Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích tương quan
4.1.1. Tình hình thay đổi tỷ suất sinh lời ROA của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam từ năm 2014 – 2023
Tình hình hệ số ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ năm 2014 – 2023 được xem xét qua gía trị trung bình của 22 ngân hàng tại mỗi năm. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi đó như sau:
Hình 4.1: Tình hình thay đổi ROA từ năm 2014 – 2023 của 22 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam
Từ năm 2014 – 2023 thì ROA của 22 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam nhìn chung gia tăng từ 0,66% lên đến 1,29%. Trong đó, giai đoạn 2014 – 2016 là khoảng thời gian các NHTM Việt Nam tái cấu trúc theo chỉ thị của NHNN nhằm hạn chế nợ xấu gây ra từ giai đoạn trước, hay nói cách khách NHNN thắt chặt các HĐKD của NHTMCP niêm yết Việt Nam do đó ROA giảm từ 0,66% xuống còn 0,49%. Bắt đầu từ sau đó năm 2017 đến trở về sau thì tỷ lệ này tăng đều mỗi năm từ 0,53% đến 1,29%. Điều này cho thấy các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam vẫn tạo được sự ổn định chung trong HĐKD của mình. Mặc dù giai đoạn 2020 – 2022 có xuất hiện đại dịch Covid 19 nhưng lợi nhuận của NHTMCP niêm yết vẫn được duy trì với mức dương.
4.1.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Các biến số trong mô hình nghiên cứu sẽ được thống kê các đặc điểm giá trị đặc trưng như sau:
Bảng 4.1: Thống kê mô tả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
| Biến | GTTB | Độ lệch chuẩn | GTNN | GTLN |
| ROA | 0,85% | 0,67% | 0,01% | 3,21% |
| DTA | 56,38% | 15,13% | 25,02% | 94,65% |
| DTC | 2,37 | 0,29 | 1,75 | 3,34 |
| CTA | 25,64% | 10,46% | 8,08% | 71,51% |
| DeDA | 50,31% | 14,08% | 20,24% | 98,68% |
| SIZE | 32,91 | 1,21 | 30,32 | 35.53 |
| GDP | 5,83% | 1,72% | 2,58% | 8,02% |
| INF | 2,87% | 0,94% | 0,63% | 4,08% |
| STA | 0,17 | 0,37 | 0 | 1 |
| COVID | 0,20 | 0,40 | 0 | 1 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Đối với ROA thì trung bình của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2014 – 2023 là 0,85% với độ lệch tương ứng cao là 0,67%. Điều này cho thấy giữa các NHTMCP niêm yết Việt Nam trong giai đoạn này có sự khác biệt và khoảng cách lớn, vì đặc thù kinh doanh hay chiến lược các ngân hàng có sự khác nhau. Trong đó, ROA thấp nhất là 0,01% của VIETCAP năm 2017 và lớn nhất là 3,21% năm TCB năm 2023.
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (DTA) trung bình của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2014 – 2023 là 56,38% với độ lệch tương ứng cao là 15,13%. Do đó, có thể thấy các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam vẫn ưu tiên sử dụng nợ nhiều cho CTV của mình, ngoài ra sự khác biệt giữa việc sử dụng nợ tại các ngân hàng rất lớn do độ lệch tương đối lớn. Trong đó, tỷ lệ này thấp nhất là 25,02% của NAMA năm 2021.
Tỷ số nợ trên VCSH (DTC) trung bình của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2014 – 2023 là 2,37 lần với độ lệch tương ứng là 0,29 lần. Do đó, về mặt bằng chung có thể thấy giữa VCSH và nợ thì các NHTMCP niêm yết vẫn sử dụng nợ với hệ số gấp trung bình 2 lần so với VCSH. Trong đó, tỷ số DTC cao nhất là 3,34 của VPB năm 2018.
Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (CTA) trung bình của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2014 – 2023 là 25,64% với độ lệch tương ứng cao là 10,46%. Do đó, có thể thấy các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam vẫn duy trì mức VCSH trong CTV tại mức vừa phải nhưng có sự khác biệt lớn tại các ngân hàng với độ lệch cao. Trong đó, tỷ lệ này thấp nhất 8,09% năm 2021 và lớn nhất là 71,51% của SGB năm 2014. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DeDA) trung bình của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2014 – 2023 là 50,31% với độ lệch tương ứng cao là 14,08%. Do đó, có thể thấy các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam vẫn ưu tiên sử dụng các khoản huy động từ tiền gửi tiết kiệm cho CTV của mình, nhằm thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính ngoài ra chi phí cho việc sử dụng nguồn huy động từ tiết kiệm là rẻ nhất. Trong đó cao nhất là 98,67% tại VPB năm 2019.
Quy mô NHTMCP niêm yết tại Việt Nam (SIZE) có giá trị Log(Tổng tài sản) trung bình là 32,91 với độ lệch nhỏ là 1,21. Trong đó, quy mô nhỏ nhất với Log(Tổng tài sản) là 30,32 của SGB năm 2014 và lớn nhất là 35,53 thuộc về BIDV năm 2023.
Trong đó, các ngân hàng thuộc nhóm Big4 như VCB, CTG, BIDV có sở hữu Nhà nước trên 51% đều có quy mô lớn trong hệ thống.
GDP từ năm 2014 – 2023 thì mức trung bình đạt được là 5,83% cùng với độ lệch chuẩn 1,72%, cho thấy mức tăng trưởng tại Việt Nam không có quá nhiều sự khác biệt qua mỗi năm. Lạm phát thì trung bình mỗi năm là 2,87% tính trong giai đoạn 2014 – 2023, trong đó năm 2011 có tỷ lệ cao nhất là 4,08% và năm 2014 thấp nhất với 0,63%. Ngoài ra, luận văn xem xét phân tích hai biến giả sở hữu Nhà nước và đại dịch Covid 19 dưới hai giá trị 0,1 nên việc thống kê mô tả là không cần thiết vì đã trình bày về quy ước xuất hiện của các giá trị này tại chương 3.
4.1.3. Phân tích tương quan giữa các biến số độc lập và kiểm soát của mô hình nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Ma trận tương quan giữa các cặp biến giúp luận văn phát hiện các biến số độc lập có tương quan cao với nhau hay không? Nếu cặp biến có tương quan với hệ số lớn hơn 0,8 thì khả năng mô hình có đa cộng tuyến nghiêm trọng. Kết quả được trình bày dưới đây:
Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến số độc lập
| DTA | DTC | CTA | DeDA | SIZE | GDP | CPI | STA | COVID | |
| DTA | 1,000 | ||||||||
| DTC | -0,058 | 1,000 | |||||||
| CTA | 0,041 | 0,377 | 1,000 | ||||||
| DeDA | -0,056 | 0,784 | 0,496 | 1,000 | |||||
| SIZE | -0,236 | -0,360 | -0,545 | -0,287 | 1,000 | ||||
| GDP | 0,046 | 0,216 | 0,016 | -0,049 | -0,106 | 1,000 | |||
| INF | 0,014 | -0,119 | -0,001 | 0,040 | 0,040 | 0,140 | 1,000 | ||
| STA | -0,202 | -0,217 | -0,348 | -0,274 | 0,639 | 0,000 | -0,000 | 1,000 | |
| COVID | -0,063 | -0,209 | -0,055 | 0,056 | 0,105 | -0,902 | -0,182 | -0,000 | 1,000 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Dựa trên bảng 4.2 và xét độ lớn giữa hệ số tương quan giữa các biến số độc lập thì đa phần đều thấp hơn 0,8. Tuy nhiên, có biến số COVID và GDP có hệ số tương quan với độ lớn là 0,902 thì đây là tương quan cao, nên có thể xảy ra đa cộng tuyến với cặp biến này. Tuy nhiên, biến COVID là biến giả do đó cần phải kiểm định sâu hơn để xác định chính xác có thật sự xảy ra hiện tượng này hay không?
4.2. Kết quả kiểm định mô hình hồi quy đa biến Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
4.2.1. Kết quả các mô hình hồi quy
Nhằm đánh giá kết quả về sự ảnh hưởng của CTV và các biến kiểm soát đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam thì cần phải thông qua kết quả của các mô hình hồi quy đa biến điển hình đó là Pooled OLS, FEM và REM. Kết quả này được trình bày tóm tắt dưới bảng sau:
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM
| Tên biến | ROA | ||
| OLS | FEM | REM | |
| DTA | -0,011*** | -0,004*** | -0,005*** |
| DTC | -0,007*** | -0,005*** | -0,005*** |
| CTA | 0,032*** | 0,037*** | 0,037*** |
| DeDA | 0,022*** | 0,017*** | 0,017*** |
| SIZE | 0,004*** | 0,006*** | 0,005*** |
| GDP | 0,070 | 0,080** | 0,079** |
| INF | -0,037 | -0,030 | -0,031 |
| STA | -0,007*** | 0 | -0,008* |
| COVID | 0,002 | 0,003** | 0,003** |
| R-square | 62,48% | 67,09% | 66,99% |
| Với ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%; 5%; 10% | |||
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Dựa trên kết quả bảng 4.3 ta có thể thấy các mô hình Pooled OLS, FEM, REM đều có hệ số xác định R2 lớn hơn 60% thuộc [0,5; 1], hay các biến có ý nghĩa ảnh hưởng sẽ giải thích được trên 60% sự thay đổi của ROA tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam. Ngoài ra, dựa trên kết quả ban đầu về hồi quy đa biến của các mô hình thì các biến số độc lập DTA, DTC tác động ngược chiều đến ROA tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam với mức ý nghĩa 1%. Các biến số CTA và DeTA tác động cùng chiều đến ROA tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam với mức ý nghĩa 1%.
Mặt khác, các biến kiểm soát SIZE tác động cùng chiều đến ROA. GDP và COVID thì có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA tại mô hình FEM, REM nhưng lại không tác động tại Pooled OLS. Biến STA không có ý nghĩa với FEM nhưng lại có ý nghĩa với các mô hình còn lại. Cuối cùng thì INF không có ý nghĩa thống kê với tất cả các mô hình. Tuy nhiên, xét về dấu tác động của các biến số tại ba mô hình thì có tương đồng cao, do đó tạo sự phù hợp với dữ liệu nghiên cứu để tiếp tục cho các kiểm định tiếp theo.
4.2.2. Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
Trong ba mô hình Pooled OLS, FEM và REM thì luận văn cần phải lựa chọn một trong ba mô hình này để có thể kiểm định tiếp tục và kết luận kết quả nghiên cứu, trong đó:
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
| Kiểm định | Kết quả kiểm định |
| Kiểm định F – test | F (08,208) = 53,00
Prob > F = 0,000 Chọn FEM |
| Kiểm định Breus – Pargan | chibar2(01) = 256,41
Prob > chibar2 = 0,000 Chọn REM |
| Kiểm định Hausman | chi2(8) = 9,27
Prob>chi2 = 0,3200 Chọn REM |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM thì luận văn sử dụng kiểm định F – test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình FEM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > F là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình FEM phù hợp.
Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và REM thì luận văn sử dụng kiểm định Breus – Pargan test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình REM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > chibar2 là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình REM phù hợp. Với hai kiểm định trên thì ta thấy FEM và REM phù hợp hơn Pooled OLS. Do đó, kiểm định Hausman dưới đây sẽ kết luận mô hình phù hợp nhất cho luận văn này.
Mặt khác, khi kiểm định Hausman để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 mô hình REM phù hợp; H1 mô hình FEM phù hợp. Kết quả tại Bảng 4.4 cho thấy giá trị P – value của kiểm định này lớn hơn 5% nên chấp nhận H1, hay nói cách khác thì mô hình REM phù hợp hơn. Ngoài ra, giữa mô hình REM và Pooled OLS thì mô hình REM với tác động ngẫu nhiên sẽ có tính vững hơn, do đó mô hình này phù hợp với việc thực hiện các kiểm định tiếp theo để kết luận kết quả.
4.2.3. Kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình REM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
4.2.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến
Kiểm định đa cộng tuyến sẽ dựa trên tổng hợp về hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến số. Trong đó, cặp giả thuyết như sau H0 là mô hình không có đa cộng tuyến và H1 là mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
| Biến số | VIF |
| COVID | 5,76 |
| GDP | 5,50 |
| DeDA | 4,17 |
| DTC | 4,00 |
| SIZE | 2,47 |
| CTA | 1,85 |
| STA | 1,79 |
| INF | 1,17 |
| DTA | 1,11 |
| VIF trung bình | 2,27 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Dựa vào kết quả 4.5 ta thấy các hệ số phóng đại phương sai VIF đều thấp hơn 10 và giá trị trung bình VIF thấp hơn 5. Điều này cho thấy giả thuyết H0 được ủng hộ, hay nói cách khác mô hình không có đa cộng tuyến. Do đó, dữ liệu độc lập và có sự tin cậy để tiếp tục kiểm định.
4.2.3.2. Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Với hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là mô hình REM không xuất hiện phương sai sai số thay đổi và H1 là mô hình REM có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình REM
| Hiện tượng phương sai sai số thay đổi |
| chi2 (01) = 256,41 Prob>chi2 = 0,0000 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Bảng 4.6 với giá trị Prob>chi2 là 0,000 thấp hơn 5% nên giả thuyết H0 bị bác bỏ.
Điều này đồng nghĩa với việc hiện tượng phương sai sai số thay đổi tồn tại trong mô hình REM
4.2.3.3. Kiểm định tự tương quan
Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là mô hình FEM không xuất hiện tự tương quan và H1 là mô hình FEM có xuất hiện tự tương quan.
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình REM
| Hiện tượng phương sai sai số thay đổi |
| F( 1,23) = 24,976 Prob > F = 0,0000 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Bảng 4.7 với giá trị Prob>F là 0,000 thấp hơn 5% nên giả thuyết H0 bị bác bỏ.
Điều này đồng nghĩa với việc hiện tượng tự tương quan tồn tại trong mô hình REM.
4.2.3.4. Khắc phục các hiện tượng khuyết tật mô hình REM
Dựa trên các kiểm định trên thì ta có thể thấy mô hình FEM đã gặp phải hai trong ba hiện tượng khuyết tật là phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Vì vậy, để có được kết quả chính xác cần sử dụng phương pháp FGLS để khắc phục, đồng thời kết quả được trình bày tóm tắt dưới bảng sau.
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS
| Biến độc lập | Biến phụ thuộc ROA | ||
| Hệ số hồi quy | Sai số chuẩn | P-value | |
| DTA | -0,002* | 0,001 | 0,041 |
| DTC | -0,003*** | 0,001 | 0,001 |
| CTA | 0,036*** | 0,004 | 0,000 |
| DeDA | 0,014*** | 0,003 | 0,000 |
| SIZE | 0,005*** | 0,0003 | 0,000 |
| GDP | 0,072*** | 0,014 | 0,000 |
| INF | -0,020 | 0,011 | 0,081 |
| STA | -0,007*** | 0,001 | 0,000 |
| COVID | 0,003*** | 0,001 | 0,000 |
| Wald chi2(8) | 322,87 | ||
| Prob > chi2 | 0,0000 | ||
| R2 | 66,99% | ||
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Với biến phụ thuộc là ROA thì mô hình REM sau khi khắc phục khuyết tật thì giá trị Prob>chi2 thấp hơn 0,05, đây là kết quả khẳng định rằng mô hình được khắc phục theo phương pháp FGLS phù hợp về mặt tổng thể, các kết quả được thể hiện có độ tin cậy hay ý nghĩa về mặt thống kê để kết luận. Cụ thể các biến số độc lập DTA, DTC, CTA, DeDA có P – value thấp hơn 5% có nghĩa là các biến số này có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Hay nói các tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên VCSH, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản tác động đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Ngoài ra, các biến kiểm soát SIZE, GDP, STA và COVID có P – value thấp hơn 5% có nghĩa là các biến số này có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Hay nói cách khác quy mô ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, sở hữu Nhà nước, đại dịch Covid 19 tác động đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Nhưng tỷ lệ lạm phát (INF) có P – value lớn hơn 5% có nghĩa là các biến số này không có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.
Với R2 là 66,99% có thể nói các biến độc lập và biến kiểm soát có ý nghĩa thống kê tác động giải thích được 66,99% sự thay đổi của HQHĐ của NHTMCP niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023. “Dựa trên kết quả bảng 4.7 thì mô hình hồi quy được thiết lập như sau: ROAi,t = – 0,002DTAi,t – 0,003DTCi,t + 0,036CTAi,t + 0,014DeDAi,t + 0,005SIZEi,t + 0,072GDPt – 0,007*STAi,t + 0,003COVIDt” 4.2.3.5. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên kết quả bảng 4.8 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi nhân tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ kết luận không phù hợp. Nếu P – Value của biến số đó lớn hơn 5% thì giả thuyết đó sẽ bị bác bỏ.
Bảng 4.9: Kết quả tổng hợp
| Giả thuyết nghiên cứu | Biến độc lập | ROA | Kết luận giả thuyết | ||
| Kỳ vọng | Kết quả | ||||
| Dấu | P-value | ||||
| H1 | DTA | Âm (-) | Âm (-) | 0,041 | Phù hợp |
| H2 | DTC | Âm (-) | Âm (-) | 0,001 | Phù hợp |
| H3 | CTA | Dương (+) | Dương (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H4 | DeDA | Dương (+) | Dương (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H5 | SIZE | Dương (+) | Dương (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H6 | GDP | Dương (+) | Dương (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H7 | INF | Âm (-) | Âm (-) | 0,081 | Bác bỏ |
| H8 | STA | Dương (+) | Âm (-) | 0,000 | Không phù hợp |
| H9 | COVID | Âm (-) | Dương (+) | 0,000 | Không phù hợp |
Nguồn: Tổng hợp kết quả tính toán
4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Dựa trên kết quả bảng 4.8 và 4.9 thì kết quả nghiên cứu về sự tác động của CTV và các biến kiểm soát đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam được luận giải như sau:
Đối với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (DTA) có hệ số hồi quy β là -0,002 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam giảm 0,002%. Hay nói cách khác, hiện nay khi các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam tiến hành sử dụng các khoản nợ vay từ các nguồn khác trên thị trường nhiều thì ngoài các khoản gốc thì lãi buộc phải thanh toán rất nhiều. Mặt khác, khi cứ gia tăng các khoản nợ nhưng không cân đối với HDKD của mình thì chi phí lãi tăng phản ánh năng lực quản lý để tiết kiệm chi phí cũng sẽ bị đánh giá thấp hay HQHĐ của ngân hàng không cao. Do đó, tỷ lệ nợ trên tài sản tăng sẽ làm HQHĐ của ngân hàng ngày càng kém đi. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Quayyum và Noreen (2019); Uddin (2022); Boshnak (2023); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023).
Đối với tỷ lệ nợ trên VCSH (DTC) có hệ số hệ số hồi quy β là -0,003 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam giảm 0,003%. Hay nói cách khác, hiện nay khi các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam ưu tiên sử dụng các khoản nợ hơn là VCSH thì HQHĐ sẽ kém đi. Theo thống kê mô tả thì hiện nay các ngân hàng đang sử dụng mức nợ gấp xấp xỉ 2 lần so với VCSH, do đó các khoản nợ sẽ tăng cao và lãi cũng tăng theo. Mặt khác, việc sử dụng các khoản nợ ngắn hạn cũng sẽ tạo ra những mặt hạn chế cho ngân hàng như áp lực thanh toán đến nhanh, do đó NHTM buộc sử dụng khoản nợ khác để thanh toán các khoản nợ cũ tiếp diễn liên tục trong ngân hàng, ví dụ như vay NHNN hay các TCTD khác. Điều này làm cho không tiết kiệm được chi phí trong ngân hàng, không phát huy được thế mạnh của nguồn vốn từ VCSH nên HQHĐ giảm đi. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Quayyum và Noreen (2019); Uddin (2022); Boshnak (2023); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023).
Đối với tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (CTA) có hệ số hệ số hồi quy β là 0,036 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam tăng 0,036%. Hay nói cách khác, hiện nay khi các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam tận dụng được VCSH thì nguồn vốn dài hạn sẽ tăng lên, khi đó các áp lực thanh toán các khoản nợ gốc và lãi cũng sẽ giảm xuống. Ngoài ra, với các khoản huy động từ VCSH thì tạo cơ hội thuận lợi hơn cho các ngân hàng đầu tư vào các loại tài sản, mở rộng quy mô kinh doanh hay hạng mục đầu tư giá trị lớn và dài hạn tốt hơn. Từ đó, tận dụng được nhiều hơn các nguồn lực của ngân hàng nên HQHĐ cũng từ đó sẽ tăng theo. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Saleh và Afifa (2020); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Đối với tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DeTA) có hệ số hệ số hồi quy β là 0,014 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam tăng 0,014%. Hay nói cách khác, hiện nay khi các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam sử dụng nguồn huy động tiền gửi tiết kiệm càng cao thì càng có lợi, vì đây là nguồn huy động chi phí rẻ do các khách hàng gửi tiền vào các ngân hàng chỉ có nhu cầu sinh lợi an toàn với mức lãi vừa phải. Do đó, NHTMCP niêm yết tận dụng nguồn huy động này cho vay, vận hành kinh doanh hay đầu tư vào các tài sản sinh lời khác với mức chi phí thấp nhưng sinh lợi cao hơn nhiều lần. Nhưng việc huy động cần phải phù hợp và cân đối đến HĐKD, vì nếu huy động nhiều nhưng HĐKD không hiệu quả thì sinh lợi không cân xứng với quy mô huy động hay chi phí bỏ ra để có được nguồn huy động. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014).
Đối với quy mô ngân hàng (SIZE) có hệ số hệ số hồi quy β là 0,005 có nghĩa là khi quy mô ngân hàng tăng 1% thì “ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam tăng 0,005%. Hay nói cách khác, hiện nay khi các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam có quy mô lớn thì cơ hội tiếp cận thị trường, các đối tượng khách hàng cũng rộng lớn hơn, do sự uy tín vè bề mặt của ngân hàng. Mặt khác, khi quy mô càng lớn thì tham vọng của các ngân hàng càng lớn do đó gia tăng về khẩu vị rủi ro và nhu cầu lợi nhuận, nên các ngân hàng sẽ tiến hành tiếp tục đầu tư vào các dự án hay sản phẩm đa dạng nhằm tìm kiếm lợi ích nhiều hơn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của” Quayyum và Noreen (2019); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Phạm Hải Nam và cộng sự (2022); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023).
Đối với tăng trưởng kinh tế (GDP) có hệ số hệ số hồi quy β là -0,072 có nghĩa là khi GDP tăng 1% thì ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam tăng 0,072%. Hay nói cách khác, khi nền kinh tế có sự tăng trưởng tốt thì tạo điều kiện tốt hơn cho các NHTM mở rộng môi trường kinh doanh, tiếp cận tốt hơn với khách hàng, hoạt động cho vay cũng thuận lợi với việc thu nợ hay đầu tư vào các hạng mục cũng dễ dàng. Do đó, khi tăng trưởng kinh tế thì việc tận dụng các nguồn lực vốn có của mình tại các ngân hàng sẽ nâng cao từ đó gia tăng lợi nhuận hay HQHĐ tốt hơn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014); Đặng Ngọc Hùng (2019); Lê Quốc Đăng Tú và Nguyễn Thành Đạt (2020); Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023).
Đối với sở hữu Nhà nước (STA) có hệ số hệ số hồi quy β là -0,007 có nghĩa là các NHTMCP niêm yết có sở hữu Nhà nước trên 51% thì ROA giảm 0,007% so với các NHTMCP niêm yết còn lại. Hay nói cách khác, các ngân hàng có tỷ lệ Nhà nước cao thì sự thận trọng trong hoạt động hay khẩu vị rủi ro thấp hơn. Do đó, chủ trương của các ngân hàng thường mang tính ổn định nên việc mở rộng đầu tư hay mạo hiểm để có được lợi nhuận sẽ được hạn chế, vì vậy có thể gây ra lãng phí các nguồn lực hiện tại vì quá thận trọng nên làm giảm đi HQHĐ của mình. Kết quả này không tương đồng với Boshnak (2023).
Đối với đại dịch Covid 19 (COVID) có hệ số hệ số hồi quy β là 0,003 có nghĩa là các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn có Covid 19 thì ROA tăng hơn so với các giai đoạn khác 0,003%. Nguyên nhân vì giai đoạn này thì các NHTMCP niêm yết thu hẹp khẩu vị rủi ro tập trung vào các hoạt động thu phí dịch vụ, thanh toán, bảo lãnh nhiều hơn nên lợi nhuận có phần được bảo toàn thậm chí có phần tăng hơn. Ngoài ra tận dụng các nguồn lực tại chỗ của mình hiệu quả để gia tăng lợi nhuận trong giai đoạn dịch bệnh, nên HQHĐ tăng theo. Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Kim Oanh và cộng sự (2023).
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Chương 4 đã đánh giá tình hình ROA của các NHTMCP niêm yết Việt Nam từ 2014 – 2023. Với các phân tích, kiểm định thì lựa chọn mô hình REM phù hợp. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên VCSH tác động ngược chiều nhưng tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. “Ngoài ra, quy mô ngân hàng, GDP, đại dịch Covid 19 cũng tác động cùng chiều đến ROA nhưng sở hữu Nhà nước lại tác động ngược chiều. Riêng lạm phát không có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA.”
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1. Kết luận
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy trên dữ liệu bảng nhằm xác định sự tác động của CTV đến HQHĐ tại NHTMCP niêm yết Việt Nam. Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho lợi nhuận ngân hàng đó là ROA, các biến độc lập được sử dụng đạ diện cho CTV đó là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (DTA), tỷ lệ nợ trên VCSH (DTC), tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (CTA) và tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DeDA). “Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu thêm sự tác động của các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng (SIZE), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF), sở hữu Nhà nước (STA), đại dịch Covid 19 (COVID). Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ BCTC của 22 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2023 và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ ADB Indicator và Tổng Cục Thống kê.
Các mục tiêu cụ thể đã được luận văn hoàn thành về mặt cơ bản, trong đó với mục tiêu xác định và đo về sự tác động của CTV đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam thì kết quả cho thấy tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên VCSH tác động ngược chiều. Nhưng tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến đến ROA của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam, các biến số này đều có ý nghĩa thống kê 1% và các giá trị P – value đều thấp hơn 5%. “Đồng thời, kết quả về chiều tác động của các biến số độc lập này tương đồng với giả thuyết nghiên cứu đặt ra, do đó đều phù hợp và được chấp nhận. Mặt khác, thì đối với các biến số kiểm soát thì quy mô ngân hàng, GDP, đại dịch Covid 19 cũng tác động cùng chiều đến ROA nhưng sở hữu Nhà nước lại tác động ngược chiều. Riêng tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA.
Vì vậy, dựa trên các kết quả nghiên cứu tương ứng với CTV và biến kiểm soát, thì luận văn sẽ tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị khả thi cho các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam để có CTV hợp lý, nhằm gia tăng HQHĐ trong tương lai tại phần dưới đây.
5.2. Hàm ý quản trị Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
5.2.1. Đối với cấu trúc vốn
5.2.1.1. Đối với tỷ lệ nợ tại ngân hàng
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ trên VCSH đều tác động làm giảm đi HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Vì vậy, để các ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động trong tương lai, các ngân hàng sẽ cần điều chỉnh cơ cấu vốn theo hướng hạn chế sử dụng vốn vay từ các tổ chức tài chính hoặc các NHTM khác. Điều này trái ngược với việc huy động vốn thông qua các kênh khác như tiền gửi tiết kiệm hoặc phát hành trái phiếu, v.v., vì các hoạt động này có chi phí thấp hơn các hình thức vay khác, điều này sẽ giúp các ngân hàng thương mại niêm yết tiết kiệm được một khoản chi phí lãi vay mà họ đã phải gánh chịu.
Đồng thời, các hoạt động mua bán sát nhập sẽ làm cho các NHTMCP niêm yết sẽ phải chấp nhận hợp nhất các khoản nợ trước đây của các NHTMCP yếu kém khác.
Điều này, sẽ làm cho tỷ lệ trong ngân hàng tăng lên cao và chi phí lãi cũng sẽ tăng lên theo. Do đó, việc mua bán sát nhập chỉ nên thực hiện khi là chủ trương của NHNN và cân nhắc kỹ lưỡng phương án sát nhật nhằm hạn chế các khoản nợ của mình.
Cuối cùng, các NHTMCP niêm yết khi tiến hành các khoản vay nợ thì nên tập trung các khoản vay có thời hạn hoàn trả trung và dài hạn từ các tổ chức cho vay. Nhằm hạn chế tối đa áp lực thanh toán và các khoản lãi đến hạn liên tục. Những khoản vay có thời hạn hoàn trả trung và dài hạn sẽ tạo điều kiện cho các NHTMCP niêm yết sẽ giảm được áp lực, có cơ sở để đầu tư vào các hạng mục có thời hạn hoàn trả dài hạn để sinh lợi tốt hơn là thời hạn hoàn trả ngắn hạn.
5.2.1.2. Đối với tỷ lệ vốn chủ sở hữu tại ngân hàng Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản tác động làm gia tăng HQHĐ của NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Do đó, để có thể gia tăng được HQHĐ trong tương lai thì các ngân hàng cần phải điều chỉnh CTV vốn của mình theo hướng gia tăng tỷ lệ VCSH trong ngân hàng để “đảm bảo khả năng tự chủ tài chính, giảm thiểu rủi ro. Trong đó, các NHTMCP niêm yết cần phát hành thêm cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đối với các NHTM đã lên sàn giao dịch. Điều này vừa giúp cho các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô các sản phẩm của ngân hàng, tạo uy tín và sự tin tưởng của khách hàng. Các NHTMCP niêm yết có thể chia cổ tức bằng cổ phiếu, đây là hình thức mà các ngân hàng cũng có thể tăng vốn bằng cách chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu thưởng cho cổ đông. Hình thức tăng vốn này có hiệu quả trong việc nâng cao ý thức và trách nhiệm, thể hiện vai trò của cổ đông đối với HQHĐ của ngân hàng.”
Một phương án khác cũng nên được các NHTMCP niêm yết lưu tâm đó chính là việc giữ lại lợi nhuận, nguồn vốn này được xem là sự thống nhất của các cổ đông giữ lại phần lợi ích của mình nhằm tập trung cho việc tái đầu tư hay hạn chế được việc vay nợ của ngân hàng nhằm bảo toàn lợi ích của mình trong tương lai. Hay nói cách khác, khi lợi nhuận giữ lại tăng lên thì nguồn vốn dài hạn của ngân hàng tăng lên, áp lực thanh toán được giảm tải và tận dụng được nguồn lực tài chính sẵn có của mình thì HQHĐ sẽ có điều kiện được tăng lên tốt hơn.
5.2.1.3. Đối với tỷ lệ tiền gửi tại ngân hàng
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản tác động làm gia tăng HQHĐ của NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Do đó, để có thể gia tăng được HQHĐ trong tương lai thì các ngân hàng cần phải cùng chiều đa dạng hóa các loại hình huy động tiền gửi trong nền kinh tế, với mục đích là tăng nguồn đầu vào cho vay của ngân hàng hay để đầu tư cho ngân hàng. Vì vậy, các NHTMCP niêm yết cần đẩy mạnh các kênh huy động khác như tiền gửi tiết kiệm điện tử, tiết kiệm huy động qua các ứng dụng điện thoại, tiết kiệm qua hệ thống ngân hàng trực tuyến livebank. Cùng với đó, các kỳ hạn cũng như loại hình tiết kiệm cũng có thể đa dạng nhiều hình thức hấp dẫn để thu hút nguồn tiền từ các cá nhân và doanh nghiệp. Mặt khác, “các khoán huy động tiền gửi khuyến khích khách hàng chuyển từ ngắn hạn sang dài hạn để tránh được áp lực thanh toán gốc quá sớm, nhằm phục vụ cho các hạng mục đầu tư dài dạn.
5.2.2. Đối với biến kiểm soát
Quy mô ngân hàng tác động làm gia tăng HQHĐ của NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Do đó, muốn gia tăng HQHĐ thì cần xet xét vấn đề gia tăng quy mô. Các NHTM có thể mở rộng quy mô bằng việc mở rộng mạng lưới hoạt động như tăng số lượng chi nhánh ngân hàng hay các phòng giao dịch ở các vị trí đắc địa như khu dân cư có mật độ dân số cao hay các khu công nghiệp tập trung để thu hút và tiếp cận đến khách hàng. Tuy nhiên để có thể thành lập chi nhánh ngân hàng thì các ngân hàng cần đáp ứng những yêu cầu liên quan đến việc các NHTMCP niêm yết phải được kiểm toán, kiểm soát theo yêu cầu, đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, phân loại nợ trích lập dự phòng theo quy định và tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Bên cạnh đó, số lượng các chi nhánh tập trung đa số ở các thành phố phát triển, tuy nhiên ở các tỉnh và thành phố nhỏ lẻ chỉ có ít các NH tập trung. Vì vậy, cần có những chính sách để mở rộng quy mô một cách tối ưu vì nhu cầu của người dân khắp cả nước ngày một tăng cao. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
Quy mô càng lớn thì càng giúp các NHTMCP niêm yết hoạt động kinh doanh tốt hơn nhưng đi đôi với đó là rủi ro về nguồn vốn và năng lực để duy trì hoạt động của các NHTM. Các chi phí hoạt động phát sinh trong quá trình ngân hàng mở rộng quy mô như chi phí mặt bằng, nhân lực, v.v. ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy, các NHTM cần nâng cao năng lực quản lý, đẩy mạnh phát triển công nghệ và dựa vào nguồn vốn của từng ngân hàng để tăng quy mô một cách hợp lý.
Các NHTMCP niêm yết cần việc đẩy mạnh công nghệ thông tin như mở dịch vụ ngân hàng số, internet banking… sẽ giúp cho các bước thực hiện các giao dịch nhanh chóng hơn, cắt giảm bớt các thao tác và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian khi giao dịch. Một số sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng sẽ được quảng bá đến khách hàng dễ dàng hơn khi hệ thống công nghệ cao được đưa vào sử dụng. Từ đó giúp thu hút và tạo độ tin cậy lớn đối với khách hàng vì sự tiện lợi và nhanh chóng, giúp tăng số lượng khách hàng và NH thu được nguồn lợi nhuận ổn định.
Ngoài ra, sau khi dịch covid 19 đã đi vào ổn định, không còn rào cản trong việc phát triển kinh tế, các NHTM có thể đưa ra những chính sách tín dụng phù hợp hơn với tình hình thị trường tuy nhiên vẫn ưu tiên phát triển các dịch vụ ngân hàng bổ trợ đã phát huy tốt trong giai đoạn covid 19 như: Gia tăng các hoạt động thanh toán kể cả trong nước lẫn ngoài nước, đưa ra các gói bảo lãnh cho các nhà thầu lớn để thu hút doanh nghiệp mở bảo lãnh của ngân hàng. Hơn thế nữa, đã qua giai đoạn covid 19 một thời gian tuy nhiên không thấy độ trễ tác động của covid 19 đến với các NHTMCP niêm yết, nên trong trường hợp có các trường hợp tương tự, ngân hàng chỉ cần chuẩn bị đầy đủ các phương án ổn định đảm bảo hoạt động kinh doanh, đưa ra các gói chính sách ưu đãi phù hợp với định hướng của NH theo từng thời kỳ.
Cuối cùng, với bối cảnh tăng trưởng kinh tế thì các NHTMCP nên tận dụng tốt các điều kiện sẵn có của mình và môi trường kinh doanh để phát huy các thế mạnh trong việc mở rộng quy mô, tiếp cận nhiều hơn khách hàng, đổi mới sản phẩm và cập nhật các xu hướng mới. Từ đó, nguồn lực tổng thể của ngân hàng tạo được sức mạnh không bị lãng phí và tạo ra được nhiều lợi ích hơn, gia tăng sức mạnh cạnh tranh lẫn HQHĐ của mình.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
5.3.1. Hạn chế nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu vẫn chỉ lấy 22 NHTMCP niêm yết Việt Nam để đại diện cho hệ thống NHTM có thể dẫn đến số liệu chưa đủ và điều kiện để kết luận chính xác.
Đối với sở hữu nhà nước, hiện tại tỷ lệ này tập trung vào nhóm các ngân hàng lớn (VCB, BIDV, Vietinbank, loại trừ Agribank do Agribank chỉ mới niêm yết vào 2024), nhóm ngân hàng 0 đồng (chưa niêm yết) tỷ lệ sở hữu của Nhà Nước phụ thuộc vào cơ chế, chính sách của NN đối với các NHTM này vào từng thời kỳ, do không đủ thông tin nên luận văn chưa có hướng đề xuất phù hợp để góp phần làm nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTMCP.
Ngoài ra có thể còn một số biến độc lập hay biến kiểm soát có tác động đến HQHĐ của ngân hàng mà chưa được luận văn xem xét. Ngoài ra, luận văn còn có mặt hạn chế đó là chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Sử dụng thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho CTV tác động đến HQHĐ của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam được sử dụng trong luận văn. Hoặc có thể mở rộng giai đoạn nghiên cứu dài hơn nhằm thu được kết quả nghiên cứu chi tiết và có tính tổng quát hơn
Nghiên cứu tiếp theo sẽ tiến hành khảo lược các công trình gần đây để tìm được các khe hở mới và đưa thêm các biến mới để nghiên cứu. Gia tăng số lượng ngân hàng không dừng lại tại 22 NHTMCP niêm yết hoặc có thể mở rộng phạm vi ra ngoài Việt Nam.
TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Chương 5 đã kết luận tổng quát các kết quả đạt được của luận văn theo các mục tiêu nghiên cứu đã dề ra tại chương 1. Đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị mang tính khả thi cho các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam liên quan đến CTV đó là hạn chế tỷ lệ nợ, gia tăng tỷ lệ VCSH và tỷ lệ tiền gửi huy động của ngân hàng. Đồng thời, tương ứng với các biến kiểm soát thì mở rộng quy mô, tận dụng các nguồn lực của mình để đổi mới sản phẩm dịch vụ và tiếp cận khách hàng tốt hơn nhằm gia tăng được lợi nhuận, tránh lãng phí nguồn lực. Ngoài ra chương 5 còn xác định các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả của các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả của các ngân hàng […]