Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Thống kê mô tả các biến
Như đã đề cập, cỡ mẫu cần thu về là 272 mẫu. Đối tượng mẫu thu thập là theo năm từ năm 2013 đến năm 2022 của 33 công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN.
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến
| Biến | Giá trị trung bình | Giá trị lớn nhất | Giá trị nhỏ nhất | Độ lệch chuẩn |
| SP | 1.786631 | 4.053523 | 0 | 0.864375 |
| CPI | 0.0310107 | 0.0659267 | 0.006312 | 0.0130001 |
| LM2 | 16.02231 | 16.47064 | 15.29727 | 0.3689684 |
| GDP | 0.0580185 | 0.0802 | 0.0258 | 0.0185394 |
| SIZE | 27.92565 | 31.58661 | 24.94692 | 1.362123 |
| ROE | 0.0781568 | 0.6216181 | -0.8409019 | 0.1276754 |
| EPS | 1093.851 | 9839.434 | -5410.221 | 1590.099 |
| PE | 64.95306 | 3454.751 | -254.288 | 267.2236 |
| FR | 0.11919 | 0.8575 | 0 | 0.1834995 |
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 1
Quan sát Bảng 4.1 có thể thấy đa phần các biến có khoảng cách giữa GTLN và GTNN là tương đối nhỏ. Tuy nhiên, riêng biến EPS và PE có khoảng cách giữa GTLN và GTNN là khá lớn. Cụ thể biến EPS có GTLN đạt 9839.43 nhưng GTNN chỉ đạt -5410.22; biến PE có GTLN là 3454.75 và GTNN là -254.28. Bên cạnh đó, vì đây là các biến nội sinh của doanh nghiệp nên độ lệch chuẩn của các biến này tương đối cao, cụ thể độ lệch chuẩn của biến EPS là 1590.09; của biến PE là 267.22.
Các biến còn lại như SP, CPI, LM2, GDP, SIZE, ROE và FR có độ lệch chuẩn không cao.
Từ thống kê mô tả ở Bảng 4.1, tác giả nhận thấy đặc điểm dữ liệu các biến là không giống nhau. Hai biến nội sinh doanh nghiệp là EPS và PE có sự khác biệt lớn giữa GTLN và GTNN, các biến còn lại không quá chênh lệch.
4.2 Mức độ tương quan giữa các biến Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến
| SP | CPI | LM2 | GDP | SIZE | ROE | EPS | PE | FR | |
| SP | 1.0000 | ||||||||
| CPI | -0.2630 | 1.0000 | |||||||
| LM2 | 0.5206 | -0.3945 | 1.0000 | ||||||
| GDP | -0.4176 | 0.1061 | -0.2124 | 1.0000 | |||||
| SIZE | 0.4563 | -0.0955 | 0.2698 | -0.0958 | 1.0000 | ||||
| ROE | 0.4369 | -0.1983 | 0.1650 | -0.3119 | 0.4113 | 1.0000 | |||
| EPS | 0.4927 | -0.1703 | 0.1856 | -0.3146 | 0.4919 | 0.9030 | 1.0000 | ||
| PE | 0.0332 | 0.0122 | -0.0903 | 0.0137 | -0.1569 | -0.1156 | -0.1364 | 1.0000 | |
| FR | 0.2606 | 0.0021 | -0.0061 | 0.0697 | 0.4741 | 0.1481 | 0.2546 | -0.0038 | 1.0000 |
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 2
Mức độ tương quan giữa các biến độc lập phần lớn khá thấp, đa số thấp hơn 0,5. Tuy nhiên, riêng mức tương quan giữa hai biến ROE – EPS là rất cao, lên đến 0,903, đều vượt ngưỡng 0,8. Mức tương quan lớn hơn 0,8 thể hiện giữa hai biến tồn tại mối tương quan mạnh, là một trong những dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến.
4.3 Thực hiện hồi quy
Sau khi thực hiện hồi quy theo cách tiếp cận các ảnh hưởng cố định FEM và các ảnh hưởng ngẫu nhiên REM thu được kết quả như sau: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy theo cách tiếp cận FEM và REM
| Mô hình FEM | Mô hình REM | |||
| Biến phụ thuộc SP | Biến phụ thuộc SP | |||
| Biến | Hệ số | P-value | Hệ số | P-value |
| CPI | -2.560351 | 0.268 | -2.38952 | 0.325 |
| LM2 | (0.3859745)*** | 0.001 | (0.6515984)*** | 0.000 |
| GDP | (-9.824343)*** | 0.000 | (-10.83314)*** | 0.000 |
| SIZE | (0.4875554)*** | 0.000 | (0.287468)*** | 0.000 |
| ROE | 0.7603022 | 0.187 | 0.749548 | 0.205 |
| EPS | 0.0000728 | 0.156 | 0.0000671 | 0.195 |
| PE | 0.00018 | 0.114 | (0.0002619)** | 0.026 |
| FR | 0.028216 | 0.917 | 0.1317938 | 0.609 |
| C | (-17.52193)*** | 0.000 | (-16.12095)*** | 0.000 |
| R – square | 0.4033 | 0.4942 | ||
| Probability (F – statistics) | 0.0000 | 0.0000 | ||
| Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%, 10% | ||||
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 3 và 4
4.4 Kiểm định Hausman Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Sau khi thực hiện hồi quy theo cách tiếp cận các ảnh hưởng cố định FEM và các ảnh hưởng ngẫu nhiên REM, tác giả thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình hồi quy thích hợp hơn giữa 2 loại này, cho kết quả như sau:
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Hausman
| Test of H0: Difference in coefficients not systematic |
| chi2(6) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B)= 57.10 |
| Prob > chi2 = 0.0000 |
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 5
Từ kết quả kiểm định Hausman tại bảng 4.4 cho thấy Chi bình phương (ꭓ2) đạt 57.10 với P-value = 0.0000 < 0.05 vì vậy bác bỏ giả thuyết H0: Có sự thay đổi của hệ số tác động. Mô hình FEM có ý nghĩa hơn mô hình REM.
