Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho học sinh THPT ở thành phố Hải dương, tỉnh Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục (GD) phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, đáp ứng yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao và kinh tế – xã hội (KT – XH) của một quốc gia. Trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát triển rất nhanh c ủa khoa học kỹ thuật và công nghệ, việc nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng khu vực và thế giới, đòi hỏi giáo dục phổ thông phải có những bước tiến mới mạnh mẽ, giúp học sinh(HS) phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng sống cơ bản, hình thành nhân cách toàn vẹn con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các bậc học cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động sáng tạo, tham gia xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
Điều 2 Luật Giáo dục (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2015 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,…; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (2021- 2030) của nước ta, nêu rõ; “ Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước,…, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn. Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ.”
Ở thành phố Hải Dương đã coi trọng và đưa hoạt động giáo dục pháp luật(HĐGDPL) nói chung, và hoạt động giáo dục Luật giao thông đường bộ (HĐGDLGTĐB) nói riêng vào chương trình chính khóa và ngoại khóa, trên cơ sở đó xây dựng chương trình giáo dục toàn diện phù hợp với thực tế của từng trường. Tuy nhiên, các hoạt động giáo dục pháp luật đó còn thiếu tính hệ thống và chưa khai thác hết tiềm năng của cán bộ quản lý(CBQL), GV, HS và các lực lượng GD khác, nhất là tiềm năng trong HS. Với vai trò vừa là đối tượng, vừa là chủ thể hoạt động, HS nhiều trường hoạt động vẫn còn mờ nhạt; nội dung hoạt động đơn điệu, ít thay đổi, hình thức tổ chức hoạt động thiếu đa dạng, dễ gây sự nhàm chán trong hoạt động của HS, chưa thật sự hấp dẫn và thu hút được sự tham gia của đông đảo HS, chưa tạo được sân chơi lành mạnh, sinh động, dẫn đến hiệu quả GD toàn diện còn thấp. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Xuất phát từ những lý do chủ yếu nêu trên, là cán bộ quản lý (CBQL) của ngành giáo dục Hải Dương, tôi rất trăn trở trước thực trạng tổ chức Hoạt động giáo dục PL nói chung và Hoạt động giáo dục Luật giao thông đường bộ nói riêng hiện nay ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố, đã thúc đẩy tôi chọn và nghiên cứu đề tài : “Tổ chưc phối hợp các lưc lượng trong việc giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về tổ chức phối hợp các lực lượng trong việc giáo dục pháp luật giao thông đường bộ cho học sinh trường trung học phổ thông và thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng trong việc giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông ở thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương để đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động giáo dục LGTĐB cho học sinh trường Trung học phổ thông ở TP. Hải Dương một cách phù hợp, có tính khả thi, góp phần nâng cao nhận thức cho học sinh am hiểu pháp luật, có ý thức và trách nhiệm với bản thân, xã hội khi tham gia giao thông.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Tổ chức phối hợp giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông thành phố Hải Dương.
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục pháp luật, giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh Trung học phổ thông thành phố Hải Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Vấn đề An toàn giao thông là một vấn đề mang tính quốc gia và cấp thiết. Do đó, giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường Trung học phổ thông cần được tổ chức phối hợp các lực lượng. Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác phối hợp các lực lượng giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Hải Dương còn nhiều bất cập. Nếu có những biện pháp phù hợp với thực tiễn thì có thể nâng cao hiệu quả Hoạt động giáo dục Luật giao thông đường bộ; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hải Dương.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Để đạt mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức phối hợp các lực lượng trong việc giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng trong việc giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông ở thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất các biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng trong việc Giáo dục luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hải Dương.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tổ chức phối hợp các lực lượng trong Giáo dục luật giao thông đường bộ ở 9 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hải Dương, bao gồm 01 trường chuyên, 04 trường Trung học phổ thông công lập, 04 trường Trung học phổ thông tư thục. Thời gian nghiên cứu từ 05 năm trở lại đây.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Thu thập tài liệu, đọc sách có liên quan đến an toàn giao thông, luật giao thông, các thông tư, nghị định về giao thông.
- Nghiên cứu phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: quan sát thực tế về việc thực hiện luật giao thông của các đối tượng trong đó đối tượng chính là học sinh.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến: xây dựng các phiếu trưng cầu ý kiến cho tất cả cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh nhằm thu thập thông tin.
7.3. Nhóm phương pháp bổ trợ khác
- Phương pháp thống kê toán học trong khoa học GD: sử dụng phương pháp thống kê trong toán học để xử lý và phân tích các số liệu thu thập được từ bảng hỏi.
- Phương pháp đàm thoại: điều tra việc thực hiện luật giao thông với mọi đối tượng tham gia giao thông.
8. Cấu trúc luận văn Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh trường trung học phổ thông.
- Chương 2. Thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh tại các trường trung học phổ thông thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương.
- Chương 3. Biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông tại thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu lớn trong nước đề cập đến vấn đề Giáo dục pháp luật nói chung và Giáo dục pháp luật trong nhà trường nói riêng như đề tài: Ý thức pháp luật và Giáo dục pháp luật ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Đình Lộc (1977); Về tâm lý xã hội đối với tội phạm và các vi phạm pháp luật của người chưa thành niên và việc tổ chức phòng ngừa các tội phạm đó… của tác giả Đào Trí Úc(1989); Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học của Cao Thị Hà (2013); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong cuộc đổi mới (Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1995 của Bộ Tư Pháp); Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hộ chủ nghĩa của tác giả Trần Ngọc Đường(1988) và các cuốn sách được xuất bản, một số bài báo trên các tạp trí, các sách báo.
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến những khía cạch lý luận và thực tiễn của vấn đề Giáo dục pháp luật nói chung và Giáo dục pháp luật trong nhà trường nói riêng. Trong đó đề tài đề cập sâu đến Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông của tác giả Lê Quý Đình: Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông ở nước ta hiện nay(1991). Hay như Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hữu Thanh là: Kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học ở tỉnh Tiền Giang cũng nêu lên nhiều vấn đề mới; hay như luận văn Giáo dục pháp luật cho đồng bào người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay của tác giả Vũ Thanh Mai cũng nêu ra thực trạng nhiều vấn đề mới về giáo dục pháp luật cho học sinh và nhân dân. Tuy nhiên , cho đến nay việc tập trung nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về cơ sở lý luận, bản chất, đặc trung, nội dung, hình thức Giáo dục pháp luật, nhất là việc khái quát thực tiễn Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước vẫn là một việc làm cần thiết. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Trong tài liệu “Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” (Hà Nội, 1995) tác giả Đào Trí Úc đã tập trung vào vấn đề thuộc tính và giá trị xã hội của pháp luật; đặc điểm của ý thức pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam; đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật và thái độ hiểu biết pháp luật của nhân dân hiện nay; các hành vi vi phạm pháp luật; các hành vi tuân thủ pháp luật, chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật – cơ sở của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật; hoạt động áp dụng pháp luật, các tuân thủ pháp lý, cơ chế bảo vệ quyền con người và vấn đề xây dựng lối sống theo pháp luật.
Tác giả Trần Văn Thu và Bùi Thị Hòe trong công trình “Giáo dục văn hóa truyền thống mang bản sắc dân tộc cho sinh viên và học sinh, chuyên nghiệp”, đã lý giải vì sao phải giáo dục văn hóa truyền thống mang bản sắc dân tộc cho sinh viên – học sinh truyên nghiệp, nội dung giáo dục và giáo dục nền văn hóa truyền thống cho học sinh-sinh viên như thế nào.
Luận văn thạc sĩ: “Thực trạng và một số biện pháp ngăn ngừa giáo dục trẻ em huyện Long Thành-tỉnh Đồng Nai” của tác giả Lê Minh Hoàng đã trình bày thực trạng trẻ em phạm pháp ở Long Thành và một số biện pháp ngăn ngừa trẻ em phạm pháp.
Hay trong Luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy trong trường Trung học cơ sở ở Quận 11, TP. Hồ Chí Minh” đã nêu bật cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục chống ma túy trong các trường Trung học cơ sở ở Quận 11, TP. Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy trong học đường.
Như vậy, ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu một số lĩnh vực nội dung và phương thức Giáo dục pháp luật, song chưa có công trình nào tập trung đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống về các biện pháp tổ chức Giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường Trung học phổ thông trong điều kiện hiện nay.
