Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật là công cụ để Nhà nước giải quyết các vấn đề của thực tiễn xã hội, của thực tiễn quản lý để duy trì trật tự công cộng, thúc đẩy các quá trình phát triển. Pháp luật cũng là công cụ để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình và để kiểm soát các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước. Pháp luật chính là một trong những công cụ tạo dựng con đường đi tới tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc. Muốn phát triển bền vững, các quốc gia không thể thiếu hệ thống pháp luật có chất lượng tốt, được các cơ quan, tổ chức, cá nhân thượng tôn. Hệ thống ấy phải được cấu thành bởi các Văn bản quy phạm pháp luật với những quy định phù hợp với đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân.

Quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế là quan điểm xuyên suốt thể hiện trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành nguyên tắc hiến định. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta đã đưa ra quan điểm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, Đảng ta cho rằng phải: “…Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương …” [22]. Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), tại Điều 12 quy định: ”Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật” [30]. Hiến pháp năm 2013, tại khoản 1 Điều 2 quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; khoản 3 Điều 4 quy định “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”; khoản 1 Điều 8 quy định “1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”; Điều 16 quy định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [34]. Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền chính là Nhà nước ban hành pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, minh bạch, khả thi; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm thi hành nghiêm minh pháp luật. Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của Hiến pháp năm 2013 về Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đó có nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, hợp lòng dân, là cơ sở pháp lý hữu hiệu để phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đồng thời, pháp luật đó phải được thực hiện nghiêm minh, thống nhất trên thực tế, phải được mọi cơ quan, tổ chức Đảng đến các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, phải được mọi cá nhân, từ người lãnh đạo, cán bộ, công chức đến người dân chấp hành vô điều kiện, không có ngoại lệ. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

VBQPPL có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ quy định các giá trị mà người quản lý coi đó là giá trị cơ bản của xã hội, không chỉ đưa ra các biện pháp khuyến khích thực thi pháp luật, đem lại ổn định trật tự xã hội mà còn đảm bảo cho xã hội phát triển. Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với hội nhập quốc tế. “Nếu Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật được ví như cỗ máy cái của hệ thống pháp luật thì các Văn bản quy phạm pháp luật là những sản phẩm trí tuệ của cỗ máy đó, là những chi tiết quan trọng tạo nên tòa nhà hệ thống pháp luật”.

Pháp chế là sự đòi hỏi phải tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện hành một cách chính xác, thường xuyên, nghiêm minh và thống nhất bởi nhà nước và xã hội, nhằm xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, bảo đảm cho hoạt động của toàn xã hội thống nhất, đồng bộ, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết lập trật tự, kỷ cương, bảo đảm tính khả thi của văn bản nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả Văn bản quy phạm pháp luật trong thực tiễn, từng bước hoàn thiện hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh, bảo đảm sự đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Ở tỉnh Bắc Giang, hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật đã được UBND tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành nhiều Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra Văn bản quy phạm pháp luật; Công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về công tác xây dựng, kiểm tra văn bản đã được đa số các cơ quan, ban, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc; Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện tương đối nghiêm minh, thống nhất ở các giai đoạn từ xây dựng chương trình ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo, lấy ý kiến đối với dự thảo, thẩm định, xem xét thông qua; Vai trò của các cơ quan trong quá trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật đã dần được khẳng định; Công tác kiểm tra, xử lý Văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền đã được Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo và được các cơ quan chuyên môn triển khai thực hiện tích cực. Do đó, công tác xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm qua đã đi vào nền nếp và ngày càng được nâng cao về chất lượng. Các Văn bản quy phạm pháp luật nhìn chung được ban hành bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật góp phần quan trọng vào việc đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên, một số quy định của tỉnh Bắc Giang về hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật còn có những điểm bất cập, bất hợp lý dẫn đến quá trình áp dụng còn lúng túng, chưa thống nhất; một số công đoạn trong quy trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật chưa được thực hiện đúng quy định; các cơ quan chuyên môn chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm trong việc đề xuất xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật trong Chương trình hàng năm; chất lượng soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật còn thấp; việc lấy ý kiến đối với dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật còn mang tính hình thức, chưa hiệu quả; công tác thẩm định dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật còn gặp nhiều khó khăn; đội ngũ cán bộ làm công tác văn bản còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; nhận thức của cán bộ, công chức một số sở, ngành được giao chủ trì soạn thảo văn bản nói chung và xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật nói riêng còn hạn chế…

Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tăng cường pháp chế trong hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của cả nước nói chung, ở tỉnh Bắc Giang nói riêng là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết nhằm bảo đảm trật tự, kỷ cương, thống nhất trong hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: ”Pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang” làm luận văn tốt nghiệp lớp Cao học chuyên ngành lý luận lịch sử Nhà nước và pháp luật khóa 18 Đại học Quốc gia Hà Nội của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những năm gần đây trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về pháp chế trong công tác xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật hoặc vấn đề có liên quan, điển hình là:

  • Trương Thị Phương Lan (2007), “Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007.
  • Hoàng Quốc Hào (2008), Pháp chế Xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An – Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Nguyễn Thị Thu Chung (2009), Cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ – Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Trần Thị Hồng Thanh (2010), Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình – Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Hoàng Văn Thực (2011), Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Thực trạng và giải pháp
  • Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Nguyễn Văn Cường (2012), Pháp chế Xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương – Luận văn Thạc sỹ, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
  • Bài viết của PGS.TS Vũ Thư: “Tính hợp pháp và hợp lý của văn bản pháp luật và các biện pháp xử lý các khiếm khuyết của nó”.
  • GS.TS. Lê Minh Tâm, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2003.
  • TS. Nguyễn Minh Đoan, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Ở phạm vi tỉnh Bắc Giang, đến nay, chưa có công trình nghiên cứu đề cập một cách có hệ thống và cụ thể về pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang. Do đó, việc tác giả chọn đề tài này để thực hiện trong phạm vi tỉnh Bắc Giang là rất cần thiết.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tổng hợp một số vấn đề là cơ sở lý luận về hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh và pháp chế trong hoạt động này. Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành, trong đó tập trung chủ yếu đánh giá các quy định trong các Văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Bắc Giang quy định về hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động này (trong đó nêu khái quát những kết quả đạt được, tập trung phân tích, đánh giá những bất cập, bất hợp lý, chỉ rõ nguyên nhân và nêu vấn đề cần giải quyết). Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang bảo đảm hoạt động này được thực hiện đúng quy định của pháp luật, phát huy vai trò, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước trong thời kỳ mới.

3.2. Nhiệm vụ

Nghiên cứu, phân tích làm rõ khái niệm, vai trò, nguyên tắc, nội dung của pháp chế trong xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Đánh giá về pháp luật hiện hành, trong đó tập trung giới thiệu và đánh giá văn bản của tỉnh Bắc Giang quy định về quy trình xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh và thực trạng pháp chế trong xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay. Trong đó phần lớn nội dung tập trung phân tích, đánh giá những bất cập, bất hợp lý về pháp chế trong xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, xác định nguyên nhân của từng vấn đề và đưa ra giải pháp tổng quát.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác văn bản nói chung và các văn bản của tỉnh Bắc Giang về công tác xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nói riêng và tăng cường pháp chế trong xây dựng, ban hành VBQPPL của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Phạm vi của Luận văn tập trung nghiên cứu về việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang từ năm 2008 đến năm 2014.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật và pháp chế. Các quan điểm của Đảng về xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật.

5.2. Các phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu để làm Luận văn là: Duy vật biện chứng; Duy vật lịch sử; Thống kê; Phân tích; Tổng hợp; So sánh; Khái quát hóa. Trong đó phương pháp phân tích, tổng hợp là phương pháp chủ đạo.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

  • Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần xây dựng cơ sở khoa học của hoạt động ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền ở Việt Nam nói chung và hoạt động ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nói riêng.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã đóng góp các quan điểm, giải pháp trong hoạt động ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang hiện nay.
  • Ý nghĩa học thuật: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực thi nhiệm vụ của mình; đồng thời có thể là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy ở địa phương.

7. Tính mới và những đóng góp của đề tài

Lần đầu tiên đánh giá về pháp chế trong hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Luận văn góp phần xây dựng cơ sở khoa học của hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền ở Việt Nam nói chung và hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang nói riêng.

Luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang hiện nay. Đồng thời Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ sở đào tạo luật trong việc thực thi nhiệm vụ của mình.

8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 mục.

