Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tên đề tài: Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nội dung: Luận văn này đã tiến hành tổng hợp lý thuyết nền tảng liên quan đến cấu trúc vốn, hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Đồng thời, các lý thuyết về mối quan hệ tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng. Thông qua các lược khảo nghiên cứu trước đây xác định các khoảng trống để tạo điều kiện đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho bối cảnh của NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Trong đó, hiệu quả hoạt động được đại diện bởi ROA. Mô hình nghiên cứu bao gồm các biến số độc lập địa diện cho cấu trúc vốn của NHTMCP niêm yết đó là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản. Ngoài ra, luận văn cũng phân tích các sự ảnh hưởng của biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, sở hữu Nhà nước, đại dịch Covid 19. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 24 NHTMCP niêm yết từ năm 2014 – 2023, thông qua các kiểm định và ước lượng thì kết quả nghiên cứu là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên VCSH tác động ngược chiều nhưng tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. “Ngoài ra, quy mô ngân hàng, GDP, đại dịch Covid 19 cũng tác động cùng chiều đến ROA nhưng sở hữu Nhà nước lại tác động ngược chiều. Riêng tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA.”Dựa trên các kết quả nghiên cứu đó thì luận văn tiến hàng đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam đó là giảm tỷ lệ nợ, tăng tỷ lệ VCSH và huy động tiền gửi nhiều hơn để hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, gia tăng quy mô ngân hàng để tăng khả năng tiếp cận cho ngân hàng với khách hàng.
Từ khóa: Cấu trúc vốn, hiệu quả hoạt động, tỷ lệ nợ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tiền gửi.
ABSTRACT
Title: The impact of capital structure on the performance of listed joint stock commercial banks on the Vietnamese stock market.
Content: This thesis has synthesized the fundamental theory related to capital structure and bank performance. At the same time, the theories on the impact of capital structure on performance at banks. Through previous research summaries, gaps are identified to facilitate the proposal of models and research hypotheses for the context of listed joint stock commercial banks in Vietnam. In which, performance is represented by ROA. The research model includes independent variables representing the capital structure of listed joint stock commercial banks, which are the debt to total assets ratio, debt to equity ratio, equity to total assets ratio and deposit to total assets ratio. In addition, the thesis also analyzes the effects of control variables such as bank size, economic growth, inflation, state ownership, and the Covid 19 pandemic. Research data was collected from 24 listed commercial banks from 2014 to 2023. Through testing and estimation, the research results show that the debt to total assets ratio and the debt to equity ratio have opposite effects, but the equity to total assets ratio and the deposit to total assets ratio have positive effects on ROA of listed commercial banks in Vietnam. In addition, bank size, GDP, and the Covid 19 pandemic also have positive effects on ROA, but state ownership has negative effects. In particular, the inflation rate has no statistical significance in affecting ROA. Based on the research results, the thesis proposes management implications for listed commercial banks in Vietnam, which are to reduce debt ratio, increase equity ratio and mobilize more deposits for business operations. In addition, increase the scale of the bank to increase the bank’s access to customers. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Keywords: Capital structure, operating efficiency, debt ratio, equity ratio, deposits.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia, vì NHTM là trung gian tài chính giữa các dòng vốn nhàn rổi được đưa đến nơi thiếu vốn, dựa trên chênh lệch lãi suất huy động và cho vay để kiếm được lợi nhuận. Mặt khác, NHTM được xem là huyết mạch của nền kinh tế vì tạo ra đòn bẩy nhằm giúp các đối tượng trong thị trường duy trì được hoạt động kinh doanh, vượt qua khó khăn hay tăng trưởng lợi nhuận của mình. Do đó, các NHTM càng vững mạnh thì hệ thống ngân hàng càng hoạt động thông suốt hiệu quả sẽ giúp cho đất nước phát triển. Ngược lại, hệ thống NHTM yếu kém với những nguy cơ thua lỗ thì sẽ tại nên những hiệu ứng xấu cho toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, với xu hướng kinh tế hiện nay thì việc các NHTM trong nước, thậm chí các ngân hàng nước ngoài đặt tại các quốc gia cạnh tranh lẫn nhau để mở rộng thị phần và mở rộng thu nhập. Do đó, các ngân hàng muốn tồn tại và duy trì sự ổn định của mình thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là điều bắt buộc và cấp thiết (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Đối với HQHĐ đây được xem là kết quả mà các NHTM sử dụng các nguồn lực như các chất liệu đầu vào để tạo ra đầu ra với mức chi phí tiết kiệm nhất hay đem lại lợi nhuận cao nhất (Rose, 2001). Đồng thời, các rất nhiều nhân tố tác động đến HQHĐ của các NHTM bao gồm cả nhóm nội tại ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế. Trong đó, nhóm các nhân tố nội tại gồm quy mô ngân hàng, thanh khoản, tăng trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng, cấu trúc vốn,… Nhóm nhân tố vĩ mô nền kinh tế như GDP, lạm phát, mức độ tập trung thị trường,.. (Athanasoglou, 2008). Trong các nhân tố đề cập thì cấu trúc vốn (CTV) có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh (HĐKD) của các NHTM, vì cấu trúc này phản ảnh các nguồn tài trợ tạo nên tài sản hay vận hành kinh doanh cho ngân hàng. Hay nói cách khác, việc các NHTM sử dụng một CTV hợp lý sẽ giúp cho việc giảm thiểu áp lực thanh toán, tiết kiệm các khoản chi phí sử dụng vốn sẽ tạo được hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực, từ đó tạo ra lợi nhuận nhiều hơn cho ngân hàng. Ngược lại, nếu NHTM có CTV không hợp lý thì đe dọa đến sự bất ổn định của ngân hàng vì các áp lực thanh toán, mức chi phi phí sử dụng tăng cao hay các nguồn vốn được đổ vào các HĐKD không hợp lý gây tới thua lỗ, lợi nhuận bị âm. Nên mục tiêu chính của các NHTM là xây dựng CTV an toàn đi đôi với HQHĐ của mình nhằm duy trì sự tăng trưởng cũng như khả năng cạnh tranh. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Trong quá trình nền kinh tế hội nhập thì số lượng NHTM tại Việt Nam gia tăng về số lượng nhanh chóng. Với sự tăng trưởng của các NHTM trong nước thì sự đổ bộ của các NHTM nước ngoài đặt văn phòng hay mở chi nhánh tại Việt Nam cũng đông đảo hơn, do đó mức độ cạnh tranh của các NHTM trở nên khắc nghiệt hơn. Từ đó, sự đào thải trở nên nhanh chóng đối với các NHTM có năng lực yếu kém, kinh doanh thiếu hiệu quả. Vì vậy, việc gia tăng HQHĐ tại các NHTM Việt Nam là sự bắt buộc, một trong những động thái chính ban đầu đó là tìm kiếm nguồn vốn kinh doanh hay nâng cao năng lực tài chính của mình nhằm xây dựng một CTV hợp lý. Hay nói cách khác CTV được xem là nguồn lực bên ngoài huy động về để ngân hàng có thể khai thác thị trường, mở rộng kinh doanh, tiếp cận khách hàng và thực hiện chiến lược đầu tư. “Thực tế cho thấy các NHTM đều có những chiến lược riêng để khai thác nguồn lực tài chính bên ngoài, nên kết quả khách nhau thậm chí ngược chiều nhau đến HQHĐ vì việc sử dụng các nguồn lực đó vào kinh doanh có hợp lý hay không ?” (Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang, 2013). Mặt khác, các NHTM có nguồn vốn VCSH dồi dào thì ngày càng tăng trưởng nhưng cũng các tổ chức làm ăn không hiệu quả, sử dụng nợ cao và mất dần VCSH (Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành, 2015). Vì vậy, việc sử dụng CTV phù hợp với HĐKD của ngân hàng rất quan trọng trong việc tạo ra HQHĐ với bối cảnh kinh tế có nhiều sự thay đổi và sự cạnh tranh liên tục giữa các ngân hàng trong hệ thống.
