Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích thực trạng công tác phát triển thị trường inox của công ty TNHH TM XNK Inox Minh Khuê dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu chung về công ty

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

  • Tên đơn vị: Công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu inox Minh Khuê
  • Địa điểm giao dịch: Thành phố Hà Nội
  • Điện thoại : 084 . 04. 6611203/6611470 ; Fax 084.04. 6611203
  • Đăng kí kinh doanh số: 0102015447
  • Vốn điều lệ: 138.000.000.000 đ Bằng chữ: Một trăm ba mươi tám tỷ đồng.
  • Giám đốc: Tạ Quang Tiến.
  • Số nhân viên: 80

Công ty TNHH Thương mại XNK inox Minh Khuê được thành lập ngày 20/10/2016 theo Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0102015447 do Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp, với vốn điều lệ ban đầu là 05 tỷ đồng. Từ một nhóm các kỹ sư và chuyên gia tâm huyết với nghề, với sự năng động sáng tạo và tận dụng những mối quan hệ sẵn có trong ngành, đến nay Công ty TNHH thương mại XNK inox Minh Khuê đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể.

Nhân sự của công ty đã tăng từ 7 người năm 2016 lên 30 người vào cuối năm 2018.

Năm 2020, công ty đã mở chi nhánh tại miền Nam, văn phòng chi nhánh và kho chứa hàng tại quận Tân Phú, hoạt động ban đầu của chi nhánh là kinh doanh hàng hóa thương mại do  công ty ngoài Bắc chuyển vào. Sau 1 năm, chi nhánh Sài gòn cũng đạt sản lượng là 2.200 tấn, qua đó đẩy sản lượng của toàn công ty lên 10.500 tấn.

Là một doanh nghiệp thương mại, công ty chủ yếu nhập hàng theo đơn đặt hàng rồi chuyển giao cho bên mua. Hàng hóa mà công ty cung cấp chủ yếu là các loại thép không gỉ, kim loại màu, các sản phẩm từ thép, cụ thể là inox.

Sau 8 năm hoạt động thương mại, công ty đã qua 7 lần thay đổi vốn điều lệ, và đến hiện nay, vốn điều lệ của công ty đang là 138 tỷ đồng.

Hình 2. 2- Diễn biến sự thay đổi vốn điều lệ của Công ty giai đoạn 2016 – 2024:

Tuy rằng những thành quả đạt được còn khiêm tốn, nhưng công ty đã, đang có chỗ đứng nhất định trên thị trường, và cùng với sự nỗ lực không ngừng của cán bộ công nhân viên toàn công ty, tin tưởng rằng công ty sẽ ngày càng trưởng thành, lớn mạnh hơn nữa. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty

Ngành nghề kinh doanh:

  • Kinh doanh thép không gỉ (inox), kim loại màu.
  • Sản xuất, gia công các sản phẩm Inox, xuất nhập khẩu các loại thép Inox
  • Xuất nhập khẩu các sản phẩm Inox
  • Tư vấn sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm Inox.

Hình thức pháp lý

Công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu inox Minh Khuê là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân và con dấu riêng. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ về tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với Nhà Nước theo quy định của pháp luật, chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền như cơ quan Thuế, cơ quan Bảo hiểm xã hội,…

Các sản phẩm của công ty:

Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty là kinh doanh các sản phẩm thép không gỉ. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là mua bán kim loại màu, thép không gỉ và các sản phẩm từ thép.

Danh mục sản phẩm mà công ty đang cung ứng

  • Tấm cuộn cán nóng
  • Tấm cuộn cán nguội
  • Ống công nghiệp hàn: inox công nghiệp đường kính từ 12mm đến 329mm và đường kính từ 16mm đến 108 mm, dày từ 1mm đến 3mm…
  • Ống công nghiệp đúc
  • Cây đặc
  • Các phụ kiện đường ống như: cút hàn 90 độ, cút hàn 45 độ, côn thu đồng tâm, côn thu lệch tâm, van, tê hàn…

Một số hình ảnh về sản phẩm inox công nghiệp

  • Hình 2. 2: Ống hàn INOX công nghiệp
  • Hình 2. 3: Ống INOX Vuông

Với đặc tính chống ăn mòn, chịu được nhiệt độ cao, đảm bảo vệ sinh, bề ngoài sáng đẹp, có khả năng chịu lực, dễ gia công, thời gian sử dụng cao và có thể tái chế, thép không gỉ đang được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày, trong y tế và trong rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Trong thời gian tới, khi Minh Khuê chính thức lắp đặt và đi vào hoạt động dây truyền gia công các sản phẩm thép không gỉ, Minh Khuê sẽ đa dạng hóa các chủng loại hàng hóa và cho ra thêm các sản phẩm mới như: lá inox, tấm inox, băng inox, dây inox, góc inox…

2.1.2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức

Công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, do vậy cơ cấu bộ máy của công ty được tổ chức gọn nhẹ, tập trung chủ yếu vào mảng kinh doanh.

Hiện nay, cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty gồm các phòng ban: Phòng kế toán, Phòng nhân sự, Phòng kinh doanh, Phòng xuất nhập khẩu. Ngoài văn phòng trụ sở chính của công ty ở 641 đường Giải Phóng, công ty còn một kho chứa hàng ở Ngọc Hồi, một văn phòng đại diện tại số 53, đường B4, khu công nghiệp Tân Bình, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, TP.Hồ Chí Minh, văn phòng đại diện này thực hiện chức năng cung ứng kịp thời và tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường cho khu vực phía Nam.

Hình 2. 4: Mô hình tổ chức của công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu inox Minh Khuê

Mô tả sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty: Giám đốc là người quản lý chung, dưới có các phó giám đốc phụ trách kinh doanh, các phòng ban được tổ chức theo cơ cấu trục ngang, tương trợ nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty.

2.1.2.2 Chức năng của từng phòng ban

  • Phòng kinh doanh:

Phòng kinh doanh của công ty thực hiện các công việc sau:

  • Tìm kiếm khách hàng mới, kí kết các hợp đồng thương mại, tiếp nhận các đơn đặt hàng.
  • Quản lý các công việc kinh doanh của công ty, phối hợp với các phòng ban chức năng khác để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng và để thực hiện mục tiêu chung của công ty.
  • Đề xuất các ý tưởng kinh doanh lên ban lãnh đạo của công ty, giám sát, kiểm tra tiến độ bàn giao, lắp đặt sản phẩm cho đối tác.

Phòng kế toán: 

  • Là bộ phận không thể thiếu được trong bất kỳ một doanh nghiệp nào. Phòng kế toán thực hiện những công việc:
  • Hạch toán chi phí, doanh thu hàng tháng, hàng quý, hàng năm cũng như sự biến động của doanh thu, chi phí.
  • Theo dõi sự biến động của tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp. Lập báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh hàng tháng.
  • Hạch toán tiền lương, các loại bảo hiểm. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.
  • Giải quyết các vấn đề về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, các hóa đơn chứng từ…

Phòng hành chính nhân sự:  

  • Bố trí sắp xếp lao động trong công ty về số lượng, trình độ nghiệp vụ tay nghề.
  • Lập kế hoạch tiền lương, lập công tác chế độ đào tạo, thi đua khen thưởng, kỷ luật của công ty.
  • Làm công tác văn thư lưu trữ, chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên.

Phòng xuất nhập khẩu: 

  • Tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước để xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện phương án kinh doanh xuất – nhập khẩu, dịch vụ uỷ thác và các kế hoạch khác có liên quan của công ty.
  • Tham mưu cho Giám đốc trong quan hệ đối ngoại, chính sách xuất – nhập khẩu, pháp luật của Việt Nam và quốc tế về hoạt động kinh doanh này.
  • Giúp Giám đốc chuẩn bị các thủ tục hợp đồng, thanh toán quốc tế và các hoạt động ngoại thương khác.
  • Thực hiện các hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu và khi được uỷ quyền được phép ký kết các hợp đồng thuộc lĩnh vực này.
  • Giúp Giám đốc các cuộc tiếp khách, đàm phán, giao dịch, ký kết hợp đồng với khách hàng nước ngoài.

2.1.2.3 Qui trình sản xuất kinh doanh của công ty

  • Qui trình nhập khẩu băng cho nhà máy sản xuất, cho kinh doanh bán hàng thương mại:

Trước ngày 20 của tháng 3, 6, 9 NVKD xây dựng kế hoạch bán hàng trong quí sắp tới với từng chủng loại hàng (Ống công nghiệp hàn, ống công nghiệp đúc, tấm cuộn… độ dầy) để trưởng phòng tổng hợp và chuyển số lượng từng loại hàng, độ dầy cho phòng XNK triển khai kế hoạch nhập khẩu sản phẩm về cho công ty để báo cho phòng TCKT triển khai.

Phòng XNK lên phương án nhập khẩu sản phẩm và gửi cho phòng TCKT thẩm định.

Phòng TCKT: căn cứ vào nhu cầu của phòng XNK, căn cứ vào năng lực huy động vốn của công ty (vốn tự có, vốn vay…) để đưa ra kế hoạch nhập khẩu sản phẩm cho công ty để báo cáo cho Giám đốc công ty phê duyệt rồi chuyển cho phòng XNK thực hiện.

Phòng XNK thông báo kế hoạch nhập sản phẩm trong thời gian tới cho phòng KD biết để xây dựng kế hoạch triển khai các công việc của từng bộ phận.

  • Qui trình xây dựng kế hoạch cho đến triển khai giao hàng cho khách hàng: 

Trước ngày 25 hàng tháng, NVKD của phòng KD1, KD2, chi nhánh Sài gòn xây dựng kế hoạch bán hàng tháng tới cho từng khách hàng, từng chủng loại sản phẩm để trưởng phòng KD hoặc giám đốc chi nhánh tổng hợp chuyển về kho công ty.

Phó GĐ phụ trách KD căn cứ theo hàng tồn kho, kế hoạch nhập hàng của phòng XNK, nhu cầu khách hàng, phân bổ lại kế hoạch bán hàng cho miền Bắc và miền Nam chuyển cho trưởng phòng phụ trách KD xem xét, sau đó kế hoạch được chuyển cho phòng KD của miền Bắc và miền Nam. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Phòng KD của miền Bắc và miền Nam tổ chức họp điều chỉnh kế hoạch bán hàng của từng NVKD, từng khách hàng, từng chủng loại sản phẩm và chuyển kế hoạch bán hàng cuối cùng lên Phòng KD Công ty. Khi đó phòng KD tổng hợp kế hoạch bán hàng của miền Bắc và miền Nam để xây dựng kế hoạch nhập hàng trong tháng.

Khi NVKD nhận được đơn đặt hàng của khách hàng (bao gồm số lượng sản phẩm và thời gian xuất hàng) thì phải xem kế hoạch đặt hàng cho khách hàng đó trong tháng cho Công ty. Nếu đơn đặt hàng ít hơn hoặc bằng kế hoạch thì trưởng phòng KD làm phiếu xuất hàng cho khách hàng đó (nhưng thời gian phải theo hàng tồn kho và sản lượng dự kiến nhập khẩu của Công ty). Nếu đơn đặt hàng cao hơn kế hoạch thì trưởng phòng KD họp cả phòng để xem có khách hàng nào lấy ít hơn kế hoạch để chuyển hàng sang cho khách hàng đó. Sau đó trưởng phòng KD chuyển phiếu xuất hàng cho nhân viên kế hoạch của công ty (hiện PGĐ phụ trách KD đang kiêm nhiệm).

Trước 10h sáng ngày hôm trước thì nhân viên kế hoạch căn cứ vào kế hoạch xuất hàng của phòng KD miền Bắc, miền Nam, căn cứ vào hàng tồn kho để xây dựng kế hoạch xuất hàng chuyển cho kế toán thương mại của Công ty.

Kế toán thương mại xuất hàng theo kế hoạch của nhân viên kế hoạch. Mọi sự điều chỉnh phải bám sát kế hoạch xuất hàng của NVKD miền Bắc, miền Nam và lượng hàng tồn tại kho.

  • Trách nhiệm thực hiện: 

Phòng kinh doanh: 

  • Triển khai thực hiện theo đúng qui trình, và kế hoạch xuất hàng của công ty.
  • Bám sát thị trường, khi có sự thay đổi kế hoạch phòng KD cần phải tổ chức họp và đưa ra những giải pháp điều chỉnh phù hợp mà không làm thay đổi, xáo trộn đến hệ thống quản lý tổ chức chung của công ty.

Phòng xuất nhập khẩu:

  • Tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch. Khi có những biến động về nhân sự, nguồn cung, chất lượng hay số lượng hàng nhập, vận tải, kho vận… thì cần phải có sự điều chỉnh cần thiết như tăng giờ làm, điều chuyển nhân sự bổ sung, tìm nguồn hàng bổ sung hoặc thay thế … để đảm bảo đúng tiến độ giao hàng và chất lượng hàng giao cho khách.
  • Trước 8h sáng thứ 2, chuyển kế hoạch nhập khẩu trong tuần của từng văn phòng đại diện miền Bắc, miền Nam, và dự kiến sản lượng sản phẩm (chủng loại, độ dầy, độ dài, độ bóng, số lượng, khối lượng…) cho nhân viên kế hoạch công ty.
  • Trước 17h hàng ngày chuyển báo cáo dự kiến sản lượng sản xuất của từng chủng loại sản phẩm trong ngày.

Nhân viên kế hoạch:

  • Phối kết hợp các bộ phận xây dựng kế hoạch sản xuất, bán hàng phù hợp với tình hình thực tế.
  • Phối kết hợp với các bộ phận điều chỉnh, cải tiến qui trình ngày càng hoàn thiện với từng điều kiện cụ thể của công ty.

Bộ phận kế toán thương mại:

  • Chủ động kiểm kê kho, bố trí sắp xếp hàng hợp lí, thuận tiện cho việc lấy hàng.
  • Xuất hàng theo kế hoạch của công ty (kể cả khách lẻ).

