Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
3.1.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Sau quá trình tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến sự tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTM và tóm tắt các nghiên cứu liên quan, thì tác giả quyết định lựa chọn mô hình nghiên cứu của Quayyum và Noreen (2019) để kế thừa và phát triển cho bối cảnh của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Nguyên nhân luận văn sử dụng nghiên cứu của Quayyum và Noreen (2019) là vì nhóm tác giả này đã sử dụng ba chỉ tiêu đại diện cho CTV của ngân hàng là tỷ lệ nợ, tỷ lệ VCSH và tỷ lệ nợ trên VCSH, tuy nhiên tỷ lệ VCSH không có ý nghĩa tác động đến HQHĐ của ngân hàng. Nhưng Quayyum và Noreen (2019) đã tổng hợp và sử dụng ba chỉ tiêu này nghiên cứu nên tương đồng với việc tổng hợp của luận văn này để đo lường cho CTV của ngân hàng. Ngoài ra, như đã xác định tại mục khoảng trổng nghiên cứu thì Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) có nghiên cứu về tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản của ngân hàng đại diện cho CTV của NHTMCP niêm yết tại Việt Nam, do đó luận văn này cũng sẽ bổ sung thêm chỉ tiêu này để đo lường cho CTV của ngân hàng. Cùng với các biến độc lập đại diện cho CTV của NHTM thì luận văn này cũng sẽ bổ sung các biến quan sát từ các nghiên cứu trước. Trong đó, biến số thuộc nội tại ngân hàng như quy mô ngân hàng của Quayyum và Noreen, 2019), các biến số thuộc vĩ mô nền kinh tế như GDP, đại dịch Covid của Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023), tỷ lệ lạm phát của Phạm Hải Nam và cộng sự (2022). Do đó, mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng với các biến số sau:
Bảng 3.1: Các biến số được đề xuất xây dựng mô hình nghiên cứu
| Tên biến | Ký hiệu | Nguyên nhân lựa chọn | Nguồn | Kỳ vọng tác động |
| Biến phụ t huộc: HQH Đ của ngân hàng | ||||
| Tỷ suất sinh lời | ROA | Biến số này phản ánh lợi nhuận được tạo ra từ các nguồn lực tổng thể hay tài sản của ngân hàng. Hay phản ánh việc lãnh đạo ngân hàng phối hợp hay phân bổ các nguồn lực hợp lý tạo ra lợi nhuận ròng. | Quayyum và Noreen (2019); Uddin (2022). | X |
| Các biến độc lập: CTV của ngân hàng Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng. | ||||
| Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản | DTA | Biến số này phản ảnh mức độ sử dụng nợ vay của ngân hàng để tài trợ cho tài sản và dùng để vận hành kinh doanh của ngân hàng. Nó cũng phản ánh mức độ áp lực phải thanh toán gốc lãi của ngân hàng cho các đối tượng vay nợ. |
Quayyum và Noreen (2019); Uddin (2022); Boshnak (2023); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023). |
Âm (-) |
| Tỷ lệ nợ trên VCSH | DTC | Biến số này phản ảnh cơ cấu sử dụng nợ và VCSH trong ngân hàng. Hệ số này phản ánh mức độ ưu tiên của ngân hàng vào nguồn vốn nào hơn? | Quayyum và Noreen (2019). | Âm (-) |
| Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản | CTA | Biến số này phản ánh mức độ tự tài trợ của ngân hàng, thông qua việc huy động nguồn vốn từ chủ sở hữu hay phát hành cổ phiếu. Mặt khác, tỷ lệ này còn phản ánh việc ngân hàng giảm được áp lực thanh toán các khoản nợ gốc và lãi. | Saleh và Afifa (2020); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). | Dương (+) |
| Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản | DeDA | Biến số này phản ánh việc ngân hàng huy động nguồn vốn từ tiền tiết kiệm. Đây là nguồn vốn lớn để các ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh và làm trung gian tài chính cho nền kinh tế. | Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). | Dương (+) |