Nghiên cứu tổng quan vấn đề từ việc khảo sát các đề tài liên quan ở trong nước đã cho phép tôi nhận xét:
- Hầu hết các đề tài tập trung giải quyết nhiệm vụ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề, chưa tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một cách có hệ thống.
- Một số đề tài đã đề cập đến những hình thức tổ chức giáo dục pháp luật cụ thể nhưng chưa đầy đủ và thiếu kết quả thực nghiệm để rút ra các kết luận cần thiết.
- Một số đề tài nghiên cứu đầy đủ các nhiệm vụ; nghiên cứu lý luận; đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp giáo dục nhưng ở trên đối tượng sinh viên, chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ công tác tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục pháp luật cho học sinh thành phố Hải Dương.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Có thể nói, các nước trên thế giới đều quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách, ý thức pháp luật cho học sinh-sinh viên, đối tượng của đất nước. Mục tiêu của vấn đề là giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng vượt lên chính mình, khắc phục trở ngại, ý trí nỗ lực cao, tuân thủ pháp luật, hiểu pháp luật và vận dụng pháp luật một cách hiệu quả, cụ thể hơn là việc nắm vững và thực hiện luật giao thông đường bộ một cách nghiêm túc… Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này. Qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu nước ngoài, chúng tôi đã thống kê được một số chủ đề sau đây nghiên cứu về các vấn đề Giáo dục pháp luật quan tâm:
- Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học (Macao)
- Đưa những tấm gương những anh hùng chống tham những vào trường học(Italia).
- Giáo dục đạo đức trong nhà trường-một chương trình kiểu mới (Hoa Kỳ)
- Giáo dục hành động chống tham nhũng trong hội trại thanh niên (Moldova)
Thông qua chương trình giáo dục của các nước, đều xuất hiện tình trạng chung là coi trọng giáo dục tri thức văn hóa tổng thể và mục tiêu quốc gia về đào tạo nhân cách, nhưng kết quả đào tạo đạt được của giáo dục công dân trong nhà trường về vấn đề này ít rõ ràng.
Tại nhiều nước đã rất chú trọng đưa chương trình giáo dục công dân, Giáo dục pháp luật vào trường học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi trường giáo dục của từng quốc gia. Có thể dẫn chứng:
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ở Macao: Đây là chương trình giáo dục đạo đức nhằm tạo ra thế hệ trung thực mới Hội đồng chống tham nhũng ở Macao khuyến khích những người trẻ nhận biết được tầm quan trọng của tính chính trực qua hoạt động trò chơi và thảo luận. Đặc biệt giáo dục của nước họ, họ đưa thanh niên vào sân chơi được gọi là thiên đường của chính trực hình thức của một buổi học năng động sáng tạo. Mục đích của chương trình để truyền đạt những thông điệp:
- Tính lương thiện và chính trực là giá trị xã hội quan trọng mà nó lên được quý trọng;
- Chống tham nhũng không nên được tha thứ và nó có hại cho mọi người trong xã hội. Từ đó nhận biết được tham nhũng là hành động xấu và chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng của công dân.
Đưa nội dung những bài học anh hùng chống tham nhũng vào chương trình giáo dục ở Italia:
Nhà trường ở nước Italia đưa chương trình anh hùng chống tham nhũng vào giáo dục với đề tài: Anh hùng ngày nay…Nhà trường đã đưa chương trình giáo dục đạo đức của tổ chức minh bạch thế giới(TI) và Italia nhằm khuyến khích sự phản ánh cho học sinh về trách nhiệm cá nhân, và tự do suy nghĩ để nhấn mạnh khả năng tư duy, xem xét hành vi cá nhân phù hợp đạo lý và pháp luật quốc gia. Chương trình thực hiện thông qua hội thảo, cứ mỗi tháng 2 lần hội thảo với sự tham gia 151 trường học. Với các cá nhân diễn thuyết uy tín đến từ các chính khách, nhà báo, quan tòa, nhà thầu, vận động viên, những thành viên của tổ chức minh bạch, các diễn giả này là những anh hùng hàng ngày. Qua các chương trình này học sinh tiếp nhận gương anh hùng, tạo ấn tượng trong tâm lý cho các em, các em thường soi rọi bản thân với tấm gương và liên hệ bản thân mình.
- Nghiên cứu các tài liệu ở nước ngoài về giáo dục pháp luật đã cho phép tôi rút ra một số nhận xét sau:
Nội dung giáo dục pháp luật của các nước dành cho học sinh rất phong phú, không né tránh những vấn đề của người lớn. Các nước đã quan tâm giáo dục học sinh về những vấn đề lớn lao của tổ quốc, đất nước, những vấn nạn đã được cảnh báo từ khi con người ngồi trên ghế nhà trường. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Thời gian trong phạm vi giáo dục đạo đức nhà trường dành cho nhiệm vụ này rất đáng kể, chưa tính đến các hoạt động của các lực lượng ngoài cộng đồng… tham gia giáo dục pháp luật cho học sinh, cũng như tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục luật.
Phương pháp giáo dục hiệu quả, huy động mọi nguồn lực và sáng tạo nhiều mô hình giáo dục thông minh và coi trọng năng lực thực hành cho học.
Như vậy, dựa trên các tài liệu trong nước và trên thế giới, căn cứ vào đặc điểm tình hình của giáo dục pháp luật ở nước ta trong điều kiện hiện nay, đặc biệt là việc giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương và trên toàn quốc, chưa có tác giả nào đề cập đến nhiệm vụ triển khai một cách đồng bộ các biện pháp Giáo dục pháp luật và cụ thể là Giáo dục luật giao thông đường bộ với học sinh. Vì vậy tác giả Luận văn mạnh dạn đưa vấn đề này làm đề tài nghiên cứu của mình, với mong muốn góp sức nhỏ bé của mình vào công tác giáo dục, nâng cao công tác giáo dục An toàn giao thông, việc nắm vững Luật giao thông đường bộ nhằm giảm thiểu tai nạn và ùn tắc giao thông một cách hiệu quả nhất.
1.2. Những luận điểm khác nhau về Giáo dục pháp luật Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Qua nghiên cứu các nguồn tài liệu trong nước về quan niệm giáo dục pháp luật và cụ thể là giáo dục luật giao thông đường bộ chưa có một cách hiểu hay quan điểm nhất quán lên đã gây ra khó khăn trong nhận thức cũng như việc triển khai chương trình, hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục Luật giao thông đường bộ nói riêng.
- Từ các tài liệu, có thể nêu lên các quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất: Giáo dục pháp luật không phải là một bộ phận độc lập trong hệ thống giáo dục phổ thông. Nó là một nội dung, một bộ phận giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức. Và cụ thể hơn giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh không phải là không phải là môn khoa học, mà là một nhánh nhỏ trong giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức. Một khi giáo dục chính trị, tư tưởng và giáo dục đạo đức được tiến hành tốt thì ý thức tôn trọng pháp luật của mọi người sẽ được nâng lên, ý thức về Luật giao thông đường bộ được nâng cao. Sự hình thành ý thức pháp luật của mỗi người được xem như là một hệ quả hiển nhiên của việc giáo dục chính trị hay giáo dục đạo đức. Vì vậy, không coi giáo dục pháp luật hay cụ thể hơn là giáo dục Luật giao thông đường bộ là một hoạt động độc lập của quá trình giáo dục mà phải coi là một nhánh, một góc của vấn đề giáo dục pháp luật.
Quan điểm thứ hai: Đã đồng nhất Giáo dục pháp luật, cụ thể là Giáo dục luật giao thông đường bộ với tuyên truyền phổ biến giải thích luật, kỹ năng tham gia giao thông đường bộ, đó là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách, các phương tiện thông tin đại chúng và cả bộ máy tuyên truyền. Quan điểm này tách rời nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền pháp luật giữa các cơ quan chức năng. Chức năng tuyên truyền và định hướng rất quan trọng nhưng không thể thay thế được chức năng giáo dục, chức năng kiểm tra, giám sát. Giá trị của tuyên truyền của giáo dục là to lớn nhưng không thể thay thế được các biện pháp xử lý của các cơ quan hành pháp.