2.1.3. Tổng quan tình hình kinh doanh Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Bảng 2. 6.  Kết quả hoạt động SXKD 2021-2024

(Đơn vị tính: 1000 vnđ)

Stt Chỉ tiêu Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023 Năm 2024
1 Doanh thu thuần về sản xuất, thương mại 295.821.740 373.660.732 326.034.443 371.910.645
2 Tổng chi phí 262.486.610 341.860.114 315.894.641 342.623.202
3 Tổng lợi nhuận trước thuế 33.335.129 31.800.618 10.139.801 29.287.442
4 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 8.333.782 7.950.154 3.284.950 7.321.861
5 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 25.001.347 23.850.463 9.854.851 21.965.582
6 Lương bình quân đầu người/ tháng 3.636 5.085 6.114 6.255
7 Vốn kinh doanh 88.858.343 193.569.151 100.275.498 160.440.797

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2021 – 2024

  • Từ bảng số liệu Kết quả hoạt động SXKD có thể thấy: 

Trong thời kỳ kinh tế khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng (năm 20212024), doanh nghiệp hoạt động tương đối ì trệ, tuy nhiên doanh thu vẫn ở mức cơ bản ổn định, chỉ sụt giảm mạnh nhất vào năm 2023, với mức lợi nhuận cả năm khoảng 10 tỉ đồng. Nhưng nếu so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành thì tình hình này vẫn tương đối khả quan.

Thêm vào đó, chênh lệch doanh thu và chi phí của năm 2022 và 2021 chênh lệch là khá lớn (gần 80 tỉ đồng). Đó là do, ngay từ tháng 1/2021, nhận thức được xu hướng của thị trường năm 2022 cầu inox sẽ tăng, Công ty đã nhập khẩu thêm nhiều sản phẩm inox, làm phát sinh và tăng chi phí lãi vay, dẫn đến giảm lợi nhuận doanh nghiệp năm 2021. Việc ủ hàng (không chỉ riêng inox Minh Khuê mà nhiều công ty trong ngành cũng thực hiện hành động tương tự) đã làm tăng sản lượng, từ đó làm tăng giá vốn hàng bán (dẫn đến tăng chi phí) và doanh thu bán hàng. Điều này dẫn đến doanh thu năm 2022 gia tăng đáng kể, tạo nên sự chênh lệch cả về chi phí và doanh thu, trong đó sự chênh lệch về doanh thu là lớn hơn.

Đồng thời, không chỉ inox Minh Khuê có hành vi ém hàng (đầu cơ chờ tăng giá) mà các công ty trong cùng ngành cũng có hoạt động tương tự. Tuy nhiên, năm 2023 lại là một năm khó khăn chung cho toàn nền kinh tế, trong đó ngành xây dựng và bất động sản (lĩnh vực có sức ảnh hưởng lớn đến cầu inox công nghiệp của thị trường) sụt giảm nghiêm trọng. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Năm 2023, tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở mức thấp trong 10 năm trở lại đây, thêm vào đó là lạm phát tăng cao đột biến (18,13%), đã gây khó khăn nhiều mặt cho Doanh nghiệp: giá sản phẩm nhập khẩu tăng cao, chi phí nhân công cùng các chế độ đãi ngộ tăng; đời sống người dân khó khăn, chi tiêu hạn chế, ngành xây dựng, bất động sản gần như đóng băng, khiến đầu ra cho sản phẩm rơi vào bế tắc. Nhiều doanh nghiệp cùng ngành trong thời điểm đó đã phải xác định bán lỗ vốn hơn là để tồn kho. Thêm vào đó, để quản lý lạm phát, chính phủ mạnh tay trong việc triển khai chính sách tiền tệ siết chặt, khiến chi phí lãi vay tăng cao. Đó là lý do chính khiến cho chi phí tăng cao, trong khi doanh thu toàn năm 2023 lại sụt giảm so với năm 2022.

Doanh nghiệp trong hoàn cảnh ấy, đã khôn khéo lựa chọn tập trung vào đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp thực phẩm, đồ uống, các công ty sữa, bếp ăn công nghiệp để cung mặt hàng inox tấm và inox lá, nhờ đó mà doanh thu năm 2023 tuy có sụt giảm so với tốc độ tăng trưởng chung của doanh nghiệp nhưng vẫn đạt trên 300 tỉ đồng, và là một con số đáng mơ ước của nhiều doanh nghiệp cùng ngành trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế.

Năm 2024, nền kinh tế Việt Nam khởi sắc, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có những bước tăng trưởng chậm, nhờ đó mà doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cũng tăng đáng kể, làm lợi nhuận công ty đạt gần 29,3 tỉ đồng. Tuy nhiên, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong thời gian tới công ty có kế hoạch đầu tư dây chuyền thiết bị sản xuất và gia công inox. Phải làm thế nào để những năm tới công ty không chỉ ổn định sản xuất mà còn phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, nhất là trong tình hình nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng. Đó đang là một bài toán hóc búa cho các nhà quản lý doanh nghiệp nói chung và công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại xuất nhập khẩu inox Minh Khuê nói riêng, trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình.

2.2. Thực trạng công tác phát triển thị trường inox của công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu inox Minh Khuê

2.2.1. Đánh giá chung về công tác phát triển thị trường inox của Công ty

Hiện công ty chưa có phòng nghiên cứu phát triển thị trường riêng, mà trách nhiệm về tìm hiểu, nghiên cứu thị trường chủ yếu do phòng xuất nhập khẩu đảm trách, kết hợp với số liệu hay báo cáo từ phòng kinh doanh, từ đó mà đưa ra phương án kinh doanh hay kế hoạch khai thác thị trường hiệu quả nhất trình ban giám đốc xem xét, ký duyệt.

Bởi vậy có thể nói, công tác phát triển thị trường của Công ty còn thiếu chuyên nghiệp và chuyên sâu, chủ yếu dựa vào kỹ năng, kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về thị trường và khả năng linh hoạt, thâm nhập, nhìn nhận thị trường của cán bộ nhân viên nhiều kinh nghiệm của phòng xuất nhập khẩu.

Inox vẫn là một lĩnh vực còn mới mẻ ở Việt Nam, nên đây vẫn còn là một thị trường rất giàu tiềm năng, đồng thời cũng gặp nhiều hạn chế khi chưa có một định hướng đầu tư phát triển hay hoạch định chiến lược nào mang tầm vĩ mô từ phía Nhà nước và Chỉnh phủ. Thêm vào đó, đây là lĩnh vực có sự gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của lĩnh vực xây dựng và bất động sản. Vì vậy mà, trong thời gian gần đây, thị trường inox có những bước chững tạm thời. Tuy nhiên, nhìn vào triển vọng lâu dài, thì thị trường inox sẽ khởi sắc vào năm 2025 này và phát triển ngày một mạnh mẽ hơn, phục vụ cho một nhu cầu ngày càng lớn của xây dựng, y tế và đời sống người dân.

Nói chung các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực inox nói chung và công ty TNHH thương mại XNK inox Minh Khuê sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức cũng như những cơ hội phát triển.

2.2.2. Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu inox Minh Khuê Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Sau hơn 1 năm phát triển, công ty đã có những bước tiến cơ bản cả về tài chính, nguồn khách hàng thân thiết và những hiểu biết nhất định về đối tác cũng như thị trường inox. Tuy nhiên, vào thời điểm đó (năm 2018), vốn điều lệ của công ty mới tăng lên 10 tỷ đồng, và doanh thu đạt gần 170 tỷ đồng, nói cách khác, lúc đó công ty hiện có tầm vóc vô cùng nhỏ bé trên thị trường. Bởi vậy, việc phát triển thị trường theo chiều rộng được công ty chú trọng hàng đầu, trong đó, việc mở rộng chủ yếu được thực hiện trên phương diện địa lý.

Thị trường miền Bắc, mà chủ chốt là thị trường Hà Nội, là một thị trường bị cạnh tranh gay gắt bởi các doanh nghiệp hoạt động trên cùng lĩnh vực, có nguồn tài chính, nhân lực… lớn mạnh, có thâm niên hoạt động, và lượng khách hàng thân thiết ổn định, như Tân Á Đại Thành, Sơn Hà, Hòa Bình, Tiến Đạt… đều là những doanh nghiệp đã tạo được chỗ đứng trên thị trường, trong khi công ty còn nhỏ bé và mới đi vào hoạt động được không lâu.

Nếu mở rộng sang thị trường quốc tế, công ty sẽ vấp phải rào cản về chính trị, pháp luật (quan hệ quốc tế). Quả thực đây là một thách thức quá lớn đối với một doanh nghiệp còn non trẻ như công ty.

Việc mở rộng mạng lưới phân phối vào khu vực miền Trung và miền Nam sẽ không chỉ giúp công ty tăng doanh số bán hàng, tìm kiếm thêm được những khách hàng mới, mà còn góp phần định vị thương hiệu, tạo dựng uy tín và niềm tin, cũng như tiếng tăm của công ty trên thị trường inox, cụ thể là quay ngược lại khai thác tốt hơn thị trường miền Bắc (vốn là thị trường gốc của Công ty từ những ngày đầu thành lập).

2.2.2.1. Phát triển thị trường theo chiều rộng

Thêm vào đó, việc tìm hiểu tình hình thị trường lúc bấy giờ đã giúp công ty tự tin hơn vào quyết định mở rộng thị trường của mình, mà bước đầu là đặt VPĐD tại thành phố Hồ Chí Minh. Công ty nhận thấy Hồ Chí Minh là một thành phố lớn, dân cư đông đúc, tốc độ phát triển thuộc hàng cao của Việt Nam

Và bảng số liệu tình hình tiêu thụ của công ty các năm qua (giai đoạn 20182024) đã cho thấy những tính toán của công ty là đúng :

Bảng 2. 7: Số liệu sản lượng tiêu thụ của Công ty theo vùng miền (giai đoạn 2017-2024)

Đơn vị tính: Tấn Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Khu vực 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Miền Bắc  1.434     946  1.954  4.212    5.319    7.248    5.739    6.193
Miền Trung 1.325 2.900 3.768 3.000 6.566 8.247 10.358
Miền Nam 422 553  956 1.456  2.245 4.112 2.667  3.167
Tổng  1.856  2.824 5.810 9.436 10.564 17.925 16.653  19.718

Nguồn: Phòng kinh doanh Từ bảng số liệu ta có thể thấy:

Thị trường miền Nam có sản lượng tiêu thụ 3 năm đầu 2017- 2019 ở mức tương đối thấp, do đây là thị trường công ty mới thâm nhập, ít có sự hiểu biết về đặc điểm thị trường và các đối thủ cạnh tranh. Nhưng đây lại là thị trường mang lại cho công ty những đồng lợi nhuận đầu tiên khi mở rộng, trước cả thị trường miền Trung.

Tuy nhiên, thị trường miền Trung lại mang lại lợi nhuận chính cho công ty với tổng sản lượng (tính cả giai đoạn) lớn nhất, và sản lượng tiêu thụ hằng năm ở mức cơ bản ổn định, tăng đều và thường là cao nhất, dù năm 2018 công ty mới có những sản phẩm đầu tiên được cung ứng ở đây, và đây cũng là thị trường mà công ty chưa có điều kiện để tìm hiểu và cũng chưa có ý định thâm nhập sâu, hay chú trọng đầu tư như thị trường miền Nam hay miền Bắc. Có được những kết quả đó là bởi vì, thị trường miền Trung là một thị trường nghèo, cung mặt hàng inox cho tiêu dùng thực sự sẽ rất khó khăn để đạt doanh thu cao. Tuy nhiên, miền Trung lại được Nhà nước và Chính Phủ ưu ái đặt rất nhiều dự án công nghiệp lớn, các khu chế xuất, nhà máy chế biến, khu nghỉ dưỡng… ở đây, bởi vậy miền Trung trở thành thị trường màu mỡ cho sản phẩm inox công nghiệp tìm chỗ đứng và phát triển. Vì vậy, dù không có được sự đầu tư lớn vào thị trường inox khu vực miền Trung, nhờ dành được các gói thầu nên tại thị trường này, công ty vẫn gặt hái được doanh số không nhỏ mỗi năm, thậm chí lớn hơn cả thị trường mục tiêu và mũi nhọn quen thuộc là miền Bắc. Điều đó không hề chứng tỏ khả năng mở rộng thị trường đem lại hiệu quả cao. Công ty nhất thiết cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi quyết định tiến sâu vào thị trường này.

Tuy nhiên, thị trường miền Nam, dù công ty đã có cửa hàng và showroom trong thành phố, nhưng từ bảng số liệu thể hiện, thị trường miền Nam luôn có sản lượng bán ra không theo kịp 2 thị trường Bắc và Trung. Mà thực ra cả 2 thị trường này đều do Trụ sở chính của công ty đặt tại miền Bắc cung hàng chung cho toàn bộ miền Bắc và miền Trung.

Bởi vậy, qua quá trình kinh doanh và khảo sát, công ty xác định, việc mở rộng thị trường sẽ vẫn tập trung vào khu vực miền Bắc, là thị trường truyền thống, nơi mà công ty đã nắm bắt và hiểu rõ từng đặc điểm, điều kiện và đối thủ cạnh tranh. Đồng thời cũng không thể bỏ qua 2 thị trường miền Trung và Nam, tuy nhiên, công ty cần phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng 2 thị trường này trước khi quyết định mở rộng thị trường từ Bắc vào Nam.

2.2.2.2. Phát triển thị trường theo chiều sâu

Phát triển thị trường theo chiều sâu liên quan tới sự đổi mới sản phẩm. Phát triển thị trường theo chiều sâu sẽ củng cố mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng tốt hơn. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Hiểu được điều đó nên, từ những ngày đầu kinh doanh trong lĩnh vực inox, công ty đã chú trọng phát triển dịch vụ đi kèm sản phẩm như: dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ đổi hàng khi hàng bị hư hỏng, dịch vụ lưu kho, vận tải theo yêu cầu của đối tác, dịch vụ tư vấn thiết kế lắp đặt… Những dịch vụ đó tạo cho khách hàng sự an tâm hơn khi họ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp.