4.5 Kiểm định đa cộng tuyến
Sau khi chọn được mô hình phù hợp hơn, tác giả tiến hành thực hiện kiểm định đa cộng tuyến nhận thấy:
Biến ROE có giá trị P-value của hệ số β là 0.187 > 0.1 nên với mức ý nghĩa 10% ROE không tác động đến SP. Ngoài ra biến ROE có dấu của hệ số β ngược với dấu của ma trận tương quan. Hơn nữa, như đã đề cập ở phần 4.1.2 mức tương quan của hai biến ROE – EPS là rất cao, đạt 0,903, lớn hơn 0,8. Đây là những dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến. Khi một mô hình hồi quy xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến, các ước tính sẽ trở nên không chính xác và không đáng tin cậy.
Vì vậy để khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến, biến Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) sẽ bị loại khỏi mô hình hồi quy. Mô hình hồi quy mới có dạng: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
SP = α0 + α 1 CPI + α 2 LM2 + α 3 GDP + α 4 SIZE + α 5 EPS + α 6 PE + α 7 FR + ε (1)
Sau khi loại bỏ biến ROE, tác giả sử dụng kiểm định VIF để kiểm tra xem hiện tượng đa cộng tuyến có còn ảnh hưởng đến mô hình (1).
Bảng 4.5 Kiểm định VIF
| Biến độc lập | VIF | 1/VIF |
| SIZE | 1.74 | 0.575782 |
| EPS | 1.50 | 0.666698 |
| FR | 1.35 | 0.738676 |
| LM2 | 1.33 | 0.751128 |
| CPI | 1.21 | 0.829280 |
| GDP | 1.17 | 0.851424 |
| PE | 1.04 | 0.960096 |
| Trung bình VIF | 1.33 |
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 6
Giá trị VIF bắt đầu từ 1 và không có giới hạn trên. Giá trị VIF đạt từ 1 đến 2 chỉ ra rằng giữa biến độc lập bất kỳ và các biến khác không có sự tương quan. Nếu VIF nằm trong đoạn giữa 2 và 5 cho thấy có mối tương quan vừa phải nhưng không quá nghiêm trọng để phải tìm biện pháp khắc phục. VIF lớn hơn 5 đại diện cho mối tương quan cao, hệ số được ước tính kém và các giá trị P-value là đáng nghi ngờ.
- Nếu VIF > 10 thì chắc chắn có đa cộng tuyến.
Kết quả kiểm định VIF ở bảng 4.5 cho thấy các hệ số VIF tương ứng của các biến trong mô hình đều nhỏ hơn 5, giá trị trung bình VIF là 1.33 < 5 là khá thấp, vì vậy, có thể kết luận rằng giữa các biến có tương quan nhưng không mạnh và hiện tượng đa cộng tuyến không gây ảnh hưởng đáng kể đến mô hình nghiên cứu.
Sau khi chắc chắn hiện tượng đa cộng tuyến đã được loại bỏ hoàn toàn tiếp tục thực hiện hồi quy với mô hình (1) theo hai cách tiếp cận FEM và REM thu được kết quả như sau: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy theo cách tiếp cận FEM và REM sau khi loại bỏ biến ROE
| Mô hình FEM | Mô hình REM | |||
| Biến phụ thuộc SP | Biến phụ thuộc SP | |||
| Biến | Hệ số | P-value | Hệ số | P-value |
| CPI | -2.858622 | 0.215 | -2.700339 | 0.265 |
| LM2 | (0.3783291)*** | 0.001 | (0.6501634)*** | 0.000 |
| GDP | (-9.852302)*** | 0.000 | (-10.90173)*** | 0.000 |
| SIZE | (0.4894259)*** | 0.000 | (0.2842279)*** | 0.000 |
| EPS | (0.000132)*** | 0.000 | (0.0001243)*** | 0.000 |
| PE | 0.0001813 | 0.112 | (0.0002652)** | 0.024 |
| FR | 0.0021215 | 0.994 | 0.1033709 | 0.687 |
| C | (-17.44313)*** | 0.000 | (-15.99602)*** | 0.000 |
| R – square | 0.4036 | 0.4971 | ||
| Probability (F – statistics) | 0.0000 | 0.0000 | ||
| Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%, 10% | ||||
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 7 và 8
Kết quả hồi quy theo bảng 4.6 cho thấy mô hình FEM sau khi khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến có các biến CPI, PE và FR không có ý nghĩa thống kê. Các biến còn lại là LM2, GDP, SIZE và EPS đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
Trong phụ lục 7: Kết quả hồi quy theo mô hình FEM, R-sp được sử dụng để đánh giá mức độ giả thích của mô hình
- R-sp within = 0.6685 cho thấy mô hình FEM giải thích được 66,85% sự biến động của biến phụ thuộc trong từng nhóm riêng lẻ.