Tác động của CTV đến HQHĐ của NHTM tại các nghiên cứu trong nước và nước ngoài điển hình như Berger và Patti (2006) cho rằng CTV tác động ngược chiều đến HQHĐ của các ngân hàng. Nhưng Bandt và cộng sự (2014) cho rằng CTV lại tác động cùng chiều đến HQHĐ của các NHTM. Trong khi đó Hoffmann (2010) lại cho rằng mối quan hệ tác động của CTV đến HQHĐ của các ngân hàng không đơn thuận dựa trên tỷ lệ cụ thể mà phụ thuộc vào ngưỡng sử dụng VCSH, có nghĩa là các NHTM sẽ tồn tại một ngưỡng tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản nhất định và nếu trên ngưỡng này thì CTV tác động cùng chiều nhưng nếu dưới thì tác động ngược chiều. Ngoài ra, “tại Việt Nam thì Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) kết luận CTV tác động cùng chiều đến HQHĐ của ngân hàng nhưng Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) lại kết luận ngược lại. Nên các kết luận vẫn có sự khác nhau trong các giai đoạn nghiên cứu, quốc gia khác nhau hay đặc thù HĐKD của các NHTM. Đồng thời, các nghiên cứu chưa tập trung vào cấu trúc sở hữu Nhà nước tại các NHTM, trong khi việc sở hữu này tác động rất nhiều đến chiến lược hay định hướng kinh doanh của các ngân hàng.” Cùng với đó là trong giai đoạn gần đây, đặc biệt từ năm 2020 – 2022 thì đại dịch Covid 19 xuất hiện cũng có những tác động xấu đến nền kinh tế lẫn việc huy động các nguồn vốn tại ngân hàng, do đó kéo theo tác động đến HQHĐ nhưng các nghiên cứu về vấn đề này vẫn chưa tập trung vào.
Vì vậy, từ sự cần thiết trong thực tiễn và các khoảng trống mà các nghiên cứu trong nước, nước ngoài còn tồn tại thì tác giả quyết định quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ. Luận văn này sẽ đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam để có CTV hợp lý để gia tăng HQHĐ trong tương lại.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Luận văn sẽ xác định mối quan hệ và mức độ tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam nhằm quyết định CTV hợp lý để nâng cao HQHĐ trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Thứ nhất, xác định sự tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
- Thứ hai, đo lường mức độ tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
- Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho các các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam nhằm quyết định CTV hợp lý để nâng cao HQHĐ trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu tương ứng với mục tiêu cụ thể như sau:
- Thứ nhất, sự tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam như thế nào?
- Thứ hai, mức độ tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam như thế nào?
- Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho các các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam nhằm quyết định CTV hợp lý để nâng cao HQHĐ trong tương lai?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: 22 NHTMCP lớn niêm yết tại Việt Nam. Số lượng ngân hàng này không bao gồm các ngân hàng thu thập dữ liệu không có các ngân hàng 100% sở hữu của nước ngoài hay văn phòng đại diện tại Việt Nam. Ngoài ra, số lượng 22 ngân hàng được lựa chọn vì số liệu của các NHTMCP này được niêm yết đầy đủ từ năm 2011 đến nay, số lượng này chiếm trên 75% tổng số các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam.
Về thời gian: Dữ liệu được thu thập từ năm 2014 đến năm 2023 thuộc các báo cáo công bố của 22 ngân hàng niêm yết. Nguyên nhân tác giả lựa chọn khoảng thời gian này vì NHTMCP niêm yết tại Việt Nam đang trong quá trình tái cấu trúc theo quy định của NHNN từ 2014 – 2015. Đồng thời, nền kinh tế Việt Nam có các biến động liên quan đến khủng hoảng tài chính năm 2018 và sự xuất hiện đại dịch Covid 2020 – 2021.
1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Hai phương pháp chính được sử dụng tại luận văn này đó là định tính và định lượng. Trong đó, nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua việc tóm tắt các lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu liên quan và kết quả là xác định các khoảng trống nghiên cứu tạo điều kiện đề xuất mô hình nghiên cứu với bối cảnh các NHTM Việt Nam.
Nghiên cứu định lượng thông qua việc thu thập số liệu liên quan đến các biến số của mô hình nghiên cứu, thiết kế dưới dạng bảng với giai đoạn từ 2014 – 202 3. “Từ dữ liệu đó tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kế quả. Sau đó, luận văn sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, thực hiện hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test để lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật và khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng.” Dựa vào đó để thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất hàm ý khả thi cho các NHTM Việt Nam.
1.6. Đóng góp của nghiên cứu
Về mặt lý luận: Đề tài này góp thêm một bằng chứng thực nghiệm về tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Đồng thời, kết quả của nghiên cứu này có thể là cơ sở tiếp nối cho các công trình tiếp theo có cùng sự quan tâm.
Về mặt thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm tạo cơ sở để đề xuất với nhà quản trị ngân hàng có những chiến lược hay chính sách để quyết định CTV hợp lý để nâng cao HQHĐ trong tương lai trong các giai đoạn sau.
1.7. Kết cấu luận văn
Luận văn có kết cấu 5 chương, đó là:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Nội dung chính của “chương này là tập trung vào việc lập luận lý do chọn đề tài, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Định hướng lựa chọn phạm vi và đối tượng nghiên cứu, từ đó xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải quyết vấn đề. Đồng thời xác định các đóng góp chính” của luận văn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
Nội dung chính của chương là “tổng hợp các cơ sở lý thuyết nền tảng liên quan đến CTV của các NHTM và mối quan hệ của CTV và HQHĐ của ngân hàng. Đồng thời thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan để phát hiện các khoảng trống nghiên cứu và làm cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu tương ứng với bối cảnh NHTM Việt Nam.”
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính của chương này là tập trung và việc đề xuất mô hình và giả thuyế nghiên cứu tương ứng tại các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, trình bày về phương pháp nghiên cứu bao gồm cách thức lẫy mẫu, thu thập số liệu và các phương pháp tính toán xử lý số liệu liên quan.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chính của chương này là tập trung vào việc trình bày kết quả xử lý số liệu từ các NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023. Thông qua, thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan, hồi quy đa biến và kiểm định tương ứng từ mô hình hồi quy được chọn. Từ kết quả khắc phục các hiện tượng sẽ tiến hành kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả này.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Nội dung “chính của chương này là tập trung vào kết luận các kết quả đạt được của nghiên cứu. Từ kết quả hồi quy tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị tương ứng với các biến số trong mô hình nghiên cứu nhằm giúp cho các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam lựa chọn CTV hợp lý để gia tăng HQHĐ trong tương lai.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về vấn đề hệ thống NHTM Việt Nam, tình hình về các nghiên cứu liên quan. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Cấu trúc vốn tại ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm về cấu trúc vốn tại ngân hàng thương mại
Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì NHTM được xem là một loại hình doanh nghiệp, trong đó điều đặc biệt là doanh nghiệp này không kinh doanh các loại sản phẩm hay dịch vụ sản xuất thông thường mà tập trung vào kinh doanh tiền tệ hay các giao dịch tài chính. Do đó, CTV của NHTM cũng sẽ được phát biểu tương đồng với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường. Trong đó, các khái niệm về CTV của doanh nghiệp như sau:
Ross và cộng sự (2008) cho rằng cấu trúc vốn của một doanh nghiệp là tỷ số giữa vốn vay và VCSH của doanh nghệp, hay nó phản ánh tỷ trọng vốn vay và VCSH trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, tỷ số này cho biết tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp hiện tại đang được chia như thế nào. Một doanh nghiệp với tỷ lệ VCSH cao thì có khả năng tự chủ tài chính của mình. Nếu tỷ lệ vốn vay cao thì lại phản ánh đòn bẩy tài chính đang được sử dụng trong HĐKD. Khi tỷ lệ vốn vay và VCSH đang ở trạng thái tốt nhất thì doanh nghiệp có cấu trúc vốn tối ưu. Khi đạt được trạng thái tối ưu thì chi phí sử dụng vốn cổ phần là thấp nhất, giá trị thị trường của cổ phiếu là cao nhất.