Một số cách phát triển thị trường theo chiều sâu mà công ty đã áp dụng:

  • Thâm nhập sâu hơn vào thị trường

Đây là hình thức mở rộng và phát triển thị trường theo chiều sâu trên cơ sở khai thác tốt hơn sản phẩm hiện tại trên thị trường hiện tại. Do đó để tăng được doanh số bán trên thị trường này doanh nghiệp phải thu hút được nhiều khách hàng hiện tại. Với thị trường này, khách hàng đã quen với sản phẩm của doanh nghiệp. Nên để thu hút khách hàng, doanh nghiệp đã vận dụng chiến lược giảm giá thích hợp với từng đơn hàng theo giá trị (hoặc sản lượng tương đương) và với mức độ thân thiết của từng đối tác; gửi mail thông báo tới đối tác thân thiết và khách hàng tiềm năng; tiến hành quảng cáo trên các trang mạng như vatgia, raovat, rongbay,… kết hợp với quảng cáo trên các phương tiện truyền thông truyền thống như báo, đài, ti vi (kênh địa phương), nhưng vì chi phí cao (khoảng 35 triệu đồng/10s cho 1 lần phát sóng trên VTV; 9-16 triệu đồng/1 ngày in báo) nên không duy trì hình thức quảng cáo này, mà chỉ tập trung vào những thời điểm quan trọng như đầu mùa xây dựng…

Đưa ra những chính sách tư vấn tài chính cho đối tác, như việc thay thế sử dụng đồng thời nhiều sản phẩm tương tự sang sử dụng duy nhất sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp, điều này giúp khách hàng có thể tiết kiệm được thời gian, chi phí vận chuyển, hưởng chiết khấu do mua hàng số lượng lớn, và được hưởng một số đãi ngộ khác đi kèm tùy chính sách khuyến mãi của công ty từng thời kỳ. Đồng thời doanh nghiệp nhờ đó mà cũng tăng được sản lượng bán ra, thu hút và giữ chân được khách hàng, từ đó mang lại sự tin tưởng, gắn bó và uy tín đối với khách hàng. Chẳng hạn như với công trình kiến trúc phương Tây, khách hàng có thể sử dụng đồng thời từ cửa ra vào, lan can, cầu thang và đồ trang trí, kèm các thiết bị phòng tắm, nhà bếp đều là inox, thay cho việc sử dụng phối hợp cùng gỗ, sứ, đất nung, vẫn mang lại sự thanh lịch nhẹ nhàng cho căn nhà, mà chi phí lại giảm đi 1 nửa.

Công ty cũng xác định rõ, cần chú trọng đến việc chăm sóc khách hàng thân thiết (những khách hàng công ty đã từng có cơ hội hợp tác).. Ví dụ như công ty Sơn Hà hiện tại đang đặt hàng một số sản phẩm của công ty Minh Khuê như chân bồn, van, rốn bồn… Công ty Minh Khuê luôn thiết lập và xây dựng mối quan hệ lâu dài với đối tác, để luôn nắm bắt kịp thời nhu cầu của khách hàng, đi sâu đi sát, từ đó có những động thái thích hợp, đáp ứng nhanh và chính xác yêu cầu của khách hàng, mang lại sự tin tưởng ngày càng cao cho đối tác

  • Phân đoạn, lựa chọn thị trường mục tiêu Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Mỗi đoạn thị trường khác nhau quan tâm tới một đặc tính khác nhau của sản phẩm. Cho nên doanh nghiệp đều tập trung mọi nỗ lực của mình vào việc thoả mãn tốt nhất nhu cầu đặc thù của mỗi đoạn thị trường. Chẳng hạn, đối tượng khách hàng là các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy, xí nghiệp hay các công trình xây dựng quốc dân và tư nhân, thì rất chú trọng đến chất lượng sản phẩm inox, trang trí nội thất thì chú trọng đến tính thẩm mỹ, độ sáng đẹp của sản phẩm, và các dịch vụ đi kèm như tư vấn thiết kế, lắp đặt công trình, hỗ trợ phí vận chuyển, lưu và thuê kho vận … Còn đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm như đồ uống, đồ hộp, sữa bột… thì lại rất chú trọng đến giá cả sản phẩm cung cấp. Vì vậy làm tốt khâu báo giá là gần như thành công trong việc cung cấp sản phẩm tới khách hàng…

Hiện tại, công ty Minh Khuê đang hợp tác cới công ty xây dựng công trình giao thông vận tải Hà Nội trong lĩnh vực thi công cầu đường, công ty Minh Khuê thực hiện các gói thấu liên quan đến vật liệu inox như lan can cầu bằng ống inox, nắp thoát nước trên cầu…

2.2.2.3 Phát triển hợp nhất thị trường

Là việc doanh nghiệp phát triển thị trường sản phẩm bằng cách cùng một lúc vừa khống chế đường dây tiêu thụ vừa đảm bảo nguồn cung cấp ổn định.

Việc phát triển thị trường theo cách này là rất khó khăn. Nguồn lực của công ty là là có hạn. Mà để vừa ổn định đầu vào vừa khống chế đường dây tiêu thụ thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một trình độ quản lý cao cùng với một nguồn kinh phí lớn. Đây là một mô hình phát triển lý tưởng song chỉ dễ dàng thực hiện đối với doanh nghiệp có tiềm lực, còn các doanh nghiệp nhỏ thì rất khó khăn.

2.2.2.4. Phát triển thị trường theo sản phẩm

Công ty chủ yếu nhập khẩu sản phẩm theo đơn hàng đặt của khách hàng nên việc phát triển sản phẩm mới không được chú trọng hàng đầu. Thay vào đó là việc tìm kiếm nguồn cung tốt, đảm bảo chất lượng cao và giá thành hợp lý.

Mặt hàng chủ yếu của công ty là: ống inox, cây inox đặc và tấm cuộn. Trong đó, mặt hàng ống inox là mặt hàng chủ lực của công ty, chiếm tỷ trọng lớn nhất và đem lại doanh thu nhiều nhất cho công ty.

Bảng 2. 8: Sản lượng tiêu thụ theo sản phẩm của công ty giai đoạn 2021-2024

Đơn vị tính: tấn

Năm 2021 2022 2023 2024
inox ống 5310 2594 1219 1475
inox tấm 2027 1644 892 1079
inox cây 2280 1571 713 863

Nguồn: Phòng kinh doanh Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Biểu đồ sau sẽ cho chúng ta có cái nhìn rõ hơn về sản lượng tiêu thụ của Công ty theo sản phẩm giai đoạn 2021 – 2023.

Hình 2. 5 – Biểu đồ sản lượng tiêu thụ các sản phẩm chủ chốt của công ty Giai đoạn 2021 – 2024

Giai đoạn 2021 – 2024 là giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế, trong đó nặng nề nhất là năm 2023, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản hoặc buộc phải phá sản. Trong hoàn cảnh khó khăn chung của toàn ngành thép nói chung và inox nói riêng như thế, doanh nghiệp đã có những bước giảm sút đáng kể về mặt sản lượng tiêu thụ, không chỉ riêng đối với từng sản phẩm mà với toàn bộ các sản phẩm mà doanh nghiệp cung ra thị trường. Tuy nhiên, doanh thu toàn doanh nghiệp vẫn cơ bản tăng đều qua các năm 2021 – 2024

Hình 2. 6: Doanh thu bán hàng của công ty giai đoạn 2021 – 2024

Điều đó cho thấy, các sản phẩm chủ chốt đang mất dần thế đứng của nó. Tuy inox ống, inox tấm, inox cuộn là những sản phẩm công nghiệp mũi nhọn của công ty từ những ngày đầu bước chân vào thị trường inox, nhưng trừ giai đoạn đầu phát triển (2017 – 2020) là liên tục tăng cả về sản lượng và doanh số, thì tới giai đoạn sau 2021 – 2024, tuy vẫn đảm bảo về sản lượng nhưng so với quy mô và tốc độ tăng doanh thu thì không tương ứng.

Thay vào đó là sản phẩm lá inox dùng ngành công nghiệp chế biến vỏ hộp, vỏ lon phục vụ cho thực phẩm, đồ uống, và vỏ hộp sữa… Chính nhờ việc linh hoạt thay đổi sản phẩm mũi nhọn, tìm kiếm đối tác mới trong lĩnh vực mới này mà công ty vẫn đảm bảo được doanh số ổn định cho các năm 2022- 2024.

Phải thừa nhận rằng, năm 2023, 2024 là những năm trì trệ về tiêu thụ inox, do nền kinh tế khó khăn, thị trường xây dựng và bất động sản đóng băng, trong khi thị trường inox vốn có sự gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của lĩnh vực xây dựng và bất động sản, nên việc sụt giảm sản lượng tiêu thụ các sản phẩm mũi nhọn của doanh nghiệp, vốn dùng chính cho lĩnh vực xây dựng, là điều khó tránh khỏi. Chính vì thế mà công ty, vẫn chưa thừa nhận và chú trọng đến sự chuyển đổi mới của nhu cầu thị trường về cầu sản phẩm lá inox dùng cho chế biến thực phẩm, đồ uống, mà coi đây như một hướng chuyển đổi tạm thời trong giai đoạn khủng hoảng này.

Trong khi, thực tế thị trường luôn biến động, nhu cầu của con người ngày một tăng cao và thay đổi, chu kỳ sống của sản phẩm vì đó cũng trở nên ngày càng ngắn lại. Điều này khiến cho việc phát triển sản phẩm của khách hàng cũng ít nhiều thay đổi theo, từ đó mà tạo ra cầu sản phẩm inox cũng có ít nhiều thay đổi. Doanh nghiệp cần bớt cứng nhắc, và nắm bắt, nhìn nhận sự biến đổi của thị trường, từ đó đề ra các hoạch định chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp.

Việc định hướng sản phẩm mới không nhất thiết là tạo ra một sản phẩm mới hoàn toàn, đôi khi là việc làm mới sản phẩm bằng bao bì, cải cách mẫu mã hoặc thay đổi chút ít thành phần, hoặc kích thước cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng; hay chỉ là việc thay đổi chiến lược kinh doanh, chú trọng những sản phẩm mà thị trường đang có cầu cao (dung ích lớn), sẽ mang lại hiệu quả kinh doanh tốt hơn cho doanh nghiệp.

2.2.2.5. Phát triển thị trường theo khách hàng Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

“Đích” cuối cùng của sản phẩm luôn là người sử dụng sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay còn gọi là khách hàng của doanh nghiệp. Trong chiến lược phát triển thị trường, yếu tố khách hàng luôn đóng vai trò quan trọng bởi nó quyết định đến quy mô thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp. Khách hàng càng nhiều thì quy mô thị trường của doanh nghiệp càng lớn.

Vì vậy để phát triển thị trường một cách có hiệu quả, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm kiếm các thông tin về khách hàng, dự đoán nhu cầu và cách thức ứng xử của họ nhằm đưa ra các quyết định tốt nhất có khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Qua đó, thu hút nhiều khách hàng đến với doanh nghiệp nhằm mở rộng khách hàng hiện có.

Ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu khách hàng, không chỉ ở chỗ doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm mà điều quan trọng hơn khi thực hiện công việc này là đảm bảo khả năng bán được hàng nhưng đồng thời giữ được khách hàng hiện tại và lôi kéo được khách hàng tiềm năng.

Khách hàng của doanh nghiệp có thể là từng cá nhân, từng nhóm người, hoặc các tổ chức, các doanh nghiệp khác. Vì vậy mà khách hàng của doanh nghiệp cũng đa đạng về yêu cầu, khác nhau về lĩnh vực (khách hàng công nghiệp), hay khác nhau về lứa tuổi, giới tính, nơi cư trú (tính địa phương), sở thích tiêu dùng, vị trí trong xã hội… (đối với khách hàng tư nhân). Do đó khi đưa ra các biện pháp thu hút khách hàng, doanh nghiệp cần chú ý đến những đặc trưng này.

Tuy nhiên, hiện Minh Khuê mới chỉ chú trọng đến khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp, nhận cung cấp cho các công trình lớn, vì vậy mà, khách hàng bán lẻ cũng có nhưng hầu như không đáng kể, chủ yếu là các hộ dân ở gần nơi công ty đặt trụ sở hoặc VPĐD có nhu cầu mua sửa sang nhà cửa, xuất hóa đơn bán lẻ với số lượng rất nhỏ, bởi thế, tiêu chí chủ yếu để công ty đánh giá sự phát triển thị trường là căn cứ vào số lượng khách hàng (toàn bộ là thống kê số lượng khách hàng bán buôn).

Có thể nói số lượng khách hàng là yếu tố thể hiện trực tiếp mức độ mở rộng thị trường của công ty, và số lượng khách hàng tăng đồng nghĩa với việc thị trường tiêu thụ đang được mở rộng hơn.

Theo thống kê chưa chính xác của phòng kinh doanh, số lượng khách hàng các năm trở lại đây luôn luôn biến động, tăng lên và giảm xuống tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố.

Bảng 2. 9: Thống kê lượng khách hàng của công ty qua các năm 2017-2024

Năm 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Số khách hàng 45 50 224 176 567 722 802 891

Nguồn: Phòng kinh doanh

  • Từ bảng số liệu ta nhận thấy: Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Số lượng khách hàng tăng đột biến vào năm 2021 (từ 176 người năm 2020, lên 567, tăng 411 người chỉ sau 1 năm). Nguyên nhân là do nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi nhanh chóng sau cuộc khủng hoảng, các nhà đầu tư nước ngoài né tránh cuộc khủng hoảng kinh tế tại quốc gia họ, nên chuyển dòng tiền đầu tư vào Việt Nam. Vì vậy năm 2021 có nhiều nhà máy, công trình lớn nhỏ được xây dựng, đã tạo thị trường cho công ty tìm kiếm khách hàng.