- R-sp between = 0.1380 cho thấy mô hình FEM giải thích được 13,80% sự biến động của biến phụ thuộc giữa các nhóm.
- R-sp overall = 0.4036 cho thấy mô hình FEM giải thích được 40,36% sự biến động của biến phụ thuộc toàn bộ dữ liệu.
Giá trị R-sp thấp không nhất thiết là một biểu hiện của một mô hình không tốt, nó chỉ cho thấy mức độ mà các biến độc lập trong mô hình giải thích được sự biến động của biến phụ thuộc. Việc đánh giá mô hình cần kết hợp với những kiểm định được nghiên cứu dưới đây.
4.6 Kiểm định tự tương quan Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Để kiểm tra xem liệu hiện tượng tự tương quan có xảy ra trong mô hình hồi quy FEM hay không, nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định được đề xuất bởi Wooldridge (2002) với giả thuyết H0: Không có tự tương quan bậc nhất.
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định tự tương quan
- H0: no first-order autocorrelation
- F(1, 32) = 71.345
- Prob > F = 0.0000
Kết quả thu được giá trị thống kê F là 71.345 với P – value = 0.0000 < 0.05 nên bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là có hiện tượng tự tương quan trong mô hình hồi quy.
4.7 Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Mô hình được lựa chọn là mô hình FEM, vì vậy tác giả sử dụng kiểm định Wald để kiểm tra xem giả thuyết hồi quy về phương sai không đổi có vi phạm hay không với giả thuyết H0: Phương sai các sai số không đổi.
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi H0: sigma(i)^2 = sigma^2 for all i chi2 (33) = 1985.37 Prob>chi2 = 0.0000
Kết quả thu được tại bảng 4.8 cho thấy thống kê chi bình phương là 1985.37, giá trị P-value = 0.000 < 0.05, bác bỏ giả thuyết H0, vì vậy phương sai của mô hình bị thay đổi, mô hình gặp hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
4.8 Kiểm định nội sinh Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Như đã trình bày ở chương 3, nếu mô hình xuất hiện hiện tượng nội sinh việc sử dụng các mô hình như FEM hay REM trở nên thiếu hiệu quả. Vì vậy để kiểm tra mô hình có chứa biến nội sinh hay không, đề tài sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn (2SLS) để có ước lượng chính xác hơn. Sau đó sử dụng kiểm định Durbin Wu Hausam, với từng phép thử cho các biến độc lập trong mô hình. Kết quả kiểm định được thể hiện ở bảng 4.9 như sau:
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định nội sinh
| Biến | Wu-Hausman | P |
| CPI | F(1,227) | 0.002 |
| LM2 | F(1,227) | 0.001 |
| GDP | F(1,227) | 0.000 |
| SIZE | F(1,227) | 0.008 |
| EPS | F(1,227) | 0.112 |
| PE | F(1,227) | 0.324 |
| FR | F(1,227) | 0.079 |
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 11
Từ kết quả ở bảng 4.9 có thể thấy 4 biến CPI, LM2, GDP và SIZE có P-value lần lượt là 0.002, 0.001, 0.000 và 0.008 và đều nhỏ hơn 0.05, vì vậy bác bỏ giả thuyết H0, biến độc lập là biến nội sinh, mô hình có hiện tượng nội sinh.
Khi sử dụng phương pháp GMM, độ trễ của các biến nội sinh có thể sử dụng như biến công cụ cho các biến nội sinh tại thời điểm hiện tại. Mục đích sử dụng biến công cụ là loại bỏ mối tương quan của biến nội sinh. Vì vậy, trong phạm vi đề tài tác giả sử dụng độ trễ của các biến SP, CPI, LM2, GDP và SIZE làm biến công cụ.
4.9 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng động GMM
Nếu mô hình hồi quy xuất hiện hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, có nhiều cách để khắc phục như: sử dụng ước lượng GLS, hồi quy với biến công cụ, mô hình hồi quy với sai số chuẩn của Driscoll & Kraay, mô hình dữ liệu bảng động GMM,… Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ chọn phương pháp ước lượng GMM để giải quyết các khuyết tật của mô hình FEM. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Tác giả lựa chọn mô hình GMM vì ba nguyên nhân sau: (1) Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng có số đơn vị chéo lớn hơn số thời gian quan sát; (2) Hiện tượng tự tương quan có thể khắc phục bằng việc sử dụng sai phân bậc nhất của mô hình GMM; (3) Phương pháp GMM giải quyết được vấn đề nội sinh trong mô hình.
