quyền tự do của người khác.

Trước tình hình mạng xã hội, báo điện tử phát triển như ngày nay thì đang đặt ra vấn đề rất thời sự, cấp thiết, đó là hiểu thế nào và làm sao để thực hiện quyền tự do ngôn luận phù hợp với mọi “diễn đàn cộng đồng không biên giới”, cho phép mọi người dễ dàng và nhanh chóng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí. Với tính năng “siêu văn bản” cập nhật thông tin tức thời, báo mạng điện tử đã trở thành phương tiện thông tin thời sự nhanh nhất, ngày một thoả mãn nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng. Ở đó công dân có thể tìm kiếm thông tin cần quan tâm cho cuộc sống riêng, hoặc nắm bắt diễn đàn của thời cuộc nhằm hoà nhập với xã hội và thể hiện quan điểm của mình trước những thông tin đó.

Là một mơi trường mở, không có giới hạn về không gian và thời gian nên mỗi sự tương tác, mỗi dòng bình luận, mỗi ý kiến nêu ra trên không gian mạng thì cả thế giới đều biết và do đó hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực đều có thể xuất hiện đồng thời và tác động tức thời. Khi quyền tự do ngôn luận không còn là hoạt động riêng của cá nhân, tổ chức, mà đó là hoạt động báo chí truyền thông. Vì thế, mà mỗi cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí, không gian mạng không được vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép, vô tình quyền tự do ngôn luận này bị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích của một hay một nhóm người, thậm chí trở thành phương tiện để những kẻ chống phá lợi dụng, bôi nhọ, nói xấu, gây chia rẽ làm nguy hại đến sự ổn định chính trị. Cho nên người tương tác trên cộng đồng mạng khi thấy có dấu hiệu bất thường cần hết sức cảnh giác và kịp thời phản bác. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Trong đại dịch Covid-19, một số thành phần muốn lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đưa nhiều thông tin sai lệch đã đăng tải trên mạng xã hội. Có thể nói cho đên nay, Việt Nam ta làm rất tốt phòng chống dịch và điều trị hiệu quả, nhưng không ít thông tin tuyên truyền sai lệch, xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến uy tín, đối ngoại, và nhiều vấn đề kinh tế, chính trị của nước ta.

Như vậy, vấn đề đặt ra là trước tình hình phát triển nhanh và đa dạng của báo công nghệ mạng xã hội, báo điện tử… các cơ quan quản lý cần hết sức quan tâm để làm sao vừa bảo đảm được quyền tự do ngôn luận nhưng cũng cần kịp thời định hướng, hướng dẫn và quản lý dòng “ngôn luận đa chiều” đó. Cần làm cho mọi người hiểu rằng, trong một xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền “tự do ngôn luận” không có nghĩa là tuỳ tiện mà phải nằm trong giới hạn của luật pháp, phải theo đạo đức xã hội, truyền thống văn hoá dân tộc, vì lợi ích cộng đồng… Cần phải có những cơ quan có trách nhiệm nắm bắt những thông tin để kịp thời hướng dư luận, hoặc đấu tranh phản bác lại các thông tin sai trái, thông tin không chính xác bằng chính quyền tự do ngôn luận của mình. Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “làm sao dân biết hưởng quyền tự do của mình, biết dùng quyền tự do ngôn luận, dám nói, dám làm. Muốn vậy phải giáo dục cho người dân ý thức về quyền tự do ngôn luận, để hiểu được cần ngôn luận cái gì, ngôn luận làm sao cho đúng lúc, đúng chỗ”. Ghi nhớ lời của Người mỗi công dân đang sống trong đất nước thực thi sự nghiệp đổi mới với mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, cần trau dồi kiến thức và có trách nhiệm để nâng cao năng lực và ý thức làm chủ bản thân. Cần nắm vững luật pháp để hiểu được quyền tự do và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, đối với xã hội, với bản thân, từ đó biết ngôn luận đúng với “quyền tự do ngôn luận”.

Mạng xã hội, báo điện tử… đã là một diễn đàn của xã hội, của công dân thị mọi người cần hiểu và thực hiện quyền tự do ngôn luận sao cho thật hiệu quả, thật có ích và xem đây là một phương tiện tìm kiếm thông tin bổ ích, đa dạng, đa chiều, nhưng cũng phải luôn cảnh giác và kiên quyết đấu tranh kiệp thời với những luận điệu “diễn biến hoà bình”, truyền bá những quan điểm sai trái gây kích động thù địch, vu cáo, xuyên tạc tình hình làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng, xã hội và đất nước. nhất là trong giai đoạn chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

2.2.2. Hạn chế, bất cập về quyền tự do ngôn luận trên báo chí, mạng xã hội của công dân Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Vì Quyền tự do ngôn luận trên báo chí ngày nay, đa số sử dụng trên không gian mạng Internet nên người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam cũng phải tuân thủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet.

Theo Điều 10, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 của Chính phủ quy định vế quyền và nghĩa vụ của người sử dụng internet:

Được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật.

  • Tuân thủ thời gian hoạt động của điểm truy nhập internet công cộng.
  • Không được kinh doanh lại các dịch vụ internet dưới bất kỳ hình thức nào.
  • Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin và các quy định khác có liên quan tại Nghị định này.

Ngoài quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 10 Nghị định này, người sử dụng dịch vụ mạng xã hội còn có quyền và nghĩa vụ tại điều 26 của Nghị định này sau đây:

  • Được sử dụng dịch vụ của mạng xã hội trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật.
  • Được bảo vệ bí mật thông tin riêng và thông tin cá nhân theo quy định của pháp luật.
  • Tuân thủ quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội.
  • Chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, phát tán thông tin qua đường liên kết trực tiếp do mình thiết lập.

Tại khoản 2, Điều 12 Luật CNTT năm 2006 quy định các hành vi bị nghiêm cấm về việc cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm mục đích sau đây: Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

  • Chống nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân.
  • Kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc.
  • Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định.
  • Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân.
  • Quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm đã được pháp luật quy định.

Trong văn bản này, Điều 9, Chương 2 về “vi phạm kỷ luật tuyên truyền, phát ngôn”, quy định như sau: Tuyên truyền, sao chép, phát tán, cung cấp thông tin,… kích động, chống Đảng, nhà nước dưới mọi hình thức; tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí và các phương tiện truyền thông khác.

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng quy định về việc cản trở tự do ngôn luận nói chung và quyền tự do ngôn luận trên báo chí, trên mạng xã hội nói riêng, tại Bộ luật hình sự 2015, cụ thể, tại điều 167 quy định về tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân:

  • Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
  • Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm: Có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
  • Nguời phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm.

Ngoài ra, Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về, tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam với những hành vi:

Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, như là: Hành vi xuyên tạc, đả kích các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý cán bộ, nói xấu công cuộc xây dựng CNXH, nói xấu lãnh tụ, cán bộ, công chức nhà nước… người phạm tội có thể lợi dụng những hiện tượng tiêu cực, khoét sâu những khó khăn trước mắt, thổi phồng những khuyết điểm trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, làm cho người khác không tin vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của bộ máy nhà nước, giảm sút ý chí trong lao động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, gây chiến tranh tâm lý (viết, in, vẽ, chụp ảnh…), cất giấu, lưu hành, sử dụng những luận điệu chiến tranh tâm lý của địch để tuyên truyền, kích động, xuyên tạc,… đánh vào tâm lý của nhân dân, tạo ra sự sợ hãi, tư tưởng cầu an hoặc bịa đặt, tung tin thất thiệt gây hoang mang, nghi ngờ trong nhân dân.

2.3. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

2.3.1. Pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn trên báo chí của công dân

Quyền tự do ngôn luận là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân. Về nguồn gốc của quyền này, có nghiên cứu cho rằng, nó đã xuất hiện từ thời cổ đại ở phương Tây, gắn với nền dân chủ Athen của người La Mã vào khoảng cuối thế kỷ VI, đầu thế kỷ thứ V trước công nguyên. Đến cuối thế kỷ XVIII, trong cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, quyền tự do ngôn luận được ghi nhận trong Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân. Tuy nhiên, trong pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận với tư cách là một quyền cấu thành của quyền tự do biểu đạt (freedom of expression) mới chính thức được ghi nhận tại Điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Tiếp theo, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966 (Việt Nam gia nhập tháng 9/1982), quyền tự do ngôn luận được quy định cụ thể hơn tại khoản 2 Điều 19 mà về nội dung không khác nhiều so với quy định trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948.

Tuy nhiên, trong Điều 19 của văn kiện pháp lý này vó quy định về một số trường hợp hạn chế hợc kèm theo điều kiện khi thực thi quyền tự do ngôn luận. Cho đến nay trong pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận có nội dung khá rộng, được thể hiện dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên, quyền này có thể bị những hạn chế nếu liên quan đến các hành động phỉ báng, vu khống, khiêu dâm, xúi giục, kích động, vi phạm bản quyền hoặc bí mật thương mại, bảo mật thông tin, quyền riêng tư, an ninh công cộng… Thực tế cho thấy, hầu hết các quốc gia ký kết hoặc gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều không bảo lưu quy định về những trường hợp hạn chế quyền tự do ngôn luận.