Ross và cộng sự (2012) cũng đã định nghĩa cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa các khoản nợ phải trả và VCSH của doanh nghiệp, trong đó nợ phải trả và VCSH được xem là nguồn tài trợ cho sự hình thành tài sản của doanh nghiệp. Do đó, các quyết định liên quan đến cấu trúc vốn hay nguồn tài trợ được xem là chiến lược mà bất cứ doanh nghiệp sản xuất, thương mại nào cũng phải tiến hành quyết định với mục tiêu quan trọng là tối đa hóa được lợi ích của cổ đông và giá trị của doanh nghiệp.
Nguyễn Minh Kiều (2012) là sự cân đối giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu để duy trì hoạt động kinh doanh của đơn vị. Cấu trúc vốn được lựa chọn trong doanh nghiệp phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp hoặc những biến động của thị trường buộc doanh nghiệp phải thay đổi để thích ứng duy trì hoạt động kinh doanh.
Nguyễn Đình Luận (2016) cho rằng cấu trúc vốn hay cơ cấu vốn là sự mô tả tỷ trọng của nợ vay và VCSH hình thành nên tổng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Nguồn vốn này được phục vụ cho các mục đích vận hành hoạt động kinh doanh hàng ngày, trang bị TSCĐ hay đầu tư vào các hạng mục của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn của các doanh nghiệp thường có những biến động vào các chu kỳ kinh doanh tương ứng, ngoài ra cơ cấu vốn có thể mang lại lợi ích hoặc hạn chế cho doanh nghiệp tùy thuộc vào sự lựa chọn.
Tóm lại, trong luận văn này thì CTV tại một NHTM được hiểu là sự kết hợp giữa nợ và VCSH được huy động để hình thành nguồn vốn của ngân hàng. Trong đó nguồn vốn này nhằm phục vụ cho hoạt động sắm sửa tài sản, cơ sở vật chất và vận hành kinh doanh. Một cấu trúc vốn của NHTM thì thường tập trung vào mối quan hệ giữa nợ phải trả và VCSH, do đó một cấu trúc hợp lý cần phải có sự hài hòa giữa nợ phải trả và VCSH khi đó chi phí sử dụng vốn thấp cùng với rủi ro chấp nhận được phù hợp với các điều kiện kinh doanh của ngân hàng.
2.1.2. Thành phần của cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại
Theo khái niệm của CTV thì thành tại NHTM là sự kết hợp của nợ và VCSH được huy động để hình thành nguồn vốn. Do đó, thành phần của cấu trúc vốn bao gồm:
2.1.2.1. Các khoản nợ
Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng tại các đơn vị kinh doanh thì nợ được xem là các khoản nợ phải trả trong đo chia thành hai nhóm chính là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Michaelas và cộng sự (1999) cũng chỉ ra rằng nếu các nhân tố tác động đến nợ vay ngắn hạn khác nợ vay dài hạn thì cần sử dụng cả hai chỉ tiêu này để đo lường cho cấu trúc vốn. Do đó, tại luận văn này thì các khoản nợ được hiểu là toàn bộ các khoản nợ của ngân hàng huy động từ các nguồn bên trong hay bên ngoài.
- Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn phải trả hay thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ kinh doanh thông thường.
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn phải trả hay thanh toán từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ kinh doanh thông thường.
Mặt khác, các NHTM có thể huy động các khoản nợ của mình thông qua các trung gian tài chính như vay của NHNN hay các NHTM khác, công ty tài chính hoặc tự mình phát hành những chứng khoán nợ (Ross và cộng sự, 2012)
Vay NHNN hay các NHTM khác: Đây là hình thức mà NHTM xác lập hợp đồng tín dụng với NHNN hay các NHTM khác, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi vô điều kiện. Các khoản vay tùy vào mục đích kinh doanh của ngân hàng mà sử dụng các kỳ hạn tương ứng.
Phát hành trái phiếu dài hạn: Đây là hình thức mà các ngân hàng sẽ phát hành các loại trái phiếu với nhiều hình thức khác nhau như theo phương thức trả lãi một lần hay coupon, theo lãi suất thả nổi hoặc cố định. Phát hành trái phiếu được xem là phương thức khá linh hoạt nhưng phải dựa trên uy tín của ngân hàng trên thị trường. Mặt khác, trái phiếu huy động vẫn phải được ngân hàng cam kết hoàn trả gốc lãi vô điều kiện nhưng xếp sau nợ vay các NHTM khác nếu gặp rủi ro phá sản.
2.1.2.2. Vốn chủ sở hữu Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Theo Rajan và Zingales (1995) thì VCSH là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ đơn vị kinh doanh và các thành viên trong đơn vị kinh doanh liên doanh hoặc các cổ đông. Có 3 nguồn tạo nên VCSH đó là số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản. Vì vậy, VCSH của ngân hàng bao gồm vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi… Các ngân hàng có thể huy động vốn chủ sở hữu bằng nhiều cách đó là vốn góp ban đầu, tăng vốn góp, phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường hay giữ lại lợi nhuận.
Vốn góp ban đầu: Là một lượng vốn góp ban đầu nhất định do các cổ đông hay chủ sở hữu góp vào các NHTM khi mới thành lập. Tùy vào hình thức sở hữu của ngân hàng sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân NHTM. Đối với ngân hàng của Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước – chủ sở hữu vào ngân hàng. Quy mô của vốn góp ban đầu vào NHTM phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm kinh doanh, quy định của pháp luật ở mỗi thời kỳ…
Lợi nhuận không chia: Cổ tức sẽ được chia cho các cổ đông vào cuối năm tài chính từ lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp để tăng VCSH các cổ đông sẽ đồng ý cho NHTM giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mà không nhận hoặc nhận một phần cổ tức. Đây là nguồn vốn rất chủ động, NHTM không bị ràng buộc từ bên ngoài, tăng khả năng tự chủ về tài chính và dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng khác từ đó tạo cơ hội cho NHTM thu được lợi nhuận cao hơn trong các giai đoạn phát triển sau này.
Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường. Phát hành cổ phiếu để huy động vốn là một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của NHTM vì có thể huy động vốn nhanh và nguồn vốn huy động lớn.
2.1.3. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Stephen và cộng sự (2003) cho rằng để đánh giá CTV của các đơn vị kinh doanh thì cần căn cứ vào các thước đo đòn bẩy tài chính, nó được thể hiện qua các hệ số nợ, hệ số nợ trên VCSH và hệ số tự tài trợ.
2.1.3.1. Hệ số nợ
Hệ số nợ thể hiện sử dụng nguồn vốn vay hay mức độ tài trợ của nợ vay cho tài sản của các đơn vị kinh doanh. Hệ số này giúp các đơn vị kinh doanh đánh giá được khả năng tài chính, khả năng trả nợ và rủi ro gặp phải. Đặc biệt hệ số này tính đến sự đặc thù của lĩnh vực kinh doanh hoạt động (Firer và cộng sự, 2004). Hệ số nợ được đo lường với công thức như sau:
- Hệ số nợ tổng quát =
Firer và cộng sự (2004) cho rằng khi tỷ số nợ của doanh nghiệp lớn hơn 50% có nghĩa là tài sản hiện nay đang được tài trợ bởi các khoản nợ nhiều hơn là VCSH và ngược lại nếu tỷ số này thấp hơn 50% thì VCSH đang tài trợ cho tài sản nhiều hơn. Xét về khía cạnh tài chính tại các NHTM thì hệ số này càng lớn có nghĩa là ngân hàng đang đứng trước rủi ro về sức ép thanh toán gốc, lãi nợ cho các các khoản nợ mình phát hành hay huy động của khách hàng cá nhân hay đơn vị khác rất nhiều nên dễ rơi vào tình cảnh khó khăn. Do đó, tùy thuộc vào tình hình kinh doanh mà cần phải có quyết định sử dụng nợ một cách đúng đắn về kỳ hạn lẫn số tiền nợ.