| Các biến kiểm soát | ||||
| Quy mô ngân hàng | SIZE | Biến số này đại diện cho năng lực tài chính của ngân hàng để tiếp cận và mở rộng phạm vi kinh doanh để có thêm lợi nhuận, tăng tính hiệu quả trong hoạt động. | Quayyum và Noreen (2019); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) | Dương (+) |
| Tăng trưởng kinh tế | GDP | Biến số này đại diện cho sự thuận lợi trong môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho NHTM hoạt động hiệu quả. | Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020) | Dương (+) |
| Tỷ lệ lạm phát | INF | Biến số này đại diện cho sự khó khăn trong môi trường kinh doanh, tạo cả trở cho NHTM hoạt động hiệu quả. | Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). | Âm (-) |
| Sở hữu Nhà nước | STA | Biến số này đại diện cho sự sở hữu trên 51% tại các NHTM, nên việc thực hiện các chiến lược kinh doanh có phần bị chi phối bởi Nhà nước. | Boshnak (2023). | Dương (+) |
| Đại dịch Covid 19 | COVID | Biến số này địa diện cho sự khó khăn của nền kinh tế lẫn tại ngân hàng khi có đại dịch. | Nguyễn Thị Thùy Hương, Nguyễn Hữu Huân | Âm (-) |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
“Mô hình nghiên cứu đo lường sự tác động của CTV và các biến kiểm soát đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam đó là: ROAi,t = + 𝜷𝟏∗DTAi,t + 𝜷𝟐∗DTCi,t + 𝜷𝟑∗CTAi,t + 𝜷𝟒∗DeDAi,t + 𝜷𝟓∗SIZEi,t + 6*GDPt + 7∗𝑪𝑷𝑰t + 8STAi,t + 9∗𝑪OVIDt + 𝜺t”. Trong đó các ký hiệu sẽ được đề cập tại Bảng 3.1. Các hệ số βj là hệ số tương quan tác động giữa các biến số độc lập với biến phụ thuộc, là chỉ số biểu diễn sai số của mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, i biểu diễn cho NHTMCP niêm yết tại Việt Nam thứ i và t biểu diễn cho năm thứ t. Các biến số được lựa chọn vào mô hình nghiên cứu được đo lường với các công thức dưới bảng sau:
Bảng 3.2: Phương pháp đo lường biến
| Tên biến | Ký hiệu | Công thức đo lường | Nguồn |
| Biến phụ thuộc: HQH | Đ kinh doanh của NHTM | ||
| Tỷ suất sinh lời | ROA | 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 |
Quayyum và Noreen (2019); Uddin (2022). |
| Các biến độc lập: CTV của NHTM | |||
| Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản | DTA | Quayyum và Noreen (2019); Uddin (2022); Boshnak (2023); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023). | |
| Tỷ lệ nợ trên VCSH | DTC | Quayyum và Noreen (2019). | |
| Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản | CTA | Saleh và Afifa (2020); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). | |
| Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản | DeDA | Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). | |
| Các biến kiểm soát Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng. | |||
| Quy mô ngân hàng | SIZE | Log(Tổng tài sản) | Quayyum và Noreen (2019); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Phạm Hải Nam và cộng sự (2022) |
| Tăng trưởng kinh tế | GDP | Lấy theo số liệu cụ thể từng năm dựa trên dữ liệu của Cục thống kê. | Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020) |
| Tỷ lệ lạm phát | INF | Lấy theo số liệu cụ thể từng năm dựa trên dữ liệu của Cục thống kê. | Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). |
| Sở hữu Nhà nước | STA | Biến giả với hai giá trị 1,0. Trong đó 1 cho các NHTM có sở hữu Nhà nước trên 51% đó là Agribank, VCB, BIDV, Vietinbank. Giá trị 0 cho các NHTM còn lại. | Boshnak (2023). |