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh

1.1.1.1. Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh

Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội, ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định, luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật, và ngược lại pháp luật chỉ hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả bằng con đường nhà nước. Pháp luật luôn là công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước quản lý xã hội một cách phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội. Pháp luật do Nhà nước ban hành được tồn tại dưới những hình thức nhất định, trong đó văn bản quy phạm pháp luật được coi là hình thức pháp luật cơ bản và tiến bộ nhất.

Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, văn bản quy phạm pháp luật nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo sự ổn định và phát triển năng động của xã hội. Điều đó được quy định tại Hiến pháp 1992 của nước ta: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa…” [29, Điều 12].

Hiện nay, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn triển khai hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn những điểm chưa được hiểu thống nhất, còn là đề tài tranh luận khá sôi nổi.

Trước hết cần xem xét định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật xuất phát từ quy định của Luật năm 2008:

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội [33, Điều 90].

Để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành và văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan chính quyền địa phương ban hành, khoản 1 Điều 1 Luật năm 2004 quy định khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân như sau: Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa [32, Điều 1].

Căn cứ vào tính chất pháp lý, văn bản quản lý nhà nước có thể được chia thành ba loại: Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thường.

Ba loại văn bản trên có sự khác nhau cơ bản, đó là: văn bản quy phạm pháp luật đề ra các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống và việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó; văn bản cá biệt được ban hành dựa trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những việc cụ thể, đối với đối tượng cụ thể, trong lĩnh vực cụ thể, như: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định khen thưởng, kỷ luật, quyết định nâng bậc lương, quyết định bổ nhiệm chức vụ… Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thông tin, điều hành nhằm thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hoặc dùng để giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc trong các cơ quan, tổ chức, như: kế hoạch, báo cáo, chương trình, công văn… Các loại văn bản trên có mối quan hệ ràng buộc với nhau. Trong đó văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò quan trọng, là cơ sở cho việc ban hành các văn bản cá biệt hoặc các loại văn bản, giấy tờ hành chính khác. Văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền ban hành, hình thức, nội dung của văn bản hành chính cá biệt hoặc các loại văn bản, giấy tờ hành chính khác.

Việc phân biệt ba loại văn bản trên có ý nghĩa trong công tác ban hành cũng như kiểm tra, xử lý văn bản. Vì hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo cũng như công chức, viên chức làm công tác văn bản có nhận thức chưa đúng và đầy đủ về văn bản quy phạm pháp luật, không phân biệt được văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác, dẫn đến ban hành và quản lý văn bản sai.

Từ phân tích trên đây, Luận văn định nghĩa Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh như sau: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức Luật quy định, trong đó có quy phạm pháp luật, có hiệu lực bắt buộc chung trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Từ các nội dung trên cho thấy Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có các dấu hiệu đặc trưng sau:

Thứ nhất, Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Như vậy, không phải cơ quan nhà nước, cá nhân nào cũng có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là cơ sở để nhận diện văn bản quy phạm pháp luật và phân biệt nó với văn bản được ban hành bởi những chủ thể không có thẩm quyền. Những cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Thứ hai, Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật được coi là đặc tính nổi trội của văn bản quy phạm pháp luật, là dấu hiệu then chốt, mang tính quyết định để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính thông dụng.

Vì văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy phạm pháp luật nên văn bản quy phạm pháp luật luôn có tính chất bắt buộc chung. Tính bắt buộc chung của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc đối với mọi chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh mà văn bản quy phạm pháp luật quy định. Văn bản quy phạm pháp luật không đặt ra quy định cho đối tượng cụ thể, xác định mà nhằm tới các đối tượng khái quát, trừu tượng (mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng) như công dân, tổ chức xã hội, phụ nữ, người có công với cách mạng… Đây là điểm khác biệt so với văn bản áp dụng pháp luật, vì đối tượng thi hành của văn bản này luôn xác định, cụ thể. Cần lưu ý rằng, đối tượng thi hành chung khác với thuộc tính “nhiều đối tượng”. Có những văn bản áp dụng cho nhiều đối tượng trong cùng khoảng thời gian nhưng nội dung tác động đến từng đối tượng riêng lẻ chỉ một lần duy nhất thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Cũng vì tính bắt buộc chung của văn bản quy phạm pháp luật mà văn bản quy phạm pháp luật luôn được thực hiện nhiều lần trên thực tế. Dấu hiệu áp dụng nhiều lần được hiểu, quy phạm pháp luật luôn được các chủ thể áp dụng pháp luật lựa chọn làm cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện hoặc giải quyết những công việc cụ thể xảy ra trên thực tế, nên được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần. Còn văn bản áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện duy nhất một lần. Có nghĩa văn bản quy phạm pháp luật có khả năng tác động trong khoảng thời gian lâu dài.

Thứ ba, Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng hình thức pháp luật quy định

Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng hình thức có nghĩa là đúng tên loại văn bản và đúng thể thức, kỹ thuật trình bày. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản Văn bản quy phạm pháp luậtL phải có đủ và trình bày đúng những yếu tố như: quốc hiệu; tên cơ quan ban hành; số, kí hiệu văn bản; địa danh, thời gian ban hành; tên văn bản; trích yếu nội dung; chữ kí; nơi nhận. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Như vậy, nếu văn bản được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền nhưng sử dụng tên loại văn bản không đúng quy định của pháp luật cũng không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện ban hành công văn, hướng dẫn có chứa quy phạm pháp luật…

Thứ tư, Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh được ban hành theo thủ tục, trình tự pháp luật quy định

Xuất phát từ vai trò của văn bản quy phạm pháp luật, đối với hoạt động quản lý nhà nước, từ yêu cầu bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 đã quy định một quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật khá chặt chẽ. Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành với trình tự từ khâu lập chương trình, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo, cho đến thông qua, ký, công bố công khai, tất cả đều phải tuân thủ đúng quy định của Luật. Mặc dù văn bản được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền, nội dung hoàn toàn đúng quy định pháp luật nhưng trong quá trình ban hành không tuân thủ đúng quy định về thủ tục, trình tự ban hành đều làm ảnh hưởng đến chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật. Vì thế, những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không đúng thủ tục đều trở thành đối tượng bị xử lý. Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài nhưng không qua thủ tục thẩm định của Sở Tư pháp, khi thực hiện mới phát hiện quyết định này có nội dung trái với Luật Đầu tư năm 2005, Ủy ban nhân dân phải ban hành văn bản để bãi bỏ quyết định đó.

Thứ năm, Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh được nhà nước đảm bảo thực hiện Thông thường việc bảo đảm này được thực hiện bằng một loạt các biện pháp khác nhau như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục bằng công tác thuyết phục, bằng việc tạo điều kiện về cơ chế tổ chức thực hiện và cơ sở tài chính nhất định trong trường hợp cần thiết, áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thực hiện và chế tài xử lý nếu có hành vi vi phạm.

1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Như phần trên đã phân tích thế nào là một Văn bản quy phạm pháp luật và theo nghĩa đó thì hầu hết các cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và các cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân…) đều ban hành Văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức này hay hình thức khác. Nhưng liệu tất cả các cơ quan nhà nước đều có quyền lập pháp hay không?. Nếu hiểu lập pháp theo nghĩa hẹp thì hoạt động này chỉ thuộc về Quốc hội [17, tr. 273]. Nhưng lập pháp, hiểu theo nghĩa lập ra pháp luật, tức đưa ra những quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc chung đối với tất cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội và được Nhà nước bảo đảm thi hành thì hoạt động này được thực thi bởi rất nhiều cơ quan nhà nước khác nhau từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, lập pháp theo nghĩa này dễ gây sự hiểu lầm với khái niệm lập pháp theo nghĩa hẹp, nhưng có một điều chắc chắn rằng chức năng xây dựng pháp luật được thực hiện bởi nhiều cơ quan nhà nước khác nhau. Sự khác biệt giữa văn bản pháp luật và Văn bản quy phạm pháp luật ở chỗ: cụm từ “văn bản pháp luật” có hai cách hiểu, thứ nhất, chỉ tính chất pháp lý của văn bản đó, tức là văn bản được ban hành trên cơ sở pháp luật, có giá trị thi hành và được pháp luật bảo đảm thi hành. Theo nghĩa này thì văn bản pháp luật rất rộng, bao gồm văn bản do cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp và chính quyền địa phương) ban hành; Thứ hai, chỉ hình thức thể hiện ra bên ngoài của pháp luật, đó là văn bản pháp luật thành văn để loại trừ văn bản pháp luật bất thành văn (tập quán pháp) và loại trừ văn bản không chứa đựng pháp luật. Khái niệm pháp luật ở Việt Nam và các nước trên thế giới được hiểu thống nhất đó là “hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện”.