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy theo cách tiếp cận FEM và khắc phục khuyết tật mô hình bằng phương pháp GMM
| Mô hình FEM | Mô hình GMM | |||
| Biến phụ thuộc SP | Biến phụ thuộc SP | |||
| Biến | Hệ số | P-value | Hệ số | P-value |
| CPI | -2.858622 | 0.215 | (-46.6514)*** | 0.000 |
| LM2 | (0.3783291)*** | 0.001 | (3.73008)*** | 0.000 |
| GDP | (-9.852302)*** | 0.000 | (-8.796101)** | 0.039 |
| SIZE | (0.4894259)*** | 0.000 | (0.2377838)*** | 0.007 |
| EPS | (0.000132)*** | 0.000 | (0.0000778)*** | 0.009 |
| PE | 0.0001813 | 0.112 | 0.0000264 | 0.912 |
| FR | 0.0021215 | 0.994 | 0.078962 | 0.821 |
| C | (-17.44313)*** | 0.000 | (-63.88026)*** | 0.000 |
| R – square | 0.4036 | |||
| Probability (F – statistics) | 0.0000 | |||
| Number of instruments | 17 | |||
| Number of groups | 24 | |||
| Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5%, 10% | ||||
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 7 và 12
Phương trình hồi quy được viết lại dưới dạng:
SP = – 63.88026 – 0.0402085*L1 – 46.6514*CPI + 3.73008*LM2 – 8.796101*GDP + 0.2377838*SIZE + 0.0000778*EPS + ε
Hệ số ước lượng của các biến độc lập mang dấu dương thể hiện tương quan thuận giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, tức là khi biến độc lập tăng/giảm một đơn vị thì biến phụ thuộc sẽ tăng/giảm α đơn vị. Tương tự với các hệ số ước lượng mang dấu âm sẽ thể hiện tương quan nghịch giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc.
4.10 Kiểm định sự phù hợp của mô hình GMM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Để xác định tính phù hợp của mô hình GMM, tác giả sử dụng kiểm định Sargan và kiểm định Arellano-Bond.
4.10.1. Kiểm định Sargan
- Kiểm định Sargan kiểm tra tính phù hợp của biến công cụ với giả thuyết H0:
- Biến công cụ là ngoại sinh.
Bảng 4.11 Kiểm định Sargan
- Sargan test of overid. restrictions: chi2 (11) = 6.71
- Prob > chi2 = 0.822
Nguồn: Kết quả Stata tại Phụ lục 12
Kết quả thu được cho thấy chi2 (11) = 6.71 và P – value = 0.822 > 0.05. Vì vậy chấp nhận H0: Biến công cụ là ngoại sinh.
4.10.2. Kiểm định Arellano-Bond
Kiểm tra tự tương quan sai phân bậc 2 của mô hình với giả thuyết H0: Mô hình không có tự tương quan sai phân bậc 2.
Bảng 4.12 Kiểm định Arellano-Bond
Arellano-Bond test for AR(2) in first differences: z = -1.00 Pr > z = 0.317
Kết quả thu được cho thấy: giá trị P value đạt 0.317 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thuyết H0: Mô hình không có tự tương quan sai phân bậc 2. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Qua kết quả kiểm định Sargan và kiểm định Arellano-Bond có thể kết luận phương pháp ước lượng GMM là phù hợp.
4.11 Kiểm định giả thuyết và thảo luận kết quả nghiên cứu:
4.11.1. Kiểm định giả thuyết
Bảng 4.13 Tóm tắt kết quả
| Biến số | Dấu kỳ vọng | Kết quả nghiên cứu | Mức ý nghĩa |
| CPI | (-) | (-) | 1% |
| LM2 | (+) | (+) | 1% |
| GDP | (+) | (-) | 5% |
| SIZE | (+) | (+) | 1% |
| EPS | (+) | (+) | 1% |
| PE | (+) | (+) | Không có ý nghĩa thống kê |
| FR | (+) | (+) | Không có ý nghĩa thống kê |
| ROE | (+) | Loại khỏi mô hình |
Nguồn: Kết quả thống kê từ Stata
Với P-value = 0.000 và hệ số α = – 46.6514, biến CPI tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu với mức ý nghĩa 1%. Vì vậy, Giả thuyết H1: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tác động ngược chiều (-) đến giá cổ phiếu (SP) được chấp nhận.
Với P-value = 0.000 và hệ số α = 3.73008, biến LM2 tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu với mức ý nghĩa 1%. Vì vậy, Giả thuyết H2: Cung tiền M2 (LM2) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP) được chấp nhận.
Với P-value = 0.039 và hệ số α = – 8.796101, biến GDP tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu với mức ý nghĩa 5%. Vì vậy, Giả thuyết H3: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP) bị bác bỏ.
Với P-value = 0.007 và hệ số α = 0.2377838, biến SIZE tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu với mức ý nghĩa 1%. Vì vậy, Giả thuyết H4: Quy mô doanh nghiệp (SIZE) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP) được chấp nhận.