Quan điểm thứ ba: Ngược lại với quan điểm thứ hai: Cho rằng Giáo dục pháp luật đồng nghĩa với dạy học pháp luật ở các nhà trường. Còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội thì không phải là giáo dục pháp luật. Quan điểm này nhìn giáo dục pháp luật ở một phạm vi rất hẹp trong nhà trường, chưa thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường với xã hội và làm giảm tính phong phú đa dạng của hoạt động giáo dục ngoài nhà trường.
Có thể nhận xét quan điểm trên còn phiến diện, đơn giản, một chiều, chưa thấy hết đặc thù của sự tác động hoặc giá trị xã hội của pháp luật. Vì vậy các quan niệm ấy đã vô tính hoặc cố ý hạ thấp vai trò và giá trị xã hội của pháp luật. Thực ra, mỗi quan niệm trên đây đã vô tình hoặc cố ý hạ thấp vai trò giáo dục chung của pháp luật đối với nhận thức và hành vi xã hội của cá nhân rộng ra, ở đây vai trò, giá trị xã hội, tính trội lẫn tính phụ thuộc của pháp luật chưa được đánh giá đúng mức.
Do vậy, về mặt lý luận, không chỉ dừng lại ở những luận điểm như trên về Giáo dục pháp luật mà cần có hệ thống quan điểm nhất quán, đầy đủ và khoa học về Giáo dục pháp luật.
1.3. Cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông hiện nay Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
1.3.1. Một số khái niệm cơ bản
Theo Giáo sư Hà Thế Ngữ, những hoạt động giáo dục cơ bản gồm: vui chơi, học tập, lao động sản xuất, hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể… Các loại hoạt động giáo dục cơ bản trên đây tồn tại xen kẽ nhau, ví dụ trong học tập có vui chơi, trong lao động có học tập, sinh hoạt tập thể có vui chơi, hoặc có tác dụng đối với xã hội. Trong các loại hình đó, hoạt động học tập và lao động sản xuất ra của cải vật chất là hai loại hoạt động cơ bản nhất trong việc giáo dục con người.
Hoạt động có tính hai mặt, mặt ý định trả lời câu hỏi: hoạt động để đạt cái gì? Mặt thực hiện trả lời câu hỏi: hoạt động như thế nào? Theo cách nào? Đó là: động cơ – mục đích và phương tiện – cách thức, đó là những yếu tố cơ bản để một hành động thực sự được tiến hành.
Nghiên cứu hoạt động giáo dục và dạy học căn cứ vào những lý thuyết tâm lí học như lí thuyết hoạt động, lý thuyết phát triển, lí thuyết kiến tạo… Những căn cứ lý thuyết đã xác định con đường cơ bản để tiến hành giáo dục, được áp dụng nhiều trong dạy học, tuy nhiên những quan điểm tích cực cũng đã được áp dụng tổ chức thực hành giáo dục có hiệu quả.
Kết quả mong muốn của giáo dục là nhân cách con người. Ngạn ngữ có câu: “Có thể dắt con ngựa đến máng nước nhưng không thể bắt nó uống”. Như vậy, mặc dù có sự trông đợi khách quan nhưng kết quả lại phụ thuộc vào sự chủ quan tiếp nhận của trẻ em. Trong giáo dục con người, chưa thể khẳng định rằng những biểu hiện hành vi của cá nhân đã phản ánh đầy đủ những phẩm chất mang bản chất nhân cách. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Các khái niệm về quá trình giáo dục, về hoạt động giáo dục dù ở nghĩa rộng hay hẹp đều có một quan điểm chung là quá trình định hướng mục tiêu. Suy cho cùng, giáo dục là một định hướng được xác định bởi các tiêu chuẩn của thời đại, được xã hội thừa nhận không những trong tính lịch sử mà là tính lâu bền, bởi tính tất yếu của xu hướng văn minh.
Khái niệm hoạt động giáo dục được hiểu theo hai cấp độ: là hoạt động có tính chất quá trình, hệ thống của lực lượng giáo dục trong phạm vi môi trường giáo dục ở một giai đoạn nhất định; là một tình huống cụ thể trong ứng xử của người giáo dục và người được giáo dục.
Theo tài liệu của các tác giả Phạm Viết Vượng, Đặng Vũ Hoạt “Giáo dục theo nghĩa hẹp là quá trình hai mặt, mặt tác động và mặt tiếp nhận của người được giáo dục. Giáo dục là sự tác động và sự chuyển hóa những yêu cầu từ bên ngoài thành những phẩm chất bên trong của cá nhân”. “Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho học sinh, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội”.
Khái niệm hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một nội dung quan trọng của lí luận giáo dục nhân cách xã hội chủ nghĩa. Cùng với phạm trù hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục nhân cách góp phần tạo nên quá trình sư phạm tổng thể (quá trình giáo dục theo nghĩa rộng). Tri thức về hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) là một hệ thống những tri thức về đặc trưng cơ bản của hoạt động giáo dục, của quá trình giáo dục, mang nét đặc trưng so với quá trình, hoạt động dạy học, về các yếu tố của quá trình, hoạt động giáo dục; về các quy luật, mâu thuẫn, động lực, về các nguyên tắc cũng như quá trình giáo dục chuyên biệt. Theo các nhà nghiên cứu về giáo dục học, khái niệm quá trình giáo dục được hiểu là “quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức chung của thầy và trò (hoạt động giáo dục của thầy gắn bó chặt chẽ với hoạt động tự giáo dục của trò) nhằm hình thành cho học sinh những quan điểm, niềm tin định hướng giá trị, lí tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa những động cơ, thái độ, kĩ năng, kĩ xảo, thói quen đối xử trong các quan hệ chính trị, đạo đức, luật pháp, thẩm mĩ thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội xã hội chủ nghĩa”.
Tiếp cận khái niệm giáo dục (nghĩa hẹp) theo quan điểm hoạt động, điều đó có ý nghĩa là cần quan tâm đến các yếu tố sau đây:
- Ý đồ (mục tiêu và mục đích) của hoạt động:
- Phạm vi môi trường hoặc phạm vi tình huống;
- Có tổ chức, nội dung và cách thức thực hiện, có đánh giá;
- Có 3 yếu tố không thể thiếu đó là: Giáo viên, học sinh và môi trường.
Theo lí thuyết hoạt động, hoạt động của con người gồm đối tượng, mục đích hoạt động, nội dung hoạt động, phương thức và thao tác, kết quả hoạt động. Trong hoạt động giáo dục, đối tượng là tri thức văn hóa của nhân loại, phương pháp nhận thức sáng tạo, kinh nghiệm xã hội và cách ứng xử xã hội; mục đích hoạt động nhằm giáo dục con người, hoàn thiện nhân cách, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho con người; nội dung giáo dục là các tình huống cụ thể, các giá trị văn hóa vật chất tinh thần, các chuẩn mực đạo đức và hành vi đạo đức, pháp luật, thái độ và niềm tin đạo đức pháp luật; phương thức giáo dục là khuyến khích tự giáo dục và tổ chức hoạt động, các thao tác chuẩn mực; kết quả giáo dục đọng lại ở niềm tin, thói quen, hành vi, lối sống đạo đức, nhân cách của con người được nâng lên. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Hoạt động giáo dục có những đặc điểm sau đây: Quá trình giáo dục chịu tác động của nhiều nhân tố; là quá trình có mục đích, có tính định hướng giá trị xã hội; quá trình giáo dục đòi hỏi thời gian dài, giáo dục là suốt đời; quá trình giáo dục diễn ra rất phức tạp và mâu thuẫn; giáo dục theo từng cá nhân, từng tình huống, diễn ra trong hoạt động sống của con người; quá trình giáo dục mang tính biện chứng cao.
Khái niệm Tổ chức (Orgamizo – tiếng Latin) là một sự sắp xếp tương hỗ và sự liên hệ qua lại giữa các yếu tố trong một phức hợp nào đó, tổ chức được hiểu là một trật tự xác định cả về mặt ý nghĩa chức năng cũ như về ý nghĩa cấu trúc và đối tượng sự vật.
Trong phạm vi luận án này, thuật ngữ tổ chức được dùng để chỉ quá trình thực hiện các biện pháp giáo dục. Khái niệm tổ chức không dùng với hàm nghĩa tổ chức – quản lí (theo cách tiếp cận của khoa học quản lí giáo dục).