| Đại dịch Covid 19 | COVID | Biến giá với hai gái trị 1,0. Trong đó 1 tại hai năm 2020 – 2021 xuất hiện đại dịch Covid 19 và 0 cho các năm còn lại. | Effendi and Hariani (2020). |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
3.1.2.1. Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam
Quayyum và Noreen (2019); Uddin (2022); Boshnak (2023); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023) cho rằng khi các NHTM có CTV trong đó sử dụng nợ nhiều thông qua việc huy động tiền gửi tiết kiệm, vay từ các tổ chức khác hay phát hành trái phiếu ra thị trường, nhằm phục vụ cho các hoạt động tài trợ hoặc vận hành HĐKD thì sẽ phải đối mặt với áp lực thanh toán rất nhiều. Đặc biệt, nếu các khoản nợ hay huy động này với kỳ hạn ngắn thì NHTM dễ rơi vào trạng thái khó khăn nhiều hơn. Mặt khác, khi sử dụng nợ nhiều nhưng nguồn vốn này lại không được phân bố hiệu quả hay HĐKD không cân xứng với nguồn vốn huy động được thì chi phí lãi sẽ rất nhiều, điều này làm cho lợi nhuận của NHTM suy giảm hay nói cách khác HQHĐ không được đánh giá cao. Do đó, nếu NHTM ưu tiên sử dụng nợ nhiều trong CTV của mình sẽ tạo khó khăn nhiều hơn và HQHĐ cũng có những sự cản trở nhất định. Vì vậy, giả thuyết về tỷ lệ nợ được đề xuất như sau:
Giả thuyết H1: Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tác động ngược chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Giả thuyết H2: Tỷ lệ nợ trên VCSH tác động ngược chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Saleh và Afifa (2020); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) đã lập luận rằng VCSH được xem là nguồn vốn dài hạn trong cơ cấu CTV của NHTM. Do đó, khi các NHTM huy động được càng nhiều nguồn vốn này và dùng nó để vận hành kinh doanh hay thực hiện các hoạt động đầu tư, sẽ có những thuận lợi nhất định đặc biệt giảm được áp lực thanh toán từ các khoản nợ ngắn hạn đến hạn liên tục. Mặt khác, nguồn vốn này càng được huy động nhiều thì lợi ích của các cổ đông góp vốn vào sẽ được bảo toàn nên dễ dàng cho NHTM trong việc thực hiện mở rộng quy mô hay tiếp cận khách hhàng tốt hơn. Từ đó, HQHĐ của NHTM cũng sẽ có điều kiện được nâng cao. Vì vậy, giả thuyết về tỷ lệ VCSH được đề xuất như sau:
Giả thuyết H3: Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) cho rằng tiền gửi tiết kiệm là một trong những nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn mà NHTM, đặc biệt đây là nguồn vốn giúp cho các NHTM thuận tiện thực hiện chức năng trung gian tài chính, điển hình đó là hoạt động cấp tín dụng. Mặt khác, khoản huy động từ tiền gửi vẫn là nguồn có chi phí thấp hơn so với các khoản nợ khác, do đó tạo điều kiện thuận lợi và gia tăng HQHĐ cho các NHTM. Vì vậy, giả thuyết về tỷ lệ tiền gửi được đề xuất như sau:
Giả thuyết H4: Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
3.1.2.2. Tác động của các biến kiểm soát đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Quayyum và Noreen (2019); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Phạm Hải Nam và cộng sự (2022); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023) cho rằng cho rằng các NHTM có quy mô càng lớn thì càng dễ dàng trong việc mở rộng HĐKD, tiếp cận khách hàng hay các hạng mục đầu tư. Từ đó, sinh lợi nhuận nhiều hơn hay HQHĐ có phần thuận lợi hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn. Vì vậy, giả thuyết về quy mô ngân hàng được đề xuất như sau:
Giả thuyết H5: Quy mô ngân hàng tác động cùng chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023) “cho rằng hoạt động của ngân hàng có liên hệ mật thiết với kinh tế, xã hội nên nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt thì kích thích cho ngân hàng hoạt động tốt hơn, thu hút được khách hàng làm việc nhiều hơn với khách hàng tạo ra lợi nhuận cho mình cũng như tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như HQHĐ của ngân hàng.” Vì vậy, giả thuyết về tăng trưởng kinh tế được đề xuất như sau:
Giả thuyết H6: Tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) cho rằng “lạm phát ảnh hưởng đến giá cả tăng cao, sức mua của đồng tiền suy giảm,.. đối với ngân hàng thì nó ảnh hưởng đến lãi suất mà lãi suất là công cụ mà khách hàng làm việc với ngân hàng, tuy nhiên nếu lãi suất cho vay tăng thì hoạt động của ngân hàng sẽ trở nên khó khăn, từ đó khả năng sinh lời của ngân hàng cũng giảm xuống.” Mặt khác, khi lạm phát tăng cao thì các hoạt động đầu tư của NHTM cũng sẽ gặp nhiều cản trở nên từ đó làm cho HQHĐ cũng giảm. Vì vậy, giả thuyết về tỷ lệ lạm phát được đề xuất như sau:
Giả thuyết H7: Tỷ lệ lạm phát tác động ngược chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Boshnak (2023) cho rằng các NHTM có sở hữu Nhà nước cao thường sẽ có sự thuận lợi hơn trong uy tín hay thương hiệu trên thị trường, do đó dễ dàng trong việc mở rộng quy mô hoạt động hay lòng tin của khách hàng. Mặt khác, khi có có sở hữu Nhà nước cao thì các NHTM thường có sự thận trọng hơn trong việc đầu tư hay cho vay mạo hiểm nên lợi nhuận được bảo toàn cũng như tăng HQHĐ của ngân hàng. Vì vậy, giả thuyết về sở hữu Nhà nước được đề xuất như sau:
Giả thuyết H8: Sở hữu Nhà nước tác động cùng chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Giai đoạn 2020 – 2021 thì thế giới xuất hiện đại dịch Covid 19, nó đã ảnh hưởng ngược chiều đến nền kinh tế thế giới, Việt Nam và ngành ngân hàng nói riêng. Đặc biệt, trong giai đoạn này Việt Nam ưu tiên đóng cửa nền kinh tế để chống dịch. Do đó, các HĐKD của các đối tượng cũng suy giảm và khó khăn trầm trọng. Vì vậy, sự khó khăn này có khả năng làm cho lợi nhuận của các ngân hàng sụt giảm, đồng thời hiệu quả về các nguồn lực cũng không được tận dụng tối đa (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2023). Vì vậy, giả thuyết về đại dịch Covid 19 được đề xuất như sau:
Giả thuyết H9: Đại dịch Covid 19 tác động ngược chiều đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
3.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
3.2.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu tại hình 3.1 bao gồm 7 bước sẽ được diễn giải chi tiết như sau:

Nguồn: Đề xuất của tác giả Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Bước 1: Dựa trên việc lựa chọn đề tài nghiên cứu thì luận văn sẽ tổng hợp các lý thuyết nền tảng về CTV, HQHĐ của ngân hàng. Đồng thời, tóm tắt các lý thuyết liên quan đến sự tác động của CTV đến HQHĐ của các ngân hàng, để xác định chiều hướng hay bản chất của sự tác động đó. Từ đó, tổng hợp các nghiên cứu liên quan về sự tác động của CTV đến HQHĐ của các ngân hàng, nhằm tìm ra các khoảng trống từ các công trình.
Bước 2: Từ các khoảng trống được xác định từ các công trình và kết hợp với các lý thuyết nền tảng, thì luận văn sẽ kế thừa từ một trong các công trình lược khảo để phát triển. Đồng thời, đề xuất phương pháp đo lường cho các biến số được xây dựng trong mô hình. Ngoài ra, dựa trên các lập luận từ các nghiên cứu trước kế thừa để xây dựng giả thuyết.
Bước 3: Luận văn tiến hành xác định số quan sát dựa trên số biến độc lập và biến kiểm soát được xây dựng trong mô hình nghiên cứu. Đồng thời, trình bày phương pháp thu thập dữ liệu từ số liệu thứ cấp.