Biến ROE bị loại khỏi mô hình do có dấu hiệu của đa cộng tuyến. Vì vậy, chưa có đủ cơ sở để chấp nhận Giả thuyết H5: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP).
Với P-value = 0.009 và hệ số α = 0.0000778, biến EPS tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu với mức ý nghĩa 1%. Vì vậy, Giả thuyết H6: Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP) được chấp nhận.
Với P-value = 0.912 > 10% và hệ số α = 0.0000264, tác động của biến PE đến giá cổ phiếu không có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, chưa có đủ cơ sở để chấp nhận Giả thuyết H7: Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu (PE) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Với P-value = 0.821 > 10% và hệ số α = 0.078962, tác động của biến FR đến giá cổ phiếu không có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, chưa có đủ cơ sở để chấp nhận Giả thuyết H8: Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (FR) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP).
4.11.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu
4.11.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng
Kết quả ở bảng 4.10 cho thấy biến CPI có hệ số α = -46.6514 có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, hàm ý rằng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi nếu CPI tăng lên 1% thì giá cổ phiếu giảm 46.6514 đơn vị và ngược lại. Với mức ý nghĩa thống kê là 1% cho thấy CPI có tác động mạnh đến giá cổ phiếu. Tác động ngược chiều của chỉ số giá tiêu dùng đến giá cổ phiếu củng cố giả thuyết H1 mà nghiên cứu đã đặt ra và có cùng quan điểm với nghiên cứu của Eita (2012), Dương Phan Trà My (2015), Trương Đông Lộc (2014), Nguyễn Thu Hằng (2022),… Điều này cũng khá phù hợp với thực tế trong thời gian qua, lạm phát chủ yếu tăng do đứt gãy chuỗi cung ứng và khủng hoảng nguồn cung năng lượng. Cụ thể, kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu, khi đại dịch Covid-19 bùng phát làm chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, chi phí nguyên liệu đầu vào tăng tạo áp lực làm tăng giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn cung do căng thẳng địa chính trị, sự khan hiếm đã dẫn đến sự gia tăng về giá. Sự leo thang về giá nguyên nhiên liệu đã ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán, chi phí các doanh nghiệp niêm yết tăng, lợi nhuận bị ăn mòn, kết quả kinh doanh kém kéo theo giá cổ phiếu giảm. Vì cổ phiếu các công ty chứng khoán có độ nhạy rất cao với thị trường chung, nên giá cổ phiếu các công ty này cũng không tránh được các diễn biến tiêu cực khi thị trường điều chỉnh.
4.11.2.2. Cung tiền M2
Hệ số α = 3.73008 với mức ý nghĩa thống kê 1% của biến LM2 hàm ý rằng nếu trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá trị logarit của cung tiền M2 tăng 1 đơn vị thì giá cổ phiếu tăng 3.73008 đơn vị. Chung quan điểm, các nghiên cứu của tác giả Eita (2012), tác giả Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015) cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa cung tiền M2 và giá cổ phiếu. Kết quả này ủng hộ giả thuyết nghiên cứu H2 đã được trình bày. Điều này cũng phù hợp với lý thuyết kinh tế, thị trường chứng khoán đặc biệt nhạy cảm với các chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Khi ngân hàng trung ương thắt chặt cung tiền sẽ làm tăng lãi suất, từ đó dòng vốn của nhà đầu tư được dịch chuyển qua kênh tiết kiệm, làm giảm thanh khoản thị trường và giảm giá chứng khoán và ngược lại.
4.11.2.3. Tốc độ tăng trưởng GDP Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Với mức ý nghĩa 1%, hệ số α = -8.796101 của biến GDP có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, kết quả này hàm ý rằng trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu tốc độ tăng trưởng GDP tăng 1 đơn vị thì giá cổ phiếu giảm 8.796101 đơn vị. Điều này đi ngược với giả thuyết nghiên cứu ban đầu và ngược với kết quả của các nghiên cứu đã lược khảo như Olowookere và Fadiran (2016), Eita (2012), Nguyễn Thu Hằng (2022), Phạm Tiến Mạnh (2017), Dương Phan Trà My (2015),…. Kết quả này bác bỏ giả thuyết ban đầu về tốc độ tăng trưởng GDP tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu.
Có một số nguyên nhân giải thích cho mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP và giá cổ phiếu. Đầu tiên, như đã đề cập, biểu đồ 3.3 cho thấy tốc độ phát triển GDP giảm nhanh còn giá cổ phiếu thì tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2019-2021. Đây cũng là thời gian khởi nguồn và lan rộng của đại dịch Covid-19, chính phủ đã hy sinh lợi ích kinh tế để ưu tiên chống dịch và kênh chứng khoán thu hút được các dòng vốn trong bối cảnh các kênh đầu tư khác bị hạn chế bởi chỉ thị giãn cách xã hội. Ở một góc độ khác, giá cổ phiếu các công ty chứng khoán có tương quan chặt với chỉ số VN-Index mà chỉ số VN-Index có thể nhạy cảm với các yếu tố khác mạnh hơn GDP. Trong khi GDP liên tục tăng qua các năm với tốc độ khá ổn định, chỉ số VN-Index lại chưa có một xu hướng rõ ràng khi liên tục biến động (tổng cộng đã có 9 lần chỉ số VN-Index đảo qua mốc 1.200 điểm tính đến tháng 04/2024).