Khi xem xét khái niệm biện pháp giáo dục (dùng trong luận văn) trong mối quan hệ với phương pháp giáo dục. Biện pháp giáo dục được coi là yếu tố hợp thành của phương pháp giáo dục, phụ thuộc vào phương pháp giáo dục (khái niệm biện pháp khi sử được sử dụng ở cấp độ vĩ mô). Mỗi phương pháp giáo dục có thể bao gồm nhiều biện pháp giáo dục (biện pháp được sử dụng ở cấp độ vi mô). Trong từng tình huống cụ thể, phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa cho nhau. Như vậy, khi đề cập đến biện pháp giáo dục là nói đến cách giải quyết một vấn đề giáo dục cụ thể, một tình huống giáo dục cụ thể.
Từ những vấn đề cơ bản của hoạt động giáo dục sẽ chi phối các cách tiến hành giáo dục trong những phạm vi điều kiện môi trường giáo dục cụ thể.
Khái niệm pháp luật được hiểu là tổng hợp các quy tắc ứng xử sự thể hiện ý chí của nhà nước có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra, hoặc thừa nhận ra được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế (Theo tài liệu: Sổ tay pháp lý thông dụng – trang 268).
Pháp luật là những quy tắc chuẩn mực xã hội được ghi thành các điều luật thể hiện trong hiến pháp và các bộ luật của nhà nước, mỗi công dân có nghĩa vụ tuân theo. Pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền trong việc duy trì trật tự xã hội. Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, bao gồm một hệ thống các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ công dân đối với nhà nước, những quy định xác nhận tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi cá nhân hay tổ chức xã hội. Ý thức xã hội là sản phẩm của giáo dục, nội dung gồm: Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
- Ý thức về nghĩa vụ công dân tham gia xây dựng hiến pháp và các bộ luật;
- Ý thức về nghĩa vụ công dân cùng mọi người tham gia đấu tranh để thực hiện pháp luật công bằng, công khai dân chủ, phấn đấu cho nhà nước pháp quyền;
- Ý thức về nghĩa vụ công dân trong việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của nhà nước;
- Ý thức về quyền lợi của công dân được nhà nước bảo hộ về pháp luật
Giáo dục pháp luật là một trong những bộ phận cấu thành của chương trình giáo dục, có mục tiêu, phương hướng nội dung và phương pháp tác động luôn gắn liền với những nhiệm vụ chính trị của Đảng trong các giai đoạn lịch sử nhất định.
Mục tiêu của giáo dục pháp luật, về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân… biết sống và hành động đúng những quy định của pháp luật, có ý thức tuyên truyền giúp đỡ mọi người xung quanh thực hiện đúng pháp luật.
Nội dung Giáo dục pháp luật cho học sinh gồm: quyền được nuôi dưỡng, giáo dục, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự; quyền được học tập, vui chơi, lao động, tham gia các hoạt động xã hội; nghĩa vụ vâng lời dạy bảo của cha mẹ, thầy cô giáo, và kính trọng mọi người, học tập và phấn đấu vươn lên trở thành công dân có ích cho Tổ quốc; nghĩa vụ tuân theo các quy định của pháp luật.
GDLGTĐB là giáo dục một Luật cụ thể, mà người giáo dục phải có mục tiêu, có phương hướng và phương pháp tác động luôn gắn liền với những nhiệm vụ chính trị của Đảng trong các giai đoạn lịch sử nhất định. Nhưng Giáo dục luật giao thông đường bộ là giáo dục các khái niệm về đường bộ, về phương tiện, về cách tham gia giao thông, các đúng sai khi tham gia giao thông, sai lầm khi sử dụng phương tiện dẫn đến phạm luât, và viêc nắm vững các quy tắc xử lý các tính huống.
Biện pháp giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông là những cách thức cụ thể mà các lực lượng giáo dục sử dụng để tác động đến học sinh nhằm hình thành ở các em ý thức, thái độ, hành vi pháp luật đúng đắn, tạo ra nếp sống, thói quen – hành vi chấp hành pháp luật từ những yêu cầu cụ thể đến những nội dung các luật trong một thể chế, đích cuối cùng là hình thành một nhân cách có văn hóa pháp luật trong xã hội văn minh.
Biện pháp giáo dục luật giao thông đường bộ cho học sinh Trung học phổ thông là những cách thức cụ thể mà các lực lượng giáo dục sử dụng để tác động đến học sinh nhằm hình thành ở các em ý thức, thái độ, hành vi pháp luật về giao thông một cách đúng đắn, tạo ra nếp sống chuẩn theo luật giao thông, thói quen – hành vi chấp hành pháp luật giao thông từ những yêu cầu cụ thể đến những nội dung các luật trong một thể chế, đích cuối cùng là hình thành một nhân cách có văn hóa thực hiện đúng luật trong xã hội văn minh. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Vì thế, vấn đề đặt ra là người giáo dục phải hiểu biết sâu về kiến thức pháp luật, và phải nắm vững tri thức pháp luật, biết cách truyền tải và là tấm gương, là hình mẫu trong việc tuân thủ pháp luật. Bởi vì trong Giáo dục pháp luật nguyên tắc: “Anh hãy làm giống như tôi” có ảnh hưởng to lớn đối với người được giáo dục.
Như vậy, có thể nói: bản chất của Giáo dục pháp luật, Giáo dục luật giao thông đường bộ là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành. Vì vậy, Giáo dục pháp luật không đơn thuần là sự tác động đơn giản, nhất thời mà là một loại hoạt động có tổ chức với cấu trúc đồng bộ của nó bao gồm chủ thể, khách thể, đối tượng, nguyên tắc, mục đích và cách thức triển khai trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Giáo dục pháp luật là một hoạt động giáo dục vừa có tính chất khoa học (với tư cách là một nội dung khoa học), vừa có tính chất xã hội – nhân văn (với tư cách là một hoạt động gắn bó và gần gũi với cuộc sống của chủ thể). Do đó, đòi hỏi cách tiến hành giáo dục vừa thận trọng tôn trọng các quy luật khách quan của hoạt động giáo dục, vừa đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của các thành phần tham gia, trong đó bản thân người học là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Khái niệm biện pháp tổ chức Giáo dục pháp luật, theo từ điển tiếng Việt thì: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”. Trong giáo dục học, biện pháp giáo dục là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp. Tùy theo từng trường hợp cụ thể, phương pháp và có biện pháp có thể chuyển hóa cho nhau. Ở đây, các biện pháp tổ chức Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông bao hàm hai tầng bậc: Biện pháp lớn là cách giải quyết vấn đề có tính khái quát (cách tổ chức hoạt động Giáo dục pháp luật có tính vi mô), loại biện pháp nhỏ nằm trong biện pháp lớn là những cách giải quyết, cách làm cụ thể (triển khai công tác Giáo dục pháp luật thông qua các phương pháp, cách thức cụ thể).
Tổ chức thực hiện các biện pháp giáo dục và cụ thể là tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục luật giao thông đường bộ là quá trình tìm tòi, xây dựng luận cứ khoa học cho những cách làm giáo dục, việc xác định mục tiêu (hoặc định hướng chung cho biện pháp) là yếu tố quan trọng hàng đầu, tiếp đó là nội dung và quy trình thực hiện biện pháp bao gồm các cách thức (biện pháp hoặc thủ pháp) cụ thể, cuối cùng là dự kiến kết quả cho mỗi biện pháp. Trong các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, có những biện pháp giáo dục có thể triển khai để đo nghiệm kết quả nhằm xác nhận tính đúng đắn của biện pháp do người nghiên cứu đề xuất, tuy nhiên cũng nhiều biện pháp mới chỉ khảo nghiệm được tính khoa học, hợp lí và khả thi của nó thông qua phương pháp chuyên gia. Do vậy, ở góc độ giáo dục học, hệ thống các biện pháp giáo dục (đặc biệt là giáo dục đạo đức, pháp luật) thường rất khó xác định nội hàm, quá trình và kết quả. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Mục đích của các biện pháp, hình thức tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh là đồng thời quán triệt cả 4 phương diện:
- Nhận thức
- Thái độ
- Hành vi
- Kỹ năng
Như vậy, nâng cao nhận thức chấp hành pháp luật; làm biến chuyển thái độ đối với pháp luật; rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đề pháp luật và thay đổi hành vi là bốn yếu tố trên đây tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau, gắn kết với nhau. Tùy từng học sinh, từng nhà trường trong từng trường hợp mà tìm khâu đột phá thích hợp.