2.1.3.2. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên VCSH thể hiện cơ cấu giữa hai nguồn hình thành vốn của đơn vị kinh doanh đó là nợ và VCSH. Hay nói cách khác tại NHTM đây là hai nguồn dùng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình. Hai nguồn vốn này sở hữu những đặc điểm riêng biệt và có mối quan hệ với nhau được dùng để đánh giá cấu trúc vốn (Macguigan và cộng sự, 2006). Hệ số này được tính như sau:
- Hệ số nợ tổng quát =
Nếu hệ số này càng lớn hơn 1 có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao hơn VCSH trong tổng nguồn vốn, hay nợ phải trả đóng vai trò rất quan trọng trong NHTM.
Đồng thời, cũng thể hiện việc ngân hàng đang chịu sức ép lớn về việc thanh toán các khoản nợ kèm theo lãi (Macguigan và cộng sự, 2006).
2.1.3.3. Hệ số tự tài trợ Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Hệ số tự tài trợ phản ánh tỷ lệ VCSH trong tổng nguồn vốn của đơn vị kinh doanh. Hệ số này có giá trị càng lớn nghĩa là mức độ tự chủ tài chính bằng VCSH của đơn vị kinh doanh càng cao do đó rủi ro càng thấp (Stephen và cộng sự, 2003). Hay nói cách khác, với bối cảnh của các NHTM thì hệ số tự tài trợ này càng cao có nghĩa là việc huy động các nguồn vốn từ các cổ đông, chủ sở hữu, phát hành cổ phiếu càng nhiều nên giảm được áp lực thanh toán các khoản huy động hay nợ. Hệ số này được tính theo công thức sau:
- Hệ số tự tài trợ
Hệ số này có giá trị càng lớn thì mức độ tự chủ về mặt tài chính và khả năng bù đắp tổn thất bằng VCSH càng cao, do đó rủi ro kinh doanh càng thấp. Nếu hệ số này lớn hơn 50% tức là nguồn vốn của NHTM phần lớn được tài trợ từ nguồn vốn thực góp của các cổ đông.
Các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính của doanh nghiệp sẽ có các giá trị khác nhau khi giá trị nguồn vốn của các đơn vị kinh doanh được đo lường căn cứ vào giá trị sổ sách (giá trị kế toán) hoặc giá trị thị trường. Titman và Wessels (1988) cho rằng, giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nguồn vốn có sự khác biệt đáng kể, vì vậy việc lựa chọn giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của nguồn vốn có ảnh hưởng nhất định đến các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính. Tuy nhiên, do việc xác định giá trị thị trường của nguồn vốn nợ tương đối khó khăn nên hầu hết các nghiên cứu về chi tiêu tài chính doanh nghiệp chỉ đo lường nguồn vốn chủ sở hữu theo giá trị thị trường, còn nguồn vốn nợ được xác định căn cứ vào giá trị sổ sách kế toán.
Tóm lại, tại luận văn này thì chỉ tiêu đại diện cho CTV của NHTM được sử dụng là hệ số nợ và hệ số tự tài trợ. Vì các chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng tài chính, khả năng trả nợ, khả năng huy động VCSH và rủi ro gặp phải của NHTM. Đặc biệt hệ số này tính đến sự đặc thù của lĩnh vực kinh doanh mà NHTM hoạt động (Firer và cộng sự, 2004).
2.2. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
2.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Farrell (1957) cho rằng HQHĐ kinh doanh tại một tổ chức kinh doanh dù đó là tại ngân hàng thì vẫn dựa trên hai chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối. Trong đó chỉ tiêu tuyệt đối phản ảnh về quy mô hay lợi nhuận đạt được trong điều kiện thời gian cụ thể. Tuy nhiên đối với hiệu quả tuyệt đối thì về so sánh giữa đơn vị này và đơn vị khác sẽ gặp những sự hạn chế. Nhưng đối với chỉ tiêu tương đối thì dựa trên các tỷ số kết hợp với yếu tố đầu vào và đầu ra của đơn vị kinh doanh, việc đánh giá này sẽ tạo ra sự thuận tiện khi muốn so sánh giữa tổ chức này và tổ chức khác. Khi đánh giá hiệu quả tương đối thì đơn vị kinh doanh có thể xem xét việc một yếu tố đầu vào bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận. Việc đánh giá hiệu quả tương đối có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét đơn vị kinh doanh này có sử dụng tối ưu các nguồn lực hay các yếu tố đầu vào hay không ? Nhằm tạo ra những yếu tố đầu ra chất lượng và đem lại lợi ích cao nhất.
Rose (2002) cho rằng NHTM cũng được xem là một đơn vị tổ chức kinh doanh, trong đó kinh doanh tiền tệ là chính yếu. Do đó bản chất của việc đánh giá HQHĐ kinh doanh tại ngân hàng cũng sẽ có nét tương đồng với các doanh nghiệp. HQHĐ kinh doanh tại các NHTM chính là việc sử dụng các nguồn lực của mình nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất nhưng bền vững và ổn định. Nếu ở khía cạnh rộng hơn thì HQHĐ kinh doanh của NHTM không chỉ là lợi nhuận mà nó còn liên quan tới cấu trúc tài sản, nợ và là sự tăng trưởng của lợi nhuận. Hay nói cách khác, các nguồn lực chính của ngân hàng thương mại hay là các yếu tố đầu vào của nó chính là lao động, cơ sở vật chất, năng lực tài chính, các mối quan hệ đối với các yếu tố vĩ mô nền kinh tế. Các yếu tố đầu vào này giúp cho ngân hàng tạo ra các sản phẩm đầu ra liên quan tới tiền gửi tiết kiệm, cho vay, đầu tư, đồng thời chính các sản phẩm đầu ra này là căn cứ để ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận và đánh giá sự hiệu quả của mình trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tóm lại, tại luận văn này thì HQHĐ kinh doanh của NHTM được hiểu là là sự kết hợp tối ưu tối thiểu hóa các yêu tố đầu vào như một lực tài chính, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và các yếu tố khác trong hoạt động trung gian tài chính. Khi kết hợp các yếu tố đầu vào này lại với nhau thầy ngân hàng thương mại có thể thực hiện chức năng trung gian tài chính của mình thông qua việc huy động vốn, cấp tín dụng, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác nhằm để tạo các đầu ra tối đa. Từ các đầu ra này thay NHTM sẽ tìm kiếm được lợi nhuận, tuy nhiên để xem xét về sự tối ưu thì phải được đánh giá thông qua tỷ số giữa lợi nhuận kiếm được trên tổng nguồn lực. Việc đánh giá tỷ số này sẽ cho thấy ngân hàng sử dụng các nguồn lực một cách cân xứng để tạo ra lợi nhuận tối đa nhằm duy trì hoạt động ổn định và có sự tăng trưởng của mình.
2.2.2. Các phương pháp đo lường cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Theo truyền thống thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của mình nhằm đạt được kết quả của mục tiêu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh. Trần Ngọc Thơ (2015) cho rằng, doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất, suất hao phí và sức sinh lợi để đánh giá hiệu quả kinh doanh. Sức sản xuất cho biết khả năng tạo ra kết quả sản xuất từ các yếu tố đầu vào… Trần Ngọc Thơ (2015) cho rằng có ba chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng, tốc độ luân chuyển và suất sinh lời của chi phí hoặc các yếu tố đầu vào. Mặc dù các hướng nghiên cứu trên đều đề xuất ba chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh với các tên gọi khác nhau, nhưng xét về bản chất thì khá giống nhau. Đều là phản ánh sự tương quan giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào; khả năng sử dụng các yếu tố đầu vào và cuối cùng là khả năng tạo ra lợi nhuận từ các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, ngân hàng cũng được xem là một doanh nghiệp kinh doanh do đó để đo lường hiệu quả hoạt động thì lợi nhuận cũng được xem là một chỉ tiêu để thể hiện.
Lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch được xác định thông qua tổng doanh thu trừ đi tất cả các khoản chi phí hoạt động mà NHTM phải trả hợp lý, hợp lệ. Lợi nhuận của NHTM được thực hiện trong năm được xem là kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong đó bao gồm lợi nhuận từ nghiệp vụ và các hoạt động kinh doanh khác (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Trong đó:
- Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
- Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp
2.2.2.1. Phương pháp đo lường biên lợi nhuận
Phương pháp này được áp dụng tại các ngân hàng khi phân tích về lợi nhuận biên của ngân hàng thay đổi khi có một yếu tố đầu vào thay đổi, hay nói cách khác với phương pháp này thì ngân hàng sẽ xem xét được với nguồn lực của mình thay đổi một đơn vị thì lợi nhuận sẽ thay đổi thế nào? (Berger và DeYoung, 1997). Nhưng với phương pháp này thì các ngân hàng cần phải có sự nghiêm ngặt khi thu thập các giá trị liên quan đến đầu vào và tổng quát hóa với dạng hàm số, nên sẽ rất khó khăn trong việc thiết lập bài toán và kĩ thuật cần phải đầu tư.
2.2.2.2. Phương pháp tỷ số Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Hai tỷ số phổ biến nhất để thể hiện về HQHĐ của ngân hàng đó là ROA, ROE. Hai tỷ số này phản ánh các nguồn lực của ngân hàng hay có thể xem là đầu vào sẽ tạo được mức lợi nhuận ròng cho ngân hàng như thế nào?
- Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROA)
Ongore (2013); Khrawish (2011) cho rằng ROA là hệ số biểu diễn cho tỷ suất sinh lời tại NHTM. Tỷ lệ này phản ánh mức sử dụng hiệu quả tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận ròng sau thuế (EAT). Ngoài ra, ROA còn phản ánh cho năng lực quản lý của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc sắp xếp vận hành các nguồn lực, hay còn được xem là các đầu vào của ngân hàng để tạo ra lợi thế đem lại lợi nhuận ròng cho ngân hàng. Wen (2010) còn cho rằng khi các ngân hàng tận dụng được nguồn tài sản hiệu quả thì ROA càng tốt hay thu nhập càng được tạo ra nhiều.
- ROA =
- Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE)
Ongore (2013) cho rằng hệ số ROE là chỉ tiêu quan trọng để các ngân hàng xác định tỷ suất lợi nhuận, trong đó tỷ số này biểu diễn cho nguồn lực của ngân hàng từ tiền của các cổ đông góp vốn vào ngân hàng thông qua các hình thức như phát hành cổ phiếu, góp tiền mặt, lợi nhuận giữ lại hay còn gọi được chủ sở hữu và từ các nguồn này thì ngân hàng tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận ròng ? Hay nói cách khác, ROE đại diện cho phần thu nhập của các chủ sở hữu khi góp vốn vào ngân hàng, đồng thời khi ROE càng cao có nghĩa là ngân hàng đang sử dụng hiệu quả nguồn VCSH để tạo ra được lợi nhuận ròng hay năng lực quản lý của lãnh đạo ngân hàng tốt trong việc quản lý dòng vốn huy động từ chủ sở hữu. Đặc biệt, tỷ lệ ROE đại diện cho lợi ích ước tính của cổ đông hay chủ sở hữu khi góp vốn để hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- ROE =
Tóm lại, trong hai phương pháp được trình bày thì phương pháp đo lường biên lợi nhuận thì nghiêng về sự quyết định của dạng hàm phân tích. Do đó, với khả năng có giới hạn nên luận văn này kế thừa phương pháp tỷ số để đại diện cho HQHĐ tại các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên tại luận văn này thì tác giả lựa chọn chỉ tiêu ROA để xem xét về HQHĐ của các NHTM Việt Nam, vì chỉ tiêu này phản ánh được sự hiệu quả trong việc ngân hàng dùng nguồn lực tổng thể hay tổng tài sản để tạo ra lợi nhuận. Mặt khác, chỉ tiêu này phản ánh được việc các NHTM có khả năng quản lý các nguồn lực của mình triệt để tạo ra được tối ưu nhất về mặt lợi nhuận ròng.
2.3. Các lý thuyết về cấu trúc vốn tác động đến hiệu quả hoạt động Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
2.3.1. Lý thuyết M&M
Lý thuyết M&M được Modigliani và Miller (1958) đặt nền tảng đầu tiên với những giả định đơn giản hóa, các chi phí giao dịch hay vay vốn được xem là miễn phí. Vì vậy, giá trị của đơn vị kinh doanh sẽ phụ thuộc vào tài sản của nó chứ không phải tập trung vào cổ phần.
Theo mệnh đề M&M thì bất cứ sự lựa chọn tài chính nào, kể cả sử dụng VCSH hay các khoản nợ ngắn hạn hay dài hạn thì giá trị của đơn vị kinh doanh cũng không đổi. Điều này có nghĩa là tại các NHTM theo M&M thì trên bảng cân đối kế toán nguồn vốn sẽ bao gồm các khoản nợ ngắn hay dài hạn, VCSH và khi các khoản này gia tăng hay sụt giảm tương ứng với hoạt động tài trợ thì tài sản của công ty cùng với các cơ hội phát triển cũng tăng giảm tương ứng. Điều này có nghĩa là tại bất cứ CTV của ngân hàng được lựa chọn như thế nào cũng tạo ra sự thuận lợi cho việc HĐKD.
2.3.2. Lý thuyết đánh đổi
Dưới nền tảng của M&M thì lý thuyết này xem xét sự tác động của thuế và chi phí khi doanh nghiệp bị cạn kiệt tài chính. Đặt nền tảng đầu tiên cho lý thuyết này là Kraus và Litzenberger (1973) cùng với đó là sự hoàn thiện cho nó là Myers (1977). Lý thuyết này cho rằng doanh nghiệp nên tập trung sử dụng một giới hạn về nợ nhất định thì dễ dàng hơn trong tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, ngược với M&M cho rằng nợ càng nhiều thì giá trị doanh nghiệp càng cao. Hay nói cách khác, dựa trên lý thuyết này thì các ngân hàng trong quá trình kinh doanh sẽ có những tỷ số liên quan đến nợ và VCSH khác nhau để phát huy sức mạnh nâng cao hiệu quả. Do đó, sẽ tồn tại một điểm kết hợp tối ưu khi ngân hàng cố gắng hướng đến việc sử dụng nợ.
Việc sử dụng nợ tại ngân hàng chính là từ huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành các loại trái phiếu, hay vay tại NHNN hoặc các NHTM khác. Khi đó, sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn bình quân của ngân hàng tăng lên theo. Trong giai đoạn đầu thì ngân hàng sẽ được nhận các lợi ích được tạo ra từ lá chắn thuế, do khoản nợ sinh ra lãi làm lá chắn thuế hay hói hiệu quả tiết kiệm chi phí hoạt động của ngân hàng xuất hiện. Nhưng với tỷ lệ nợ ngày càng gia tăng thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với áp lực thanh toán hoặc mất khả năng chi trả nếu HĐKD yếu kém và đe dọa khả năng phá sản. Do đó, ta có thể thấy rằng tại ngân hàng nếu sử dụng nợ một cách hợp lý sẽ giúp cho HQHĐ gia tăng bằng lợi ích từ lá chắn thuế và phần thu nhập sau thuế được nhận sẽ nhiều hơn.