4.11.2.4. Quy mô doanh nghiệp
Theo bảng 4.10, có thể thấy biến SIZE có hệ số α = 0.2377838 với mức ý nghĩa thống kê 1%, hay nói cách khác khi giá trị logarit của quy mô doanh nghiệp tăng 1 đơn vị thì giá cổ phiếu tăng 0.2377838 đơn vị trong điều kiện các nhân tố khác không đổi. Kết quả này ủng hộ giả thuyết ban đầu về sự tác động của quy mô doanh nghiệp đến giá cổ phiếu và tương đồng với bằng chứng thực nghiệm được cung cấp bởi các nghiên cứu của Uddin và các tác giả (2013), nghiên cứu của Olowookere và Fadiran (2016), nghiên cứu của Dương Phan Trà My (2015), nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020), ….
Trong thực tế, trên TTCKVN các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính, năng lực cạnh tranh lớn và có uy tín cao trên thị trường có thể dễ dàng huy động được lượng vốn lớn từ nhà đầu tư với giá cổ phiếu cao. Quy mô doanh nghiệp càng lớn càng cho các nhà đầu tư cái nhìn khả quan hơn vào tương lai phát triển của doanh nghiệp, đồng thời cho họ cảm giác đồng vốn đầu tư an toàn hơn. Một số ví dụ điển hình như cổ phiếu SSI của CTCP Chứng khoán SSI, VND của CTCP Chứng khoán VNDIRECT, HCM của CTCP Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, …trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn đều có diễn biến giá cổ phiếu tích cực trước ngày giao dịch không hưởng quyền. Ngoài ra, khi doanh nghiệp quy mô lớn có nhu cầu sử dụng vốn vay, họ sẽ nhận được nhiều ưu ái về lãi suất từ các nhà băng hơn các doanh nghiệp nhỏ, từ đó tiết kiệm được chi phí lãi vay, tăng lợi nhuận. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
4.11.2.5. Thu nhập trên mỗi cổ phần EPS
Kết quả từ bảng 4.10 cho thấy EPS tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu nhưng tương đối yếu, với hệ số α = 0.0000778 có ý nghĩa ở mức 1%. Điều này thể hiện trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi nếu EPS tăng 1 đơn vị thì giá cổ phiếu tăng 0.0000778 đơn vị và ngược lại. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hussein A. Hassan Al – Tamimi (2007), của Uddin và các cộng sự (2013), của Afolabi Emmanuel Olowookere và Taiwo Phebe Fadiran (2016), của Edet và các tác giả (2023), của Utami và Darmawan (2019), của Phạm Tiến Mạnh (2017), của Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020), của Tạ Thị Hồng Lê (2017),… Mặc dù có ý nghĩa thống kê nhưng ảnh hưởng của EPS lên giá cổ phiếu là tương đối yếu hàm ý rằng chỉ số EPS có ảnh hưởng nhưng không đáng kể đến quyết định mua bán của các nhà đầu tư. Thực tế các nhà đầu tư tại Việt Nam thường quan tâm đến tốc độ tăng giảm lợi nhuận trước hoặc sau thuế so với cùng kỳ hơn là chỉ số EPS. Vì các nhà đầu tư thường có xu hướng ra quyết định dựa trên các thông tin tích cực hoặc tiêu cực trong ngắn hạn, hơn là dựa trên góc nhìn bao quát về quá trình phát triển của doanh nghiệp. Minh chứng là thị trường cũng thường trở nên sôi động và nhộn nhịp hơn trong các “mùa báo cáo tài chính”, thời điểm các thông tin về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được công bố liên tục.
4.11.2.6. Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu P/E
Một điều bất ngờ là kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ giữa biến chỉ số P/E và giá cổ phiếu không có ý nghĩa thống kê, hay nói cách khác chỉ số P/E không có tác động đến giá cổ phiếu. Do vậy có thể bác bỏ giả thuyết ban đầu về tác động của tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu đến giá cổ phiếu. Kết quả này cũng khác với các bằng chứng thực nghiệm của các tác giả như: Uddin và các cộng sự (2013), Phạm Tiến Mạnh (2017), Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020), Tạ Thị Hồng Lê (2017).
Việc biến PE không có ý nghĩa thống kê thể hiện góc nhìn trung lập của nhà đầu tư với chỉ số P/E. Nghĩa là chỉ số P/E không ảnh hưởng đến quyết định mua bán của các nhà đầu tư. Như đã đề cập ở phần cơ sở lý thuyết trong một số trường hợp, P/E có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư vào sự tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp. Chỉ số P/E ở mức cao cũng không hẳn là “đắt” mà còn có hàm ý rằng cổ phiếu có tiềm năng tốt, nhà đầu tư kỳ vọng cho việc tăng trưởng thu nhập của cổ phiếu trong tương lai từ đó mức cầu cổ phiếu tăng, tác động giá cổ phiếu tăng. Ngược lại, P/E ở mức thấp, nhà đầu tư không kỳ vọng nhiều vào cổ phiếu đó. Có thể là ngành không hấp dẫn, triển vọng tăng trưởng không tích cực dẫn đến giá cổ phiếu sẽ giảm. Vì vậy, P/E thấp hay cao hơn trung bình ngành chỉ là điều kiện cần khi nhà đầu tư đánh giá cổ phiếu nhưng chưa phải là điều kiện đủ.