2.3.2. Pháp luật của Cộng hoà Pháp về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Là một nước có nền báo chí phát triển độc lập và tự do hàng đầu trên thế giới, quyền tự do ngôn luận trên báo chí đã được ghi nhận từ rất sớm. Ngay từ bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789, Điều 11 của tuyên ngôn nói rằng: Tự do truyền đạt tư tưởng, ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người: Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và xuất bản một cách tự do, ngoại trừ những trường hợp bị lạm dụng quyền tự do này, mà đã được quy định trong pháp luật. Như vậy, Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Pháp được ghi nhận như là một trong những quyền cơ bản, và những quyền này cũng có thể bị giới hạn theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Tự do ngôn luận được bảo vệ trong tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp. Mặc dù vậy, pháp luật của nước Pháp cũng đưa ra các giới hạn, các chế tài nghiêm khắc để trừng trị người nào lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Những quy định này được nêu tại Bộ luật 1881 về quyền tự do báo chí và Bộ luật dân sự Napoleong. Các quy định có liên quan bao gồm: Bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ (Điều 29 Luật 1881), bảo vệ, chống lại việc xâm phạm đời tư (Điều 9 BLDS), chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo (Điều 32 Luật 1881), kích động bạo lực, gây hận thù (Điều 24 Luật 1881).

2.3.3. Pháp luật của Hoa Kỳ về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Hoa kỳ không có Đạo luật nào riêng về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Tuy nhiên, các quyền tự do này được coi là quyền Hiến định, được nêu rõ trong Hiến pháp, có hiệu lực áp dụng trực tiếp. Trong Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ nêu rõ: “Quốc hội không được ban hành Đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hoặc hạn chế tự do ngôn luận hay báo chí, hoặc quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình”.

Như vậy, có thể thấy điều khoản này đã thừa nhận quyền tự do ngôn luận trên báo chí thông qua việc ngăn chặn nhà nước đề ra các Đạo luật làm hạn chế quyền này. Đối với các nhà lập pháp ở Hoa Kỳ thì đây là một trong những “quyền tự nhiên” của con người, không ai có quyền và tư cách ban phát, Hiến pháp chỉ ngăn chặn việc xâm phạm quyền tự nhiên ấy mà thôi. Có thể thấy, Tu chính án thứ nhất được ban hành để “răn đe” chính quyền.

Kể từ khi báo chí, mạng xã hội xuất hiện thì vấn đề về quyền tự do ngôn luận trên báo chí trên các diễn đàn xã hội mặc nhiên được chấp nhận ở Hoa Kỳ như là một hình thức của quyền tự do ngôn luận nói chung.

Như vậy, không giống các quốc gia khác, báo chí Hoa Kỳ với sự hậu thuẫn của bản Tu chính án thứ Nhất và hệ thống án lệ, được mệnh danh là nhấnh quyền lực thứ tư trong thể chế tam quyền phân lập. Đây chính là điều khiến cho hình mẫu pháp lý về quyền tự do báo chí tại Hoa Kỳ trở thành một hình mẫu đáng tham khảo nhất trên thế giới. Tuy nhiên có một nền báo chí tự do cũng có thể có những khuyết điểm nhất định như con người có thể bị quấy rầy, can thiệp hay bôi nhọ hàng ngày. Điều này đòi hỏi các nhà báo tại Hoa Kỳ sử dụng quyền tự do đã được Hiến pháp trao cho một cách thông minh và hợp lý để làm đúng vai trò và chức trách cho quyền lợi công dân và xã hội.

2.3.4. Giới hạn quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân theo luật quốc tế Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Có thể nói không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền cơ bản và phổ quát về quyền tự do ngôn luận là tuyệt đối. Quyền này có thể bị hạn chế và bị điều chỉnh khi xâm phạm tới các quyền và lợi ích khác của công dân. Các quốc gia như Pháp, Trung Quốc quy định chi tiết, cự thể những giới hạn vào trong luật. Trong khi đó Hoa Kỳ lại kết hợp cả việc quy định trong pháp luật cũng như áp dụng các án lệ để tạo ra bộ nguyên tắc pháp lý chung về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Trong khi đó pháp luật các quốc gia cũng có những quy định khác nhau liên qua đến các lý do, mục đích giới hạn.