Trong hoạt động quản lý, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều dùng pháp luật để tác động lên các quan hệ xã hội, những tác động trực tiếp theo một mục đích định trước của nhà làm luật lên các quan hệ xã hội gọi là điều chỉnh xã hội. “Tác động pháp luật lên các quan hệ xã hội có thể trực tiếp hoặc gián tiếp” [63], có thể tốt hoặc ngược lại. Để thực hiện được tác động này phải thông qua các giai đoạn và phương tiện pháp lý đặc thù gọi là cơ chế điều chỉnh pháp luật. Cơ chế điều chỉnh pháp luật được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật; giai đoạn thứ hai là áp dụng pháp luật; giai đoạn thứ ba là xuất hiện các quan hệ pháp luật; giai đoạn thứ tư là các chủ thể bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trên thực tế. Cơ chế điều chỉnh pháp luật hết sức quan trọng nhằm đạt tới một trật tự xã hội mà trong đó các hành vi của các chủ thể quan hệ pháp luật phù hợp với pháp luật.

Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là giai đoạn đầu tiên của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Sản phẩm của giai đoạn này là tạo ra các quy phạm pháp luật, yếu tố khởi đầu cho các giai đoạn còn lại. Mục đích của cơ chế điều chỉnh pháp luật, các căn cứ để áp dụng pháp luật cũng như các điều kiện xuất hiện quan hệ pháp luật đều được đặt ra trong giai đoạn xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Cơ chế điều chỉnh pháp luật muốn vận hành theo đúng quỹ đạo, đạt được mục đích điều chỉnh còn phụ thuộc nhiều yếu tố của từng giai đoạn, trong đó giai đoạn xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật tốt chưa đủ tạo ra cơ chế điều chỉnh pháp luật tốt. Nhưng ngược lại, nếu giai đoạn xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật không tốt dẫn đến toàn bộ cơ chế điều chỉnh pháp luật kém hiệu quả hoặc vô tác dụng; nếu cuộc sống không được đưa vào trong quy phạm pháp luật thì khó lòng đưa pháp luật vào cuộc sống.

Xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật là giai đoạn khởi đầu cho cơ chế điều chỉnh pháp luật, làm tiền đề cho các giai đoạn sau. Nhưng các giai đoạn sau cũng tác động ngược trở lại đối với giai đoạn xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Các thông tin từ việc áp dụng pháp luật và hiệu quả pháp luật sẽ tạo điều kiện để nhà làm luật điều chỉnh nội dung các quy phạm pháp luật phù hợp với cuộc sống, loại bỏ những quy phạm pháp luật không được cuộc sống chấp nhận, bổ sung những quy phạm pháp luật mà cuộc sống đang đòi hỏi, đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật.

Việc xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh cũng chính là giai đoạn đầu tiên của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong phạm vi một địa phương. Khi một Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng và ban hành sẽ tạo điều kiện và là tiền đề cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức và công dân áp dụng, thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội đã đề ra. Do vậy, việc xây dựng và ban hành một Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh đòi hỏi phải đầu tư trí tuệ, khả năng và trình độ rất cao, có như vậy văn bản mới có chất lượng và có tính khả thi trong thực tiễn. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có những đặc điểm sau đây:

Một là: Xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật tỉnh là một hoạt động mang tính khoa học và sáng tạo. Tính khoa học thể hiện ở quy trình xây dựng một Văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ các bước về trình tự, thủ tục, thiết kế một văn bản theo đúng bố cục, nội dung, hình thức, ngôn ngữ để khi một Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bảo đảm tính pháp lý cao. Sự sáng tạo của hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật là dựa trên ý chí, sáng kiến của nhà lập pháp. Nếu như hoạt động hành pháp, tư pháp chủ yếu áp dụng các quy phạm pháp luật có sẵn vào các tình huống cụ thể thì hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật là khái quát các tình huống, các hành vi, các quan hệ xã hội tìm ra mẫu số chung giữa chúng để đưa ra những quy tắc xử sự chung. Sự sáng tạo càng cao khi nhà lập pháp đưa ra những mô hình mới hoàn toàn chưa có trên thực tế.

Hai là: Xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật có mối quan hệ trực tiếp với chính trị và thể hiện tính Nhân dân, tính dân chủ sâu sắc.

Hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu do hai nhóm chủ thể thực hiện, đó là cơ quan đại diện và cơ quan hành pháp. Hai nhóm chủ thể này do Nhân dân trực tiếp bầu ra hoặc gián tiếp bầu ra theo nhiệm kỳ. Các chủ thể này được Nhân dân lựa chọn ra phải vì trình độ chuyên môn hay tính chuyên nghiệp của họ mà vì khả năng đại diện, thể hiện ý chí của Nhân dân, chuyển tải ý chí của Nhân dân vào nội dung các Văn bản quy phạm pháp luật. Mục tiêu của Nhà nước ta, trong đó có Ủy ban nhân dân tỉnh khi ban hành Văn bản quy phạm pháp luật là vì Nhân dân, phục vụ Nhân dân, bảo đảm quyền lợi cho Nhân dân. Đây là một thuộc tính của hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật của Nhà nước ta nói chung cũng như của Ủy ban nhân dân tỉnh nói riêng và thể hiện được bản chất của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Ba là: Xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh phản ánh chặt chẽ đời sống chính trị và xã hội ở địa phương, những vấn đề thực tiễn đặt ra. Như vậy, Văn bản quy phạm pháp luật ban hành không phải là do chúng ta muốn mà vì yêu cầu cuộc sống cần. Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng trong xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh. Muốn ban hành một Văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan soạn thảo phải nhận biết vấn đề, đánh giá thực trạng, phân tích và đề ra chính sách để xử lý vấn đề; thông qua chủ trương, chương trình xây dựng nội dung vấn đề và tổ chức việc soạn thảo văn bản. Kỹ thuật soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi trình độ chuyên môn rất cao. Tuy nhiên, thực tế hiện nay còn có cơ quan soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật còn mang tính chất truyền thống, kinh nghiệm, năng lực và trình độ chuyên môn còn hạn chế. Nên văn bản ban hành còn phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần, hiệu quả không cao, thậm trí có văn bản không áp dụng được trong cuộc sống. Do vậy, quy trình soạn thảo văn bản phải hết sức chặt chẽ, cụ thể, tác động rất lớn đến chất lượng của văn bản khi ban hành. Trên cơ sở dự thảo văn bản của cơ quan soạn thảo trình, Ủy ban nhân dân tỉnh thảo luận, phân tích về cơ chế, chính sách, yêu cầu quản lý kinh tế, xã hội ở địa phương để quyết định việc ban hành hay không ban hành đối với từng Văn bản quy phạm pháp luật. Đây là công đoạn rất nghiêm ngặt, đòi hỏi đầu tư trí tuệ của tập thể thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh để tạo ra một sản phẩm mới, Văn bản quy phạm pháp luật đi vào cuộc sống.

Bốn là, hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật có tác động lâu dài, nhiều chiều lên các quan hệ xã hội

Hoạt động ban hành văn bản nhằm tạo ra sản phẩm là các quy phạm pháp luật. Chính ở điểm này nên hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật có tác động lâu dài; một phán quyết của Tòa án, một quyết định cá biệt của cơ quan quản lý nhà nước chỉ có tác động đến một hoặc một nhóm đối tượng trong một trường hợp cụ thể. Còn quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần, đối với nhiều đối tượng khác nhau. Nên vụ án oan sai, tuy có gây bất bình cho nhân dân nhưng không làm thiệt hại các lợi ích kinh tế sâu rộng, lâu dài như các Văn bản quy phạm pháp luật bất hợp lý. Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng hành vi của các chủ thể phát triển theo một định hướng nhất định. Song song với việc các chủ thể điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tác động của một quy phạm pháp luật thì các chủ thể cũng điều chỉnh các hành vi liên quan của mình, dẫn đến các quan hệ xã hội liên quan chuyển sang một trật tự mới. Nếu nhà làm luật không dự tính được điều này thì một quy phạm pháp luật sẽ có hiệu quả trong môi trường cũ tức là môi trường được giả định là không thay đổi nhưng sẽ mất tác dụng trong môi trường mới.