Ngoài chỉ số P/E, nhà đầu tư còn phải phân tích nhiều yếu tố nền tảng kinh doanh để có thể đánh giá đó là doanh nghiệp thực sự tốt hay không. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
4.11.2.7. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
Tương tự như biến PE, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài FR có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu nhưng không có ý nghĩa thống kê. Có thể nói tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Giả thuyết H8 về tác động của tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đến giá cổ phiếu bị bác bỏ. Kết quả này cũng khác với các nghiên cứu đã lược khảo ở chương 2 như: nghiên cứu của Bashir Ahmad Joo và Zahoor Ahmad Mir (2014); nghiên cứu của Dr. Syed Tabassum Sultana và Prof. S Pardhasaradhi (2012); nghiên cứu của Tạ Thị Hồng Lê (2017).
Có một số nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không có tác động đến giá cổ phiếu. Đầu tiên cổ phiếu của các công ty chứng khoán chưa thực sự hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, tính đến ngày 31/12/2022 chỉ có 13 trên tổng số 35 công ty chứng khoán niêm yết (tương đương 37,14%) có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 5% (mức tỷ lệ sở hữu để trở thành cổ đông lớn), con số này khá khiêm tốn khi so với ngành ngân hàng là 18/27 (tỷ lệ 66.67%) ngân hàng thương mại niêm yết có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 5%. Bên cạnh đó, chỉ một số công ty chứng khoán có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao như SSI, BSI, PHS,… mà số room chứng khoán là có giới hạn, khi nhà đầu tư nước ngoài mua hết, họ sẽ không được mua thêm. Việc cạn room nước ngoài làm giảm tính thanh khoản của cổ phiếu. Khi cổ phiếu đã hết room, biến động giá sẽ không bị ảnh hưởng bởi giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, bởi chỉ còn nhà đầu tư trong nước được phép giao dịch.
4.11.2.8. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Căn cứ vào hệ số tương quan tại bảng 4.2 và kết quả hồi quy theo cách tiếp cận FEM và REM tại bảng 4.3 tác giả đã loại biến ROE khỏi mô hình do có biểu hiện của đa cộng tuyến. Hệ số β = 0.7603022 của biến này không có ý nghĩa thống kê, hàm ý rằng ROE không tác động đến giá cổ phiếu. Mặc dù có nhiều bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu của Iqbal và các tác giả (2014), của Olowookere và Fadiran (2016) chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và giá cổ phiếu là cùng chiều. Mặt khác nghiên cứu của Tạ Thị Hồng Lê (2017) lại có cùng quan điểm với kết quả của đề tài, chỉ ra rằng ROE không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Để lý giải điều này tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017) đã lập luận rằng ROE, tức là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác. Dù tổng lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, nhưng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính mới là tiêu chí được nhiều nhà đầu tư cũng như chính doanh nghiệp quan tâm nhất. Sự phát triển bền vững và ổn định của doanh nghiệp thường được đo lường thông qua lợi nhuận hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Trong bối cảnh các công ty chứng khoán niêm yết trên TTCKVN có những đặc điểm phát triển rất không đồng đều, bên cạnh những công ty chứng khoán thực sự tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi như CTCP Chứng khoán SSI, CTCP Chứng khoán VNDIRECT, CTCP Chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh,… thì nhiều công ty vẫn còn khá lệ thuộc vào các khoản lợi nhuận đột biến, lợi nhuận chưa thực hiện do đánh giá lại tài sản, lợi nhuận khác chẳng hạn như CTCP Chứng khoán VIX, CTCP Chứng khoán Tiên Phong, CTCP Chứng khoán Phố Wall…. Điều này làm giảm giá trị thực của công ty trên thị trường và khiến cổ phiếu các công ty này kém hấp dẫn hơn. Nói cách khác, sự tồn tại đồng thời của các công ty chứng khoán có tổng lợi nhuận chủ yếu đến từ hoạt động kinh doanh chính và một bộ phận không nhỏ các công ty chứng khoán có tổng lợi nhuận chủ yếu từ các khoản lợi nhuận đột biến, lợi nhuận chưa thực hiện do đánh giá lại tài sản, lợi nhuận khác khiến chỉ tiêu ROE không có ý nghĩa trong mô hình hồi quy. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Từ những dữ liệu thu thập của 33 công ty chứng khoán đang niêm yết trên TTCKVN giai đoạn 2013-2022 và dữ liệu vĩ mô giai đoạn 2013-2022 với tổng số 272 đơn vị quan sát, tác giả đã tiến hành hồi quy theo phương pháp các ảnh hưởng cố định (FEM) và các ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM). Bằng kiểm định Hausman, mô hình FEM được xác định là phù hợp hơn. Sau đó, bằng cách thực hiện các kiểm định và sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng động GMM, các khuyết tật của mô hình FEM đã được khắc phục. Kết quả hồi quy chính thức của nghiên cứu là mô hình hồi quy dữ liệu bảng động GMM. Từ kết quả của mô hình hồi quy, tác giả đã phân tích mức độ của từng biến nghiên cứu tác động đến giá cổ phiếu (SP).