2.3.3. Lý thuyết trật tự phân hạng Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Myers và Majluf (1984) khi trình bày về lý thuyết trật tự phân hạng thì đã dựa trên nền tảng về thông tin bất cân xứng. Tại bất cứ doanh nghiệp nào kể cả NHTM thì có ba nguồn chủ yếu là nguồn vốn bên trong (lợi nhuận giữ lại); nguồn đi vay (nợ) và VCSH được huy động từ phát hành cổ phiếu. Theo lý thuyết này thì mức độ ưu tiên dùng vốn nội tài, sau đó đi vay và cuối cùng mới là cổ phiếu phát hành mới (Myers và Majluf, 1984). Do đó, lý thuyết này rất chú trọng vào việc phân cấp sự ưu tiên sử dụng các nguồn vốn trong các doanh nghiệp hay NHTM cũng không là ngoại lệ. Trong đó, các cơ sở kinh doanh sẽ tập trung vào nguồn vốn nội bộ của mình để tái đầu tư hay chi trả cổ tức khi cần thiết, do đó trong khi kinh doanh có lãi thì các NHTM có thể giữ lại lợi nhuận khi có thể. Khi nguồn lợi nhuận giữ lại này thì tiến hành vay nợ để tài trợ cho các hoạt động phát sinh tài sản hay dự án đầu tư, thường như đã đề cập phần trên thì khác với các doanh nghiệp thông thường thì NHTM sẽ vay nợ tại NHNN hay các NHTM hoặc tổ chức tài chính khác. Nếu không đủ nguồn tài trợ thì lúc này các NHTM mới tính toán đến việc phát hành cổ phiếu hay gia tăng VCSH. Các động thái quyết định này cho thấy các doanh nghiệp hay ngân hàng đều có những ưu tiên phân hạng với các nguồn vốn của mình.
Mặt khác, với trật tự này sẽ gắn chặt với lợi nhuận hay HQHĐ của ngân hàng. Vì lý thuyết này đã chỉ ra rằng các ngân hàng muốn có HQHĐ có lợi thường sẽ ít vay nợ hơn, vì khi vay nợ thì sẽ đối mặt với áp lực thanh toán gốc và lãi khi đến hạn, thậm chí vay nợ nhiều nhưng HĐKD không hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến nguy cơ vỡ nợ. Tuy nhiên, với các NHTM có quy mô nhỏ hay HĐKD có phần hạn chế hơn thì thường lại ưu tiên vay nợ vì họ không có đủ nguồn vốn nội bộ để tiếp tục các hoạt động tái đầu tư và việc sử dụng vốn vay đứng đầu trong trật tự phân hạng, nhưng phải sử dụng tại một mức hợp lý vì nếu càng lún sâu với các khoản nợ thì HQHĐ kém hiệu quả vì không tiết kiệm được chi phí lãi vay. Do đó, lý thuyết này đã khẳng định về mối tương quan nghịch chiều giữa đòn bẩy tài chính và HQHĐ.
2.3.4. Lý thuyết chi phí trung gian
Với lý thuyết chi phí trung gian thì các chi phí được đề cập phát sinh trong sự liên hệ giữa người đứng đầu (quản lý doanh nghiệp hay ngân hàng) và “các bên trung gian có thể là cổ đông ngoài hay các chủ nợ. Lý thuyết này giả định rằng CTV tối ưu được thiết lập thông qua việc tiết kiệm tối đa các khoản chi phí phát sinh từ xung đột giữa các bên liên quan (Jensen và Meckling, 1986). Nó đóng vai trò quan trọng trong sự quyết định tài chính giữa nhà quản lý và các bên cổ đông hay chủ nợ. Khi các doanh nghiệp hay cụ thể tại bối cảnh này là các ngân hàng khi gặp khó khăn về mặt tài chính thì các cổ đông sẽ đẩy mạnh quản lý đưa quyết định về lấy vốn từ các chủ nợ cho chủ sở hữu. Thời điểm này thì các chủ nợ sẽ yêu cầu mức lãi cao hơn trong việc cho vay hay chuyển đổi tài chính.” Việc sử dụng các khoản nợ và thanh toán lãi vay sẽ làm giảm đi xung đột giữa cổ đông và người đứng đầu. Vì nếu vào thời điểm này mà các ngân hàng tiến hành phát hành cổ phiếu nhiều hơn thì lợi ích của các cổ đông lại càng bị chia nhỏ, mâu thuẫn nội bộ sẽ càng gia tăng và đặc biệt chi phí phát hành rất cao nên việc sử dụng nợ lúc này có lợi hơn trong việc giảm tổng chi phí đại diện. Nhưng nếu tình huống ngược lại khi đòn bẩy đang được sử dụng cao thì buộc các nhà quản lý và cổ đông phải đi đến quyết định gia tăng chi phí phát hành để gia tăng cổ phần trong doanh nghiệp nhằm có lượng vốn đủ để HĐKD. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
2.3.5. Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại
Tóm lại, sau quá trình tổng hợp các lý thuyết về CTV tác động đến HĐKD và cụ thể đến lợi nhuận hay HQHĐ của các doanh nghiệp nói chung và mở rộng cho bối cảnh các NHTM nói riêng, thì luận văn tóm tắt về sự tác động này như sau:
Thứ nhất, Berger (1995) cho rằng CTV tác động cùng chiều đến lợi nhuận hay HQHĐ của các NHTM. Vì khi các NHTM có tỷ lệ vay nợ cao vượt mức kỳ vọng mức sử dụng nợ tối ưu thì sẽ làm tăng chi phí phá sản do các yếu tố bên ngoài gây ra. Do đó, các NHTM buộc phải gia tăng VCSH để làm giảm cơ cấu nợ trong ngân hàng, nên vẫn bảo toàn HĐKD và đảm bảo an toàn trong HQHĐ của ngân hàng. Mặt khác, khi tiến hành loại bỏ thông tin cân xứng hay thông tin riêng về dòng tiền trong tương lai và các lãnh đạo ngân hàng có thể báo hiệu thông tin này thông qua CTV (Myers và Majluf, 1984). Kết quả cho thấy sự cân bằng tín hiệu xuất hiện trong ngân hàng với mức kỳ vọng cao về HQHĐ khi có VCSH cao. Với các thông tin nội bộ tồn tại dưới dạng kỳ vọng về doanh thu, chi phí và rủi ro tốt hơn với các đối tượng bên ngoài. Ngoài ra, Bandt và cộng sự (2014) chỉ ra rằng tỷ lệ VCSH càng cao, có nghĩa là nguồn vốn dài hạn của NHTM càng cao, nhưng nó chỉ tật sự đem lại HQHĐ cao nhất cho tổ chức khi các kênh giám sát thật chặt chẽ, vì khi có được nguồn vốn dài hạn từ VCSH thì các lãnh đạo ngân hàng giảm được áp lực thanh toán và mở rộng khẩu vị rủi ro để cho vay hay đầu tư mạo hiểm, nên tìm kiếm được lợi nhuận nhiều hơn.
Nhưng với một khía cạnh khác thì CTV đem lại tác động ngược chiều cho HQHĐ của ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn mà các NHTM có tỷ lệ đòn bẩy đang thấp, nên việc gia tăng đòn bẩy làm giảm chi phí đại diện của vốn cổ phần nhưng tăng giá trị của ngân hàng. Berger và Patti (2006) đã lập luận rằng lý thuyết chi phí đại diện khi áp dụng với bối cảnh ngân hàng thì lại kết luận CTV tác động ngược chiều đến lợi nhuận của ngân hàng, vì nợ vay tăng cao sẽ làm tăng chi phí lãi và đe dọa rủi ro vỡ nợ của ngân hàng do kinh doanh không hiệu quả. Hart và Moore (1995) cũng ủng hộ lý thuyết chi phí đại diện và cho rằng khi các NHTM sử dụng nguồn vốn vay thì buộc các nhà quản lý phải có đối sách hay chiến lược để thực hiện cam kết trả gốc và lãi vay. Mặt khác, nợ vay cũng đem lại những lợi ích cho VCSH về mặt cân đối thông tin. Khi đi vay thì các nhà quản lý ngân hàng phải tiết lộ các thông tin về sự tăng trưởng của tổ chức để đảm bảo sự tin tưởng cho cổ đông, nhà đầu tư về năng lực trả nợ trong tương lai. Tuy nhiên, với trường hợp vay nợ của ngân hàng thì nguồn vay chủ yếu đến từ huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cư dân trong nền kinh tế, phần lớn đối tượng này không có nhiều chuyên môn hay năng lực giám sát khoản tiền mình gửi vào ngân hàng ngoài việc chỉ biết nhận lãi hàng kỳ (Dewatripont và Tirole, 1994). Nên lợi dụng sự chủ quan đó, mà các NHTM tận dụng càng nhiều nhưng việc phân phối nguồn huy động này không hiệu quả thì càng đe dọa lợi nhuận hay HQHĐ của ngân hàng càng lớn.