Năm 2019, lượng khách hàng cũng tăng đáng kể so với năm 2018 (tăng thêm 174 khách hàng). Đó là do tháng 11/2018, Việt Nam trở thành nước thứ 150 của WTO, nên tâm lý tiêu dùng và đầu tư đều rất lạc quan về triển vọng phát triển và nâng cao đời sống, vì thế mà có nhiều công trình được đầu tư, dự án được khởi công, tạo cơ hội hơn cho các doanh nghiệp và công ty kinh doanh.

Để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm inox, công ty chủ yếu tập trung vào những thị trường không tiêu dùng tương đối, là những khách hàng cần mua sản phẩm inox mà chưa biết mua ở đâu. Bên cạnh đó, công ty cũng đang nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm xâm nhập càng sâu càng tốt vào thị trường tiêu thụ của các đối thủ cạnh tranh.

2.2.2.6. Phát triển thị trường theo phạm vi địa lý

Phát triển thị trường theo vùng địa lý tức là mở rộng ranh giới thị trường theo khu vực địa lý hành chính. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, việc phát triển theo vùng địa lý có thể là đưa sản phẩm của mình sang tiêu thụ ở các vùng khác. Việc mở rộng theo vùng địa lý làm cho số lượng người tiêu thụ tăng lên và dẫn tới doanh số bán cũng tăng theo.

Tuy nhiên, khi đưa ra các biện pháp phát triển thị trường hay mở rộng phạm vi địa lý kinh doanh doanh nghiệp cần phải chú ý đến mối liên hệ giữa độ rộng của khu vực thị trường với khả năng (quy mô) kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì, sự không phù hợp giữa quy mô doanh nghiệp với độ rộng của thị trường sẽ dẫn tới những sai lầm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh.

Hơn nữa, để có thể mở rộng thị trường theo vùng địa lý thì sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra phải phù hợp và có một khả năng tiêu chuẩn nhất định đối với những khu vực thị trường mới. Có như vậy mới có khả năng sản phẩm được chấp nhận và từ đó mới tăng được khối lượng hàng hóa bán ra và công tác phát triển thị trường mới thu được kết quả.

Song trước khi ra quyết định mở rộng thị trường ra một khu vực địa lý khác thì công tác nghiên cứu thị trường là rất cần thiết, không thể dễ dàng cứ đem sản phẩm của mình đến một nơi khác bán là thành công mà phải xem xét tới khả năng của doanh nghiệp, các khó khăn về tổ chức tài chính…Nhưng nếu sản phẩm được chấp nhận thì sẽ là điều kiện tốt để doanh nghiệp phát triển.

Để có thể phát triển thị trường theo vùng địa lý đòi hỏi có một khoảng thời gian nhất định để sản phẩm có thể tiếp cận được với người tiêu dùng và doanh nghiệp phải tổ chức được mạng lưới tiêu thụ tối ưu nhất.

Với một công ty, không có con đường nào là phải cạnh tranh và tham gia vào các cuộc chạy đua kinh tế không có đích cuối cùng. Và thị trường tiêu thụ đóng vai trò quan trọng quyết định tới sự tồn vong của công ty. Nhận thức được những điều đó, nên từ những năm đầu thành lập, công ty đã bắt tay vào tìm hiểu, định hướng thâm nhập thị trường miền Nam, mở rộng thị trường tiêu thụ xuyên suốt Bắc, Trung, Nam.

Nhờ uy tín và chất lượng, những sản phẩm inox mang nhãn hiệu Minh Khuê hiện nay đã có mặt trên 3 miền tổ quốc.

Bảng 2. 10: Tình hình tiêu thụ sản phẩm inox của công ty Minh Khuê theo khu vực địa lý giai đoạn 2017 – 2024

Đơn vị tính: tấn Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Khu vực 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Miền Bắc  1.434        946    1.954    4.212 5.319  7.248  5.739  6.193 
Hà Nội 1.036 590 1.347 2.667 3.476 4.519  3.468  3.459
Vĩnh Phúc 178 167 207 412 534 621 479 430
Hải Phòng 220 189 400 1.133 1.309 2.107 1.793 2.304
Miền Trung   1.335  2.900  3.768  3.000  6.517  8.185  10.281 
Thanh Hóa          –  738 1.234 1.789  1.424 2.382  2.991 3.757
Đà Nẵng          –  325 1.021 1.156 920 2.891 3.632 4.561
Huế          –  272 645 823  655 1.554 1.952 2.451
Miền Nam 422 553  956  1.466  2.245  5.086  3.298  4.846 
Tp.HCM 212 243 467 768 1.453 4.122 2.454 3.894
Gia Lai          –            –  157 233  280 416 346 499
Khánh Hòa  210 310 332 465 512 548  498  452
Tổng cộng 1.856  2.834  5.810  9.446  10.564  18.851  17.223  21.320 

Nguồn : Tổng hợp số liệu phòng Kinh doanh

Từ bảng số liệu có thể thấy, tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty trên từng thị trường :

Thị trường miền Bắc : Đây là thị trường truyền thống của công ty, cũng là nơi công ty đặt những nền móng đầu tiên, lựa chọn là địa điểm để ổn định kinh doanh và phát triển thương hiệu. Đây cũng là nơi công ty nắm rõ nhất những đặc điểm cung – cầu của thị trường, đặc điểm của đối thủ cạnh tranh, là nơi có lượng khách hàng lớn nhất và gắn kết nhất. Tại đây có trụ sở chính, showroom và sắp tới là xưởng sản xuất và gia công chế biến sản phẩm inox (dự kiến đi vào hoạt động vào năm 2014).

Một số dự án tiêu biểu được thực hiện ở đây : Nhà máy Canon (KCN Nam Thăng Long), Khu Hội nghị Quốc Gia (Mỹ Đình – Hà Nội).

Ngay từ những ngày đầu thành lập, thị trường miền Bắc đã luôn có sản lượng tiêu thụ cao và tăng ổn định qua các năm. Trong đó, chủ yếu sản lượng tiêu thụ đến từ khu vực Hà Nội, với những đơn hàng khối lượng lớn cho các công trình xây dựng khách sạn lớn, công trình quốc dân của thủ đô… Những năm gần đây, thành phố trẻ Hải Phòng cũng đầu tư cho xây dựng để kiến thiết thành phố nên lượng tiêu thụ cũng tăng lên đáng kể. Riêng Vĩnh Phúc, do thu nhập và đời sống người dân còn thấp, nên sản lượng tiêu thụ chủ yếu đến từ việc xây dựng các khu công nghiệp, tuy nhiên, kết quả vẫn khiêm tốn.

Thị trường miền Trung : Đến năm 2018, thị trường miền Trung mới có những đơn hàng đầu tiên, tuy nhiên sản lượng tiêu thụ tại miền Trung lại khá cao, luôn đứng nhất, nhì khu vực. Sản lượng tiêu thụ của miền Trung cao như vậy là do miền Trung có nhiều dự án nghỉ dưỡng, các khu công nghiệp, khu chế xuất được xây dựng… đây chính là nguồn cầu lớn cho doanh nghiệp khi khai thác thị trường này. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Trong đó Thanh Hóa, Đà Nẵng là hai nơi có nhu cầu tiêu thụ inox lớn. Thanh Hóa thì có tốc độ phát triển khá ổn định, tăng đều qua các năm. Còn Đà Nẵng chỉ tăng cao trong khoảng 3 năm gần đây, do thành phố trẻ này có những cải cách kinh tế tốt, thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần xây dựng, phát triển, làm mới bộ mặt thành phố trẻ này, thông qua các công trình đường xá, nhà cửa được xây dựng và kiến thiết lại, ….

Thị trường miền Nam : Là thị trường có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong ba khu vực. Tuy sản lượng tiêu thụ có tăng, nhưng chỉ xê dịch chút ít qua các năm, và thị trường tiêu thụ chính vẫn là thành phố Hồ Chí Minh, trong thời điểm cao trào có khi sản lượng tiêu thụ gấp tới hơn 8 lần thị trường khác tại khu vực miền Nam. Đó là do thành phố Hồ Chí Minh có dân cư đông đúc, mức sống cao hơn, đầu tư cho công trình tư nhân và quốc dân cũng nhiều hơn. Tuy nhiên, đây lại không phải là thị trường mang lại những kết quả tốt cho doanh nghiệp so với những đầu tư về nhân lực, văn phòng đại diện, showroom… của doanh nghiệp tại đây.

Từ đó có thể kết luận : thị trường miền Bắc vẫn là thị trường tiềm năng và ổn định nhất của doanh nghiệp. Thị trường miền Trung tuy mang về những đơn hàng lớn cho doanh nghiệp khi thực hiện các dự án xây dựng nơi đây, nhưng lại phụ thuộc nhiều vào kế hoạch đầu tư của Nhà nước và Chính Phủ, vì vậy mà doanh nghiệp vẫn không coi đây là nguồn thu ổn định, cần có những xem xét và nghiên cứu thị trường nhiều hơn nữa trước khi quyết định đầu tư mở rộng vào thị trường này, hay cũng là mở rộng thị trường tiêu thụ từ Bắc vào Nam.

2.2.3. Các công cụ phát triển thị trường công ty đã áp dụng

2.2.3.1. Sản phẩm 

Sản phẩm là yếu tố không thể thiếu được của mỗi doanh nghiệp, bất kỳ doanh nghiệp nào, dù kinh doanh trong lĩnh vực gì thì cũng tạo ra sản phẩm cho thị trường. Sản phẩm tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp, thể hiện năng lực, trình độ của doanh nghiệp, là yếu tố làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, và cũng là công cụ mà các doanh nghiệp dùng để cạnh tranh với nhau.

Trong kinh doanh sản phẩm thép không gỉ, với những đặc trưng riêng của loại sản phẩm này, theo những tiêu chuẩn rất khắt khe về độ bóng, độ chống mài mòn, khả năng chịu áp lực, khả năng chịu hóa chất, chịu nhiệt… các doanh nghiệp thường sử dụng sản phẩm như là công cụ chủ yếu của mình để cạnh tranh với nhau trên thị trường. Các sản phẩm thép không gỉ hiện nay của Việt Nam chủ yếu được nhập từ những nước sản xuất thép nổi tiếng trên thế giới, các sản phẩm này thường đảm bảo chất lượng và những tiêu chuẩn kỹ thuật của thế giới.

Tuy nhiên gần đây, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư dây chuyền công nghệ để gia công chế tạo inox, cung cấp cho thị trường trong nước và hướng đến thị trường nước ngoài. Các dây chuyền công nghệ của chúng ta tương đối hiện đại, tuy nhiên sản phẩm tạo ra vẫn có chất lượng chưa ổn định, do một phần quy trình sản xuất vẫn còn nhiều thao tác thủ công, vì vậy mà chất lượng có kém hơn thép không gỉ nhập ngoại, nhưng thép không gỉ sản xuất tại Việt Nam lại có giá bán trên thị trường rẻ hơn so với thép không gỉ nhập ngoại.

Sản phẩm của công ty là những sản phẩm nhập từ những nhà cung cấp thép không gỉ lớn trên thế giới và một số doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, Công ty đã chọn những mặt hàng kinh doanh là những sản phẩm inox công nghiệp phục vụ khách hàng tổ chức, những sản phẩm của Công ty là ống inox công nghiệp, cây inox, phụ kiện inox, thanh V inox, hộp inox và tấm cuộn inox đạt những tiêu chuẩn kỹ thuật cao, với nhiều tính năng như: khả năng chịu nhiệt, khả năng chịu áp lực, khả năng chống mài mòn, khả năng chịu được những hóa chất mạnh…. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Như vậy, tuy các sản phẩm của Minh Khuê chỉ là nhập nguyên chiếc từ những nhà cung cấp thép không gỉ khác về bán lại, nhưng với việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh hợp lý của mình, công ty đã có được những thành công nhất định trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Cũng phải nói thêm, danh mục sản phẩm của Công ty còn chưa đa dạng, đây là điều mà công ty cần quan tâm và chú trọng hơn nữa trong thời gian tới.

2.2.3.2. Giá 

Như đã nói ở trên, trong lĩnh vực kinh doanh các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm chứ không phải giá là yếu tố quyết định để khách hàng lựa chọn nhà cung cấp nào. Trong kinh doanh các sản phẩm thép không gỉ cũng vậy, các khách hàng công nghiệp quan tâm nhiều đến sự phù hợp của sản phẩm và những dịch vụ đi kèm của nhà cung cấp như: tư vấn lắp đặt, bảo trì, chuyển giao công nghệ… Tuy nhiên, không phải vì vậy mà các khách hàng không quan tâm đến giá của sản phẩm, bởi đó là chi phí mà họ phải bỏ ra để có được sản phẩm đó.

Bất kỳ khách hàng nào khi mua sản phẩm gì cũng muốn mua được sản phẩm có chất lượng tốt mà giá lại rẻ. Hiểu được tâm lý đó, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất để có thể tạo ra được những sản phẩm đảm bảo chẩt lượng mà giá thành lại thấp.

Hiện nay, trên thị trường thép không gỉ Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước mới chỉ cung cấp được khoảng 50% nhu cầu, số còn lại hoàn toàn chúng ta phải nhập ngoại qua nhiều kênh, mà chủ yếu là qua các doanh nghiệp thương mại. Các sản phẩm ngoại nhập có chất lượng tương đối cao và đồng đều, tuy nhiên giá lại cao do phải chịu thuế nhập khẩu và do những đặc quyền của các nước có công nghệ cao. Hiện nay, giá của các sản phẩm ngoại nhập cao hơn khoảng từ 10% đến 20% so với các sản phẩm cùng loại trong nước, tùy vào từng loại sản phẩm. Nên những sản phẩm này khó có thể cạnh tranh về giá với các sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước. Biết được điều đó, các doanh nghiệp trong nước hiện nay rất tích cực trong việc đầu tư dây truyền công nghệ, xây dựng các nhà máy gia công chế biến các sản phẩm inox.