Theo đó, cách hiểu “tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục luật giao thông đường bộ” và “biện pháp tổ chức phối hợp giáo dục luật giao thông đường bộ” trong luận văn này được hiểu ở phương diện của lí luận giáo dục, không đặt trọng tâm vào các tiếp cận của quản lí giáo dục.
1.3.2. Giáo dục luật giao thông đường bộ và kết quả của giáo dục luật giao thông đường bộ
Theo quan điểm của khoa học pháp lý, Giáo dục pháp luật, Giáo dục luật giao thông đường bộ được hiểu trên cơ sở các nội dung mang tính lý luận và thực tiễn sau:
Thứ nhất, quá trình hình thành ý thức của con người, là quá trình ảnh hưởng tác động thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan. Trong đó, các điều kiện khách quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, còn các nhân tố chủ quan đóng vai trò là những nhân tố tác động. Nhân tố ảnh hưởng có thể là tự phát theo chiều này hoặc chiều khác và mức độ “đậm nhạt” có thể khác nhau. Nhân tố trực tiếp bao giờ cũng là nhân tố tự giác, có ý thức, có chủ định theo một hướng nhất định. Giáo dục pháp luật là sự tác động của nhân tố chủ quan do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành. Đó là hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của nhiều chủ thể (các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, nhà trường). Bản thân chủ thể giáo dục với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình luôn luôn đặt ra mục đích nhất định để từ đó tiến hành những biện pháp, hình thức nhằm hình thành ở chủ thể những yếu tố chủ quan, trước hết là tri thức, hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn về pháp luật. Đây chính là chức năng của giáo dục tiến bộ, trong đó có Giáo dục pháp luật và cụ thể hơn là Giáo dục luật giao thông đường bộ.
- Thứ hai, giáo dục pháp luật là một lĩnh vực cụ thể, là “cái riêng”, “cái đặc thù” trong mối quan hệ với giáo dục nói chung.
Như vậy, qua cách lý giải về những luận điểm khoa học như trên, có thể đưa ra quan niệm tương đối đầy đủ về Giáo dục pháp luật như sau: Giáo dục pháp luật là một hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở người học tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống theo pháp luật.
Mục đích của giáo dục pháp luật tập trung ở 3 khía cạnh:
- Mục đích nhận thức:
- Mục đích cảm xúc, hình thành động cơ.
- Mục đích hành vi tích cực theo pháp luật.
Theo lí luận nhận thức, cấu trúc tâm lí của hoạt động nhận thức gồm: hình thành tri thức, mở rộng và làm sâu sắc thêm, am hiểu, đánh giá… Các mức độ này hướng đến mục tiêu nhận thức theo cách đo 6 mức độ của B.S. Bloom gồm: nhận biết, thông hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Với mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì pháp luật là ý chí, là mong muốn của đông đảo nhân dân trong xã hội. Dù ở mức độ nào thì tri thức pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên, tri thức về pháp luật còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hành trang kiến thức để giúp họ vào đời một cách chắc chắn và quan trọng hơn, là tạo lập cho họ một nền tảng cho lối sống tự lập, sáng tạo, chủ động trong phạm vi các quy định của pháp luật. Đồng thời, ở phương diện công dân (civic), thì nhân cách công dân hoàn chỉnh sẽ đóng góp vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ tiến bộ.
Mục đích tạo niềm tin vào pháp luật vào luật không phải là quá trình áp đặt từ hệ thống tri thức khái niệm mà là từ sự am hiểu, thực hiện tự nguyện, tuyên truyền phổ biến và biết tự điều chỉnh hành vi cá nhân dựa trên tiêu chí thỏa mãn lợi ích của số đông nhân dân lao động. Con đường để đạt đến cảm xúc của giáo dục pháp luật gồm việc giáo dục tình cảm công bằng, tình cảm trách nhiệm, tình cảm không khoan nhượng và tình cảm pháp chế. “Trong thực tế không ít người có tri thức pháp luật nhưng không có tình cảm đúng đắn đối với pháp luật nên không xử sự theo các quy định của pháp luật, thậm trí trở thành tội phạm”.
Kết quả của giáo dục pháp luật nói chung và luật giao thông đường bộ nói riêng đã hình thành những thói quen của hành vi hợp pháp có biểu hiện ở các dạng sau đây:
- Thói quen tuân thủ pháp luật (kiềm chế không làm những gì mà pháp luật cấm). Ví dụ, ở những học sinh tốt đã có thói quen không đi hàng hai, hàng 3 khi tham gia giao thông, không vượt đèn đỏ, luôn luôn đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe đạp điện và xe máy điện hoặc xe máy.
- Thói quen thực hiện nghĩa vụ pháp lí (thực hiện hành vi tích cực những gì pháp luật yêu cầu). Ví dụ như ở học sinh khi tham gia giao thông gặp người bị nạn sẵn sàng và nhiệt tình giúp đỡ.
- Thói quen sử dụng pháp luật (sử dụng quyền mà pháp luật cho phép). Ví dụ như đối với học sinh là quyền được tìm hiểu về pháp luật, được biết khi mình tham gia giao thông bị xử lý vi phạm, phải biết mình phạm lỗi gì?
Suy đến cùng, sự hiểu biết (nhận thức đúng – sai, nông – sâu, bản chất hay không bản chất về pháp luật…) và tình cảm pháp luật của con người là nền tảng cho quá trình hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật. Nói cách khác, hành vi xử sự hợp pháp của con người trong cuộc sống là kết quả của các quá trình nhận thức và quá trình hình thành tình cảm đối với con người. Theo đó, có thể khẳng định quá trình hình thành động cơ và thói quen hành vi pháp luật cho học sinh không thể có “đường tắt” mà cần tuân thủ các quá trình, các con đường giáo dục theo quy luật khách quan của nó.
1.3.3. Những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về Giáo dục pháp luật nói chung và Giáo dục luật giao thông đường bộ nói riêng Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Pháp luật và đường lối chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Về mặt pháp lí, quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với toàn dân: thi hành Hiến pháp chính là thực hiện đường lối chính sách của Đảng và tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Hiến pháp quy định mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thực hiện đúng đắn đường lối chính sách của Đảng của Nhà nước và chính hành vi tôn trọng và thực hiện pháp luật.
Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại tới nhà nước và xã hội, làm tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng. Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội được khẳng định.
Để thực hiện đúng đắn chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác Giáo dục pháp luật, cụ thể là Giáo dục luật giao thông đường bộ trong trường học, trước hết cần quán triệt đầy đủ đường lối chính sách của Đảng đối với phát triển, xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội. Đường lối chính sách của Đảng cũng như pháp luật là những hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, phản ánh cơ sở kinh tế xã hội. Do đó, nó cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ xung và có quá trình vận động như các hiện tượng khác. Chính vì thế, Giáo dục pháp luật, Giáo dục luật giao thông đường bộ với học sinh, sinh viên phải luôn luôn bắt nhịp những thay đổi trong đời sống chính trị, pháp luật của đất nước.
Khẳng định vấn đề này, từ văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI đã nêu rõ: Cần coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền giải thích pháp luật. Đưa giáo dục pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng và Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân; cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật.
Ngay từ đầu những đầu dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chủ trương Giáo dục pháp luật, giáo dục các bộ luật vào các nhà trường. Đây là quá trình phát triển nhất quán trong chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Trong các văn bản, Chính phủ đã giao trách nhiệm cho các bộ, ngành, các đoàn thể xúc tiến công tác tuyên truyền Giáo dục pháp luật nói chung và Giáo dục luật giao thông đường bộ nói riêng cho các tầng lớp dân cư, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các bộ, các ngành, các cơ quan tổ chức nhà nước, xã hội Trung ương và địa phương.
Với tinh thần đó, nghị quyết Trung ương II (khóa VIII) đã xác định nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là:
- Xây dựng một nền giáo dục thấm nhuần sâu sắc tính nhân văn, tính dân tộc và tính hiện đại.
- Đi đôi với việc truyền thụ kiến thức, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao năng lực tư duy sáng tạo, là việc quan tâm bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho học sinh, sinh viên; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong nhà trường.
- Coi trọng giáo dục về lịch sử, văn hiến Việt Nam, giới thiệu tinh hoa văn hóa nhân loại cho thế hệ trẻ.