Bước 4: Tiến hành đánh giá tình hình chung về giá trị trung bình của HQHĐ và các tỷ số đại diện cho CTV của các NHTMCP niêm yết Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023, để có cái nhìn tổng quan về sự thay đổi của các biến số đặc trưng này.
Bước 5: Tiến hành thống kê mô tả với các giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, độ lệch chuẩn với các biến số trong mô hình nghiên cứu, đồng thời đánh giá sự khác biệt giữa các ngân hàng trong mẫu. Đồng thời, phân tích ma trận tương quan giữa các biến số độc lập nhằm xác định hiện tượng đa cộng tuyến có dấu hiện xuất hiện hay không ?
Bước 6: Tiến hành hồi quy các mô hình đa biến Pooled OLS, FEM, REM đồng thời lựa chọn mô hình phù hợp. Từ đó, kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình được chọn, nếu có xuất hiện tiến hành khắc phục, phương pháp FGLS được sử dụng. Sau đó, sử dụng kết quả sau khắc phục để kết luận giả thuyết và thảo luận.
Bước 7: Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm sẽ kết luận chung về kết quả đạt được của luận văn và tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam để có CTV hợp lý nhằm gia tăng HQHĐ trong tương lai.
3.2.2. Phương pháp xác định mẫu và thu thập dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
3.2.2.1. Phương pháp xác định mẫu
Tabachnick và Fidell (1996) cho rằng khi phân tích định lượng với mô hình hồi quy đa biến thì mẫu nghiên cứu tối thiểu được xác định thông qua công thức là N = 50 + 8*k (k là số biến độc lập và kiểm soát trong mô hình nghiên cứu). Do đó, hiện tại mô hình nghiên cứu của luận văn có 4 biến độc lập và 5 biến kiểm soát nên k là 9, vì vậy mẫu tối thiểu là N = 122 mẫu. Tuy nhiên, như đã xác định tại chương 1 thì phạm vi nghiên cứu không gian của luận văn là 22 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam và thời gian là từ năm 2014 – 2023 (10 năm), cùng tổng số biến gồm cả biến phụ thuộc là 10, nên tổng số quan sát là 2400 mẫu và đáp ứng được mẫu tối thiểu.
3.2.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các BCTC, bảng cân đối kế toán của 24 NHTMCP niêm yết Việt Nam và Cục Thống kê qua các năm từ 2014 – 2023. Với mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM thì dữ liệu sẽ được thiết kế dạng bảng theo nhóm ngân hàng và năm tương ứng. Dữ liệu được xử lý tính toán với kết quả cuối cùng tương ứng với các biến số đề xuất trong mô hình nghiên cứu và được trình bày tại Phụ lục 1 của luận văn này.
3.2.3. Phương pháp tính toán và ý nghĩa
3.2.3.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Bước đầu thì luận văn sẽ tiến hành đánh giá tình hình chung về giá trị trung bình của HQHĐ và các tỷ số đại diện cho CTV của các NHTMCP niêm yết Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023, để có cái nhìn tổng quan về sự thay đổi của các biến số đặc trưng này. Sau đó, tiến hành thống kê mô tả với các giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, độ lệch chuẩn với các biến số trong mô hình nghiên cứu, đồng thời đánh giá sự khác biệt giữa các ngân hàng trong mẫu.