Năm là, xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là hoạt động có tính kỹ thuật và độ phức tạp cao. Hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa ra các quy tắc xử sự chung cho các chủ thể của quan hệ pháp luật, do vậy phải tính toán vấn đề một cách toàn diện, đồng bộ, dựa trên các cơ sở của khoa học pháp lý. Cơ quan, người được phân công chủ trì soạn thảo phải là những chuyên gia, những người am hiểu về lĩnh vực chuyên ngành, nhưng phải có khả năng tổng hợp, hiểu và nắm vững pháp luật, cập nhật thông tin và các văn bản pháp luật hiện hành của cấp trên, có như vậy khi xây dựng một văn bản pháp quy mới bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi trong thực tiễn. Hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa ra các quy tắc xử sự cho các chủ thể, do vậy, nó phải tính toán vấn đề một cách toàn diện, lịch sử, cụ thể. Không phải lúc nào luật hóa các quan hệ xã hội đều mang lại hiệu quả. Hay nói rộng hơn, khó khăn chung trong sự điều hành của Nhà nước là ở chỗ lựa chọn quy mô, mức độ, phương pháp can thiệp vào các quan hệ xã hội mang lại hiệu quả cao nhất. Chính vì vậy, để chuẩn bị ban hành một VBPPL phải có quá trình chuẩn bị công phu, phải tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng các quan hệ xã hội, thực trạng về hiệu quả điều chỉnh pháp luật của các văn bản có liên quan; tham khảo kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm trong lịch sử; dự báo tác động của Văn bản quy phạm pháp luật sau khi có hiệu lực… Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là hoạt động do Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định nhằm xây dựng, ban hành các văn bản dưới hình thức quyết định trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh, giải quyết vấn đề phát sinh từ thực tiễn; hạn chế những hành vi không mong muốn, khuyến khích hành vi mong muốn, theo định hướng phát triển của địa phương, trên cơ sở phù hợp với lĩnh vực pháp luật liên quan.

1.1.2. Vai trò và nguyên tắc xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh

1.1.2.1. Vai trò xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh

Thứ nhất, xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò quan trọng trong việc thể chế hoá kịp thời các đường lối, chủ trương của Đảng và các Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ. Xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là phương tiện thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng nói chung và của Tỉnh ủy nói riêng, làm cho đường lối đó có hiệu lực thực thi và bắt buộc chung tại địa bàn quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đồng thời, hoạt động này còn thể chế hoá, cụ thể các Nghị quyết của tỉnh Đảng bộ, nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Ví dụ: Để thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015, trong đó chủ trương xác định những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện, Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh đã ban hành Nghị quyết về thông qua 05 chương trình phát triển kinh tế – xã hội trọng tâm của tỉnh giai đoạn 2011 – 2015 [44]: chương trình đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp – dịch vụ; chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới; chương trình phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị; chương trình nâng cao chất lượng đào tạo nghề; chương trình phát triển du lịch. Đồng thời giao trách nhiệm cho Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao các cơ quan chuyên môn theo ngành, lĩnh vực tham mưu thực hiện, trong đó nhiệm vụ, giải pháp quan trọng là xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động thu hút, đẩy mạnh các lĩnh vực. Thể chế hóa các chủ trương trong Nghị quyết, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều Văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực nêu trên.

Thứ hai, xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò cụ thể hoá, chi tiết hoá các Nghị định của Chính phủ, các văn bản của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ, liên Bộ. Bên cạnh việc quy định cụ thể các nội dung cần điều chỉnh, trong các Nghị định của Chính phủ cũng như các Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ có một số nội dung giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết cụ thể để áp dụng thực hiện tại địa phương. Đối với các Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ, liên Bộ, trong một số trường hợp, Ủy ban nhân dân tỉnh cần cụ thể hoá, quy định chi tiết một số nội dung trong các Thông tư, Thông tư liên tịch này để đảm bảo rõ ràng, gắn với đường lối của Tỉnh ủy, phù hợp với thực tiễn áp dụng tại địa phương. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Thứ ba, xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tạo lập, phân bổ, phát huy các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Có thể khẳng định, hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh góp phần tạo lập khung pháp lý cũng như tạo điều kiện để các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế hoạt động trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là để phân bổ và phát huy các nguồn lực của tỉnh để phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Đồng thời, hoạt động này cũng là một trong những yếu tố chính để đảm bảo và bảo vệ sự ổn định trật tự của xã hội trên địa bàn của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Thứ tư, xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò thiết lập thiết chế thực thi mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau; giữa cơ quan nhà nước và công dân. Đối với mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh tạo mối quan hệ công tác mật thiết giữa các cơ quan này, tạo lập cơ chế phối kết hợp giữa các cơ quan nhằm đảm bảo hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực cụ thể. Đối với mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh góp phần quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan nhà nước đối với công dân cũng như quyền hạn, trách nhiệm của công dân đối với các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhà nước nói chung và việc giải quyết các công việc cụ thể nói riêng theo từng lĩnh vực.

Thứ năm, xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng đồng bộ để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý điều hành mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn của tỉnh.

1.1.2.2. Nguyên tắc xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

  • Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, Ủy ban nhân dân trong hệ thống văn bản pháp luật.

Bảo đảm tính hợp hiến: Điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước và có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Vì là luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp đã quy định những nguyên tắc cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp… Đó là những nguyên tắc mang tính nền tảng và dựa vào đó Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật khác nhằm bảo đảm thực thi các nguyên tắc đó trong đời sống xã hội. Để bảo đảm nguyên tắc Hiến pháp là luật cơ bản, có tính pháp lý cao nhất thì các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, hay nói cách khác là phải đảm bảo tính hợp hiến. Tính hợp hiến ở đây được thể hiện ở chỗ: các Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân không được trái với các quy định cụ thể của Hiến pháp và không được trái với tinh thần của Hiến pháp.

Bảo đảm tính hợp pháp: Tính hợp pháp của Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân là một trong những yêu cầu quan trọng mà Ủy ban nhân dân cần tuân thủ khi ban hành Văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình. Tính hợp pháp luật ở đây được hiểu là Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cần phải ban hành đúng thẩm quyền, nội dung phù hợp pháp luật, bảo đảm tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật, hay nói cách khác là phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên đã ban hành.

Bảo đảm tính thống nhất: Trước hết tính thống nhất của Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cần được hiểu là cùng một lĩnh vực hay đối tượng điều chỉnh thì các quy phạm pháp luật phải thống nhất với nhau và không có mâu thuẫn giữa các quy phạm pháp luật đó. Tính thống nhất được thể hiện theo hai trục: trực ngang và trục dọc. Trục ngang có nghĩa là các Văn bản quy phạm pháp luật của cùng một cơ quan ban hành phải thống nhất với nhau và trục dọc có nghĩa là các Văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên và cấp dưới phải thống nhất với nhau.

  • Bảo đảm tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Việc xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh phải tuân thủ, thực hiện thống nhất quy định về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục đã được quy định trong Văn bản quy phạm pháp luật.

  • Bảo đảm tính công khai, minh bạch của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương

Trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật, cần chú ý hai điểm, thứ nhất, vì pháp luật thể hiện nguyện vọng của người dân, do đó quá trình lập pháp và lập quy đều cần phải thể hiện sự tham gia của người dân, đặc biệt là các đối tượng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của Văn bản quy phạm pháp luật đang soạn thảo, thứ hai, văn bản pháp luật phải được công khai đối với người dân. Văn bản quy phạm pháp luật phải được công khai vì pháp luật chỉ được thực hiện và thực hiện tốt khi chúng được phổ biến rộng rãi tới các đối tượng liên quan, đối tượng này không chỉ là các cơ quan thực thi pháp luật mà quan trọng hơn là những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và sau đó là những người có ảnh hướng gián tiếp bởi các quy định của nhà nước. Nếu người dân không nhìn thấy, không nghe thấy hoặc không có một khái niệm nào về văn bản họ phải thực hiện thì pháp luật chỉ có nghĩa trên giấy. Và thứ hai, liên quan đến yêu cầu về dân chủ hoá và thực hiện cơ chế dân chủ, yêu cầu đặt ra là đối với các cơ quan nhà nước là phải công khai hoá các quy định tới người dân. Dân chủ có thể được mô tả hoặc định nghĩa theo nhiều cách nhưng nó luôn luôn là một hệ thống trong đó dân chúng được xem như là người nắm quyền tối hậu và chính quyền được thiết lập để thoả mãn những nhu cầu của họ. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính. Văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm tính khả thi của Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân: Để có được một văn bản có tính khả thi, đáp ứng được nhu cầu quản lý của địa phương, trách nhiệm đặt ra không chỉ đối với người soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo mà cả cơ quan thẩm định, thẩm tra, cơ quan xem xét, thông qua văn bản. Để có được một văn bản có chất lượng tốt thì các quy định của văn bản đó phải được soạn thảo sao cho có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn quản lý. Để điều chỉnh mỗi vấn đề xã hội đặt ra cho địa phương thì cần tìm ra bản chất của vấn đề xã hội mà văn bản dự định giải quyết, tìm ra các nguyên nhân của các hành vi không mong muốn gây nên vấn đề đó và lựa chọn các giải pháp để giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó cơ quan ban hành còn phải xác định thế nào là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản? Khi xây dựng văn bản và dự thảo từng quy định quan trọng của văn bản nếu người soạn thảo đánh giá được tác động kinh tế xã hội cũng như dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành văn bản thì văn bản khi áp dụng chắc chắn sẽ có tính khả thi cao. Việc dự kiến nguồn lực bảo đảm tổng thể các yếu tố về thi hành gồm các vấn đề về tài chính và con người, bộ máy.