Hiện công ty đang thực hiện chính sách giá kết hợp: định giá theo chi phí và theo đối thủ cạnh tranh. Việc tính giá dựa trên chi phí là điều mà rất nhiều công ty Việt Nam hiện nay đang thực hiện, điều đó đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh có lãi hoặc ít nhất là không bị thua lỗ. Tuy nhiên, tính giá dựa vào chi phí trong thời buổi cạnh tranh gay ngắt hiện nay là không thích hợp, vì cách tính giá này không dựa trên những yếu tố thị trường và dễ dàng bị rơi vào tình trạng không tiêu thụ được sản phẩm. Do đó công ty thực hiện việc định giá sản phẩm kết hợp như trên là hợp lý, vừa đảm bảo được về mặt chi phí của công ty, vừa có sức cạnh tranh trên thị trường.

Giá bán sản phẩm = chi phí + lợi nhuận. Giá của sản phẩm thường được tính bằng đơn vị nghìn đồng/kg hoặc nghìn đồng/m hoặc nghìn đồng/m2. Tuy nhiên, chúng ta có thể quy đổi tất cả các đơn vị tính trên về cùng đơn vị nghìn đồng/kg dựa vào khối lượng riêng của inox. Hiện nay, giá của inox dạng ống trung bình khoảng 78.000 đồng/kg, inox dạng cây đặc trung bình khoảng 65.000 đồng/kg, inox dạng cuốn tấm trung bình khoảng 100.000 đồng/kg.

Bảng 2.6: Bảng giá sản phẩm chính của công ty Minh Khuê.  

Đơn vị tính: đồng Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Sản phẩm Tấm 316 , 2B. 6mm, 30mm. 1m5, 6m Ống Inox 201 CN hàn Ø 25 mm. 6m Inox đặc 201. Inox 304. Inox 316. Ф114 mm. 6m
Giá bán 130.000 80.000 70.000

Phòng kinh doanh là bộ phận thực hiện các công việc xúc tiến thương mại và quyết định về giá trong công ty. Tuy nhiên, trước khi giá cả được quyết định thì phòng kinh doanh sẽ trình lên ban giám đốc chính sách giá để có quyết định cuối cùng.

Công ty sẽ điều chỉnh giá sản phẩm theo những thay đổi của thị trường, làm sao vẫn đảm bảo được về hiệu quả tài chính, vừa mang tính cạnh tranh. Giá của sản phẩm không quá cao hay quá thấp so với giá của sản phẩm cùng loại trên thị trường. Nhờ tính linh động trong điều chỉnh giá này mà công ty, tuy quy mô và nguồn tài chính còn hạn chế, vẫn có những ưu thế cơ bản để cạnh tranh trên thị trường inox Việt.

2.2.3.3. Kênh  phân phối

Trong kinh doanh các sản phẩm công nghiệp, các doanh nghiệp rất ít khi sử dụng kênh phân phối dài, phức tạp; chủ yếu là những kênh ngắn và đơn giản. Các doanh nghiệp thường phân phối trực tiếp sản phẩn của mình đến khách hàng, hoặc qua đại lý ủy quyền của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có kênh phân phối giúp khách hàng dễ tiếp cận sản phẩm hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí lưu kho, luôn có sẵn sản phẩm để phục vụ khách hàng… Kênh phân phối cũng là nơi thu thập thông tin hữu hiệu cho doanh nghiệp, nó còn là nơi giúp doanh nghiệp tư vấn, giải quyết một số thắc mắc của khách hàng.

Chính vì điều đó mà inox Minh Khuê đã ý thức được tầm quan trọng của kênh phân phối và đã chú trọng đầu tư, phát triển kênh phân phối của mình từ rất sớm.

Với đặc thù là một doanh nghiệp thương mại, kinh doanh các mặt hàng thép không gỉ phục vụ cho các khách hàng công nghiệp; inox Minh Khuê sử dụng kênh phân phối trực tiếp từ doanh nghiệp đến tay khách hàng, không qua khâu trung gian phân phối.

Hình 2. 7:  Sơ đồ kênh phân phối của công ty

Hệ thống phân phối đơn giản, hiệu quả, giúp doanh nghiệp có thể phân phối hàng hóa trên toàn quốc, đồng thời tiết kiệm rất nhiều chi phí quản lý, tổ chức.

Tuy nhiên, hiện nay công ty không có kho chứa hàng tại khu vực Miền Trung, nhưng khách hàng tại khu vực này vẫn có thể yên tâm về tính kịp thời và những tiêu chuẩn của sản phẩm mà công ty cung cấp. Ở khu vực này, công ty có thể đặt hàng trực tiếp từ các đối tác nước ngoài, chuyển hàng về cảng Đà Nẵng, sau đó vận chuyển đến nơi khách hàng yêu cầu. Trước khi sản phẩm đến tay khách hàng, công ty sẽ cử bộ phận kỹ thuật đến kiểm tra, để đảm bảo hàng đúng với những yêu cầu của khách. Phòng kinh doanh là bộ phận chính phụ trách và chịu trách nhiệm về vấn đề phân phối trong công ty.

2.2.3.4. Chính sách xúc tiến bán hàng Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Quảng cáo, PR, tổ chức các sự kiện gây sự chú ý…là những công việc rất quan trọng đối với rất nhiều doanh nghiệp trong việc thực hiện chiến lược marketing của mình. Tuy nhiên, trong ngành kinh doanh thép không gỉ, cũng như kinh doanh nhiều mặt hàng công nghiệp khác, những công cụ trên ít được dùng đến. Do đặc thù riêng của những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thép không gỉ công nghiệp, mà đối tượng khách hàng của những doanh nghiệp này không mang tính rộng rãi như trong lĩnh vực kinh doanh các hàng hóa tiêu dùng. Việc quảng cáo trên các phương tiện truyền thông hay PR đối với đối tượng khách hàng này tỏ ra không đem lại nhiều hiệu quả.

Vì những lý do trên mà hầu như chúng ta không nhận thấy các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này sử dụng công cụ trên để cạnh tranh.

Ưu tiên hàng đầu của công ty hiện nay là giữ chân những khách hàng cũ, bởi chi phí cho việc giữ chân khách hàng cũ thấp hơn rất nhiều so với việc tìm kiếm khách hàng mới. Thêm vào đó, việc tìm kiếm khách hàng mới trong lĩnh vực công nghiệp là cực kỳ khó khăn. Trong khi, những tính toán đã chỉ ra rằng, 80% doanh thu của công ty đến từ 20% khách hàng thân thiết.

Đối với những khách hàng công nghiệp, giá cả không phải là yếu tố họ quan tâm nhất, điều họ quyết định chọn nhà cung ứng nào là ở chính sách hỗ trợ sản phẩm. Công ty có đủ năng lực và trình độ để tư vấn cho rất nhiều công trình, dự án, những dây chuyền sản xuất…về việc lựa chọn sản phẩm, cách lắp đặt, bảo quản, vận hành… Điều này đã mang lại sự hài lòng cho khách hàng, tạo dựng được uy tín và sự tin tưởng của đối tác đối với inox Minh Khuê. Chính vì vậy, việc chăm sóc khách hàng thân thiết là một chính sách bán hàng tiết kiệm và hiệu quả hơn đối với doanh nghiệp.

Hiện công ty cũng đang chú trọng đẩy mạnh việc bán hàng cá nhân. Phòng kinh doanh của công ty có 47 nhân viên, được chia thành nhiều nhóm nhỏ hoạt động với nhau. Công ty rất tích cực tham gia các hội chợ hàng công nghiệp, ở đây ngoài việc tìm kiếm đối tác cung cấp, Công ty còn có cơ hội quảng bá, tìm kiếm thêm được những khách hàng mới hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc sử dụng Internet để tìm kiếm khách hàng đang được công ty sử dụng như một trong những kênh chính. Việc sử dụng điện thoại để tìm kiếm khách hàng cũng đang được công ty sử dụng khá hiệu quả. Thông qua sổ Niên Giám Điện Thoại (danh bạ doanh nghiệp, danh sách công ty, trang vàng Việt Nam…) các nhân viên trong phòng kinh doanh phân loại đối tượng khách hàng và có những biện pháp tiếp cận ban đầu với những đối tượng khách hàng này thông qua điện thoại, sau đó gửi thông tin sản phẩm, chính sách đãi ngộ và giới thiệu về công ty qua email, đồng thời xin các cuộc gặp gỡ trực tiếp, tạo dựng quan hệ qua lại với cá nhân, doanh nghiệp. Quá trình chăm sóc này có thể kéo dài từ vài ngày tới vài tháng, tuy nhiên hiệu quả đem lại khá cao. Thông thường cứ 10 khách hàng liên hệ qua email thành công sẽ có 5-7 cuộc gặp trực tiếp và đem về 2-3 đối tác, trong đó có 1-2 đối tác sẽ trở thành khách hàng thân thiết của doanh nghiệp.

2.2.4 Kết quả phát triển thị trường của công ty trong thời gian qua Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Trong công ty, phòng kinh doanh phụ trách việc xúc tiến tìm kiếm khách hàng, tuy nhiên quy mô của công ty là tương đối nhỏ nên chưa có bộ phận marketing hoạt động độc lập.

Công ty chưa có những hoạt động nghiên cứu về thị trường hay khách hàng một cách cụ thể và khoa học, những thông tin về thị trường hay khách hàng mà công ty có được chủ yếu là qua những phương tiện thông tin đại chúng, qua những người bạn hàng, khách hàng của công ty, qua những hội chợ thương mại mà công ty tham gia. Những thông tin đó là chưa đầy đủ, kịp thời và chính xác để công ty có thể chủ động trong việc đưa ra chiến lược phát triển thị trường phù hợp cho công ty.

Việc không có được những thông tin quan trọng về thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh…một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác khiến inox Minh Khuê không đủ cơ sở để chủ động trong việc lựa chọn thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu… Những biến số marketing – mix cũng chưa được công ty thực sự chú trọng và hoàn thiện cho tốt hơn.

Có thể nói hoạt động phát triển thị trường của doanh nghiệp là chưa thực sự rõ ràng và cụ thể, đây cũng là tình hình chung của rất nhiều doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay. Điều này sẽ khiến inox Minh Khuê sẽ gặp nhiều khó khăn trong tương lai, khi hiện nay xu hướng hoạt động theo định hướng marketing của nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực thép không gỉ Việt Nam đã dần hình thành và đi vào hoạt động một cách khoa học, và khi công ty mở rộng quy mô doanh nghiệp, nhập thêm dây truyền công nghệ gia công inox thì công ty sẽ gặp phải nhiều vấn đề cần giải quyết.

Tuy việc phát triển thị trường của công ty thời gian qua còn nhiều mặt hạn chế, nhưng cơ bản đã đạt được những thành tựu đáng kể. Sau đây, chúng ta hãy cùng xem xét các tiêu thức đánh giá mức độ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm inox của công ty trong thời gian qua:

2.2.4.1  Thị phần

Hiện nay nhu cầu về thép không gỉ của Việt Nam khoảng 150.000 tấn/năm. Mỗi năm có hàng chục nghìn doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng inox và nhu cầu này liên tục tăng lên mỗi năm. Tuy nhiên, khả năng gia công chế tạo, sản xuất của chúng ta chỉ khoảng 75.000 tấn/năm, đáp ứng được khoảng gần 50% nhu cầu thị trường trong nước. Số còn lại phải hoàn toàn nhập ngoại. Như vậy tiềm năng thị trường đối với những công ty thương mại, xuất nhập khẩu inox như Minh Khuê là rất lớn.

Trong khi đó, Minh Khuê hàng năm mới chỉ cung cấp cho thị trường một con số khá khiêm tốn, khoảng 12.000 tấn, tức chỉ chiếm gần 8.0% thị phần. Như vậy có thể nói, Minh Khuê là một doanh nghiệp còn tương đối nhỏ bé so với các đối thủ tầm cỡ khác như Sơn Hà, Hòa Bình hay Tiến Đạt.

Hiện nay ở thị trường Việt Nam, có nhiều nhà cung cấp thép không gỉ. Tuy nhiên, Tiến Đạt là nhà cung cấp thép không gỉ lớn nhất, với thị phần chiếm trên 23%, Hòa Bình đứng thứ 2 với thị phần khoảng 19%, Đông Á đứng thứ 3 chiếm thị phần khoảng 15%, Hoàng Vũ đứng thứ 4 với thị phần khoảng 12%, Sơn Hà chiếm thị phần khoảng 9%, ITALINOX và Kim Long chiếm thị phần khoảng 5%, phần còn lại là các doanh nghiệp khác chiếm khoảng 4%.