3.2.3.2. Phân tích ma trận tương quan của các biến số độc lập và kiểm soát
Đối với mô hình hồi quy đa biến thì giả định ràng buộc cho sự phù hợp của nó là các biến độc lập hay các biến kiểm soát không được tương quan cao với nhau, nếu xảy ra tình trạng này thì hiện tượng đa cộng tuyến xuất hiện. Vì vậy, một phương thức để xác định là sử dụng ma trận cấu trúc tương quan giữa các biến số. Nếu hệ số tương quan trong ma trận của các cặp số lớn hơn 0,8 có nghĩa là cặp biến số đó tương quan mạnh, hay có khả năng mô hình xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng và cần kiểm định sâu hơn để kết luận. Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
3.2.3.3. Phân tích các mô hình hồi quy đa biến
Mô hình Pooled OLS (hồi quy gộp): Mô hình này theo phương pháp bình phương nhỏ nhất với dữ liệu bảng, đây là mô hình giản đơn và cơ bản nhất khi hồi quy các biến số. Với phương pháp OLS này thì giả định đặt ra không tồn tại khác biệt giữa các đơn vị chéo, tung độ gốc α được dùng chung cho các đơn vị chéo. Do đó, mô hình này không phản ánh sự khác biệt giữa các đơn vị chéo tại mẫu nghiên cứu, do cả hai tham số ước lượng không thay đổi với đơn vị chéo. Nhưng phương pháp này dễ xuất hiện tự tương quan chuỗi, thể hiện qua hệ số d (hệ số Durbin Watson thấp) nên kết quả ước lượng kém chất lượng và thiếu sự tin cậy.
Mô hình FEM (tác động cố định): Để khắc phục các nhược điểm của mô hình Pooled OLS về sự không đồng nhất của các đơn vị chéo thì mô hình FEM sẽ tính đến đặc trung riêng của các đơn vị chéo. Với FEM thì các hệ số hồi quy riêng có giả định giống nhau với các đơn vị chéo nhưng hệ số chặn lại có tính phân biệt. Đặc biệt, trong mô hình FEM thì mỗi thành phần của mẫu nghiên cứu đều có những điểm riêng thuộc các đối tượng hay thời gian khác nhau và được xem như các hằng số có khả năng tác động đến các biến độc lập. Do đó, mô hình FEM sẽ phân tích sự liên hệ giữa các phần dư với từng đơn vị với biên độc lập để kiểm soát và tách sự tác động của các đặc trưng riêng rẻ (không thay đổi với thời gian) khỏi các biến số độc lập.
Mô hình REM (tác động ngẫu nhiên): Mô hình này thì lại tập trung vào việc xác định các hệ số chặn khác nhay với từng đơn vị chéo, tác động chung của các biến độc lập. Với những hệ số chặn tại các đơn vị chéo phát sinh bởi một hệ số chặn chung không thay đổi theo thời gian hay các đối tượng. Mỗi biến ngẫu nhiên là một thành phần sai số thay đổi theo đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian (với thành phần của sau số là biến số không quan sát được thể hiện các sự tác động của yếu tố không quan sát được bằng cách trực tiếp). Do đó, thay vì tiếp cận trực tiếp mỗi đặc điểm riêng của các đơn vị hay cách chúng tương quan với biến độc lập, thì REM xem xét những đặc điểm này là các biến số ngẫu nhiên không tương quan với biến độc lập và được xem là những cơ sở để giải thích đến sự tác động đến biến phụ thuộc. Vì vậy, tại những tình huống nghiên cứu mà có sự khác biệt với các đơn vị tác động đến biến phụ thuộc thì mô hình REM có phần tối ưu hơn mô hình FEM.
3.2.3.4. Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
Trong ba mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM thì cần phải thực hiện kiểm định lựa chọn một mô hình phù hợp để kết luận. Do đó, các kiểm định tương ứng như sau. Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Kiểm định F – Test: Kiểm định này nhằm xác định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM. Với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là không tồn tại sự khác biệt giữa các đối tượng hay thời gian khác nhau, tương ứng với Pooled OLS được chọn. H1 là tồn tại tồn tại sự khác biệt giữa các đối tượng hay thời gian khác nhau, tương ứng với FEM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của F – Test để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình FEM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình Pooled OLS.
Kiểm định Breusch – Pagan: Kiểm định này nhằm xác định lựa chọn giữa Pooled OLS và REM. Với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là không tồn tại sự sai khác với phương sai sai số thay đổi, tương ứng với Pooled OLS được chọn. H1: tồn tại sự sai khác với phương sai sai số thay đổi, tương ứng với REM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của Breusch – Pagan để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình REM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình Pooled OLS.
Kiểm định Hausman: Kiểm định này nhằm xác định lựa chọn giữa FEM và REM. Với cặp giả thuyết đặt ra gồm H0 là không có sự xuất hiện các biến số độc lập với những phần dư tương quan, tương ứng với REM được chọn. H1 là có sự xuất hiện các biến số độc lập với những phần dư tương quan, tương ứng với FEM được chọn. Với kiểm định này thì dựa trên hệ số P – Value của Hausman để kết luận, thông thường nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ bác bỏ H0 thì sẽ lựa chọn mô hình FEM và ngược lại nếu P – Value lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì sẽ lựa chọn mô hình REM.
3.2.3.5. Kiểm định các hiện tượng với mô hình được chọn
Kiểm định đa cộng tuyến: Kiểm định này nhằm phát hiện các biến số độc lập có tương quan cao với nhau hay không ? Nếu các cặp biến độc lập tương quan quan cao với nhau thì mô hình xảy ra đa cộng tuyến (Hoàng Ngọc Nhậm, 2007). Hiện tượng này sẽ được kiểm định thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại đa cộng tuyến, H1 là mô hình tồn tại đa cộng tuyến. Nếu VIF của các biến số và trung bình trong mô hình thấp hơn 10 thì giả thuyết H0 được chấp nhận hay không có đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu và ngược lại.
Kiểm định phương sai sai số thay đổi: Kiểm định nhằm xác định mô hình có xuất hiện phương sai của các phần dư khác hằng số, nó sẽ làm cho các quan sát có sự sai khác và mất đi tính phân phối ngẫu nhiên của dữ liệu. Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại phương sai sai số thay đổi, H1 là mô hình tồn tại phương sai sai số thay đổi. Nếu P – Value của kiểm định Breusch – Pagan Lagrangian lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì không tồn tại phương sai sai số thay đổi. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 thì tồn tại phương sai sai số thay đổi.
Kiểm định tự tương quan: Kiểm định này nhằm xác định sự tương quan của các biến quan sát trong mẫu, nếu xuất hiện thì sẽ tạo sự sai lệch trong dữ liệu và mô hình. Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
Với cặp giả thuyết H0 là mô hình không tồn tại tự tương quan, H1 là mô hình tồn tại tự tương quan. Nếu P – Value của kiểm định Wooldridge lớn hơn 5% thì sẽ chấp nhận H0 thì không tồn tại tự tương quan. Ngược lại, nếu P – Value thấp hơn 5% thì sẽ chấp nhận H1 thì tồn tại tự tương quan.
3.2.3.6. Khắc phục các hiện tượng khuyết tật
Nếu mô hình được chọn thông qua các kiểm định trên gặp phải hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tự tương quan thì “tiến hành khắc phục theo phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square). Phương pháp này sẽ tập trung vào việc khắc phục sửa sai cho các phương sai, độ lệch chuẩn và tạo tính ổn định cho sự biến thiên của dữ liệu nhằm đưa ra kết quả thỏa mãn với giả thuyết bình phương nhỏ nhất theo tiêu chuẩn. Đồng thời, sau khi khắc phục theo FGLS thì mô hình hồi quy đa biến mới được thiết lập, từ đó sẽ dựa trên hệ số hồi quy của các biến số và P – Value tương ứng và mức ý nghĩa 5%, để xem xét việc kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đề xuất là phù hợp hay không? Sau đó, dựa trên kết luận giả thuyết đó tiến hành thảo luận so sánh với các nghiên cứu trước đây.
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương này trình bày về mô hình nghiên cứu đề xuất được kéo thừa từ các nghiên cứu được lược khảo, đồng thời dựa trên các lập luận của các tác giả từ các công trình đó để phát triển giả thuyết nghiên cứu cho bối cảnh các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Ngoài ra, chương này trình bày cách thức đo lường các biến số trong mô hình, cách thức và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu. Cuối cùng là trình bày về phương pháp xử lý số liệu. Luận văn: PPNC cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