Giáo dục đào tạo theo hướng “dạy người”, thông qua dạy chữ, dạy nghề “dạy người” là mục tiêu cuối cùng, mục tiêu cao nhất thể hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh vững vàng, có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi, có chí học tập, rèn luyện để lập thân, lập nghiệp, vững vàng tiếp bước các thế hệ cha anh, góp phần đưa đất nước đến hưng thịnh, phú cường”. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Phát triển giáo dục, đi đôi với phát triển kinh tế, văn hóa là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân; kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước về giáo dục; nhà nước có chính sách, biện pháp quản lý tốt lĩnh vực giáo dục, kiểm tra chất lượng giáo dục, thống nhất chương trình, nội dung sách giáo khoa trong cả nước, hướng trường học đi vào trật tự, kỷ cương, nề nếp.
Những định hướng, nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp giáo dục nêu trên đặt ra cho xã hội, cho những người làm công tác nghiên cứu, quản lý giáo dục, cho những người trực tiếp giảng dạy trong nhà trường và cả cho học sinh hàng loạt vấn đề cần giải quyết, hướng nền giáo dục tới sự phát triển tương lai của đất nước. Kết quả của công tác giáo dục pháp luật, luật trong nhà trường phổ thông không chỉ dừng lại ở những kết quả đã đạt được. Điều đáng quan tâm hiện nay là khắc phục những khó khăn, hạn chế những khiếm khuyết để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện góp phần vào việc thực hiện những định hướng, mục tiêu chung của sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Trong đòi hỏi chung đó, với phạm vi của mình, Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông, ở mức độ tổng quát nhất, phải góp phần hiệu quả nhất vào việc xây dựng nền văn hóa pháp luật trong đời sống nhà trường và xã hội. Xã hội càng phát triển, càng văn minh, con người cũng phải học hỏi và nắm vững được những kiến thức đúng đắn nhất để sống với nhau một cách nhân ái. Những kiến thức về pháp luật nói chung và Luật giao thông đường bộ nói riêng mà HS lĩnh hội được trong cuộc sống, trong nhà trường phổ thông nhất thiết phải là biểu hiện của nền văn hóa pháp luật. Trong một nền văn hóa mà ở đó, mỗi học sinh sẽ được trang bị những kiến thức cần thiết để suy nghĩ và hành động theo pháp luật, và cũng chính nền văn hóa đó có tác dụng ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, những hành vi lệch lạc. Nền văn hóa pháp luật giúp cho mọi học sinh tìm thấy tự do và tự giác trong hoạt động của mình bên cạnh những người khác.
Đây vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là mục tiêu tổng quát của hành động Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông trong điều kiện phát triển hiện nay của đất nước.
Tại văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, phần IX của Báo cáo Chính trị có ghi rõ: “Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế,quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”.
Để bảo đảm quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật, gắn liền với yêu cầu tăng cường pháp chế XHCH, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức và cá nhân công dân phải tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của nhà nước.
Để sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ nghiêm chỉnh PL và kỷ cương xã hội, mỗi công dân phải có ý thức PL trong từng môi trường và tiểu môi trường cụ thể. Bước chân đến trường, bắt đầu đi học, mỗi một công dân nhỏ tuổi ý thức được và cần phải ý thức được về môi trường học đường khác với môi trường gia đình. Những quy tắc đạo đức, những đỏi hỏi “lễ phép” được giáo dục trong gia đình từng bước bổ sung và mở rộng trong môi trường lớp học, nhà trường và xã hội. Cùng với kiến thức văn hóa, chuyên môn về khoa học – kỹ thuật, học sinh phải có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có tác phong, lối sống có kỷ luật, kỷ cương. Nhà trường phải cung cấp, tạo dựng cho học sinh một lượng kiến thức cần thiết để họ hình thành ý thức tự giác trong những hành vi ứng xử theo những chuẩn mực xã hội nhất định và đồng thời làm cho họ có khả năng đề phòng và khắc phục những sai lệch so với những chuẩn mực đã được quy định. Bởi lẽ trong giao tiếp xã hội ngày một mở rộng của mình, người học sinh không thể đặt mình ra khỏi các chuẩn mực xã hội, trong đó có chuẩn mực PL. Trong thực tế giáo dục, những biểu hiện vi phạm nề nếp học tập, quy chế học tập của học sinh chưa được xử lý nghiêm minh cũng phần nào làm cho học sinh coi thường các quy định của pháp luật, coi thường Luật nói chung, coi thường luật giao thông đường bộ,.
Điều kiện rất quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền là phải đánh giá đầy đủ vai trò giáo dục pháp luật, thấy nó như là một động lực tư tưởng của con người, một giá đỡ tư tưởng cho con người hành động.
Mục tiêu của Giáo dục pháp luật là nâng cao tri thức PL, hiểu biết giá trị của PL, hình thành lòng tin vào pháp luật, xây dựng thói quen xử sự theo yêu cầu của PL. Giáo dục pháp luật chưa phải là phổ biến mọi điều khoản của luật mà làm cho họ thấy rõ PL như là một đại lượng rất cần thiết cho xử thế, nắm bắt những điều khoản cụ thể của luật.
Người ta thường nói đến các mặt của việc Giáo dục pháp luật là phải đồng thời:
- Hình thành sự hiểu biết tối thiểu về giá trị của pháp luật;
- Hình thành lòng tin vào pháp luật;
- Hình thành thói quen hành động theo pháp luật.
- Hình thành thái độ không đồng tình, lên án những hành vi vi phạm pháp luật.
Mục đích của việc Giáo dục pháp luật, trong luận văn mà tác giả nghiên cứu là một vấn đề nhỏ: Giáo dục luật giao thông đường bộ là giáo dục cho học sinh nhận biết Luật giao thông đường bộ quan tâm tới điểm gì? tới các khái niệm nào? Điều chỉnh những vấn đề gì? Trong môi trường sư phạm, hoạt động Giáo dục luật giao thông đường bộ cho học sinh lại càng cần thiết vì các em cần phải ý thức được hành vi của mình thế nào là sống và làm việc theo luật.
Đó là những cơ sở pháp lý quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc nâng cao hiệu quả công tác phổ biến Giáo dục pháp luật, luật và luật giao thông đường bộ một trong những vấn đề nóng không chỉ của Việt Nam. Vì như hiện nay, mỗi năm cuộc chiến về An toàn giao thông đã cướp đi hàng chục nghìn người, hàng nghìn tỷ đồng chảy theo vấn đề tai nạn giao thông. Và hậu quả của tai nạn giao thông là không thể tính nổi, hàng vài chục ngàn gia đình bố mẹ mất con, vợ mất chồng, chồng mất vợ, con mất bố mẹ… Cho nên An toàn giao thông ở các nước đang phát triển như Việt Nam là một việc làm không riêng của một cá nhân nào? Mà cần có sự chung tay của toàn bộ hệ thống chính trị, các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể, cơ quan từ trung ương tới địa phương và tất cả các cá nhân, đơn vị bắt tay vào việc học và nghiên cứu các vấn đề của an toàn giao thông, trong đó luật giao thông là gốc, ngoài ra còn nghiên cứu và tìm hiểu các quy tắc tham gia giao thông an toàn.
1.3.4. Một số đặc điểm tâm lý học sinh trung học phổ thông hiện nay Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Nghiên cứu đặc điểm tâm lý học sinh trung học phổ thông là một nội dung quan trọng để tiến hành các hoạt động giáo dục có hiệu quả A.X. Macarencô đã nói: “Muốn giáo dục toàn diện con người, phải hiểu con người toàn diện”. Tuy nhiên, vấn đề tâm lí thanh niên (ở giai đoạn đang phát triển, diễn biến phức tạp) là một nội dung khó và đặc biệt trong quá trình biến đổi kinh tế – xã hội và môi trường sống hiện nay. Ở góc độ tâm lí học đại cương có thể xác định một số đặc điểm sau đây:
- Về hoạt động học tập và sự phát triển nhận thức:
Đặc điểm hoạt động học tập nổi bật của học sinh Trung học phổ thông là có tính năng động và mức độ tự lực cao hơn học sinh Trung học cơ sở, xu hướng chung là phát triển tư duy lí luận ở mức độ ngày càng cao. Biểu hiện cụ thể của sự phát triển nhận thức là ý thức học tập ngày càng được nâng cao, có xu hướng nghề nghiệp rõ nét. Đặc điểm này có thuận lợi cho công tác giáo dục là tổ chức dạy học phân hóa, tổ chức dạy học theo định hướng nghề nghiệp (phân ban) nhưng cũng có hạn chế là làm cho hoạt động của các em quá đi sâu vào các môn ưa thích mà không hiểu được vai trò quan trọng của học vấn phổ thông – nền tảng quan trọng cho tương lai sống, học tập và lao động sau này của các em. Đối với sự phát triển trí tuệ, tính chủ định phát triển mạnh, tri giác, quan sát có chủ đích hệ thống và toàn diện, mức độ ghi nhớ đã có phân hóa (chọn tài liệu để ghi nhớ chính xác, tài liệu nào ghi nhớ đại cương, khái quát). Giai đoạn thanh niên (THPT) khả năng tư duy lí luận, trừu tượng, sáng tạo đã có bước chuyển biến mới, xu hướng tư duy, nhận thức tích cực trong học tập đã tạo tiền đề tốt để tổ chức các hoạt động giáo dục và dạy học.