Mỗi Văn bản quy phạm pháp luật cần được quy định chi tiết và điều đó có thể được ghi nhận trong chính đạo luật hoặc trong các quy định do cơ quan thi hành ban hành. Một nguyên tắc mà nhà soạn thảo cần luôn chú ý là phải bảo đảm tính trong sáng, rõ ràng của pháp luật. Nếu đối tượng liên quan không hiểu quy định của văn bản do văn bản sử dụng ngôn ngữ pháp lý khó hiểu thì họ chỉ đơn thuần có những hành vi xử sự và tuân thủ pháp luật một cách tình cờ. Nếu Văn bản quy phạm pháp luật làm cho những đối tượng điều chỉnh không hiểu rõ về một vài khía cạnh các hành vi xử sự được yêu cầu thì có nghĩa là văn bản đó thiếu tính chi tiết. Khi quy định của văn bản không nói rõ ai phải làm gì thì các thông tin của nó còn thiếu tính tin cậy đối với các đối tượng điều chỉnh và những công chức thi hành pháp luật. Họ không thể biết chính xác hành vi xử sự nào được cho phép hoặc bị ngăn cấm.

Các Văn bản quy phạm pháp luật cần được soạn thảo với một ngôn ngữ có độ chính xác tối đa nếu chưa thể đạt được giới hạn tuyệt đối. Các Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước đây mắc không ít những sai sót về kỹ thuật soạn thảo, trong đó có cả cách diễn đạt. Cũng không có ít các ý kiến cho rằng các nhà soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật cố làm phức tạp ngôn ngữ pháp lý. Chính vì vậy, việc soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật cần được chú ý không chỉ vấn đề thẩm quyền, vấn đề thủ tục ban hành mà cả về kỹ thuật soạn thảo. Nội dung của văn bản sẽ không thể được chuyển tải đúng nếu cách thể hiện của chúng không chính xác, không khoa học.

Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Chức năng cơ bản của Văn bản quy phạm pháp luật là giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội phát sinh từ đời sống thực tiễn. Do vậy, trong quá trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật, việc lấy ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức, nhất là các đối tượng chịu sự tác động, tổ chức xã hội, hiệp hội doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và khối lượng thông tin thực tiễn, tạo nên chất liệu thực tiễn làm đầu vào cho mỗi Văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật không phản ánh thực tiến thì không thể được coi là một văn bản có thể giải quyết được vấn đề mà cuộc sống đạt ra. Lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Văn bản quy phạm pháp luật là nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân. Hoạt động soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật có được coi là minh bạch và công khai hay không phụ thuộc rất nhiều vào công việc soạn thảo văn bản đó có công khai và minh bạch đối với công chúng hay không và người dân có thể tiếp cận được các dự thảo hay không. Mặt khác, mức độ tham gia ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan và cá nhân, bao gồm các đối tượng chịu sự tác động của Văn bản quy phạm pháp luật đang soạn thảo cũng là một chỉ số khác đánh giá tính công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân trong quá trình hoạch định chính sách, pháp luật để bảo đảm thực sự rằng pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân.

Lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trước và sau khi ban hành: Nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng cách tham gia vào công việc của Nhà nước như góp ý kiến trực tiếp vào quá trình xây dựng các Văn bản quy phạm pháp luật. Đó cũng là dịp để người dân có cơ hội tham gia trực tiếp ngay từ đầu vào quá trình hoạch định và hình thành chính sách xây dựng và phát triển đất nước. Việc tổ chức lấy ý kiến rộng rãi và có chất lượng của Nhân dân, đặc biệt là của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản sẽ rất có lợi, vì thông qua đó, người hoạch định chính sách hiểu sát thực tiễn để có được những quy định phù hợp với thực tiễn cuộc sống, làm cho đối tượng bị điều chỉnh có cơ hội phản ánh ý kiến, hiểu nội dung quy định và từ sự hiểu biết đó dẫn theo việc thực hiện đúng. Ví dụ, để xây dựng Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về các biện pháp quản lý trật tự đô thị thì trước tiên Ủy ban nhân dân xác định nhóm đối tượng sẽ chịu tác động trực tiếp bởi văn bản này và khảo sát ý kiến của các nhóm đối tượng này về dự kiến những vấn đề đã phát sinh và cần được giải quyết trong quyết định. Việc lấy ý kiến các đối tượng trực tiếp thi hành văn bản có bảo đảm thu thập được ý kiến của đông đảo các đối tượng hay không và có mang tính thực chất hay không phụ thuộc không ít vào khâu tổ chức lấy ý kiến. Để cho việc lấy ý kiến được linh động hơn, phụ thuộc vào tình hình, đặc điểm của từng vùng, từng văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến theo tổ chức kết hợp với lấy kiến thông qua các phương tiện thông tin truyền thông hoặc lấy ý kiến theo cụm địa bàn kết hợp với lấy ý kiến thông qua các phương tiện truyền thông hoặc kết hợp cả ba hình thức.

Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

1.1.3. Nội dung ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh

Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh được ban hành để thực hiện chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y tế, xã hội, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh. Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh được ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động, đôn đốc, kiểm tra hoạt động của cơ quan, đơn vị trực thuộc và của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình [32, Điều 13, 14].

1.1.4. Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh

  • Lập đề nghị, xây dựng chương trình ban hành Văn bản quy phạm pháp luật;
  • Soạn thảo dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật;
  • Lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;
  • Thẩm định dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật;
  • Trình hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đến Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang;
  • UBND tỉnh xem xét, thông qua dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật tại phiên họp Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang;
  • Trình ký, ký ban hành dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật.

1.1.5. Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Hiệu quả của pháp luật là khả năng của pháp luật có thể tác động được vào quan hệ xã hội và ý thức xã hội để điều chỉnh được các quan hệ đó với những tổn thất vật chất và tinh thần ít nhất và mang lại kết quả theo hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật. Muốn đảm bảo hiệu quả của hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân phải tính đến sự tác động của các yếu tố chính sau:

1.1.5.1. Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật

Nếu như hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật nói chung là giai đoạn đầu của cơ chế điều chỉnh pháp luật thì đến lượt thủ tục xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật sẽ là yếu tố đầu tiên tác động đến hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật. Một hệ thống pháp luật đầy đủ điều chỉnh hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ là cơ sở pháp lý cho hoạt động này được đảm bảo. Trong trường hợp các quy định pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đủ để điều chỉnh các quan hệ, các trường hợp phát sinh trong hoạt động này thì sẽ hạn chế hiệu quả, hiệu lực của hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

1.1.5.2. Trách nhiệm của chủ thể trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật

Các chủ thể này bao gồm: cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh được giao nhiệm vụ chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm định và soát xét dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là Sở Tư pháp; cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; chủ thể có nhiệm vụ, thẩm quyền thảo luận, quyết định việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh: Thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh. Các chủ thể này cùng tham gia xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh ở các bước theo chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể đã được pháp luật quy định và được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhằm đảm bảo chất lượng văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành. Trong quá trình xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh thì việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các chủ thể này như thế nào là yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh. Những hậu quả, những điểm bất hợp lý của các Văn bản quy phạm pháp luật khác với hậu quả một hành vi pháp lý, một quyết định cá biệt; nó khó nhìn thấy và chỉ nhìn thấy sau một thời gian thi hành, và khi đó khó quy kết trách nhiệm. Do vậy, muốn tăng cường trách nhiệm này thì cần phải trao thẩm quyền cho Tòa án hành chính trong việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý nhất là văn bản quy phạm pháp luật bất hợp pháp là thực sự cần thiết và phù hợp với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đối với Cộng hòa Liên bang Đức, pháp luật cho phép người dân có quyền khiếu nại về văn bản quy phạm pháp luật dưới luật trước Tòa án hành chính nếu cho rằng văn bản quy phạm pháp luật đó xâm phạm đến quyền, lợi ích của họ. Tại Điều 47 Luật Tố tụng hành chính của nước Cộng hòa Liên bang Đức công bố ngày 19/3/1991 (sửa đổi, bổ sung ngày 21/12/2006) quy định: Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

(1) Trong khuôn khổ việc xét xử của mình, Tòa án hành chính bang quyết định theo đơn đề nghị về tính có hiệu lực của các văn bản bản quy phạm pháp luật dưới luật của bang, nếu như pháp luật bang ấn định như vậy. (2) Mọi thể nhân và pháp nhân nếu rằng các quyền của mình bị xâm phạm hoặc trong tương lai gần sẽ bị xâm phạm do bản quy phạm pháp luật hoặc do áp dụng văn bản đó, cũng như mọi cơ quan có quyền đệ đơn trong vòng một năm kể từ khi công bố văn bản quy phạm pháp luật. Đơn này cần ghi là khiếu nại cơ quan, đơn vị hoặc viện đã ban hành bản quy phạm pháp luật [16, Điều 47].

Như vậy, Luật Tố tụng hành chính của Cộng hòa Liên bang Đức quy định khá rõ về quyền của thể nhân, pháp nhân khiếu nại về văn bản quy phạm pháp luật trước Tòa án hành chính. Quy định tiến bộ này được ra đời bởi Đức nói riêng và các quốc gia phát triển nói chung đều theo xu hướng xã hội dân chủ mà ở đó mối quan hệ nhà nước với người dân được xử lý ở cả hai chiều. Nhà nước ó quyền áp dụng các biện pháp chế tài nếu người dân vi phạm pháp luật và ngược lại người dân có quyền khiếu nại đối với hành vi hoặc văn bản quy phạm pháp luật nói chung trong đó có văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nếu xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Đối với Nhật Bản việc phán quyết tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật hành chính, mặc dù trong luật không quy định rõ Tòa án có thẩm quyền hay không, nhưng Điều 81 Hiến pháp Nhật Bản cũng khẳng định rõ: “Tòa án tối cao là Tòa án có thẩm quyển cuối cùng có quyền phán quyết bất kể đạo luật, pháp lệnh, nghị định hay quy định nào có hợp hiến hay không”. Như vậy, mặc dù không có Tòa án Hiến pháp, Nhật Bản cũng thừa nhận quyền tài phán hiến pháp được trao cho Tòa án tối cao. Về nguyên tắc, người dân không thể khởi kiện một quy phạm ra Tòa án; tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính cụ thể, Tòa án có quyền xem xét tính hợp hiến và hợp pháp của các quy phạm mà dựa vào đó quyết định bị kiện được ban hành. Thẩm quyền phán quyết cuối cùng thuộc về Tòa án tối cao. Cùng với việc mở rộng quyền xét xử các Văn bản quy phạm pháp luật cho Tòa hành chính, cần phải tăng cường các hình thức để áp dụng trách nhiệm chính trị đối với những người có thẩm quyền trong việc xây dựng, ban hành các Văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: nâng cao hiệu quả chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, mở rộng hình thức chất vấn này đến cả các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh đã tham mưu ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, hoặc áp dụng hình thức miễn nhiệm, bãi nhiệm…

1.1.5.3. Thông tin Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Hiệu quả hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào thông tin mà ban soạn thảo có được. Các loại thông tin cần được thu thập gồm:

Thứ nhất, thông tin về thực trạng quan hệ xã hội mà Văn bản quy phạm pháp luật sẽ điều chỉnh (nói lên sự cần thiết ban hành): đây là những thông tin khó tìm kiếm và tổng kết một cách chính xác vì công tác thống kê nói chung cũng như thống kê tư pháp nói riêng còn yếu. Các thông tin này càng khó tìm kiếm khi liên quan đến lĩnh vực phi nhà nước. Hiện nay, quản lý các hoạt động của các chủ thể thuộc khu vực phi nhà nước tuy can thiệp sâu nhưng các thông tin về hoạt động của các chủ thể này không nắm được chặt chẽ. Sau khi các thông tin này được thu thập, báo cáo thì độ tin cậy chưa cao vì người tiến hành thống kê, thu thập chưa coi trọng công tác này; đây là loại thông tin rất khó kiểm chứng, nếu có sai sót thì khó quy trách nhiệm. Sau khi thông tin được thu thập thì chưa có quy trình và đầu mối tập trung thống nhất dẫn đến các số liệu bị sai lệch trong quá trình chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền xử lý thông tin. Sau khi có thông tin chuyển đến thì các cơ quan có thẩm quyền chưa có phương pháp xử lý, tổng hợp thông tin hiệu quả, hoặc tổng hợp thông tin một cách hình thức. Muốn khắc phục hiện tượng này cần phải áp dụng công nghệ thông tin vào công tác thống kê để thông tin có thể được thu thập đầy đủ, xếp loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, tìm kiếm và xử lý nhanh; phải minh bạch hóa các thông tin. Đồng thời phải đẩy mạnh tiến hành các điều tra xã hội học, có quy trình, đầu mối xử lý thông tin thống nhất.

Thứ hai, thông tin về kinh nghiệm quốc tế. Thực tế thông tin này sử dụng chưa hiệu quả thể hiện ở chỗ, những người tìm kiếm thông tin nước ngoài không có khả năng cập nhật thông tin mà sử dụng những tài liệu, giáo trình, kiến thức cũ. Hiện tượng này có thể dẫn đến tình trạng một văn bản quy phạm pháp luật nước ngoài tại thời điểm ban hành được ca ngợi nhưng đến thời điểm này lại là lỗi thời. Hay những người tìm kiếm thông tin chỉ đơn thuần dịch một văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và sau đó chuyển hóa một cách đơn giản thành Văn bản quy phạm pháp luật của mình mà không hiểu được các học thuyết làm nền tảng cho các quy định đó dẫn đến văn bản đó mâu thuẫn với các văn bản khác trong hệ thống pháp luật. Hay thậm chí là trường hợp sao chép văn bản quy phạm pháp luật một cách mù quáng.

Thứ ba, thông tin về kinh nghiệm lịch sử (cùng với thông tin thứ hai gợi ý cho chúng ta cách giải quyết vấn đề). Hiện nay, với cơ sở dữ liệu pháp luật đang có và mạng tin học diện rộng do Văn phòng Chính phủ quản lý cũng như sự phong phú về các tài liệu lịch sử thì thông tin thứ hai và thông tin thứ tư không phải là khó tìm kiếm, vấn đề là đánh giá, xử lý thông tin, cần phải có những chuyên gia hiểu biết để phân tích thông tin.

1.1.5.4. Dân chủ Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Dân chủ là mục đích của Nhà nước, là nguyên tắc hoạt động của tất cả các nhà nước hiện đại. Đối với hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, dân chủ không chỉ là mục đích, nguyên tắc chung chung mà nó có ý nghĩa rất quan trọng làm tăng hiệu quả của hoạt động xây dựng quy phạm pháp luật.

Chúng ta kêu gọi đưa nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống mà tại sao không kêu gọi điều ngược lại: phải đưa cuộc sống vào trong nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Mà muốn nắm được ý chí, nguyện vọng của nhân dân thì không thể võ đoán mà phải có quy trình dân chủ cho phép nhân dân tham gia vào quá trình thiết kế chính sách nói chung cũng như hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật nói riêng [61].

1.1.5.5. Nguồn lực

Vấn đề có tính chất then chốt, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật là nguồn nhân lực. Các yếu tố thủ tục, thông tin, dân chủ chỉ là điều kiện cần có để bảo đảm chất lượng của Văn bản quy phạm pháp luật. Một thủ tục tốt, thông tin đầy đủ nhưng cần phải có người thực hiện thủ tục tốt, người xử lý thông tin giỏi. Xây dựng pháp luật là một lĩnh vực chuyên môn, đòi hỏi kiến thức và kỹ năng mang tính chất chuyên ngành, do vậy, đòi hỏi người làm công tác xây dựng pháp luật phải có kiến thức để làm luật và phải được trang bị những kỹ năng cần thiết để làm luật. Cơ quan đề nghị ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, ban soạn thảo, tổ biên tập là những chủ thể quan trọng có nghĩa vụ thực hiện các hoạt động nghiên cứu, đánh giá, tổng kết, khảo sát thực tiễn làm cơ sở cho việc soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy việc tổ chức tập huấn, đào tạo bổ sung kiến thức về luật học nói chung, các kỹ năng, nguyên tắc xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật cho những đối tượng này là hết sức quan trọng. Đối với người có thẩm quyền ban hành Văn bản quy phạm pháp luật và tham gia biểu quyết thông qua dự thảo Văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi phải có trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác nhất định về vấn đề đó để đưa ra những ý kiến tham gia và quyết định đúng đắn nhất.