Để hình dung rõ hơn về thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường thép không gỉ Việt Nam, ta biểu diễn thị phần của các doanh nghiệp qua biểu đồ sau: Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Hình 2. 8: Biểu đồ thị phần thép không gỉ Việt Nam

Những phân tích trên cho chúng ta thấy, hiện nay trên thị trường thép không gỉ Việt Nam, Minh Khuê chỉ là một doanh nghiệp tương đối nhỏ bé, doanh thu hàng năm chỉ khoảng 100 tỉ đồng, trong khi đó tổng nhu cầu về thép không gỉ trên thị trường Việt Nam ước tính lên đến 70.000 tỉ đồng. Rõ ràng Minh Khuê mới chỉ tham gia vào thị trường cung cấp thép không gỉ trong thời gian gần đây và chưa đủ khả năng tạo được tiếng vang trên thị trường, vị thế của Minh khuê là tương đối nhỏ bé so với các doanh nghiệp tên tuổi khác đã có tiếng trong lĩnh vực thép không gỉ như: Tiến Đạt, Hòa Bình, Đông Á, Hoàng Vũ…

2.2.4.2. Doanh thu, lợi nhuận, chỉ tiêu doanh lợi bán hàng 

Bảng 2. 7: Số liệu doanh thu bán hàng, lợi nhuận sau thuế, doanh lợi bán hàng (ROS) của công ty giai đoạn 2017-2024

Đvt: triệu đồng

Năm 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Doanh thu 123.978 169.854 181.026 98.607 295.821 373.661 326.034 371.911
Lợi nhuận 10.478 14.355 15.299 8.334 25.001 23.851 9.854 21.966
ROS (%) 8.45 8.45 8.45 8.45 8.45 6.38 3.02 5.91

Nguồn: Phòng kinh doanh Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Inox Minh Khuê

  • Doanh thu

Doanh thu từ mặt hàng inox là kết quả cho quá trình mở rộng thị trường của công ty trên các thị trường khác nhau. Sau 7 năm, từ 2017 – 2024, doanh thu của công ty liên tục tăng lên.

Doanh  thu  của  công  ty  qua  các  năm  đều  tăng,  hơn  nữa, sản lượng tiêu thụ sản phẩm inox cũng tăng qua các năm, cho thấy hoạt động mở rộng thị trường của công ty đã tỏ ra hiệu quả. Tuy nhiên, sản lượng tăng không nhiều, và thị phần so với các đối thủ cạnh tranh cũng không có thay đổi gì nhiều. Bởi vậy, để đạt được hiệu quả mở rộng thị trường cao thì công ty cần phải có những chiến lược rõ ràng và mạnh dạn hơn.

Kết quả kinh doanh của công ty trong thời gian qua cho chúng ta thấy, năm 2021 là một năm làm ăn rất thành công của công ty. Doanh số tiêu thụ hàng hóa của năm 2021 so với năm 2020 tăng gấp hơn 2 lần. Sở dĩ có sự tăng trưởng vượt bậc trên là do trong năm 2020, nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng, nhưng đến năm 2021 nền kinh tế Việt Nam vực dậy đầy bất ngờ, đẩy nhu cầu về thép không gỉ tăng cao (tốc độ tăng trưởng đạt 20%/ năm).

Ngoài những khách hàng quen thuộc như các công ty thành viên của tổng công ty cổ phần lắp máy LILAMA, công ty cổ phần xây dựng thoát nước I, nhà máy bột ngọt MIWON… Năm 2021, công ty còn có thêm những hợp đồng cung cấp inox cho những khách hàng mới như: trong lĩnh vực đóng tàu có công ty TNHH 1 TV CTTB Hải Phòng, nhà máy sơn TOA, nhà máy bia Sài Gòn Đắc Lắc, dự án thủy điện sông Ba Hạ, dự án xử lý nước thải TP. Đà Lạt…

Năm 2023, sản lượng thép không gỉ công ty tiêu thụ được giảm hơn so với năm 2021 và 2022. Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút trên la do năm 2023, tình hình kinh tế biến động, chịu ảnh hưởng nặng nề của lạm phát phi mã và tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, nhiều doanh nghiệp trong nước làm ăn thua lỗ, nhu cầu xây dựng, mở rộng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp là rất ít, nhiều doanh nghiệp còn thu nhỏ quy mô hoạt động. Do đó, nhu cầu về thép không gỉ cũng giảm sút, trong tình hình đó một số khách hàng của công ty không có nhu cầu về inox. Tuy nhiên công ty cũng đã có thêm những khách hàng mới như: nhà máy ván ép MDF Quảng Trị, dự án thủy điện Quảng Trị, dự án cấp nước Nam Dư Hà Nội…nên sự giảm sút về doanh số bán và doanh thu là không đáng kể. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Như vậy, cùng với sự tăng trưởng của thị trường thép không gỉ Việt Nam hằng năm khoảng 15%, trong giai đoạn năm 2018 đến năm 2024, có những lúc Công ty có sự tăng trưởng thụt lùi, nhưng nhìn chung trong giai trên Công ty đã có tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức khá, đạt trung bình mỗi năm vào khỏang 28.5% về sản lượng và 41% về doanh thu. Tốc độ tăng trưởng trên vượt xa so với tình hình chung của toàn ngành thép không gỉ. Đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh của Minh Khuê trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2024 là rất tốt.

  • Lợi nhuận

Hình 2. 9: Lợi nhuận của doanh nghiệp qua các năm 2017-2024

Công ty khởi đầu với số vốn điều lệ vỏn vẹn 5 tỷ đồng vào cuối năm 2016, và từ đó đến nay đã liên tục gia tăng vốn điều lệ doanh nghiệp, đồng thời đạt doanh thu vài trăm tỉ đồng, lợi nhuận vài chục tỉ đồng. Ngay cả trong những năm khó khăn nhất của nền kinh tế là 2020 và 2023, công ty vẫn đứng vững và đạt lợi nhuận dương, với mức lợi nhuận tương đối khá (xấp xỉ 10 tỷ đồng). Đó quả là con số đáng mơ ước đối với một doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ như công ty.

  • Chỉ tiêu doanh lợi bán hàng (ROS)

Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty tính doanh thua lỗ.

Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia.

  • Từ bảng số liệu 2.7, ta có thể dễ dàng nhận thấy:

Hầu hết các năm doanh nghiệp có tỉ số ROS trên 6% (mức trung bình toàn ngành), và ổn định ở mức cao trong giai đoạn 2017 – 2021. Chỉ riêng năm 2023 và 2024 là dưới mức trung bình ngành, nhưng vẫn đang có chiều hướng tăng trưởng, nhất là năm 2025 này bất động sản và xây dựng có những bước phát triển trở lại, tin tưởng ROS của doanh nghiệp sẽ đạt mức tăng cao trở lại.

Đặc biệt, trong suốt quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp, inox Minh Khuê chưa từng đạt chỉ số ROS âm, tức luôn luôn kinh doanh có lãi. Đó quả là một thành tích không nhỏ đối với doanh nghiệp, nhất là một doanh nghiệp mới, hoạt động trong lĩnh vực mới như inox (thậm chí còn chưa có chính sách điều hướng và biện pháp hỗ trợ từ Nhà nước và Chính Phủ cho lĩnh vực này).

2.2.4.3. Chỉ tiêu đánh giá tốc độ tiêu thụ sản phẩm (K)

Từ bảng số liệu 2.7, ta có:

Tốc độ tiêu thụ sản phẩm (K) năm 2018 là:

Tương tự ta cũng có tốc độ tiêu thụ sản phẩm của công ty các năm 2019 – 2024 dựa vào số liệu bảng số liệu 2.7. Từ đó ta có bảng số liệu sau:

Bảng 2. 8: Tốc độ tiêu thụ sản phẩm qua các năm 2017-2024

Năm 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
K (%) 137 107 54 300 126 87 114

Nhìn chung, tốc độ tiêu thụ sản phẩm qua các năm là ổn định và có xu hướng ngày càng tăng cao. Riêng năm 2020 và 2023, doanh nghiệp vấp phải khó khăn chung của nền kinh tế nên tốc độ tiêu thụ có chậm lại, tuy nhiên lại khởi sắc và đạt kết quả tốt ngay năm sau đó, khi thị trường đi vào ổn định hơn. Điều đó cho thấy việc phát triển thị trường của Minh Khuê làm khá tốt.

2.2.4.4. Một số chỉ tiêu khác

  • Số lượng khách hàng Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Theo thống kê chưa chính xác của phòng kinh doanh, số lượng khách hàng các năm trở lại đây luôn luôn biến động, tăng lên và giảm xuống tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, tuy nhiên cơ bản là tăng lên cùng với quá trình phát triển của doanh nghiệp qua các năm 2017 – 2024. Trích bảng 2.4 để thấy rõ điều này hơn:

  • Số thị trường mới

Là số thị trường công ty mới nghiên cứu và mở rộng thêm trong kỳ kinh doanh (thường là một năm).

Hiện công ty vẫn duy trì những thị trường đã có từ năm mở rộng đầu tiên (2018) tại ba vùng miền Bắc, Trung, Nam, và chú trọng khai thác các mối quan hệ khách hàng sẵn có hơn tìm thị trường mới (về mặt địa lý). Tuy nhiên, nhìn số lượng khách hàng ngày một tăng qua các năm, chúng ta có thể thấy được số thị trường mới được tạo ra thông qua sự chênh lệch năm trước tăng hơn năm sau đó.

  • Mức độ nổi tiếng của tên công ty trên thị trường

Chỉ tiêu này được đánh giá qua kết quả nghiên cứu thị trường, qua các cuộc phỏng vấn khách hàng trong các chiến dịch marketing quảng cáo sản phẩm.

Ngày nay có rất nhiều khách hàng mua sản phẩm của một doanh nghiệp là do uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp đó, thậm chí nhiều doanh nghiệp thương hiệu đã ăn sâu vào tâm thức người tiêu dùng, chẳng hạn như Honda Việt Nam, điện thoại Nokia, café Trung Nguyên, … Nhận thức được tầm quan trọng của uy tín thương hiệu, inox Minh Khuê từ khi ra đời đã luôn gắn liền hoạt động ổn định và mở rộng thị trường với hoạt động phát triển thương hiệu. Cho tới nay, công ty đã có nhiều khách hàng quen thuộc, có những khách hàng đã là đối tác của công ty từ những ngày đầu thành lập tới nay. Công ty luôn coi uy tín là hàng đầu, và tiến hành củng cố thương hiệu, nâng cao uy tín bằng chất lượng sản phẩm được cam kết, dịch vụ hậu mãi chu đáo. Đó chính là những cam kết uy tín lâu bền nhất giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường một cách vững chắc trong quá khứ và tương lai sau này.

2.2.5. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển thị trường của công ty Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

2.2.5.2. Yếu tố bên trong doanh nghiệp 

  • Chất lượng nguồn nhân lực

Đội ngũ cán bộ công nhân viên công ty gồm 80 người, hầu hết đều là những người trẻ, giàu nhiệt huyết và sáng tạo, với trình độ từ cao đẳng trở lên. Phòng kinh doanh có 3 nhân viên chuyên trách mảng marketing, trong đó tập trung vào điều tra và phân đoạn thị trường, tìm kiếm khách hàng tiềm năng …

  • Tiềm lực tài chính

Để hoạch định các chiến lược hiệu quả cần phải phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán, cán cân nợ, vốn luân chuyển, lợi nhuận, lượng tiền mặt… của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược.

Tình hình tài chính tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Khi đánh giá về tình hình tài chính doanh nghiệp cần phải tập trung vào các vấn đề chủ yếu: nhu cầu về vốn, khả năng huy dộng vốn, việc phân bổ vốn, hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp đánh giá vị thế của doanh nghiệp. Ngoài ra còn phải xem xét đánh giá tác động của công tác kế toán tại doanh nghiệp.

Hiện tại, doanh nghiệp có tình hình tài chính khá ổn định và lành mạnh, tuy quy mô vốn không phải là lớn trong ngành (138 tỉ), nhất là so với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp hoạt động thương mại trong ngành thì đây cũng không phải là con số quá nhỏ cho việc hoạch định, sử dụng nguồn lực tại chính phát triển doanh nghiệp bền vững. Lãi vay ngân hàng đều chiếm tỉ trọng nhỏ và đang được đánh giá là khoản vay an toan (phần nhiều vốn hoạt động kinh doanh đều lấy từ nguồn vốn tự có). Trong khi đó, doanh nghiệp kinh doanh liên tục có lãi qua nhiều năm, và cơ hội phát triển và lớn mạnh của doanh nghiệp đang rộng mở.

  • Yếu tố sản phẩm và kênh phân phối của doanh nghiệp

Sản phẩm là một hệ thống các yếu tố thoả mãn đồng bộ nhu cầu của khách hàng bao gồm: mẫu mã, chất lượng, công dụng, giá cả của sản phẩm. Mỗi loại hàng hoá có tính chất và đặc điểm riêng, do vậy chỉ phù hợp với yêu cầu của một số khách hàng nhất định. Nếu hàng hoá càng thích ứng với khách hàng nhiều thì uy tín của doanh nghiệp và độ tin cậy của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp càng được nâng cao, và ngược lại, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường.

Người tiêu dùng thường quan tâm nhiều tới chất lượng sản phẩm nên chất lượng sản phẩm thường quyết định mức tiêu thụ trên thị trường và khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp thương mại thì giá của sản phẩm thường ảnh hưởng nhiều hơn tới khối lượng hàng hoá bán ra. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh inox ở Việt Nam hiện nay. Vì hiện tại, các doanh nghiệp ở Việt Nam có thể tự sản xuất được sản phẩm inox còn rất ít, chủ yếu là các doanh nghiệp nhập khẩu inox về và gia công, chế tạo thành sản phẩm. Vì vậy, chất lượng các sản phẩm inox này không khác biệt nhau nhiều dẫn đến giá sản phẩm trở thành yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh inox. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

  • Về phân phối: 

Do những đặc trưng riêng của sản phẩm inox công nghiệp, việc cung cấp sản phẩm của Minh Khuê đều được cung cấp trực tiếp cho các công trình công nghiệp và dân dụng, do vậy công ty được chủ động hơn về các điều kiện cung cấp, mức giá cả …

Trong kinh doanh các sản phẩm công nghiệp, các doanh nghiệp rất ít khi sử dụng kênh phân phối dài, phức tạp, mà chủ yếu là những kênh ngắn và đơn giản. Các doanh nghiệp thường phân phối trực tiếp sản phẩm của mình đến khách hàng, hoặc qua đại lý ủy quyền của doanh nghiệp.