Về nhu cầu và động cơ nhận thức, đối tượng có khả năng đáp ứng sự thỏa mãn thì nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm tới đối tượng. Nhu cầu tinh thần và nhu cầu vật chất rất phong phú và đa dạng, sự hình thành nhu cầu diễn ra theo quy luật sau đây: trong học tập muốn hình thành nhu cầu nhận thức ở học sinh cần đưa các em vào hoạt động học tập nhận thức theo một nề nếp và thói quen. Điều này rất có ý nghĩa trong giáo dục pháp luật, chỉ khi hình thành thói quen và nề nếp cho học sinh như chấp hành những quy định cụ thể (có thể ở mức giản đơn) thì mới có thể thực hiện đúng các yêu cầu mới có hiệu quả. Trong giáo dục, ngay từ bước đầu của hoạt động nhờ vào việc thu được kết quả đã làm cho người học có thêm niềm vui hứng thú tích cực. Trên nền thành công bước đầu ấy, các nhiệm vụ học tập được “chuyển vào trong” theo cơ chế tự nguyện bởi chủ thể nhận thức có thể dự báo được ý nghĩa của hoạt động.
- Về đặc điểm tình cảm, thói quen, lối sống Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Tuổi trung học phổ thông đang bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời, có định hình về tình cảm nhất định, các em đang định hình những giá trị mới về bản thân và cuộc sống. Thông qua các quan hệ gia đình, nhà trường (bạn thân và nhóm bạn), phạm vi tiếp xúc với con người và môi trường xã hội ngày càng rộng mở đã làm phong phú thêm đời sống tình cảm của các em. Cùng với quá trình hoàn thiện về thể chất (các chức năng của hệ thống sinh học đã hoàn chỉnh) đã thúc đẩy các quá trình xúc cảm tình cảm của học sinh chuyển biến theo xu hướng mới. Thói quen ở lứa tuổi này đã tương đối ổn định, do vậy việc thay đổi các thói quen cũ không dễ dàng. Tạo lập thói quen mới trong hoạt động học tập và lao động cho học sinh lứa tuổi này cần quan tâm đến việc duy trì tình cảm sẵn có, các kinh nghiệm đã trải nghiệm của bản thân học sinh. Thói quen tốt dễ củng cố và phát triển thành những đặc trưng của lối sống tốt, tích cực. Ngược lại những thói quen xấu nếu không khắc phục ngay sẽ dẫn đến thói hư hỏng, suy thoái nhân cách nhanh chóng. Ví dụ ở tuổi Trung học phổ thông, thói quen ham chơi đua đòi, nhu cầu tiêu dùng và hưởng thụ vật chất quá sớm sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật. Lối sống tích cực ở lứa tuổi Trung học phổ thông sẽ tạo nền tảng đúng đắn cho hoạt động sau này của họ, lối sống lành mạnh đem lại tình cảm, tâm hồn trong sáng và niềm vui cho lứa tuổi. Giáo dục pháp luật cũng như các nội dung giáo dục khác cần khai thác những thế mạnh về tình cảm, thói quen, lối sống tích cực của lứa tuổi. Nội dung và phương thức giáo dục pháp luật cần hình thành tình cảm tự nhiên của học sinh đối với các vấn đề pháp luật, bước đầu tạo lập hành vi và thói quen tốt từ việc chấp hành các yêu cầu rất thiết thực đối với đời sống của các em.
- Về môi trường giao tiếp
Cùng với quá trình sống của mình, học sinh Trung học phổ thông có phạm vi giao tiếp ngày càng rộng mở, cụ thể: nhóm bạn ngày càng có sự lựa chọn cao về các tiêu chí, sự khẳng định về uy tín trong nhóm cũng như nhu cầu được nhiều người quý mến ngày càng tăng lên. Phạm vi các quan hệ ngày càng rộng mở, nội dung giao tiếp ngày càng phức tạp, cùng với các chủ đề học tập, các nội dung về xã hội, chính trị, văn hóa, con người, giới tính, tình bạn tình yêu đã trở thành chủ đề chính trong giao tiếp của học sinh Trung học phổ thông. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông có mặt ở mọi nơi đã làm cho thông tin đến với lứa tuổi này dồn dập và thiếu định hướng. Yếu tố này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục pháp luật, mặc khác cũng gây những khó khăn cho những người làm công tác giáo dục, đặc biệt là cha mẹ học sinh. Môi trường giao tiếp qua mạng Internet đang trở thành một vấn đề rất khó quản lí trong giáo dục, bởi nó có những đặc điểm rất khác so với môi trường giao tiếp trực tiếp giữa người với người, do vậy cách tiếp cận môi trường giáo dục cũng đòi hỏi phải có cách tiếp cận riêng. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
- Về đặc điểm nhân cách
Nổi bật là sự phát triển tự ý thức đang dần chiếm xu hướng chính trong các thuộc tính nhân cách. Nhu cầu tìm hiểu những đặc điểm tâm lí của bản thân về mục đích sống, ước mơ và hoài bão về bản thân đã giúp các em có nhu cầu khám phá bản thân, cũng như tìm hiểu những người xung quanh. Tuy nhiên, chất lượng của sự đánh giá bản thân học sinh còn nặng cảm tính, hoặc quá cường điệu hoặc thiên lệch giữa các giá trị chung và riêng cũng như thiên lệch khi đánh giá cái tốt hoặc cái xấu. Nhờ vào quá trình học tập (tích tụ kiến thức và kĩ năng) thế giới quan của học sinh Trung học phổ thông đã phát triển và chuyển biến về chất. Biểu hiện là khi tiếp cận các vấn đề của học tập hay cuộc sống, các em đã lí giải bằng những nguyên tắc chung, dần hình thành cách tiếp cận giải thích vấn đề bằng các quy luật khách quan của nó thông qua hệ thống tri thức khoa học mà các em được học. Đối với các hoạt động giáo dục, cần quan tâm đến mức độ trưởng thành của nhân cách để lựa chọn các giải pháp thích hợp dựa trên nguyên tắc tôn trọng, yêu cầu cao đối với học sinh.
- Một số biểu hiện tâm lí của học sinh yếu kém đạo đức, dễ vi phạm pháp luật.
Một trong những mục tiêu cao cả của giáo dục là dự báo và ngăn chặn các hành vi, biểu hiện có xu hướng thiếu tích cực của con người. Đối với quá trình giáo dục trẻ em, việc này rất quan trọng, mặc dù giáo dục pháp luật không đặt trọng tâm vào việc xử lí vi phạm mà chủ yếu là ngăn chặn và tác động vào nhận thức, hình thành thói quen tích cực. Tuy nhiên, trong công tác giáo dục pháp luật cần hiểu rõ các vấn đề liên quan như tâm lí, ý thức, nguyện vọng, thói quen, điều kiện sống của đối tượng để giáo dục có hiệu quả.
Một số biểu hiện tâm lí dễ nhận biết của học sinh yếu kém đạo đức: hành vi của trẻ khó giáo dục thường do các nhu cầu ấn tượng, nhu cầu tự khẳng định (một cách bất bình thường quyết định). Tâm lí phản xã hội, chống đối mọi điều bình thường trở thành yếu tố thống trị mọi hành vi. Tính cách không ổn định suy nghĩ và hành vi thiếu xu hướng xã hội lành mạnh. Thái độ bất chấp mọi ảnh hưởng giáo dục, coi thường, phủ nhận các thầy cô giáo, các nhà giáo dục, luôn xung đột với tập thể các nhà giáo dục. Những nét tính cách xuất hiện gắn liền với việc phá vỡ những nguyên tắc cơ bản của sự phát triển nhân cách. [Dẫn theo Nguyễn Sinh Huy – Giáo dục lại, Tài liệu giảng dạy cao học, 1996].