Cùng với nguồn nhân lực, kinh phí bố trí cho công tác xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật cũng là vấn đề có tác động ảnh hướng lớn đến hoạt động này bởi xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật phải được thực hiện thống nhất, tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục với nhiều giai đoạn khác nhau cùng các nhiệm vụ công việc khác nhau, với nhiều chủ thể tham gia, do đó, nếu yếu tố kinh phí không được bảo đảm hoặc bảo đảm không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế.

1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

1.2.1. Khái niệm pháp chế

Pháp chế là một phạm trù cơ bản của khoa học pháp lý ở các nước, nó được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Có thể xem pháp chế là một trong những phương diện quan trọng của phương pháp tiếp cận Mácxít trong việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật. Nội dung của khái niệm pháp chế rất rộng, phong phú và đều thống nhất về nội hàm cơ bản, đó là sự tuân thủ một cách triệt để, chính xác, nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật của tất cả các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế và mọi công dân.

Mục đích của pháp chế là tạo lập được một trật tự pháp luật. Trật tự pháp luật là hệ quả của pháp chế. Bản chất của nền pháp chế phụ thuộc vào bản chất của Nhà nước, vào sự hoàn thiện hệ thống pháp luật và các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước.

Thuật ngữ pháp chế được C.Mác – Ph.Ăngghen nhắc đến nhiều lần trong các tác phẩm của mình. Trong bức thư gửi ÔGuyxtơ Beben ở Plau En Dresxden Luân Đôn, ngày 18/11/1884, trong đó, theo Ph.Ăngghen, tình hình như sau: Chế độ chính trị hiện đang tồn tại ở châu Âu là kết quả của các cuộc cách mạng. Cơ sở của pháp chế, pháp quyền lịch sử, pháp chế ở khắp nơi đã hàng nghìn lần bị vi phạm hoặc hoàn toàn bị quẳng đi…. Chưa bao giờ cách mạng coi thường việc viện dẫn pháp chế – thí dụ vào năm 1830 ở Pháp, cả nhà vua (Lui Philip) lẫn giai cấp tư sản đều khẳng định rằng pháp luật ở phía họ.

Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen thường xem pháp chế như là sự tuân thủ luật của những người tham gia các quan hệ xã hội. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Kế tục sự nghiệp của chủ nghĩa Mác, V.LLênin là người đầu tiên đưa ra các luận điểm cơ bản về pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng về pháp chế cách mạng của Người được thể hiện sâu sắc trong sắc lệnh Tháng Mười đầu tiên do Người trực tiếp soạn thảo. Tại Đại hội bất thường các Xô Viết toàn Nga lần thứ VI (tháng 11/1997) đã xem xét và thông qua Nghị quyết về việc tuân thủ một cách nghiêm chỉnh các đạo luật của chính quyền Xô viết theo sáng kiến của V.I.Lênin. Tư tưởng đó, về sau được Người nhấn mạnh trong bức thư gửi công nhân và nông dân chiến thắng bọn Côntsắc, Người viết: Phải tuân theo từng ly, từng tý những luật lệ và mệnh lệnh của chính quyền Xô viết và đôn đốc mọi người tuân theo.

Một trong những tài liệu cơ bản của V.I.Lênin viết về pháp chế là bức thư gửi Bộ Chính trị Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga về “Song trùng trực thuộc và pháp chế”. Tư tưởng về pháp chế trong bức thư này có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng bộ máy nhà nước và trong việc soạn thảo về phương diện lý luận các vấn đề pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Người xác định pháp chế như là sự tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh các đạo luật, sự tuân thủ này trước hết là các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước.

Như vậy, việc xây dựng và phát triển pháp luật gắn chặt với pháp chế, trong mối quan hệ không tách rời pháp chế. Trong mối quan hệ này pháp luật là điều kiện cần thiết, là tiền đề tất yếu đối với pháp chế. Đến lượt mình, pháp chế trở nên tất yếu đối với pháp luật. Thiếu sự tuân thủ pháp chế, pháp luật sẽ không có khả năng thực hiện trong đời sống xã hội.

Pháp chế một trong những nhân tố quan trọng của việc hình thành và thực hiện pháp luật. Trong ý nghĩa này, quá trình sáng tạo pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được thực hiện và xác định phù hợp hoàn toàn với các đòi hỏi của pháp chế, không được phép vượt ra ngoài thẩm quyền của mình, nghĩa là, pháp chế đòi hỏi sự sáng tạo pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được biểu hiện trong những hình thức xác định do Hiến pháp quy định. Sự vi phạm pháp chế trong hoạt động sáng tạo pháp luật đó là trái hiến pháp và các đạo luật của chính quyền trung ương và như thế sẽ nguy hại hơn so với việc không thực hiện những đòi hỏi của luật trong quá trình hoạt động áp dụng pháp luật, việc ban hành các văn bản pháp luật trái với các đạo luật, trái với ý chí và lợi ích của nhân dân sẽ mang đến thiệt hại rất lớn cho xã hội.

Pháp chế liên quan chặt chẽ với trật tự pháp luật. Trật tự pháp luật là một bộ phận quan trọng tạo nên trật tự xã hội nói chung. Trật tự pháp luật là sự hình thành mối quan hệ giữa con người, giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, những người có trách nhiệm và mọi công dân trong xã hội dựa trên cơ sở tuân thủ và thực hiện một cách nghiêm chỉnh, chính xác các quy phạm pháp luật. Trong mối quan hệ này, trật tự pháp luật là kết quả hoạt động của pháp chế trong đời sống xã hội.

Tóm lại, pháp chế là khâu nối liền giữa pháp luật và trật tự pháp luật, là phương tiện để giữ vững pháp luật, củng cố trật tự pháp luật. Trật tự pháp luật lại bảo đảm cho pháp chế. Bất kỳ sự vi phạm nào đối với trật tự pháp luật có nghĩa là vi phạm pháp chế. Do vậy, trạng thái pháp chế của một đất nước phụ thuộc vào mức độ hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, những cá nhân có trách nhiệm và mọi công dân trong việc bảo vệ trật tự pháp luật.

Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về pháp chế, V.I.Lênin là người đầu tiên đã đưa ra các luận điểm cơ bản về pháp chế mà đến nay nó còn nguyên giá trị cả về phương diện lý luận và thực tiễn:

Thứ nhất: Pháp chế là sự thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để pháp luật trong thực tế của mọi tổ chức, mọi thành viên trong xã hội. Việc tự giác tuân thủ pháp luật của mọi công dân chính là điều kiện và cơ sở để mỗi người đều có quyền và nghĩa vụ tham gia quản lý nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Thứ hai: Pháp chế phải bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp – cơ sở để thiết lập một chế độ pháp chế thống nhất trong cả nước. Đây là cơ sở pháp lý để hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường pháp chế. Trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp là đạo luật cơ bản. Các văn bản quy phạm pháp luật ban hành phải cụ thể hoá Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp.

Thứ ba: Pháp chế phải bảo đảm được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, các chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản phải được khẳng định bằng pháp luật, nghĩa là sự lãnh đạo của Đảng không tách rời nguyên tắc pháp chế. Quá trình ban hành pháp luật, hoàn thiện pháp luật phải đi đôi với việc thiết lập nền pháp chế.

Qua các Văn kiện Đại hội Đảng và các bản Hiến pháp của nước ta, phạm trù pháp chế thường được hiểu theo những nội dung cơ bản sau đây:

  • Pháp chế là nguyên tắc tổ chức, hoạt động của nhà nước, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và nguyên tắc xử sự của công dân;
  • Pháp chế là phương pháp quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước và bảo đảm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân;
  • Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Việc xử lý vi phạm phải nghiêm minh không phân biệt chức vụ, quyền hạn củangười phạm tội;
  • Bảo đảm pháp chế là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên, hoàn thiện hệ thống pháp luật phải đi đôi với việc tổ chức đưa pháp luật vào cuộc sống.
  • Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp, do Nhà xuất bản từ điển bách khoa và Nhà xuất bản tư pháp phát hành pháp chế được hiểu là: Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Thể chế pháp luật được xác lập trong toàn bộ đời sống xã hội từ trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước đến các thiết chế, quan hệ xã hội, hoạt động, sinh hoạt của mọi chủ thể pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Theo nghĩa này, người ta có thể phân biệt pháp luật và pháp chế một cách rõ ràng bởi pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đề điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập một trật tự xã hội nhất định, còn pháp chế là tình trạng xã hội khi pháp luật được các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh, cũng do đó có thể nói đến đời sống pháp chế, tình trạng pháp luật của một nước.