Các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do Internet luôn được Đảng, nhà nước Việt Nam coi trọng, bảo đảm thực thi một cách xuyên suốt, nhất quán. Việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản của con người ở Việt Nam dựa trên cơ sở pháp luật quốc tế, phù hợp với tình hình thực tiễn chính là động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước. Sự tự do trong sử dụng Internet ở Việt Nam đã có tác động tích cực, đóng góp lớn vào quá trình phát triển của đất nước.

Có thể khẳng định chắc chắn rằng, không một quốc gia nào trên thế giới lại cho phép các thế lực thù địch, phản động, chống phá tự tung tự tác, tác oai tác quái, xấc xược, đặt điều vu khống nói xấu đất nước, chế độ, lãnh tụ. Không một quốc gia nào tự do để các phần tử xấu vi phạm pháp luật, ngăn cản, chống phá sự phát triển đất nước cũng như những quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của người dân, đi ngược lại sự phát triển của thế giới. Thực tế, quyền tự do Internet luôn được đặt trong khuôn khổ pháp luật. Đơn cử như Ủy ban châu Âu đã ban hành luật về bảo vệ sự riêng tư toàn cầu nhằm hạn chế hoạt động của Internet, mạng xã hội vi phạm quyền riêng tư của công dân của các nước thành viên. Trong khi đó, Trung Quốc chặn tất cả các mạng xã hội, trong đó có Facebook, Google nhằm ngăn chặn người dùng truy cập các trang web đồi trụy hoặc có nội dung nhằm mục đích chính trị. Hàn Quốc, Thái Lan yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet phải kiểm duyệt, ngăn chặn các tài khoản, clip có “nội dung không phù hợp” trên các mạng xã hội. Chính Quốc hội Mỹ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm xử lý, ngăn chặn việc lợi dụng Internet, mạng xã hội để khủng bố, kích động bạo lực hay là vi phạm sở hữu trí tuệ…

Rõ ràng, không chỉ Việt Nam, quốc gia nào trên thế giới cũng có những biện pháp quyết liệt để đấu tranh chống lại các mặt trái trên không gian mạng, cụ thể là trên Internet. Không có một quốc gia nào cho phép các hành vi tội phạm công nghệ cao được tồn tại trên Internet để phá hoại kinh tế, cản trở các hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế của Việt Nam, của những người dân vô tội. Thế nên, việc phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các đối tượng lợi dụng Internet vi phạm quyền và lợi ích của nhà nước và công dân là việc làm hiển nhiên. Điều đó rõ ràng phù hợp với luật pháp quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác… Việc không có tự do trên không gian mạng đã được khu biệt, giới hạn rõ là nghiêm cấm các mặt trái do Internet gây ra, trái với bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, cản trở sự phát triển xã hội, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Các Mác và Ph.Ăng-ghen cũng khẵng định: “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá do chế đọ kinh tế đó quyết định”, tương ứng với những thời đại khác nhau và những cơ sở kinh tế – xã hội khác nhau thì quyền cũng khác nhau. Theo đó, quan niệm về tự do ngôn luận không bất biến, mà biến đổi trong lịch sử. Và trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, những quyền tự do cơ bản của con người, như tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do Internet vẫn luôn phải bảo đảm dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và đặc thù mỗi quốc gia, chứ không thể có thứ nhân danh để tự do vô lối, chống đối, phá hoại.

Tự do là quyền của con người, nhưng đó không phải là sự tự do vô lối, tùy tiện, vô Chính phủ, mà nó chỉ được bảo đảm khi con người nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và hành động phù hợp luật pháp. Rõ ràng, không thể có một thứ tự do là muốn làm gì thì làm. Tự do buộc phải hình thành, tồn tại trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cá nhân và nhà nước. Tự do Internet cũng không là ngoại lệ.

Tiểu kết chương 2

Qua phân tích và lập luận tại chương này, chúng ta đã có được những hình dung nhất định về pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân.

Đồng thời, những tích cực và hạn chế trong pháp luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân cũng làm cho chúng ta đặt ra những suy nghĩ rằng: Chúng ta đang ở đâu trong thế giới ngày nay? Chúng ta cần làm gì để phát triển những quy định pháp lý về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin? Từ đó có thể đưa ra những cơ chế đảm bảo cao nhất về quyền tự do của công dân nói chung và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của mỗi công dân nói riêng trong thời đại ngày nay. Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993