Đối với lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông hiện nay, có những diễn biến hết sức phức tạp về tâm lí, sinh lí, cũng như các mặt xã hội của nhân cách, đòi hỏi các nhà giáo dục phải quan tâm. Những diễn biến phức tạp ấy trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những luồng văn hóa đa dạng, lối sống phong phú của các thành phần xã hội cũng như những biến đối lớn về chương trình, cách tổ chức giáo dục ở phổ thông cũng tạo ra những thuận lợi và nhiều thách thức đối với chúng ta.
Những đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh hiện nay cùng với những biểu hiện tâm lí của những học sinh yếu kém đạo đức (tuy rất khái quát, sơ bộ) nhưng là căn cứ lí luận quan trọng để tổ chức các hoạt động giáo dục.
1.4. Cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục luật giao thông đường bộ ở trường trung học phổ thông
Trong khoa học giáo dục, thì việc giáo dục một nội dung kiến thức với một đối tượng học sinh cần phải dựa theo nhiều tiêu chí. Với việc giáo dục luật giao thông đường bộ cho học sinh trong nhà trường phải dựa trên các nội dung:
Tổ chức phối hợp các lực lượng là việc làm có tính hệ thống của các cơ quan công quyền trong bộ máy nhà nước chỉ đạo bằng các văn bản, các quy định mang tính chung, tính đặc thù. còn mang tính kêu gọi cộng đồng, kêu gọi các tổ chức chính trị các hội, nghề nghiệp bằng các hệ thống văn bản mang tính rõ ràng, không chung chung, không hình thức, có sự phân chia rõ ràng về công việc mang tính tổng thể và riêng rẽ. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Quá trình hình thành ý thức pháp luật nói chung, ý thức tiếp nhận và thực hiện luật giao thông đường bộ nói riêng là quá trình ảnh hưởng tác động thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan. Trong đó, các điều kiện khách quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, còn các nhân tố chủ quan đóng vai trò là những nhân tố tác động. Nhân tố ảnh hưởng có thể là tự phát theo chiều này hoặc chiều khác và mức độ “đậm nhạt” có thể khác nhau.
Giáo dục luật giao thông đường bộ là một lĩnh vực cụ thể, là “cái riêng”, “cái đặc thù” trong giáo dục tổng thể giáo dục pháp luật nói chung, nó có quan hệ giáo dục chung. Giáo dục luật giao thông đường bộ luôn đi kèm với các nội dung như: Nhà xây dựng luật có phù hợp với thời đại với cơ chế chung hay không; Việc nắm bắt luật có những ưu nhược điểm gì; Các điều kiện để thực hiện luật có phù hợp chưa; luật và cuộc sống hàng ngày như thế nào; hậu quả của việc vi phạm luật đến đời sống thường ngày.
Như vậy, qua cách lý giải về những luận điểm khoa học như trên, có thể đưa ra quan niệm tương đối đầy đủ về tổ chức phối hợp các lực lượng trong Giáo dục luật giao thông đường bộ như sau: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục luật giao thông đường bộ là một hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức tổ chức, hình thức giáo dục, phương pháp chung, phương pháp giáo dục đặc thù theo nội dung khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở người học tri thức pháp lý, việc thực hiện các tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với luật hiện hành, dần dần xây dựng lối sống văn hóa, văn minh theo pháp luật và các thiết chế văn hóa trong cộng đồng.
Kết luận chương 1 Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
Tóm lại, từ nghiên cứu các vấn đề lí luận chung, đặc biệt là nghiên cứu giáo dục pháp luật, nghiên cứu và tìm hiểu luật trong hệ thống các phương pháp tiếp cận hiện đại, chúng tôi có nhận xét như sau:
Pháp luật là một hiện tượng xã hội nhưng rất gần gũi và cần thiết đối với đời sống của con người. Giáo dục pháp luật, luât cho mọi công dân là một nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội, trong đó giáo dục nhà trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Giáo dục nhà trường thông qua nội dung chương trình các môn học và các hoạt động giáo dục có ưu thế đặc biệt trong việc hình thành kiến thức pháp luật, hành vi pháp luật đúng đắn cho học sinh.
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức Giáo dục pháp luật, Giáo dục luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường Trung học phổ thông để xác định mục tiêu, bản chất của nhiệm vụ giáo dục pháp luật, của luật trong nhà trường là hình thành nhận thức, hiểu biết về pháp luật, coi trọng mục đích cảm xúc, hình thành động cơ và hành vi tích cực theo pháp luật, hành vi của nhân cách là kết quả cuối cùng của Giáo dục pháp luật, Giáo dục luật giao thông đường bộ, cả 3 mục đích trên tác động qua lại hữu cơ tạo thành một hệ thống.
Khi tiến hành Giáo dục pháp luật, Giáo dục luật giao thông đường bộ phải hướng vào các mục tiêu đồng bộ, không thể tác động thiếu hệ thống và cần tuân thủ theo nguyên tắc giáo dục: trang bị kiến thức, hình thành tình cảm, giáo dục thói quen xử sự hợp pháp.
Với vấn đề cụ thể là “Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục luật giao thông đường bộ cho học sinh ở trường Trung học phổ thông” cần quan tâm tới:
Các nhà làm luật, các chuyên gia về luật xem xét, đánh giá cụ thể các văn bản luật, cụ thể là luật giao thông đường bộ đã phù hợp với thực tế xã hội hay chưa. Khi tiến hành giáo dục pháp luật, cụ thể là luật giao thông đường bộ cần quan tâm tới những yếu tố nào?
Các văn bản, các thiết chế đã đưa ra việc tổ chức giáo dục như thế nào cho phù hợp nhất hay chưa? Việc tổ chức lực lượng giáo dục luật để luật đi vào cuộc sống là vấn đề vào cuộc của toàn xã hội.
Việc Giáo dục pháp luật nói chung và Giáo dục luật giao thông đường bộ phải dựa trên nền tảng học vấn phổ thông để xác định cách diễn đạt, ngôn ngữ, mức độ và liều lượng thông tin, cách thức tiến hành, các thức thực hiện sao cho hiệu quả nhất.
Khả năng nhận biết của đối tượng học sinh về các vấn đề pháp luật, luật phụ thuộc vào các yếu tố: mức độ hiểu các văn bản; xử lí các tình huống (có tính chất ví dụ để minh họa); phương pháp giáo dục nhà trường; các phương tiện thông tin và truyền thông (báo, truyền hình, Internet…); đặc biệt là cách xử thế của xã hội với hành vi vi phạm pháp luật, luật (cách hành xử của trật tự viên, bảo vệ, công an, các cán bộ quản lí…).
Với Luật giao thông đường bộ, nó là một luật trong vài trăm bộ luật, nhưng có sức ảnh hưởng của nó tới đời sống xã hội rất cao. Nó ảnh hưởng tới tâm lý, tình cảm, kinh tế, trật tự xã hôi, đến việc hình thành hành vi thói quen, đến sự pháp triển kinh tế tổng thể. Ai cũng hiểu không thực hiện Luật Giao thông đường bộ là sai, ai cũng biết không đội mũ bảo hiểm là sai nhưng đôi khi vì thói quen, vì việc xử lý chưa triệt để các hành vi vi phạm của các cơ quan chức năng dẫn đến nhờn luật. Cho lên trong việc đưa mọi người tới việc thực hiện đúng các văn bản luật cần sự vào cuộc của tất cả các ngành, các cấp, từ trung ương tới địa phương dưới sự chỉ đạo chung của Đảng, Nhà nước, Chính phủ xuống tới cấp tỉnh/TP trực thuộc TW; huyện/TX/TP trực thuộc tỉnh, Quận; xã/ phường/thị trấn; thôn, xóm/khu dân dư, tổ dân phố.
Nói tóm lại: Muốn giáo dục một nội dung diễn ra thường xuyên, liên tục như luật giao thông đường bộ đi vào cuộc sông, cần phải có sự vào cuộc của tất cả bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, của ngành giáo dục và đào tạo, của toàn xã hội. Cho lên việc “Tổ chức các lực lượng trong việc giáo dục luật giao thông đường bộ cho học sinh Trung học phổ thông” là việc làm không của riêng ai. Luận văn: Tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