Toàn bộ hệ thống pháp luật và đời sống thực tiễn của pháp luật. Theo nghĩa này pháp chế bao gồm hệ thống pháp luật và việc thực hiện pháp luật trong cuộc sống [7].

Như vậy có thể khẳng định một điều là nói tới pháp chế là nói tới một xã hội có pháp luật, nếu không có pháp luật thì không thể có pháp chế. Trong xã hội đó, các quan hệ xã hội quan trọng, đặc biệt là các quan hệ có liên quan tới việc thực hiện quyền lực nhà nước, tới quyền và lợi ích của nhân dân cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Nhưng nếu chỉ có pháp luật thôi thì vẫn chưa có pháp chế vì tư tưởng chỉ đạo khi nói tới pháp chế là nhu cầu thực hiện pháp luật nghiêm minh. Do vậy, nói tới pháp chế, ngoài pháp luật còn đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể hơn thì pháp chế được thể hiện ở những đòi hỏi như: Bộ máy nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật; Các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng phải được thành lập hợp pháp và phải hoạt động phù hợp với pháp luật; Mọi công dân phải xử sự hợp pháp.

Nghiêm chỉnh thực hiện các yêu cầu của pháp chế sẽ tạo cho đời sống xã hội có trật tự, kỷ cương cần thiết, bảo đảm cho hoạt động của toàn xã hội thống nhất, đồng bộ nhịp nhàng theo quy định của pháp luật để xã hội tồn tại và phát triển vì hạnh phúc của nhân dân. Có thể nói, pháp chế vừa là nhu cầu, vừa là kết quả khách quan của quá trình thiết lập và xây dựng xã hội. Đồng thời pháp chế và trật tự pháp luật à điều kiện quan trọng để củng cố, xây dựng xã hội. Chính vì vậy, trong quá trình phát triển chúng ta phải không ngừng củng cố và tăng cường pháp chế.

Những phân tích trên cho thấy pháp chế chỉ là sự đòi hỏi phải tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh, thống nhất của nhà nước, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân. Do vậy, có thể định nghĩa pháp chế như sau: Pháp chế là sự đòi hỏi phải tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện hành, kể cả pháp luật về quy trình xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật một cách chính xác, thường xuyên và thống nhất bởi nhà nước và xã hội, nhằm xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, bảo đảm cho hoạt động của toàn xã hội thống nhất, đồng bộ, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

1.2.2. Mối quan hệ giữa pháp chế với pháp luật và pháp quyền

Pháp chế và pháp luật là hai khái niệm gần gũi nhưng không đồng nhất song lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Pháp luật là hệ thống quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Còn pháp chế là phạm trù thể hiện những yêu cầu, đòi hỏi với các chủ thể tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật. Như vậy pháp luật là tiền đề của pháp chế. Nhưng có pháp luật chưa hẳn đã có pháp chế. Pháp luật ban hành ra mà không được tuân thủ, thực hiện thống nhất hoặc có được thực thi nhưng không đúng, có thiếu sót, mâu thuẫn thì cũng không bảo đảm được pháp chế, thậm chí rơi vào tình trạng vô pháp chế, trật tự, kỷ cương trong xã hội sẽ bị đảo lộn. Hậu quả là xã hội khó có thể phát triển được bình thường, các quyền, lợi ích của công dân không được tôn trọng và đảm bảo. Pháp luật chỉ có hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội khi nó dựa trên cơ sở vững chắc của pháp chế, và ngược lại, pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường khi xã hội có được hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời.

Mối quan hệ giữa pháp chế và pháp quyền: Hiểu một cách chung nhất, pháp quyền là một phương thức tổ chức và vận hành xã hội trên cơ sở các quyền, quan trọng nhất là các quyền tự nhiên của con người. Các quyền ấy phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ một cách hữu hiệu. Pháp luật, do đó phải xuất phát từ các quyền tự nhiên và chiếm vị trí tối cao trong xã hội. Pháp quyền đề cao việc giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ nhân quyền, trong khi đó pháp chế lại có xu hướng tăng cường quyền lực cho nhà nước với lí do để quản lý xã hội một cách thống nhất. Trong khi pháp quyền khẳng định luật pháp là phương thức để chống lại sự chuyên chế của Nhà nước, thì pháp chế lại xem luật như là một công cụ để Nhà nước quản lý xã hội. Xét trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, pháp quyền coi trọng việc sử dụng pháp luật của công dân và việc tuân thủ pháp luật của Nhà nước, trong khi đó, đối với pháp chế thì ngược lại, coi trọng việc sử dụng pháp luật của Nhà nước và việc tuân thủ pháp luật của công dân. Mặc dù có sự khác nhau, song giữa pháp chế và pháp quyền có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ. Tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa có vai trò đặc biệt đối với Nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật, dùng pháp luật làm công cụ điều tiết chủ yếu mối quan hệ giữa con người với con người, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi vi phạm nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền của Nhân dân. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân, kể cả các tổ chức đảng đều phải hoạt động trên cơ sở quy định của pháp luật, tuân thủ pháp luật.

1.2.3. Pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật là một vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn. Khi đề cập đến khái niệm pháp chế trong xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải đặt trong quan niệm chung về pháp chế. Pháp chế trong xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là đòi hỏi trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải nghiêm chỉnh, thống nhất chấp hành Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật năm 2008, Luật năm 2004, Luật năm 2015 và các văn bản pháp luật khác theo quy định. Có nghĩa là, Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành phải hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, phải bảo đảm tính khả thi và có hiệu quả trong thực tiễn.

Trên cơ sở khái niệm chung về pháp chế và sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh như sau: Pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là sự đòi hỏi tất cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cá nhân được Nhà nước trao quyền phải chấp hành nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác và thống nhất các quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân để cho các Văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và có tính khả thi.

1.2.4. Vai trò của pháp chế trong hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh

Thứ nhất: Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Để bảo đảm pháp chế, văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được xây dựng, ban hành tuân thủ nghiêm chỉnh, thống nhất theo trình tự, thủ tục luật định. Văn bản ban hành phải đúng thẩm quyền về nội dung và thẩm quyền về hình thức; phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.

Thứ hai: Góp phần tạo lập sự ổn định trong xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh. Xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh là một quy trình chặt chẽ, nghiêm túc, do vậy, đòi hỏi trình tự, thủ tục ban hành văn bản phải tuân thủ chặt chẽ các bước rõ ràng, cụ thể theo một quy định thống nhất, minh bạch, không có một ngoại lệ nào. Văn bản quy phạm pháp luật càng ổn định bao nhiêu thì càng tạo ra hành lang pháp lý và chuẩn mực cao cho hoạt động xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật đạt chất lượng cao hơn.

Thứ ba: Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật tỉnh. Hoàn thiện hệ thống pháp luật là cơ sở và tiền đề cho việc tăng cường pháp chế. Hoạt động xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhằm thể chế hoá, cụ thể hoá các văn bản của cấp trên, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương. Từng bước xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương ngày càng động bộ, thống nhất không mâu thuẫn, chồng chéo, hợp hiến, hợp pháp và thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành. Do vậy, cần phải thường xuyên kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc xây dựng mới cho phù hợp với yêu cầu quản lý, loại bỏ các văn bản sai trái, cục bộ địa phương, tuân thủ pháp chế.

Thứ tư: Xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các Văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hoá, chi tiết hoá các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên cho phù hợp với thực tiễn của địa phương nhưng không được trái với Hiến pháp và pháp luật. Việc xây dựng và ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh phải thường xuyên được cập nhật, đăng công báo cấp tỉnh, được hệ thống hoá thành các tuyển tập để áp dụng thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh. Thông qua việc kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để có quyết định xử lý đối với văn bản cần phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, hay huỷ bỏ cho phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành. Hoạt động này góp phần quan trọng trong việc lập lại trật tự, kỷ cương trong việc xây dựng, ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Luận văn: Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban tỉnh Bắc Giang.

Thứ năm: Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện chức năng xây dựng, soạn thảo Văn bản quy phạm pháp luật, cán bộ, công chức và cơ quan, người có thẩm quyền ban hành Văn bản quy phạm pháp luật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng Văn bản quy phạm pháp luật tại Bắc Giang

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993