- Ngoài ra, CTV còn có sự tác động không đơn điệu đến HQHĐ của các NHTM.
Điều này có nghĩa là với lý thuyết chi phí đại diện chỉ ra tỷ lệ VCSH tác động không đơn thuần một hướng đến HQHĐ của ngân hàng. Jensen và Meckling (1986) cho rằng khi tỷ lệ VCSH tại ngân hàng đang cao có nghĩa là sử dụng nợ đang thấp thì khi tăng các khoản huy động từ nợ, thì người quản lý phải giảm chi phí đại diện của nợ hay tập trung vào các nguồn nợ có lãi thấp để tăng lợi nhuận. Nhưng ngược lại, khi NHTM đang rơi vào trạng thái nguy cơ vỡ nợ thì các chi phí phá sản và chi phí đại diện không cân xứng với chi phí VCSH thì nếu tăng thêm đòn bẩy tài chính dẫn đến chi phí tổng đại diện cao hơn và HQHĐ ngày càng kém đi. Mặt khác, Berger và Patti (2006) cũng lập luận rằng theo giả thuyết rủi ro thì các NHTM có lợi nhuận hay HQHĐ tốt thì ưu tiên sử dụng nợ mà ưu tiên với tỷ lệ VCSH thấp hơn, vì chi phí sử dụng nợ thường thấp hơn chi phí sử dụng VCSH ngoài ra tận dụng lợi ích từ lá chắn thuế của lãi vay (Athanasoglou và cộng sự, 2008). Nhưng với giả thuyết nhượng quyền thì các NHTM nên lựa chọn tỷ lệ VCSH cao để bảo vệ lợi ích về thu nhập cao nhất cho các cổ đông.
2.4. Lược khảo các nghiên cứu trước đây Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Tại Pakistan, khi nghiên cứu về tác động của CTV đến HQHĐ kinh doanh của các NHTM, thì Quayyum và Noreen (2019) dữ liệu bảng của các NHTM niêm yết được thu thập từ năm 2006 – 2016. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là Pooled OLS, FEM để kết luận. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho HQHĐ kinh doanh của ngân hàng là ROA. Các chỉ số đại diện cho CTV của ngân hàng đó là tỷ lệ nợ trên VCSH, tỷ lệ VCSH, tỷ lệ nợ. Ngoài ra, nghiên cứu có xem xét về sự tác động của biến kiểm soát quy mô ngân hàng đến ROA. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ nợ trên VCSH, tỷ lệ nợ tác động ngược chiều đến ROA nhưng tỷ lệ VCSH thì không có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA. Ngoài ra, quy mô ngân hàng tác động cùng chiều đến ROA.
Tại Jordan, khi nghiên cứu về sự tác động của rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và CTV đến lợi nhuận của ngân hàng, thì Saleh và Afifa (2020) đã thu thập số liệu của 13 NHTM niêm yết từ năm 2010 – 2018, công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là GMM hệ thống. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng là ROA, ROE, NIM. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ VCSH tác động cùng chiều đến lợi nhuận của ngân hàng. Ngược lại, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động tác động ngược chiều đến lợi nhuận của NHTM.
Tại Ả Rập, khi nghiên cứu về HQHĐ tại các NHTM, thì Derbali (2021) đã thu thập dữ liệu của các ngân hàng từ năm 1997 – 2018, công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là FEM để kết luận. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng là ROA, ROE, NIM. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ VCSH, quy mô ngân hàng, tỷ lệ thanh khoản tác động ngược chiều đến lợi nhuận của các NHTM tại Ả Rập. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Tại Bangladesh, khi nghiên cứu về tác động của đòn bẩy tài chính, an toàn vốn, hiệu quả quản lý, rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng, thì Uddin (2022) đã thu thập dữ liệu của 6 NHTM niêm yết tại quốc gia này từ năm 2017 – 2020. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là REM để kết luận. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng là ROA. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, hệ số an toàn vốn tác động cùng chiều đến ROA. Tỷ lệ nợ xấu và hiệu quả quản lý chi phí tác động ngược chiều đến ROA.
Tại Ả Rập, khi nghiên cứu về cấu trúc sở hữu tác động đến lợi nhuận của các tổ chức tài chính và tín dụng thì Boshnak (2023) thu thập dữ liệu của 70 tổ chức từ năm 2016 – 2021. Đồng thời, công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là GMM hệ thống. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận là ROA, ROE, giá trị thị trường của cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu này nhấn mạnh tỷ lệ nợ tác động ngược chiều đến ROA, ROE, giá trị thị trường của cổ phiếu. Nhưng cấu trúc sở hữu Nhà nước, nước ngoài, tăng trưởng doanh thu tác động cùng chiều đến ROA, ROE, giá trị thị trường của cổ phiếu của các tổ chức.
Tại Sharia, khi nghiên cứu về kết quả ROA ở các ngân hàng thương mại thì Effendi và Hariani (2020) cũng cho ra kết quả khác biệt về ROA đối với trước và sau đại dịch Covid 19, nghiên cứu chỉ ra rằng dịch Covid 19 tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hàng.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) khi nghiên cứu về khả năng sinh lợi của các ngân hàng, đã sử dụng dữ liệu của 22 NHTM từ 2007 – 2013, công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là GMM. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh là ROA, ROE. Ngoài ra, CTV được nhóm tác giả sử dụng các chỉ tiêu sau làm đại diện đó là tỷ lệ VCSH, tỷ lệ tài trợ bởi tiền gửi, đồng thời các biến số này làm gia tăng ROA, ROE. Ngoài ra, quy mô ngân hàng, đa dạng hóa thu nhập, GDP tác động cùng chiều đến ROA, ROE. Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát làm giảm ROA, ROE.
Đặng Ngọc Hùng (2019) khi nghiên cứu về tác động của CTV, tăng trưởng kinh tế và quy mô đến lợi nhuận của các tổ chức tài chính niêm yết tại Việt Nam đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 214 tổ chức tài chính có cả các ngân hàng từ năm 2012 – 2016. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là GMM. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh là ROA, ROE. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ đại diện cho CTV tác động ngược chiều đến ROA, ROE. Nhưng quy mô ngân hàng và GDP lại tác động cùng chiều đến ROA, ROE.
Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020) khi nghiên cứu về mối quan hệ về CTV với lợi nhuận tại các ngân hàng, đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 31 ngân hàng từ năm 2007 – 2019. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là Pooled OLS, FEM hệ thống để kết luận. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh là ROE. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ và tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản tác động ngược chiều đến ROE. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng, đa dạng hóa thu nhập, thu nhập ngoài lãi, GDP làm gia tăng ROE. Nhưng tỷ lệ chi phí hoạt động, nợ xấu làm suy giảm đến ROE.
Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) khi nghiên cứu về tác động của CTV đến lợi nhuận, đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 30 ngân hàng từ năm 2012 – 2018, đồng thời công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là GMM. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh là ROA, ROE. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến số đại diện cho CTV của ngân hàng đó là tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm huy động và phi tiền tiền gửi tiết kiệm trên tổng tài sản tác động ngược chiều đến ROA, ROE của ngân hàng. Ngoài ra các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát tác động cùng chiều đến ROA, ROE của ngân hàng.
Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023) khi nghiên cứu về tác động của CTV và thanh khoản đến lợi nhuận của NHTM, đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 37 NHTM từ năm 2003 – 2020. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là Bayes để kết luận. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho lợi nhuận kinh doanh là ROA, ROE, EPS. Kết quả nghiên cứu cho thấy CTV được đại diện là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tác động ngược chiều nhưng tỷ lệ thanh khoản tác động cùng chiều đến ROA, ROE, EPS. Ngoài ra, các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, đa dạng quỹ ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP tác động cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng. Nhưng sự kết nối chính trị, cung tiền M2, đại dịch Covid 19 tác động ngược chiều đến lợi nhuận. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Vương Thị Hương Giang và cộng sự (2023) khi nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng, thì nhóm tác giả sử dụng dữ liệu của 31 NHTM Việt Nam từ năm 2012 – 2021 với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM và GLS. Biến phụ thuộc mà nhóm tác giả sử dụng đại diện cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là ROA, ROE. Đại diện cho CTV của ngân hàng thì nhóm tác giả sử dụng tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn tác động tích cực đến ROA, ROE. Ngoài ra các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ tiền gửi, tăng trưởng doanh thu tác động tích cực đến ROA, ROE. Nhưng tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát lại tác động tiêu cực đến ROA, ROE.
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
| Tác giả/năm | Quốc gia | Dữ liệu nghiên cứu | Biến phụ thuộc đại diện HQHĐ | Kết quả nghiên cứu về tác động của CTV và các biến khác đến HQHĐ |
| Các nghiên cứu nước ngoài | ||||
| Quayyum và Noreen (2019) | Pakistan | Các NHTM niêm yết từ năm 2006 – 2016 | ROA | CTV bao gồm tỷ lệ nợ trên VCSH, tỷ lệ nợ (-). Quy mô ngân hàng (+). |
| Saleh và Afifa (2020) | Jordan | 13 NHTM niêm yết từ năm 2010 – 2018 | ROA, ROE, NIM | CTV bao gồm tỷ lệ VCSH (+). Rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động (-). |
| Derbali (2021) | Ả Rập | Các ngân hàng từ năm 1997 – 2018 | ROA, ROE, NIM | CTV bao gồm tỷ lệ VCSH (-). Quy mô, thanh khoản (-). |
| Uddin (2022) | Bangladesh | 6 NHTM niêm yết tại quốc gia này từ năm 2017 – 2020 | ROA | CTV bao gồm tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (-). Hệ số an toàn vốn (+). Tỷ lệ nợ xấu và hiệu quả quản lý chi phí (-). |
| Boshnak (2023) | Ả Rập | 70 tổ chức tài chính và tín dụng từ năm 2016 – 2021 | ROA, ROE, giá trị thị trường của cổ phiếu | CTV bao gồm tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (-). Cấu trúc sở hữu Nhà nước, nước ngoài, tăng trưởng doanh thu (+). |
| Các nghiên cứ u trong nước Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng. | ||||
| Hồ Thị Hồng Minh và nguyễn Thị Cành (2014) | Việt Nam | 22 NHTM từ 2007 – 2013 | ROA, ROE | CTV bao gồm tỷ lệ VCSH, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (+). Quy mô ngân hàng và GDP lại (+). Tỷ lệ lạm phát (-) |
| Đặng Ngọc Hùng (2019) | Việt Nam | 214 tổ chức tài chính có cả các NHTM Việt Nam từ năm 2012 – 2016 | ROA, ROE | CTV bao gồm tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (-). Quy mô ngân hàng và GDP (+). |
| Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020) | Việt Nam | 31 NHTM Việt Nam từ năm 2007 – 2019 | ROE | CTV bao gồm tỷ lệ nợ và tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (-). Tăng trưởng tín dụng, đa dạng hóa thu nhập, thu nhập ngoài lãi, GDP (+). Tỷ lệ chi phí hoạt động, nợ xấu (-). |
| Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) | Việt Nam | 30 NHTM từ năm 2012 – 2018 | ROA, ROE | CTV bao gồm tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm huy động và phi tiền tiền gửi tiết kiệm trên tổng tài sản (-). Quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát (+). |
| Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023) | Việt Nam | 37 NHTM từ năm 2003 – 2020 | ROA, ROE, EPS | CTV bao gồm tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (-). Tỷ lệ thanh khoản, quy mô ngân hàng, đa dạng quỹ ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP (+). Sự kết nối chính trị, cung tiền M2, đại dịch Covid 19 (-). |
| Vương Thị Hương Giang và cộng sự (2023) | Việt Nam | 31 NHTM Việt Nam từ năm 2012 – 2021 | ROA, ROE | CTV bao gồm tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (+). Quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ tiền gửi, tăng trưởng doanh thu (+). Tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát (-). |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu liên quan về sự tác động của CTV đến lợi nhuận hay HQHĐ của các ngân hàng trong nước và nước ngoài, thì luận văn xác định đa phần các công trình đều sử dụng các chỉ tiêu về tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản hay tỷ lệ nợ trên VCSH để đại diện cho CTV tại ngân hàng. Đồng thời, các chỉ tiêu ROA, ROE được các tác giả sử dụng phổ biến để đại diện cho lợi nhuận hay HQHĐ của các ngân hàng. Tuy nhiên, các khoảng trống nghiên cứu vẫn còn tổn tại như sau như sau:
Thứ nhất, trong các khoản nợ phải trả của NHTM thì nguồn huy động từ tiền gửi là phổ biến và chiếm vai trò lớn nhất trong việc thực hiện chức năng trung gian tài chính của các ngân hàng. Hay nói cách khác, đây được xem là nguồn nợ quan trọng trong việc quyết định NHTM sẽ thực hiện việc cho vay và đầu tư vào các hạng mục kinh doanh khác như thế nào để có được lợi nhuận hay sử dụng hiệu quả nguồn vốn này sinh ra HQHĐ kinh doanh (Phạm Hải Nam và cộng sự, 2022). Tuy nhiên, chỉ tiêu này rất ít được đề cập hay chưa tập trung nghiên cứu tại các công trình gần đây. Do đó, luận văn sẽ xem xét phân tích vấn đề này với tính cập nhật hơn về số liệu và bối cảnh các NHTM Việt Nam.
Thứ hai, trong gian 2019 – 2022 thì đại dịch Covid 19 xuất hiện tác động rất lớn vào nền kinh tế và ngân hàng cũng không thể thoát khỏi những khó khăn. Trong thời kỳ này, do giãn cách xã hội nên các nghiệp vụ như cho vay, huy động, bảo lãnh đều bị ảnh hưởng. Vì vậy, đây là vấn đề cần được xem xét trong giai đoạn nghiên cứu này nhưng các công trình chưa xuất hiện nhiều, tuy Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023) có nghiên cứu đến nhưng dữ liệu biến giả chỉ cập nhật đến 2020 nhưng đại dịch kéo dài đến 1 hay 2 năm sau đó, rất có thể sẽ cho ra một kết luận khác. Vì vậy, luận văn sẽ phân tích thêm độ trễ tác động của dịch covid đối với hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Thứ ba, đa phần các nghiên cứu Việt Nam chưa đề cập đến cấu trúc sở hữu Nhà nước trong phạm vi vấn đề cần xem xét. Trong khi nếu các NHTM có sở hữu Nhà nước nhiều thì các chiến lược liên quan đến kinh doanh lẫn CTV sẽ bị chi phối rất nhiều. Do đó, cần xem xét vấn đề sở hữu Nhà nước tại NHTM với luận văn này.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 “đã tiến hành trình bày tổng quát về các lý thuyết nền tảng liên quan đến CTV, HQHĐ và các chỉ tiêu đo lường CTV, HQHĐ tại các NHTM, các lý thuyết liên quan luận giải về sự tác động của CTV đến HQHĐ tại ngân hàng. Sau đó, tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến sự tác động của CTV và các biến kiểm soát đến HQHĐ của ngân hàng nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu để tạo cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu trong chương tiếp theo. Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng […]