Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Song song với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường chứng khoán Việt Nam đang có những bước tiến lớn trong việc hoàn thiện các tiêu chuẩn của những tổ chức quốc tế để hiện thực hóa mục tiêu nâng hạng thị trường mới nổi trong năm 2025. Một trong những nhóm ngành được hưởng lợi trực tiếp khi mục tiêu nâng hạng được hiện thực hóa là ngành chứng khoán. Tuy nhiên các cổ phiếu ngành này thường có đặc thù là gắn liền và rất nhạy với thị trường nên rủi ro khi đầu tư là tương đối cao. Vì vậy nghiên cứu này sẽ mang lại những hiểu biết về giá cổ phiếu và các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán, nhằm mục đích giúp các nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro khi đầu tư nhóm ngành này.

Với mục tiêu nhận diện và ước lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu, trên cơ sở lý thuyết về giá cổ phiếu và các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, tác giả đã lựa chọn các yếu tố để xây dựng mô hình hồi quy là: Chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng GDP, cung tiền M2, quy mô doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập trên mỗi cổ phần, tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong mỗi doanh nghiệp.

Bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng động (GMM) và thực hiện một số kiểm định, kết quả hồi quy đã chỉ ra các yếu tố: Chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền M2, tốc độ tăng trưởng GDP, quy mô doanh nghiệp và thu nhập trên mỗi cổ phần có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không tác động đến giá cổ phiếu các các công ty chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Riêng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bị loại khỏi mô hình do có dấu hiệu của đa cộng tuyến. Trên cơ sở kết quả hồi quy, tác giả thực hiện thảo luận về sự ảnh hưởng của các yếu tố, các yếu tố không ảnh hưởng, yếu tố bị loại khỏi mô hình. Cuối cùng, tác giả đưa ra một số khuyến nghị hỗ trợ nhà đầu tư trong việc ra quyết định, đồng thời đánh giá những hạn chế của đề tài và đề xuất một số hàm ý cho việc cải thiện nghiên cứu trong tương lai. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Từ khóa: Cổ phiếu các công ty chứng khoán, yếu tố ảnh hưởng, GMM.

ABSTRACT

Title: Factors Influencing the Stock Prices of Securities Companies Listed on the Vietnamese Stock Market.

With the development of the economy, the Vietnamese stock market is making significant strides in aligning with international standards to achieve the goal of being upgraded to an emerging market by 2025. One of the sectors that will benefit directly from this market upgrade is the securities industry. However, stocks in this sector are often closely tied to the market and are highly sensitive, leading to relatively high investment risks. Therefore, this study aims to provide insights into stock prices and the factors affecting the stock prices of securities companies, with the goal of helping investors mitigate risks when investing in this sector.

To identify and estimate the impact of various factors on stock prices, and based on stock price theory and influential factors, the author has selected the following factors to build the regression model: CPI, GDP growth rate, M2 money supply, company size, ROE, EPS, P/E ratio, and the foreign ownership ratio in each company.

Using the General Method of Moments (GMM) for panel data regression and performing several tests, the regression results indicate that the following factors influence stock prices: CPI, M2 money supply, GDP growth rate, company size, and  EPS. The P/E ratio and the foreign ownership ratio do not affect the stock prices of securities companies listed on the Vietnamese stock market. ROE was excluded from the model due to signs of multicollinearity. Based on the regression results, the author discusses the influence of these factors, those that do not have an effect, and the factor that was excluded from the model. Finally, the author provides several recommendations to support investor decision-making, evaluates the limitations of the study, and suggests implications for improving future research.

Keywords: Securities company stocks, influencing factors, GMM.

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Năm 2021 là một năm lịch sử đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 không chỉ gây ra nhiều thách thức mà còn mở ra cơ hội phát triển vượt bậc. Theo số liệu từ VSD, chỉ trong ba năm từ 2020 đến 2023, số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán đã tăng từ 2,3 triệu lên 7,2 triệu tài khoản, tăng 213%. Hơn 1,5 triệu, là số lượng tài khoản chứng khoán mà nhà đầu tư trong nước đã mở mới trong năm 2021, gấp rưỡi số tài khoản mới đã mở trong bốn năm trước đó. Tại thời điểm này, các biện pháp giãn cách xã hội được thực thi, nền kinh tế ngưng trệ, ngân hàng trung ương thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, tiền rẻ để kích thích tiêu dùng và đầu tư. Thị trường chứng khoán không bị giới hạn bởi không gian và không yêu cầu giao dịch trực tiếp như kênh bất động sản hay vàng, đã trở thành kênh đầu tư sinh lời tối ưu và hiệu quả nhất. Vì vậy các dòng vốn từ tiết kiệm, bất động sản, vàng, ngoại tệ, … đã chảy mạnh sang thị trường chứng khoán, giúp VN-Index tăng mạnh và đạt đỉnh tại 1.528,57 điểm vào ngày 06/01/2022 tương đương với mức P/E khoảng 17 lần. Mặt khác, tuy tăng mạnh nhưng thị trường đã không phản ánh chính xác thực trạng nền kinh tế giai đoạn 2020-2022 (được định giá quá cao so với thực tế). Kết quả là sau khi dịch bệnh được kiểm soát, các hoạt động sản xuất kinh doanh được phục hồi, dòng tiền lớn đã rút dần và chảy ngược về các kênh khác, cùng với tình hình kinh tế vĩ mô hậu đại dịch bất lợi (lạm phát tăng vọt, lãi suất ở mức cao, chiến tranh Nga – Ukraine, sự kiện thanh lọc thị trường trái phiếu) đã tác động đến thị trường chứng khoán và xuất hiện các đợt điều chỉnh mạnh cuối năm 2022.

Khi so sánh biểu đồ giá của chỉ số ngành chứng khoán (Biểu đồ 1.1) và chỉ số VN-Index (Biểu đồ 1.2) giai đoạn 2013-2023, có thể thấy giá cổ phiếu các công ty chứng khoán biến động cùng pha với biến động của thị trường. Ngoài ra, vì phần lớn lợi nhuận các công ty trong lĩnh vực này đến từ các hoạt động trên thị trường nên khi thị trường biến động mạnh, kết quả kinh doanh của các công ty này cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Vì vậy, có thể nói các yếu tố vĩ mô có tác động đến thị trường chứng khoán cũng có thể tác động đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán.

  • Biểu đồ 1.1 Chỉ số ngành chứng khoán giai đoạn 2013-2023
  • Biểu đồ 1.2 Chỉ số VN-Index giai đoạn 2013-2023

Bên cạnh các yếu tố vĩ mô, các yếu tố nội sinh cũng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên nhiều khía cạnh. Thông thường, sau khi xác định được nhóm ngành tiềm năng, các nhà đầu tư sẽ chú ý đến các chỉ số cơ bản để lựa chọn cổ phiếu doanh nghiệp và đánh giá tình hình sức khỏe của doanh nghiệp đó. Các yếu tố nội sinh thường được quan tâm là EPS, P/E, ROE, P/B, … Việc đo lường được ảnh hưởng của cả yếu tố nội sinh và ngoại sinh sẽ giúp các nhà đầu tư nâng cao hiệu suất đầu tư trong các môi trường kinh tế vĩ mô khác nhau. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Tốc độ và mức độ giảm của thị trường đã hạ nhiệt trong nửa đầu năm 2023, thị trường dần lấy lại điểm cân bằng, mức định giá chung của toàn thị trường cũng như cổ phiếu ngành chứng khoán được đánh giá là hấp dẫn khi chỉ tương đương với giai đoạn 2010-2015. Bên cạnh đó cổ phiếu ngành chứng khoán hiện vẫn đang được kỳ vọng là một trong những trụ cột chính giúp nâng đỡ và dẫn dắt thị trường, với 04 đòn bẩy: Triển khai áp dụng hệ thống KRX; Lãi suất hạ nhiệt; Tình hình kinh doanh ngành chứng khoán được cải thiện và Kỳ vọng nâng hạng lên thị trường mới nổi. Với mức định giá hấp dẫn và tiềm năng trong tương lai, cổ phiếu ngành chứng khoán thường được các tổ chức và nhà đầu tư cá nhân đặc biệt quan tâm và ưu tiên lựa chọn.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên toàn cầu đã chỉ ra rằng các yếu tố vĩ mô, chẳng hạn như lạm phát, lãi suất, cung tiền,… có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu (Hussein A. Hassan Al – Tamimi, 2007; Eita, 2012; Uddin và các tác giả, 2013). Kết quả một số nghiên cứu khác thì cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá cổ phiếu chịu tác động bởi các yếu tố nội sinh (Uddin và các tác giả, 2013; Nidhi Malhotra và Kamini Tandon, 2013; Zeeshan, Sohail và Sulaman, 2015; Malhotra và Tandon, 2013; Almumani, 2014). Trong nước, có một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá cổ phiếu niêm yết trên TTCKVN (Trương Đông Lộc, 2014; Phạm Tiến Mạnh, 2017; Nguyễn Thị Phương Dung, 2019; Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp, 2013; Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương, 2015) hay các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty thuộc một nhóm ngành cụ thể (Nguyễn Thu Hằng, 2022; Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên, 2020; Dương Phan Trà My, 2015). Tuy nhiên, một mặt đa số nghiên cứu đều thực hiện trước đại dịch, giai đoạn này chính sách kinh tế vĩ mô còn tương đối ổn định, mặt khác vẫn chưa có nghiên cứu trong nước dùng phương pháp GMM để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán. Xuất phát từ thực tế nghiên cứu và bối cảnh lý thuyết, trên cơ sở các khoảng trống nghiên cứu, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM”. Nghiên cứu này sẽ cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu nhóm ngành chứng khoán. Việc hiểu được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu sẽ giúp các nhà đầu tư tối ưu hoá được lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro khi đầu tư cổ phiếu nhóm ngành này.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán đang được niêm yết trên TTCKVN. Dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị giúp hạn chế rủi ro khi đầu tư cổ phiếu nhóm ngành chứng khoán cho nhà đầu tư.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN.
  • Thực hiện ước lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN.
  • Đề xuất một số khuyến nghị giúp hạn chế rủi ro khi đầu tư cổ phiếu nhóm ngành này cho nhà đầu tư.

1.3 Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

  • Các yếu tố nào có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN?
  • Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến giá của cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN như thế nào?
  • Các khuyến nghị nào cần đề xuất giúp nhà đầu tư hạn chế rủi ro khi đầu tư cổ phiếu nhóm ngành này?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu: 

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là các công ty trong ngành chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2022.

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng nhằm xác định các yếu tố và ước lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN. Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng chủ yếu trong đề tài là phương pháp định lượng. Phương pháp định lượng được coi là khách quan và phù hợp trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu cũng như mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến giá cổ phiếu.

Thông thường, các tác giả khi nghiên cứu dữ liệu bảng thường sử dụng cách tiếp cận các ảnh hưởng cố định (FEM) hoặc cách tiếp cận các ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM). Tuy nhiên trong trường hợp mô hình gặp phải các khuyết tật như bị sai dạng hàm, phương sai sai số thay đổi, bỏ sót biến, tự tương quan,… các phương pháp này có thể dẫn đến ước lượng không chính xác.

Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng mô hình hồi quy ước lượng dữ liệu bảng động GMM để khắc phục những vấn đề đó và xử lý hiện tượng nội sinh.

Phương pháp GMM có thể coi là phương pháp ước lượng tổng quát của nhiều phương pháp như OLS, GLS, MLE… Và ngay cả trong điều kiện giả thiết không có hiện tượng nội sinh bị vi phạm, phương pháp GMM cũng có thể cho ra các hệ số ước lượng vững, không chệch, phân phối chuẩn và hiệu quả.

1.6 Đóng góp của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Đề tài nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN. Đồng thời, dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài cũng đưa ra một số khuyến nghị hỗ trợ các nhà đầu tư cổ phiếu các công ty chứng khoán trong việc đưa ra quyết định đầu tư phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô ở từng thời kỳ.  

1.7 Kết cấu của đề tài

Bố cục của đề tài gồm 5 chương:

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Chương 1 cung cấp cái nhìn bao quát về đề tài thông qua việc trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và kết cấu của đề tài.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về thị trường chứng khoán, cổ phiếu, một số lý thuyết về giá cổ phiếu và các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, tác giả cũng khảo lược một số đề tài trong và ngoài nước nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, tạo tiền đề để hiện thực hóa định hướng nghiên cứu ở các chương sau.

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa trên cơ sở lý thuyết ở chương 2, chương 3 sẽ trình bày các nguồn dữ liệu, mẫu nghiên cứu và lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu để xây dựng mô hình nghiên cứu. Sau khi mô hình nghiên cứu được xây dựng, tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp, thực hiện mô tả các biến được chọn và đặt ra giả thuyết nghiên cứu cho từng biến.

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương 4 cung cấp kết quả hồi q uy dựa trên các phương pháp nghiên cứu đã chọn và các kiểm định quan trọng, từ đó đưa ra kết quả hồi quy cuối cùng. Dựa trên kết quả hồi quy thu được, tác giả xác định các yếu tố thực sự ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

Dựa trên kết quả ở chương 4, tác giả đưa ra các kết luận và đề xuất một số khuyến nghị giúp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư khi đầu tư cổ phiếu các công ty chứng khoán. Đồng thời, tác giả cũng nêu rõ những hạn chế của đề tài và đưa ra các hướng nghiên cứu cải thiện trong tương lai.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cổ phiếu

2.1.1. Khái niệm

Hiểu theo nghĩa chung nhất, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần (Share), người mua và sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông (Shareholder), giấy chứng nhận hoặc dữ liệu điện tử xác nhận phần vốn góp của cổ đông vào công ty cổ phần được gọi là cổ phiếu (Stock).

Theo luật chứng khoán năm 2019, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.

2.1.2. Đặc điểm

Là một loại chứng khoán nhưng cổ phiếu có những đặc điểm riêng biệt, khác với trái phiếu và các tài sản tài chính khác. Theo tác giả Lê Thị Tuyết Hoa và các cộng sự (2016), cổ phiếu có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, cổ phiếu là dấu hiệu của giá trị, dấu hiệu của tài sản thực. Người sở hữu cổ phiếu là người đang sở hữu tài sản thực.

Thứ hai, cổ phiếu là một chứng khoán vĩnh viễn (vô thời hạn), thời hạn của cổ phiếu gắn chặt với thời gian tồn tại của công ty phát hành ra nó. Thời gian đáo hạn chính bằng thời hạn tồn tại của công ty. Cổ đông không có quyền yêu cầu công ty hoàn trả phần vốn góp trước thời hạn giải thể hay phá sản của công ty. Trừ trường hợp công ty chủ động mua lại cổ phiếu hoặc một số trường hợp ngoại lệ.

Thứ ba, cổ phiếu là loại giấy tờ có giá có khả năng sinh lời, có tính rủi ro và có khả năng chuyển nhượng được. Tính sinh lợi của cổ phiếu được biểu hiện qua hai khía cạnh: Thứ nhất là chênh lệnh giá mua và giá bán; thứ hai là cổ tức nhận được hàng năm, chi trả từ lợi nhuận sau thuế khi công ty làm ăn có lãi. Rủi ro của cổ phiếu được đo lường bằng mức độ biến động của tỉ suất sinh lời thực tế xoay quanh tỉ suất sinh lời kỳ vọng; nếu tỉ suất sinh lời thực tế có sự khác biệt lớn với tỉ suất sinh lời kỳ vọng thì rủi ro sẽ lớn. Trong các công cụ đầu tư tài chính, cổ phiếu thuộc nhóm có rủi ro cao nhất.

2.1.3. Phân loại cổ phiếu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Một công ty cổ phần phải có cổ phiếu thường và có thể có cổ phiếu ưu đãi. Mỗi cổ phiếu của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau. Cổ phiếu ưu đãi có khả năng được chuyển đổi thành cổ phiếu thường.

2.1.3.1. Cổ phiếu thường

Theo Lê Thị Tuyết Hoa và các cộng sự (2016) cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông. Người sở hữu cổ phiếu thường gọi là cổ đông thường. Cổ đông là chủ sở hữu công ty. Cổ đông thường sẽ có quyền nhận phần lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty, đồng thời tham gia vào quá trình quản lý kiểm soát công ty thông qua các quyền bỏ phiếu biểu quyết và có quyền đối với tài sản còn lại khi công ty thanh lý. Giá cổ phiếu phổ thông thường biến động rất nhạy, đặc biệt là các cổ phiếu được niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán tập trung. Giá cổ phiếu bị ảnh hưởng không chỉ bởi các yếu tố nội sinh của công ty mà còn chịu tác động từ các yếu tố ngoại sinh như: Lãi suất, cung tiền hay tỷ giá hối đoái.

2.1.3.2. Cổ phiếu ưu đãi

Tác giả Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng cổ phiếu ưu đãi là giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên hơn so với cổ phiếu thường về mặt tài chính, nhưng bị hạn chế quyền hạn với công ty góp vốn. Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền tham gia ứng cử, bầu cử vào Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát công ty, nhưng được ưu tiên nhận cổ tức trước cổ phiếu thường và được nhận lại vốn trước cổ phiếu thường khi công ty thanh lý hay phá sản. Cổ phiếu ưu đãi có quyền nhận được các khoản thanh toán cổ tức định kỳ theo tỷ lệ lãi suất cố định mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty và các khoản thanh toán này thường cao hơn cổ tức trả cho cổ phiếu thường.

2.1.4. Giá cổ phiếu

2.1.4.1. Mệnh giá

Mệnh giá (Face value/Par value) hay còn gọi là giá trị danh nghĩa là giá trị mà công ty phát hành ấn định cho mỗi cổ phiếu và được ghi trên bề mặt cổ phiếu. Theo Khoản 2, Điều 13, Luật Chứng khoán năm 2019 qui định mệnh giá cổ phiếu chào bán ra công chúng là 10.000 đồng.

Đối với các loại chứng khoán nói chung và cổ phiếu nói riêng, mệnh giá không ảnh hưởng đến thị giá trên thị trường thứ cấp mà chỉ có ý nghĩa trong việc ghi nhận vốn điều lệ hoặc khi công ty lần đầu phát hành cổ phiếu thường huy động vốn hoặc cũng có thể dùng để tính toán lượng cổ tức tiền mặt mà cổ đông nhận được trên một cổ phiếu.

2.1.4.2. Giá trị sổ sách Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Giá trị sổ sách (Book value) là giá trị của cổ phiếu được ghi nhận trên sổ sách của công ty, thể hiện tình trạng vốn chủ sở hữu của công ty tại một thời điểm nhất định. Bodie, Kane và Marcus (2014) cho rằng giá trị sổ sách được xác định dựa trên giá trị lịch sử Tài sản và Nợ của công ty, có thể không phản ánh giá trị hiện tại của cổ phiếu.

2.1.4.3. Giá trị nội tại

Giá trị nội tại (Intrinsic value) còn gọi là giá trị thực hay giá trị lý thuyết của một cổ phiếu, là giá trị vốn có thuộc về bản chất của cổ phiếu đó. Giá trị vốn có của cổ phiếu được quyết định bởi các yếu tố nội sinh của công ty phát hành cũng như các yếu tố ngoại sinh thuộc về môi trường kinh tế tài chính mà công ty đó đang hoạt động.

Lê Thị Tuyết Hoa và các cộng sự (2016) cho rằng đây là giá trị mà các nhà phân tích cơ bản hay các nhà đầu tư giá trị tìm kiếm ở một cổ phiếu, phụ thuộc chủ yếu vào quá trình định giá, phương pháp định giá, mô hình định giá, thông tin và dữ liệu sử dụng để định giá, lựa chọn các thông số đầu vào, và việc dự báo các thông số của định giá mà kết quả sẽ khác nhau giữa các nhà phân tích cơ bản khác nhau. Sau khi tính toán giá trị thực của cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ so sánh giá trị này với giá thị trường hiện tại của cổ phiếu để xem cổ phiếu có đang bị định giá thấp, cao hay phù hợp trên thị trường, để từ đó có thể đưa ra quyết định mua, bán hay nắm giữ cổ phiếu.

2.1.4.4. Giá trị thị trường

Giá trị thị trường (Market price) là giá trị hiện tại của cổ phiếu thường trên thị trường, được xác định bằng giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận. Giá trị thị trường không do công ty phát hành ấn định hay cá nhân nào quyết định, mà được xác định tại mức giá mà người bán sẵn sàng bán và mức giá cao nhất mà người mua đồng ý trả. Hay nói cách khác, giá thị trường của cổ phiếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường. Ví dụ như các yếu tố cơ bản (môi trường vĩ mô mà doanh nghiệp hoạt động, yếu tố nội sinh của doanh nghiệp), các yếu tố kỹ thuật (xu hướng của thị trường, chu kỳ giá,…) và các yếu tố khác (hành vi và tâm lý nhà đầu tư, tâm lý thị trường, thị trường hiệu quả,…).

Giá cổ phiếu được sử dụng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là giá đóng cửa tại ngày giao dịch cuối cùng của năm dương lịch, hay còn gọi là giá khớp lệnh sau cùng của năm.

2.2 Các lý thuyết về giá cổ phiếu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

2.2.1. Lý thuyết thị trường hiệu quả

Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) do Eugene Fama phát triển vào năm 1970 dựa trên cơ sở cho rằng giá cả tài sản tài chính phản ánh hoàn toàn và đầy đủ mọi thông tin sẵn có trên thị trường liên quan đến tài sản đó. Do đó, nhà đầu tư sẽ không tìm được lợi nhuận từ các thông tin đã được công khai. Hay nói cách khác, thị trường luôn thắng và nhà đầu tư không thể khôn ngoan hơn thị trường.

  • Lý thuyết thị trường hiệu quả phân loại mức độ hiệu quả của thị trường thành 3 dạng chính. Ba dạng này bao gồm:

Hiệu quả dạng yếu: Là khi giá cả hiện tại của tài sản tài chính đã phản ánh tất cả các thông tin đã được công bố trong lịch sử về giá của các tài sản đó. Nói cách khác, thị trường hiệu quả dạng yếu hàm ý rằng tất cả thông tin đến từ việc theo dõi biến động giá tài sản tài chính trong quá khứ không thể được sử dụng để tìm kiếm lợi nhuận bằng cách dự đoán giá tài sản tài chính trong tương lai (Blake, 2001).

Hiệu quả dạng trung bình: Là khi giá cả của các tài sản tài chính hiện tại đang phản ánh đầy đủ và tức thời tất cả các thông tin vừa được công bố trên thị trường tài chính. Nói cách khác, ngay khi có một thông tin mới xuất hiện trên thị trường, nó sẽ được phản ánh ngay vào giá cả của tài sản tài chính. Vì vậy sẽ không thể dùng các tin tức vừa được công bố để đầu cơ tài sản tài chính.

Hiệu quả dạng mạnh: Giá cả các tài sản tài chính hiện tại đang phản ánh tức thời và đầy đủ tất cả các thông tin đã được công bố trong quá khứ, hiện tại và kể cả các thông tin nội bộ. Điều này càng khẳng định thị trường tài chính phản ứng nhanh với mọi thông tin, ngay cả những người bên trong cũng không thể kiếm lợi nhuận trên mức trung bình nhờ thông tin nội bộ.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trường tài chính không phải luôn hiệu quả.

Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng EMH đúng với thị trường tài chính trong dài hạn.

2.2.2. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Theo Đào Lê Trang Anh (2015), nền tảng của lý thuyết Thị trường hiệu quả là lý thuyết Bước đi ngẫu nhiên. Ý tưởng về bước đi ngẫu nhiên đã được đề cập lần đầu tiên trong một nghiên cứu của Karl Pearson vào năm 1905. Tuy nhiên, Kendall (1953) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Bước đi ngẫu nhiên” trong lĩnh vực kinh tế. Nhìn chung, lý thuyết này cho rằng giá của một cổ phiếu trong quá khứ không có vai trò trong việc dự báo giá cổ phiếu của ngày hôm nay, tức là nhà đầu tư không có khả năng dự đoán giá của cổ phiếu trên thị trường. Như vậy, nếu thị trường tuân theo nguyên tắc bước đi ngẫu nhiên, thị trường đó được xác định là một thị trường hiệu quả.

2.2.3. Lý thuyết tài chính hành vi

Lý thuyết tài chính hành vi (Behavioral Finance Theory) được nghiên cứu và phát triển bởi hai nhà tâm lý học người Mỹ là Daniel Kahneman và Amos Tversky.

Các trường phái tài chính cổ điển tin rằng các quyết định của nhà đầu tư trên thị trường luôn dựa trên tính duy lý, hay nói cách khác họ luôn tin rằng có tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái hiệu quả. Tuy nhiên Daniel Kahneman và

Amos Tversky đã phản bác quan điểm này, họ cho rằng con người không hành động duy lý. Theo quan sát thực tế thì không phải lúc nào cũng xuất hiện cơ chế điều chỉnh thị trường hiệu quả như quan điểm của trường phái kinh tế cổ điển, nhà đầu tư “duy lý” không luôn hành động hợp lý. Tài chính hành vi cho rằng, những hành vi bất hợp lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thường diễn ra liên tục chứ không gián đoạn. Về cơ bản, có bốn yếu tố mang tính chất tâm lý hình thành nên hệ thống các hành vi phi lý như vậy: tâm lý tự tin, đánh giá thiên vị, tâm lý bầy đàn, căm ghét thất bại.

2.3 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu

2.3.1. Các yếu tố ngoại sinh

  • Chỉ số giá tiêu dùng 

Theo Tổng cục thống kê, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu tương đối (tính bằng %) phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung theo thời gian của các loại hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng hàng ngày của người dân. CPI được tính toán bằng cách so sánh giá của một giỏ hàng tiêu dùng nhất định tại thời điểm hiện tại với giá của giỏ hàng đó tại một thời điểm trong quá khứ. Danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện gồm các mặt hàng và dịch vụ chủ yếu, đại diện cho tiêu dùng của dân cư trong một giai đoạn nhất định, được sử dụng để điều tra thu thập giá định kỳ, phục vụ tính CPI.

Khi CPI tăng đồng nghĩa với mức giá của giỏ hàng hóa tăng và ngược lại. Sự biến động CPI có thể gây ra giảm phát hoặc lạm phát cho nền kinh tế. Nếu mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục do sự sụt giảm của tổng cầu, tình trạng này sẽ gây ra hiện tượng giảm phát, dẫn đến tăng tỷ lệ thất nghiệp và suy thoái kinh tế. Ngoài ra, nếu tốc độ tăng giá của các loại hàng hóa trở nên mất kiểm soát (thường ở mức 3 chữ số hàng năm) thì khi này lạm phát sẽ trở thành là siêu lạm phát.

Thị trường cổ phiếu là thị trường của sự kỳ vọng với nền kinh tế. Với những ảnh hưởng sâu rộng tới nền kinh tế, CPI luôn được các tổ chức và nhà đầu tư quan tâm khi dự đoán xu hướng của thị trường, diễn biến của thị trường tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào việc chỉ số này được kiểm soát tốt hay không. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Khi lạm phát tăng, các nhà điều hành kinh tế sẽ tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát và thị trường chứng khoán sẽ kém hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư. Lạm phát tăng cao luôn là dấu hiệu của sự tăng trưởng không bền vững, mà thị trường chứng khoán có vai trò như 1 nhiệt kế đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Khi thị trường chứng khoán xuất hiện những dấu hiệu quá nhiệt, dòng vốn sẽ chảy sang các kênh an toàn và hấp dẫn hơn dẫn đến cầu trên thị trường chứng khoán suy yếu và giá cổ phiếu giảm. Ngoài ra, giá hàng hóa tăng cao cũng làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp, dẫn đến suy giảm lợi nhuận từ đó các nhà đầu tư không còn kỳ vọng vào sự tăng trưởng của doanh nghiệp và bán ra cổ phiếu.

  • Cung tiền

Cung tiền hiểu theo nghĩa chung nhất là lượng tiền tệ cung ứng trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản, v.v của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp (Nguyễn Thùy Linh, 2011).

Trong đó gồm 3 thước đo lượng cung tiền như sau:

M0: Bao gồm tiền mặt (giấy bạc và tiền xu), là bộ phận tiền do ngân hàng trung ương phát hành và lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng.

M1: Bao gồm M0 cộng với tiền gửi không kỳ hạn, tức là các khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào theo yêu cầu, có thể tồn tại dưới tài khoản phát séc hoặc không phát séc.

M2: Bao gồm M1 cộng với tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng.

M3: Bao gồm M2 cộng với các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác ngoài ngân hàng.

L: Là thước đo rộng nhất, bao gồm M3 cộng với các chứng khoán có giá như tín phiếu kho bạc, thương phiếu, chấp phiếu ngân hàng… (Thân Thị Thủy và Võ Thị Thùy Dương, 2015).

Theo nghiên cứu của hai tác giả Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015), phân tích các lý thuyết kinh tế cho thấy chính sách tiền tệ có ảnh hưởng rõ rẹt đến giá cổ phiếu. Khi Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, lượng tiền lưu thông trên thị trường gia tăng, dẫn đến việc giảm lãi suất cho vay cũng như lãi suất tái chiết khấu. Điều này sẽ kích thích nhu cầu đối với các tài sản tài chính trong đó có cổ phiếu. Ngược lại, khi ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, lượng tiền lưu thông trên thị trường giảm xuống, làm cho lãi suất tăng lên. Sự gia tăng lãi suất sẽ làm tăng chi phí sử dụng vốn, tác động làm giảm lượng vốn đầu tư vào cổ phiếu cũng như làm giảm giá cổ phiếu. Hay nói cách khác, cung tiền có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Maxwell Ogbulu và Peter Chinyer đã thực hiện nghiên cứu vào năm 2011 và phát hiện sự tác động trong dài hạn của chính sách tiền tệ bao gồm: cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái và lạm phát đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Nigeria. Trước đó một số tác giả khác cũng phát hiện ra mối quan hệ giữa cung tiền và giá cổ phiếu như Chen Shaoping (2008). Cụ thể, tác giả này cho rằng cung tiền có tác động tích cực đến giá cổ phiếu khi cung tiền trên thị trường tăng lên, giá cổ phiếu cũng tăng theo. Kết quả từ mô hình ECM chỉ ra rằng, trong ngắn hạn, mức cung tiền M1 có tác động mạnh nhất đến giá cổ phiếu, M2 thì có một số tác động đến giá cổ phiếu còn mức cung tiền M0 có ít tác động đến giá cổ phiếu. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, cung tiền M2 là thước đo quan trọng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế và tác động tiềm tàng của nó đối với lạm phát và hoạt động kinh tế. Sự gia tăng cung tiền M2 có thể kích thích tăng trưởng kinh tế và đầu tư bằng cách tạo ra nhiều vốn hơn để cho vay và chi tiêu. Do đó, trong giới hạn của nghiên cứu này, cung tiền M2 (Bao gồm M1, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng) sẽ được chọn để nghiên cứu các ảnh hưởng của cung tiền đến giá cổ phiếu.

  • Tổng sản phẩm quốc nội

Theo Tổng cục thống kê, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong nền kinh tế của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý, năm). Điều này có nghĩa trong GDP không tính các giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ đã sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. GDP biểu thị kết quả sản xuất do các đơn vị thường trú tạo ra trong lãnh thổ kinh tế của một quốc gia.

Khi nền kinh tế của một quốc gia tăng trưởng, nguồn lực tài chính tăng, người dân có đời sống và thu nhập tốt hơn, kéo theo nhu cầu cho đầu tư sinh lời của người dân lớn hơn so với nhu cầu tích luỹ, tiết kiệm. Theo tác giả Phí Mạnh Hồng (2013), một trong các nhân tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa là thu nhập của người dân. Với ý nghĩa là một loại hàng hóa điển hình của thị trường chứng khoán, “cổ phiếu”, khi thu nhập chung của cả nước tăng sẽ tạo một lượng cầu lớn thúc đẩy giá cổ phiếu tăng. Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế còn cho thấy sự hiệu quả của các dòng vốn đầu tư nói chung và dòng vốn đầu tư vào thị trường cổ phiếu nói riêng. Dòng vốn đầu tư trở nên dồi dào trong điều kiện lượng cung cổ phiếu không đổi sẽ tác động làm tăng giá cổ phiếu. Có thể hiểu là, tăng trưởng kinh tế làm tăng lượng cầu cổ phiếu, từ đó làm giá cổ phiếu có xu hướng tăng lên, và ngược lại.

  • Đầu tư nước ngoài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia vào thị trường vốn theo nhiều hình thức đầu tư khác nhau: gián tiếp thông qua mua các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, …) hoặc trực tiếp bằng việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư theo hợp đồng, hay góp vốn tham gia quản lý,… Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, dòng vốn ngoại là một trong những thành phần quan trọng tạo nên xu hướng của thị trường, không chỉ bởi sự dồi dào về lượng mà còn dựa trên sự chuyên nghiệp và minh bạch của tổ chức (cá nhân) quản lý vốn. Có thể giải thích mối quan hệ giữa đầu tư nước ngoài và giá cổ phiếu dựa vào quy luật cung cầu. Theo đó, giả định khi có sự tham gia của nguồn vốn ngoại, cung cổ phiếu trên thị trường không đổi, lượng cầu cổ phiếu trên thị trường tăng lên, từ đó sẽ làm tăng giá cổ phiếu. Ngoài hình thức đầu tư bằng tiền, hoạt động đầu tư của nước ngoài còn thể hiện qua các hình thức như đào tạo lao động, nhân sự trình độ cao, chuyển giao công nghệ kỹ thuật, tham gia quản lý,… Từ các yếu tố trên, triển vọng của doanh nghiệp ngày càng được củng cố, qua đó tạo nên sức hấp dẫn đối với cổ phiếu của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy giá cổ phiếu tăng trưởng.

Thông thường, các nghiên cứu về ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến giá cổ phiếu thường sử dụng chỉ số Vốn đầu trực tiếp nước ngoài (FDI). Ví dụ, nghiên cứu của Bashir Ahmad Joo và Zahoor Ahmad Mir (2014) cùng với nghiên cứu của Dr. Syed Tabassum Sultana và Prof. S Pardhasaradhi (2012) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa vốn đầu tư nước ngoài và giá cổ phiếu. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017), trong trường hợp dữ liệu nghiên cứu gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, việc sử dụng chỉ số FDI để áp dụng cho toàn bộ dữ liệu nghiên cứu trở nên không sát thực, vì mỗi một doanh nghiệp đều có tỷ lệ đầu tư nước ngoài khác nhau, do vậy trong đề tài này, tác giả lựa chọn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ở từng doanh nghiệp để đánh giá.

2.3.2. Các yếu tố nội sinh

  • Quy mô doanh nghiệp

Có nhiều cách để đo lường quy mô của một doanh nghiệp, chẳng hạn như doanh thu thuần, lợi nhuận, tổng tài sản, vốn hóa thị trường… Các nhà đầu tư thường sử dụng các tiêu chí trên để phân loại các doanh nghiệp thành các loại có quy mô lớn, vừa và nhỏ.

Trên thực tế, các doanh nghiệp có quy mô lớn và vừa thường thu hút nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước hơn so với các quanh nghiệp nhỏ. Vì các doanh nghiệp này là những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành, có nhiều nguồn lực và cơ hội trong việc đa dạng hóa ngành nghề nên sẽ hạn chế được rủi ro phi hệ thống, có tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin, doanh thu hay lợi nhuận ổn định hoặc tăng trưởng qua các năm, đồng thời cũng chiếm phần lớn trong cơ cấu doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường. Do vậy, giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này có xu hướng ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố (vĩ mô, thị trường, nội tại doanh nghiệp). Còn ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, lại dễ tồn tại sự thao túng giá của một hay một vài nhóm cổ đông, dẫn đến biến động giá rất khó lường.

  • Khả năng sinh lợi Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Để đo lường khả năng sinh lợi của một doanh nghiệp, có thể sử dụng nhiều chỉ số như tỷ lệ hoàn vốn (ROI), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) hoặc tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Đứng trên góc độ của nhà đầu tư cũng như để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả nhận thấy sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là phù hợp nhất để đo lường ảnh hưởng của khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đến giá cổ phiếu.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào doanh nghiệp đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. ROE có mối liên hệ với chi phí lãi vay và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của sở hữu. Trong dài hạn, nếu doanh nghiệp duy trì được khả năng sử dụng vốn cao sẽ mang lại nhiều giá trị nhất cho cổ đông, từ đó gia tăng sức hấp dẫn của doanh nghiệp và thu hút thêm được các nguồn vốn mới trên thị trường. Ngoài ra, chỉ số ROE được giữ ở mức cao trong thời gian dài cho thấy doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành khác. Khi này, giá cổ phiếu doanh nghiệp được xem như “vàng” trên thị trường và dễ có các diễn biến tích cực.

  • Thu nhập trên mỗi cổ phần

Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) là số lợi nhuận mà doanh nghiệp phân bổ cho mỗi cổ phần thường đang lưu hành trên thị trường. EPS là một trong những chỉ số được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu khi lựa chọn cổ phiếu, là công cụ để đánh giá kết quả kinh doanh thực hiện của một doanh nghiệp bằng việc so sánh kết quả của một doanh nghiệp qua các thời kỳ hoặc sử dụng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau. Ngoài ra, EPS có ảnh hưởng lớn đến giá cổ phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu rất nhạy cảm với EPS. Thị giá có thể giảm khi EPS có xu hướng giảm và ngược lại. EPS là một chỉ tiêu được trích dẫn thường xuyên nhất trong phân tích báo cáo tài chính vì chỉ tiêu này liên quan tới chỉ số giá trên thu nhập (P/E), được sử dụng rộng rãi như một tiêu chuẩn so sánh khi ra các quyết định đầu tư.

  • Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu 

Sẽ là tốt hơn rất nhiều nếu mua một công ty tuyệt vời ở mức giá phải chăng thay vì một công ty vừa phải với mức giá tuyệt vời” – Warren Buffett. Để xác định được mức giá phù hợp khi mua cổ phiếu, các nhà đầu tư thường sử dụng hai phương pháp định giá: Định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền và định giá theo chỉ số cơ bản (P/E, P/B, EV/EBITDA,…). Trong đó, phương pháp định giá theo chỉ số cơ bản với chỉ số P/E (Price Earnings Ratio – P/E) được các nhà đầu tư ưa thích hơn hết vì sự đơn giản và hiệu quả.

Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu cho biết số tiền nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra để trả cho một đồng lợi nhuận thu được từ cổ phiếu. Thông thường, một tỷ số P/E  cao cho thấy giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá lợi nhuận mỗi cổ phần đem lại nên khi P/E cao hơn mức trung bình ngành thì cổ phiếu của công ty trở nên ít hấp dẫn hơn so với các cổ phiếu khác trong cùng ngành, dẫn đến giá cổ phiếu sẽ điều chỉnh giảm. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Ngược lại, nếu tỷ số P/E thấp hơn mức trung bình ngành, điều này có thể chỉ ra rằng cổ phiếu đang được định giá thấp và có thể là một cơ hội đầu tư hấp dẫn. Các nhà đầu tư giá trị thường tìm kiếm các cổ phiếu có P/E thấp để đầu tư dài hạn, vì điều này có thể dẫn đến tiềm năng tăng giá trong tương lai. Tóm lại, tỷ số P/E thấp hơn giá trị trung bình ngành thường là dấu hiệu của một khoản đầu tư hời và có thể thu hút các nhà đầu tư, góp phần làm tăng giá cổ phiếu.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, P/E có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư vào triển vọng tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp. Chỉ số P/E ở mức cao cũng không hẳn là “đắt” mà còn có hàm ý rằng cổ phiếu có tiềm năng tốt, nhà đầu tư kỳ vọng cho việc tăng trưởng thu nhập của cổ phiếu trong tương lai, từ đó mức cầu cổ phiếu tăng, tác động làm giá cổ phiếu tăng. Ngược lại, nếu P/E ở mức thấp, nhà đầu tư không kỳ vọng nhiều vào cổ phiếu đó. Có thể là ngành không hấp dẫn, triển vọng tăng trưởng không tích cực dẫn đến giá cổ phiếu sẽ giảm. Vì vậy, P/E thấp hay cao hơn trung bình ngành chỉ là điều kiện cần khi nhà đầu tư đánh giá cổ phiếu nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Ngoài chỉ số P/E, nhà đầu tư còn phải phân tích nhiều yếu tố nền tảng kinh doanh để có thể đánh giá đó là doanh nghiệp thực sự tốt hay không.  

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước

2.4.1. Nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến giá của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Namibia của Eita (2012) được tiến hành bằng phương pháp VECM và cho thấy giá cổ phiếu chủ yếu được quyết định bởi 5 yếu tố vĩ mô gồm hoạt động kinh tế, cung tiền, lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái. Tác giả đã lập luận rằng, giá của các cổ phiếu có mối tương quan ngược chiều với lãi suất và lạm phát. Trong khi đó, GDP, cung tiền và tỷ giá có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu.

Chung quan điểm, khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá các cổ phiếu của các công ty thuộc lĩnh vực tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Bangladesh từ năm 2005 đến 2011, Uddin và các tác giả (2013) đã phát hiện ra yếu tố EPS, giá trị tài sản ròng, lợi nhuận trước thuế, tỷ số giá thị trường trên lợi nhuận (P/E) có tương quan thuận với giá cổ phiếu của các công ty thuộc lĩnh vực tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Dhaka.

Trong nghiên cứu của Olowookere và Fadiran (2016), các tác giả đã sử dụng mô hình bảng dữ liệu với hai cách tiếp cận phổ biến là FEM và REM để nghiên cứu 72 doanh nghiệp cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Nigeria trong 12 năm (từ 2000-2011). Các nhân tố được đưa vào mô hình là: GDP thực (Real GDP – RGDP), lãi suất (IR), tỷ giá hối đoái (ER), tỷ số P/E (PE), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu (GR), giá trị tài sản thuần (NAPS) và tỷ lệ cổ tức trên mỗi cổ phần (DPS). Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Đối với cách tiếp cận các ảnh hưởng cố định, kết quả thu được cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu bao gồm: RGDP, ER, ROE, NAPS và GR. Trong đó GDP và NAPS tác động tích cực đến giá cổ phiếu; ngược lại ER, ROE và GR ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu. Trong khi đó với cách tiếp cận các ảnh hưởng ngẫu nhiên, giá cổ phiếu bị tác động bởi các nhân tố: RGDP, ER, ROE, EPS và DPS. Các nhân tố GDP, EPS và DPS tác động tích cực đến giá cổ phiếu. Trong khi đó ER và ROE tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu. Ngoài ra, IR là yếu tố không tác động đến giá cổ phiếu (không có ý nghĩa thống kê trong cả hai mô hình). Biến PE bị loại khỏi mô hình do có dấu hiệu của đa cộng tuyến.

Arslan Iqbal và các tác giả (2015) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiều của các doanh nghiệp trong ngành gas, dầu mỏ và xi măng trên thị trường chứng khoán Karachi. Mẫu nghiên cứu gồm 38 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành gas, dầu mỏ và xi măng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013. Tương tự như nghiên cứu của tác giả Olowookere và Fadiran, Arslan  Iqbal  và các tác giả (2015) cũng sử dụng phương pháp hồi quy theo cách tiếp cận FEM và REM, tuy nhiên mô hình của Arslan Iqbal và các tác giả (2015) bao gồm những nhân tố nội sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mối tương quan giữa giá cổ phiếu và tỷ suất cổ tức trên mỗi cổ phần là cùng chiều (+) và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Bên cạnh tỷ suất cổ tức trên mỗi cổ phần, bốn nhân tố gồm: giá trị sổ sách trên mỗi cổ phần, tỷ số giá thị trường so với thu nhập trên một cổ phiếu, thu nhập trên mỗi cổ phiếu thường và hệ số ROE đại diện cho khả năng sinh lợi cũng có tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu. Trong khi lợi tức cổ tức và tỷ lệ thu nhập theo giá thị trường tác động ngược chiều (-) khá mạnh đến giá cổ phiếu ở mức ý nghĩa 5%.

Với dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của 11 ngân hàng từ năm 2006 đến 2020, Edet và các tác giả (2023) đã nghiên cứu tác động của 7 yếu tố nội tại ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các ngân hàng niêm yết tại Nigeria, bao gồm: lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DPS), tăng trưởng thu nhập lãi ròng (NII), quy mô ngân hàng (SIZE) và số năm thành lập của ngân hàng (AGE). Căn cứ kết quả kiểm định Hausman, mô hình FEM được chọn để thực hiện hồi quy và kết quả hồi quy chỉ ra NII, EPS và DPS có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu; ROA và AGE có tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu; còn ROE và SIZE không có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu của Utami và Darmawan (2019) sử dụng phương pháp hồi quy theo cách tiếp cận REM xem xét tác động của các yếu tố: Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DER), lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) và giá trị thị trường gia tăng (MVA) đến giá cổ phiếu của các công ty sản xuất được niêm yết thuộc Chỉ số chứng khoán Sharia của Indonesia. Nghiên cứu phát hiện ra rằng chỉ có EPS và MVA tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu và có ý nghĩa thống kê, các yếu tố còn lại không có ý nghĩa thống kê.

2.4.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Nguyễn Thu Hằng (2022) nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị giá cổ phiếu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy thị giá cổ phiếu bị tác động cùng chiều và mạnh nhất bởi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bên cạnh tỷ giá hối đoái. Các yếu tố còn lại như: lạm phát, giá vàng và lãi suất có tác động ngược chiều và ở mức độ thấp hơn tác động của tỷ lệ tăng trưởng kinh tế.

Từ việc nghiên cứu 359 công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2012-2016, nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Mạnh (2017) đã tìm thấy các yếu tố ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu của các công ty niêm yết đó là: hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu (P/E), cổ tức (DIV), thu nhập trên 1 cổ phiếu (EPS), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Trong đó, cả 5 yếu tố đều có ảnh hưởng cùng chiều đến thị giá cổ phiếu. Mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các yếu tố còn lại như số năm thành lập (NTL), số năm niêm yết (NNY), quy mô doanh nghiệp (SIZE) và giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu (NAVPS) không có ý nghĩa thống kê.

Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020) đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thị trường cổ phiếu 9 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên TTCKVN trong giai đoạn 2010-2018. Cụ thể, giá cổ phiếu (Sp) bị tác động bởi các yếu tố thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), tỷ số B/M (BM), tỷ số P/E (PE), quy mô của ngân hàng (SIZE), tốc độ tăng trưởng GDP (GDP) và lãi suất (INT). Trong đó EPS, PE, SIZE và GDP có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa với Sp. Mặt khác, INT và BM có mối quan hệ ngược chiều với Sp đáng kể và có ý nghĩa. Các yếu tố còn lại là tỷ lệ lạm phát (INF) và chênh lệch thời lượng (DGAP) không có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu của tác giả Dương Phan Trà My (2015) cho thấy giá cổ phiếu các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP. HCM bị tác động bởi ba yếu tố là vốn chủ sở hữu (VCSH), tỷ lệ tăng trưởng GDP (GDP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng VCSH và GDP có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu ngành thép, còn CPI thì có tác động nghịch chiều. Các yếu tố còn lại là: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), tỷ lệ chi trả cổ tức (COTUC), chỉ số giá nhà ở (BDS), sản lượng tiêu thụ thép (SANLG) không tác động đến giá cổ phiếu.

Tác giả Nguyễn Thị Phương Dung (2019) nghiên cứu các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sự thay đổi giá cổ phiếu các công ty bất động sản trên HOSE trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2012 đến ngày 30/02/2018. Những yếu tố vĩ mô được chọn bao gồm: (1) lạm phát, (2) giá vàng, (3) tỷ giá hối đoái và (4) lãi suất. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến làm phương pháp phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy lạm phát và lãi suất có mối tương quan thuận với sự thay đổi giá cổ phiếu ngành bất động sản. Hai yếu tố là giá vàng và tỷ giá hối đoái không có ý nghĩa thống kê, hay nói cách khác giá vàng và tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng đến sự thay đổi giá cổ phiếu. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Bằng phương pháp hồi quy cổ điển và kiểm định Dickey – Fuller (ADF), tác giả Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015) đã đo lường sự tác động của 6 yếu tố vĩ mô đến các chỉ số giá cổ phiếu đang được áp dụng tại HOSE. Các nhân tố được chọn để nghiên cứu bao gồm: Cung tiền (M2), lãi suất (IR), lạm phát (CPI), tỷ giá hối đoái (EX), giá trị sản lượng công nghiệp (IO) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Với dữ liệu được thu thập từ tháng 01/2009 đến tháng 06/2014, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trong dài hạn CPI có tác động tiêu cực đến các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE; M2, EX, IR và IO có tác động tích cực đến hầu hết các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE trong dài hạn; chỉ có FDI không có tác động đến các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE.

Tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017) sử dụng phương pháp hồi quy ước lượng dữ liệu bảng động (GMM) với mẫu dữ liệu gồm 102 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE từ 10 lĩnh vực khác nhau cho rằng các yếu tố: giá cổ phiếu năm trước (LAGY), lãi suất (IR), tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài trong mỗi doanh nghiệp (FN), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E) và quy mô doanh nghiệp (LNSIZE) có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Các yếu tố tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu là: giá cổ phiếu năm trước, tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài trong mỗi doanh nghiệp, thu nhập trên mỗi cổ phiếu, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu và quy mô doanh nghiệp. Riêng lãi suất có tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu. Ngoài ra, tỷ lệ chia cổ tức (DIV) không tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE. Còn tốc độ tăng trưởng GDP (GDP) và khả năng sinh lợi (ROE) bị loại khỏi mô hình do có dấu hiệu của đa cộng tuyến.

Tác giả Nguyễn Trà My (2023) nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến chỉ số VN-Index và các chỉ số ngành như thép, ngân hàng, dầu khí và bất động sản trên TTCKVN giai đoạn từ tháng 01/2010 đến 12/2021. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian thông qua mô hình hồi quy Vector Error Correction Model (VECM) kết hợp với kiểm định đồng liên kết Johansen. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong dài hạn, tỷ giá có tương quan nghịch biến đối với VNIndex, chỉ ra rằng tăng giá trị của tỷ giá sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến VN-Index.

Trong khi đó, cung tiền, giá dầu và sản lượng công nghiệp có tác động cùng chiều tích cực lên VN-Index. Lãi suất và lạm phát không thể liên kết với biến động của VN-Index trong giai đoạn nghiên cứu. Đối với ngành Bất động sản trong dài hạn, lãi suất, cung tiền và giá dầu có tác động tích cực, còn lạm phát, sản lượng công nghiệp và tỷ giá không có ý nghĩa thống kê. Đối với ngành Ngân hàng trong dài hạn, cung tiền và giá dầu có tác động tích cực, còn tỷ giá, sản lượng công nghiệp, lãi suất và lạm phát không tác động đáng kể. Đối với ngành Dầu khí trong dài hạn, cung tiền và giá dầu tác động tích cực, lãi suất và tỷ giá tác động tiêu cực, trong khi lạm phát và sản lượng công nghiệp không tác động đáng kể. Cuối cùng, đối với ngành Thép trong dài hạn, cung tiền và giá dầu tác động tích cực, tỷ giá tác động tiêu cực, còn lạm phát và sản lượng công nghiệp không tác động đáng kể. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

2.5 Vị trí của nghiên cứu

Qua quá trình lược khảo các nghiên cứu đã nêu, tác giả nhận thấy một số vấn đề như sau: (1) Các tác giả xây dựng các mô hình không có sự đồng nhất về phương pháp, hướng tiếp cận nhưng có sự tương đồng về các yếu tố được sử dụng để nghiên cứu; (2) Các nghiên cứu nước ngoài có thể không hoàn toàn phù hợp với bối cảnh TTCKVN do có sự khác biệt về quy mô thị trường, chất lượng hàng hóa, mức độ rủi ro và mức thanh khoản; (3) Ở các nghiên cứu đã lược khảo, những yếu tố được lựa chọn để đưa vào mô hình hồi quy rất đa dạng, song rất ít nghiên cứu xem xét đến một trường hợp dễ phát sinh trong quá trình nghiên cứu định lượng đó là nội sinh. Tức là các biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc và ngược lại biến phụ thuộc cũng tác động đến biến độc lập; (4) Ngành chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ khi so sánh với các thị trường đã phát triển như Anh, Nhật, Mỹ,.. vì thế ngành chứng khoán tại Việt Nam vẫn còn nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên còn khá ít nghiên cứu về tác động của các yếu tố đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán mà chủ yếu tập trung vào cổ phiếu ngành ngân hàng, ngành thép, ngành bất động sản, ngành thực phẩm hay các chỉ số chung như VN-Index, VN30,….

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những nghiên cứu trước, tác giả quyết định sử dụng mô hình gốc của tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017) để làm nền tảng phát triển mô hình nghiên cứu cho đề tài này. Nguyên nhân chọn mô hình này vì nghiên cứu này cũng thực hiện nghiên cứu cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCKVN, có sự tương đồng về đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Bên cạnh đó luận văn này, với phạm vi nghiên cứu rộng hơn đối với các công ty chứng khoán đang niêm yết trên TTCKVN trong khoảng thời gian từ năm 2013 tới 2022 mang tính ứng dụng cao trong thực tế và phù hợp với các nhà đầu tư mong muốn đầu tư cổ phiếu công ty chứng khoán. Đồng thời tác giả cũng sử dụng phương pháp hồi quy ước lượng dữ liệu bảng động (GMM) để khắc phục các khuyết tật mô hình thường gặp phải như tự tương quan, phương sai sai số thay đổi và nội sinh, qua đó mang lại những đánh giá tổng quan, đáng tin cậy về những yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán niêm yết trên TTCKVN.

Bảng  2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Ở chương 2 tác giả đã cung cấp các khái niệm cơ bản về thị trường chứng khoán, chứng khoán, cổ phiếu, các lý thuyết về giá cổ phiếu. Ngoài ra chương này cũng đề cập đến các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu làm tiền đề để tạo dựng mô hình nghiên cứu ở chương 3, các yếu tố đó bao gồm: Chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền M2, tổng sản phẩm quốc nội, quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lợi, thu nhập trên mỗi cổ phần, tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu và đầu tư nước ngoài. Đồng thời, việc thực hiện khảo lược các nghiên cứu trước đây ở trong nước và quốc tế, là cơ sở cho tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu phù hợp ở chương 3. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993