Kênh phân phối giúp khách hàng dễ tiếp cận sản phẩm hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí lưu kho, luôn có sẵn sản phẩm để phục vụ khách hàng… Kênh phân phối đem lại rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp trong kinh doanh. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp tuy kinh doanh trong lĩnh vực thép không gỉ, phục vụ các khách hàng công nghiệp, nhưng đã ý thức được tầm quan trọng của kênh phân phối và đã chú trọng đầu tư, phát triển kênh phân phối của mình.

Hiện Tiến Đạt có trụ sở chính tại Lạc Trung, Hai Bà Trưng, Hà Nội, có bốn đơn vị thành viên: một ở Hưng Yên, một ở Hà Nội, một ở Bắc Ninh và một ở Long An, có hai chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh, một chi nhánh ở Nam Định, một chi nhánh ở Hải Phòng và chín phòng trưng bày các sản phẩm inox ở Hà Nội.

Hòa Bình có trụ sở chính tại Hưng Yên, văn phòng chính tại Nguyễn Văn Cừ, Gia Lâm, Hà Nội; một chi nhánh tại Hà Nội, một chi nhánh ở Đà Nẵng , một chi nhánh ở TP.Hồ Chí Minh.

Đông Á hiện có trụ sở chính tại Hà Nội, một chi nhánh, một tổng kho và một văn phòng đại diện tại TP.Hồ Chí Minh, một nhà máy liên doanh với Arcelor stainless, thuộc tập đoàn   Arcelor – Mittal, tại Hưng Yên : Nhà máy UGINOX VN.

Minh Khuê ngoài trụ sở chính tại Hà Nội cũng có một văn phòng đại diện tại TP.Hồ Chí Minh, chịu trách nhiệm cung sản phẩm đi khắp các tỉnh thành trong cả nước. Sắp tới công ty sẽ có một nhà máy gia công, chế tạo các sản phẩm từ inox đặt tại Chương Mỹ, Hà Nội.

Tuy nhiên, việc doanh nghiệp có kênh phân phối quá ngắn và không có các đại lý bán hàng, khiến cho các đối tượng khách hàng mua lẻ, tư nhân khó tiếp cận mua hàng. Kênh phân phối này cũng không giúp ích cho công ty trong việc thu thập thông tin, tư vấn cho khách hàng, giải quyết những vấn đề mà khách hàng gặp phải… Đồng thời còn gặp khó khăn trong việc điều chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, tốn kém về chi phí vận chuyển…

2.2.5.3. Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 

  • Yếu tố kinh tế. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Giai đoạn 2021 – 2024, nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp trong nước rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, tìm kiếm việc làm.

Ngày 3 tháng 4 năm 2025, tại một hội thảo tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế của Việt Nam đã nhận định nền kinh tế Việt Nam đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2019-2023, chỉ có 1 năm (2020) Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8%. Tuy xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD trong giai đoạn này nhưng mức tăng trưởng lại thấp hơn 5 năm trước khi gia nhập WTO. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60%, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là nông – lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng mạnh, 18 tỷ USD vào năm 2020. Kinh tế Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng bởi giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ 2019-2020 đến nay. Đến năm 2025, sau 7 năm hội nhập, tình hình kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều áp lực, từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.

Chính những điều đó có tác động trực tiếp đến kinh tế Việt Nam nói chung, và các doanh nghiệp trong nước nói riêng, trong đó có Công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu inox Minh Khuê.

Theo báo cáo công bố tình hình kinh tế, xã hội năm 2024 của Tổng cục Thống kê được công bố ngày 24/12/2024, trong năm 2024 tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 5,03% đồng thời với việc thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Bảng 2.9: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2021-2024

      Năm 2021 2022 2023 2024
Tỷ lệ tăng trưởng (%) 5,2 6,78 5,89   5,03

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2021, 2022, 2023 và 2024

Năm 2023 là một trong những năm có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất trong vòng 10 năm gần đây (5,89%) và tỉ lệ lạm phát thuộc hàng cao nhất (18,13%), nên áp lực kinh tế đối với các doanh nghiệp trong năm này là vô cùng lớn. Hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thép nói chung và lĩnh vực inox nói riêng, đều tụt giảm lớn doanh thu và lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp điêu đứng hoặc phá sản.

Như vậy, sự tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế có tác động rất mạnh tới sự phát triển của ngành. Năm 2024 sự phục hồi của nền kinh tế trong nước đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất, thương mại trong đó có công ty TNHH XNK inox Minh Khuê. Mặt khác, sự phục hồi kinh tế cũng tạo ra những thách thức khi môi trường kinh doanh tốt hơn sẽ thu hút thêm ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh.

Về chỉ số giá tiêu dùng trong nước những năm gần đây diễn biến khá phức tạp, được thể hiện cụ thể qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.10: Tỷ lệ lạm phát (CPI) của Việt Nam giai đoạn 2021-2024

Năm 2021 2022 2023 2024
Tỷ lệ lạm phát (%) 6,8 11,75 18,13 6,81

(Nguồn http://taichinh.vnexpress.) Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Sự tăng đột biến CPI năm 2023 đã làm giá cả leo thang, chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí nhân công đều tăng, trong khi GDP chỉ ở mức 5,89%, gây khó khăn cho đời sống nhân dân và làm suy giảm khả năng cạnh tranh, phát triển của các doanh nghiệp. Từ đó có thể thấy, năm 2023 là một năm vô cùng khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành thép (trong đó có công ty TNHH XNH inox Minh Khuê) nói riêng.

Năm 2024 là năm Chính Phủ tiếp tục thực hiện đồng bộ nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát với giải pháp thắt chặt tiền tệ. Đây chính là nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp ngành thép nói chung và inox nói riêng lao đao. Hàng tồn kho tăng cao, mà cơ hội vay ngân hàng giảm, chi phí lãi vay tăng cao, chi phí nhân công và các khoản nguyên vật liệu đầu vào đều đội lên theo lạm phát…

Tóm lại, sự biến động của môi trường kinh tế tác động đến các doanh nghiệp trong nước nói chung và công ty cổ phần thương mại XNK inox Châu Âu nói riêng theo hai hướng: Sự tăng trưởng kinh tế tạo cơ hội tốt trong việc đầu tư, mở rộng thị trường và quan hệ được mở rộng, mặt khác khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, lạm phát tăng, thất nghiệp tăng cao tạo ra những thách thức đối với công ty cổ phần thương mại XNK inox Châu Âu như thị phần trong nước thu hẹp lại, cạnh tranh khốc liệt hơn mà chủ yếu thiên về giá, các hoạt động đầu tư sâu, rộng bị kéo dài thời gian thực hiện, hoặc cắt giảm một số hạng mục… Vì vậy doanh nghiệp cần phải có chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất, tìm kiếm, phát triển những thị trường mới giàu tiềm năng, như việc mở rộng, hướng tới thị trường quốc tế một cách chọn lọc.

  • Yếu tố văn hoá- xã hội

Mặc dù thời gian qua phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức do trình độ phát triển kinh tế còn thấp, do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh và những biến động về chính trị, kinh tế của thế giới, song nhìn lại về tổng quát, Việt Nam đã đạt bước tiến mới về phát triển kinh tế – xã hội cũng như sự ổn định về tình hình chính trị.

Các năm qua, cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, các vấn đề xã hội, nhất là vấn đề xoá đói giảm nghèo, lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xây dựng đời sống văn hoá mới đã được Đảng và Nhà Nước quan tâm thích đáng. Theo báo cáo phát triển con người năm 2023 do Tổ chức Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc UNDP công bố, Việt Nam xếp thứ 128/187 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới về chỉ số phát triển con người (HDI), thuộc nhóm các nước có chỉ số phát triển con người trung bình.

Rõ ràng nhu cầu của con người, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng đòi hỏi cao hơn. Yếu tố xã hội đã dần làm thay đổi nhận thức, hiểu biết của người dân. Do vậy yêu cầu đối với các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đều cao hơn, đặc biệt là nhu cầu đối với các sản phẩm, dịch vụ nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó cũng là điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm inox phục vụ tiêu dùng phát triển, thay thế dần các sản phẩm đồ thủy tinh, gỗ, giấy, đá về ưu điểm bền, đẹp, thanh lịch, giá rẻ hơn, hay đồ nhựa với nguy cơ tiềm ẩn gây ung thư… Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Tuy nhiên hiện nay thu nhập của đa số người dân còn thấp, do đó chi phí cho tiêu dùng còn bị hạn chế, trong khi giá thành của các sản phẩm inox vẫn còn cao, nên đây cũng là một lý do khiến việc phát triển thị trường theo hướng hàng tiêu dùng còn gặp nhiều khó khăn.

Đó là mặt giới hạn trong tiêu dùng, còn trong lĩnh vực xây dựng, Việt Nam là một nước có tốc độ đô thị hóa cao, nhiều công trình xây dựng đô thị còn cần triển khai. Trong dài hạn, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng tiếp tục là yếu tố thúc đẩy nhu cầu sử dụng thép. Tốc độ đô thị hoá trung bình hàng năm của Việt Nam trong 10 năm qua vào khoảng 3,4%; tỷ lệ ước tính trong 10 năm tới vào khoảng 3%.

Theo kế  hoạch, tỷ lệ đô thị hoá có thể đạt 50% vào năm 2040. Đây chính là một lợi thế chiến lược của ngành thép, trong đó thép không gỉ (inox) cũng đang ngày một được sử dụng rộng rãi hơn trong các công trình xây dựng và dân dụng vì các ưu điểm vượt trội của nó như độ bền, tính thẩm mỹ, giá thành cạnh tranh so với các sản phẩm khác…

  • Yếu tố chính phủ, luật pháp và chính trị

Việt Nam là một quốc gia có nền chính trị ổn định, các quan điểm chính sách của Đảng và Nhà Nước tương đối nhất quán. Đó chính là những yếu tố hấp dẫn và thu hút sự đầu tư ở cả trong và ngoài nước.

Trong những năm qua, quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng đặc biệt là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO đã tạo cơ hội lớn cho kinh tế phát triển.

Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực để hội nhập nền kinh tế Việt Nam với thế giới thông qua việc ban hành và thực hiện các chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính sách mở cửa đã thực sự khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư mạnh vào nước ta. Nhà nước ta đã và đang tích cực đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện, bổ sung và sửa đổi hệ thống pháp luật phù hợp với các định chế của WTO, điều này được thể hiện thông qua các Luật thuế giá trị gia tăng, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư,…với các chính sách này doanh nghiệp có nhiều điều kiện hơn trong việc tích luỹ vốn để tăng cường tái đầu tư sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh.

Tuy nhiên cùng với đà suy thoái kinh tế toàn cầu, lượng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nhiều, điều này ít nhiều làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam nói riêng và kinh tế thế giới nói chung.

Mặc dù tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến phát triển ngành thép, bởi đây là một ngành công nghiệp nặng mũi nhọn của quá trình CNH-HĐH đất nước.

Chính phủ Việt Nam luôn định hướng rất rõ ràng là ngành thép phải đi trước một bước so với các ngành khác (từ 10-15 năm) để tạo đà cho các ngành công nghiệp, kinh tế khác phát triển, đó là một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành có điều kiện tiếp xúc với các kỹ thuật, công nghệ mới, có cơ hội phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, và được hưởng những chính sách thuế quan ưu đãi cho ngành.

  • Yếu tố khoa học công nghệ Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển khoa học công nghệ đã đạt ở mức vũ bão, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng, thúc đẩy quá trình sản xuất và thương mại trên thế giới. Chính vì thế Nhà Nước khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại bằng chính sách thuế ưu đãi.

Ngành thép là một trong những ngành có tốc độ phát triển kỹ thuật, công nghệ nhanh, hàng loạt các công nghệ mới đã ra đời với các ưu điểm vượt trội đã thay thế cho các công nghệ cũ mang lại hiệu quả lớn trong sản xuất, kinh doanh thép. Nhất là trong thời kỳ hội nhập, hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, thì việc cạnh tranh trong nước và quốc tế liên quan đến công nghệ lại càng trở nên gay gắt.

Tuy nhiên, với đặc tính ngành sản xuất thép là một ngành công nghiệp nặng, nên chi phí cho dây chuyền sản xuất, công nghệ mới không phải là thấp. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp trong ngành vẫn nhập thiết bị, công nghệ sản xuất thép quy mô nhỏ, lạc hậu về sử dụng, bất chấp những khuyến cáo của VSA, hay những quy định và danh mục cấm nhập công nghệ sản xuất thép quy mô nhỏ, lạc hậu, được ban hành từ quý IV-2021 của Bộ Công Thương. Đây cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tiếp cận và làm chủ khoa học, công nghệ.

  • Môi trường ngành và Đối thủ cạnh tranh

Ngành thép là ngành Công nghiệp nặng cơ sở của mỗi quốc gia. Nền Công nghiệp gang thép mạnh là sự đảm bảo ổn định và đi lên của nền kinh tế một cách chủ động, vững chắc. Sản phẩm thép là vật tư, nguyên liệu chủ yếu, là “lương thực” của nhiều ngành kinh tế quan trọng như ngành cơ khí, ngành xây dựng; nó có vai trò quyết định tới sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đa số các nước thành công về phát triển kinh tế đều xác định ngành thép là ngành kinh tế mũi nhọn, hàng đầu và tập trung đầu tư cho nó phát triển.

Trước những năm 90, chỉ có các doanh nghiệp Nhà nước tham gia sản xuất thép như Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty Gang thép Miền Nam… Nhưng sau đó, khi chính sách đổi mới của Đảng trong phát triển kinh tế ra đời, ngành thép đã không ngừng phát triển, dẫn chứng đó là sự ra đời 5 liên doanh cán thép, 2 công ty cán thép 100% vốn nước ngoài và sau năm 2012, đã có thêm hàng loạt các công ty sản xuất thép của tư nhân, các công ty thép cổ phần và các công ty thép thuộc các đơn vị khác ngoài bộ Công nghiệp, đưa số lượng của các đơn vị lên gần 50 đơn vị.

Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển xây dựng ở Việt Nam ngày một gia tăng, thị trường thép từ đó cũng được mở rộng. Tính bình quân, tốc độ tăng trưởng ngành thép trong thời kì 1991-2013 là 25% và về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu thép xây dựng đất nước (đã 5 năm nay, gần như không phải nhập khẩu thép thanh và thép cuốn cho xây dựng).

Trong lĩnh vực thép không gỉ (inox), do đang trong giai đoạn phát triển cơ sở hạ tầng nên nhu cầu về vật liêu xây dựng nói chung và thép không gỉ nói riêng là tương đối cao. Mỗi năm có hàng chục nghìn doanh nghiệp sử dụng inox và nhu cầu lên đến hơn 150.000 tấn/năm với tốc độ tăng trưởng lên đến 15%/ năm. Đây có thể nói là một lĩnh vực kinh doanh khá hấp dẫn đối với nhiều doanh nghiệp. Chính vì điều đó mà ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào ngành và sự cạnh tranh ngày càng nóng hơn.

  • Khách hàng. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

Khách hàng là một bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh. Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp. Sự tín nhiệm đó đạt được do doanh nghiệp đã thoả mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh.

Một vấn đề mấu chốt ở đây là khả năng ép giá của khách hàng hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và nhiều dịch vụ hơn.

Trong bối cảnh đó, Công ty xác định rõ mục tiêu khi tham gia vào mỗi dự án, đối với dự án lớn có nhiều đối thủ đầu ngành tham gia với yêu cầu cao về năng lực tài chính, kinh nghiệm thì công ty chủ động rút lui, chỉ tham gia vào những dự án phù hợp với năng lực tài chính, kinh nghiệm và năng lực sản xuất của mình, đó cũng là cách tốt nhất để thực hiện hiệu quả dự án và giữ được uy tín với chủ đầu tư. Thêm nữa, doanh nghiệp chuyên về mảng thương mại, với sản phẩm thép không gỉ chủ yếu là nhập ngoại. Chất lượng thép nhập khẩu thường cao và ổn định hơn các sản phẩm thép trong nước nên có thể đáp ứng tốt các yêu cầu khắt khe của đối tác, bù lại, lại chịu sự cạnh tranh khá gay gắt về giá từ nguồn thép trong nước và thép giá rẻ từ Trung Quốc ồ ạt tràn sang.

Đối với các thị trường lớn (cả về cung và cầu) ngành thép nói chung và thép không gỉ nói riêng như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, thì với mỗi quốc gia cũng có những yêu cầu chất lượng sản phẩm khác nhau, tùy vào tình hình và khả năng của mỗi doanh nghiệp để có những hướng khai thác từng thị trường phù hợp. Thị trường Trung Quốc thì chất lượng thép thấp hơn nhưng giá thành rẻ hơn, doanh nghiệp Việt Nam khai thác thị trường này nên chú trọng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm. Còn Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản là những quốc gia có cầu sử dụng sản phẩm inox rất cao (từ 30-50kg/người/năm), nhưng có yêu cầu chất lượng khắt khe, bù lại doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh được với doanh nghiệp nước sở tại về vấn đề giá cả, hoặc tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, để khai thác tốt hơn các thị trường này.

  • Sản phẩm/ dịch vụ thay thế

Ưu điểm của thép không gỉ (inox) là tính bền, đẹp, độ sáng bóng, ít bị ăn mòn hay oxi hóa khi tiếp xúc với các tác nhân oxy hóa (không khí, độ ẩm…) Nhờ những đặc tính nổi bật, ngày nay, thép không gỉ được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, y tế, đời sống …

Tuy nhiên, nhược điểm của thép không gỉ là khó hàn, có thể bị ăn mòn ở biên hạt nơi vùng ảnh hưởng của mối hàn (đều có biện pháp khắc phục), và quan trọng nhất là giá thành ở mức khá cao.

Vì vậy, nếu xét về mặt giá thành, nhựa là sản phẩm thay thế hoàn hảo cho inox trong việc sản xuất các vật dụng sinh hoạt hằng ngày. Như tủ nhựa đựng đồ, bàn, ghế nhựa, rổ, giá, kệ nhựa, xô chậu nhựa, bình chai nhựa, bát đĩa nhựa… Nhựa tuy có nguy cơ gây ung thư cho người sử dụng trực tiếp, nhưng vì giá thành rẻ, nhẹ, dễ sử dụng và phổ cập nên vẫn là một sản phẩm thay thế có sức ảnh hưởng đối với lĩnh vực sản xuất các mặt hàng inox dành cho tiêu dùng.

Bên cạnh đó, sản phẩm inox còn bị cạnh tranh bởi sản phẩm thủy tinh (có độ trong, đẹp), hay gỗ (trong vật dụng trang trí nội thất) vì tính sang trọng và ấm của gỗ, đá hoa cương các loại dùng trong trang trí nội thất…. Trong lĩnh vực trang trí nội thất, inox thường mang lại cảm giác lạnh, phù hợp với những thiết kế mang đậm chất phương Tây, nên phù hợp hơn với các trung tâm thương mại hay các tòa cao ốc hiện đại. Sản phẩm sứ, thủy tinh, gỗ và đá vẫn được sử dụng rộng rãi trong các gia đình.

Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, rất nhiều vật liệu mới được ra đời có khả năng thay thế cho inox trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự tác động này của hàng hóa thay thế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cầu thép không gỉ trong thời gian tới. Điều này tạo nên một thách thức và cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất inox có thể cải tiến sản phẩm hoặc tìm ra cách thức mới thâm nhập thị trường, thay đổi thói quen tiêu dùng trong một bộ phận lớn dân cư.

2.2.6. Đánh giá thực trạng hoạt động phát triển thị trường của công ty trong thời gian qua Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

2.2.6.1. Kết quả đạt được

 Bằng việc xây dựng hệ thống kênh phân phối chuyên nghiệp, công ty có thể nhanh chóng đưa được nhãn hiệu của mình ra thị trường, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa công ty và khách hàng, kịp thời đáp ứng nhu cầu sản phẩm ngay khi khách hàng cần đến:

Công ty có đội ngũ nhân viên giỏi, hiểu sâu sắc công việc cũng như đặc tính từng khách hàng, đối tác, nên có thể tính toán được chính xác lượng hàng cần nhập khẩu, khiến lượng hàng tồn kho gần như không có, làm giảm đáng kể cho công ty một khoảng chi phí lưu kho.

Hiện tại, đội ngũ nhân lực của công ty gồm 80 người, đều có trình độ từ cao đẳng trở lên, đang hoạt động rất hiệu quả và là nhân tố chính giúp công ty làm ăn có lãi trong điều kiện kinh tế khủng hoảng và nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng làm ăn thua lỗ, phá sản.

Về năng lực quản lý: Đội ngũ lãnh đạo của công ty đều là những cán bộ được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn và năng động với thị trường.

Công ty có hệ thống các nhà cung cấp uy tín, với chất lượng sản phẩm cao và đồng đều, không ngừng được cải tiến kiểu dáng, chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của chủ đầu tư.

Phần lớn vốn của công ty được tạo dựng trong quá trình phát triển, tái đầu tư, công ty ít phải vay vốn ngân hàng để kinh doanh, điều này giúp công ty không phải chịu áp lực khi lãi suất tăng cao, cắt giảm được chi phí sử dụng vốn, đồng thời tạo được uy tín đối với nhà đầu tư và khách hàng.

Công ty có hệ thống phân phối vô cùng tối giản, gồm trụ sở chính đặt tại Hà Nội, chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm đi toàn bộ khu vực miền Bắc và miền Trung, và một VPĐD tại thành phố Hồ Chí Minh, chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm toàn miền Nam. Việc công ty mở thêm VPĐD tại miền Nam đã làm tăng sản lượng tiêu thụ của công ty thêm khoảng 2.000 tấn mỗi năm, nâng tổng sản lượng toàn doanh nghiệp lên, năm sau cao hơn năm trước, và trong 3 năm gần đây luôn ở mức trên 18.000 tấn mỗi năm, chiếm 8% thị phần toàn lĩnh vực inox, trong khi vốn điều lệ chỉ ở mức 138 tỷ đồng. Đó quả là những thành công không nhỏ của một công ty tầm vừa và nhỏ.

Với những đặc trưng riêng của sản phẩm inox công nghiệp, việc cung cấp sản phẩm của công ty đều được cung cấp trực tiếp cho các công trình công nghiệp và dân dụng, do vậy công ty được chủ động hơn về các điều kiện cung cấp như kho bãi, vận tải, mức giá cả… Giúp cho việc phân bổ lao động luôn chủ động, đảm bảo kịp tiến độ và yêu cầu của khách hàng.

Cách thức sắp xếp tổ chức bộ máy công ty vô cùng đơn giản, chủ yếu nhân lực tập trung ở phòng kinh doanh và phòng xuất nhập khẩu, đảm trách công việc chính là tìm kiếm khách hàng, cân đối nguồn cung và kế hoạch xuất – nhập khẩu sản phẩm inox cho công ty. Chính cách thức sắp xếp đơn giản này đã tối giản được lượng lao động trong doanh nghiệp, từ đó tiết kiệm được chi phí nhân công, nâng cao được đãi ngộ và khen thưởng cho cán bộ công nhân viên công ty. Đồng thời, còn dễ dáng, linh hoạt phân công, điều phối, điều chuyển theo những yêu cầu công việc phát sinh theo từng thời kỳ hay hoàn cảnh khác nhau.

2.2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân: Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

  • Quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty còn nhỏ, sức cạnh tranh còn hạn chế do công ty mới tham gia vào thị trường.
  • Chưa mở rộng được thị phần và một số lĩnh vực khác trong ngành do suy thoái kinh tế trong thời gian vừa qua.
  • Thương hiệu của công ty còn rất mờ nhạt do công ty chưa chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu.
  • Nguồn nhân lực không ổn định, có nguy cơ bị mất lao động có tay nghề cao do đối thủ canh tranh lôi kéo, chế độ đối với người lao động còn chưa tốt nên một bộ phận người lao động có tâm lý không ổn định, có cơ hội là thuyên chuyển.
  • Nguồn tài chính:

Khi thành lập công ty, nguồn vốn của công ty chỉ 5 tỉ đồng, đây là một nguồn vốn tương đối nhỏ đối với một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thép không gỉ. Chính vì vậy mà công ty phải sử dụng nguồn vốn đi vay với một khối lượng lớn để kinh doanh. Điều đó dẫn đến cơ cấu nguồn vốn của công ty mất cân đối, tỉ lệ giữa vốn đi vay/vốn tự có là rất cao, điều này khiến doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng khi không đủ khả năng trả nợ. Nguồn vốn hạn hẹp trên còn khiến cho công ty gặp khó khăn khi công ty có những đơn đặt hàng lớn, công ty sẽ không có đủ nguồn vốn để sẵn sàng mua hàng, điều đó sẽ khiến công ty không chủ động trong kinh doanh và có thể bỏ lỡ những cơ hội.

Kênh phân phối: Chính vì kênh phân phối quá ngắn và không có các đại lý bán hàng, điều này khiến cho các đối tượng khách hàng mua lẻ, tư nhân khó tiếp cận mua hàng. Kênh phân phối này cũng không giúp ích cho công ty trong việc thu thập thông tin, tư vấn cho khách hàng, giải quyết những vấn đề mà khách hàng gặp phải… Đây cũng là vấn đề mà công ty cần xem xét, nghiên cứu và phát triển thêm.

Sản phẩm: Công ty hiện đang cung cấp cho thị trường những sản phẩm có chất lượng cao, tuy nhiên sự đa dạng về chủng loại hàng hóa của công ty là còn hạn chế. Sản phẩm chủ yếu của công ty hiện nay là ống inox, cây inox đặc, tấm cuộn cán nóng, tấm cuộn cán nguội, thêm một sản phẩm mới nữa trong những năm gần đây là lá inox. So với các doanh nghiệp khác kinh doanh trong lĩnh vực thép không gỉ thì chủng loại hàng hóa mà công ty cung cấp là đang còn nghèo nàn. Điều đó sẽ hạn chế sự tiếp cận của nhiều đối tượng khách hàng có nhu cầu đa dạng và khác nhau.

Việc phân đoạn thị trường: Có thể nói việc phân đoạn thị trường các khách hàng công nghiệp thường dựa vào các tiêu thức chủ yếu: Qui mô, mức mua bình quân, mức sử dụng, loại hình tổ chức, địa điểm công ty, tình trạng mua, sự chung thuỷ với người bán và tiêu chuẩn đánh giá người bán.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thương mại của công ty năm 2021 – 2024 đã thể hiện rõ điều đó, nhưng hiện công ty vẫn khá cứng nhắc duy trì định hướng sản phẩm mục tiêu là ống inox, tấm inox, cây inox. Đây từng là những sản phẩm mang lại doanh thu chính cho hoạt động kinh doanh của công ty những năm 2017-2020. Trong khi thực tế, từ năm 2021-2024, sản lượng của 3 sản phẩm mũi nhọn này đã sụt giảm đáng kể, Công ty cần xác định rõ việc nhu cầu thị trường thay đổi theo thời gian là một thực tế khách quan, và cần linh hoạt tiếp nhận để có những chính sách, kế hoạch điều chỉnh hợp lý nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.

Tóm tắt chương II

Chương II khái quát về tình hình kinh doanh và tập trung đánh giá, phân tích thực trạng công tác phát triển thị trường của Công ty THNN TM XNK INOX Minh Khuê giai đoạn 2021-2024. Trong chương này nhằm nói rõ các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển thị trường, các nguyên nhân ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của Doanh nghiệp như các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của Doanh nghiệp. Từ đây ta thấy được những cơ hội cũng như thách thức, những thuận lợi cũng như khó khăn của Doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng phát triển thị trường inox của công ty Inox.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển thị trường inox của công ty Inox

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993