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN
5.1 Kết luận
Trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm từ trong và ngoài nước, đặt vào điều kiện và bối cảnh của TTCKVN, bài nghiên cứu đã lựa chọn ra 8 yếu tố để thiết lập mô hình nghiên cứu, trong đó có 4 yếu tố nội sinh và 4 yếu tố ngoại sinh của doanh nghiệp. Với dữ liệu thu thập từ 33 công ty chứng khoán đang niêm yết và các dữ liệu vĩ mô trong giai đoạn 2013-2022 với tổng số 272 đơn vị quan sát, thực hiện hồi quy bằng các phương pháp FEM, REM và GMM cùng với việc thực hiện một số kiểm định quan trọng cuối cùng thu được kết quả hồi quy chính thức theo phương pháp GMM.
Kết quả phân tích hồi quy cuối cùng cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán là: Chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền M2, tốc độ tăng trưởng GDP, quy mô doanh nghiệp và thu nhập trên mỗi cổ phần. Trong đó, yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến giá cổ phiếu là chỉ số giá tiêu dùng – CPI và yếu tố có ảnh hưởng yếu nhất là thu nhập trên mỗi cổ phần – EPS. Các yếu tố có mối tương quan thuận với giá cổ phiếu là: Cung tiền M2 – LM2, quy mô doang nghiệp – SIZE và thu nhập trên mỗi cổ phần – EPS. Các yếu tố có mối tương quan nghịch với giá cổ phiếu là: Chỉ số giá tiêu dùng – CPI và tốc độ tăng trưởng GDP – GDP. Kết quả hồi quy ủng hộ hầu hết các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra, tuy nhiên riêng giả thuyết về sự tác động cùng chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP và giá cổ phiếu là bị bác bỏ. Ngoài ra, tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu – PE và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài – FR là hai yếu tố không có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Yếu tố còn lại là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu – ROE bị loại khỏi mô hình do có dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến.
- Một số điểm mới của đề tài so với các nghiên cứu trước đây là:
So với việc sử dụng chỉ số FDI hay FII để đo lường tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài, tác giả sử dụng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài trong cơ cấu vốn của từng công ty chứng khoán, qua đó có thể cho thấy thực trạng sỡ hữu và mức độ quan tâm của dòng vốn ngoại với các công ty chứng khoán Việt Nam.
Việc sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng động GMM để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu trong một nhóm ngành trong dài hạn (10 năm) cũng là một điểm mới. Bằng mô hình GMM tác giả đã khắc phục một số khuyết tật của mô hình FEM như hiện tượng tự tương quan, hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng nội sinh.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tác động của các yếu tố đến giá cổ phiếu nhóm ngành chứng khoán nên có thể trình bày sự khác biệt và đặc thù riêng của ngành này. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường chung cũng ảnh hưởng sâu sắc đến cổ phiếu nhóm ngành chứng khoán, một nhóm ngành có độ nhạy với thị trường chung rất cao.
5.2 Hàm ý chính sách Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Tính tới thời điểm thực hiện đề tài, TTCKVN được FTSE Russell xếp vào nhóm thị trường cận biên đang chờ nâng hạng, vì vậy dư địa tăng trưởng cho thị trường Việt Nam là còn rất lớn. Cổ phiếu, một loại hàng hóa điển hình của TTCKVN sẽ trở thành mặt hàng được săn đón bởi nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức đầu tư. Từ những lý do trên tác giả đề xuất một số kiến nghị giúp nhà đầu tư hạn chế rủi ro khi đầu tư cổ phiếu nhóm ngành chứng khoán.
Thứ nhất, do đặc thù của TTCKVN, nơi nhóm ngành chứng khoán là một trong những lĩnh vực có vốn hóa lớn so tổng vốn hóa toàn thị trường. Có thể nói đây là ngành có độ nhạy với thị trường chung rất cao, do đó tính đầu cơ đối với nhóm này cũng rất lớn. Nhà đầu tư cần thường xuyên quan sát diễn biến của các yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Như đã trình bày ở chương 4, các yếu tố vĩ mô tác động đến giá cổ phiếu là chỉ số giá tiêu dùng (đại diện cho lạm phát), cung tiền M2 (đại diện cho cung tiền) và tốc độ tăng trưởng GDP (đại diện cho tăng trưởng kinh tế). Đây cũng là các yếu tố có phạm vi ảnh hưởng lên toàn thị trường cổ phiếu chứ không giớn hạn trong một nhóm ngành. Khi các yếu tố này ở mức tốt ủng hộ cho xu hướng thị trường, nhà đầu tư có thể cân nhắc sử dụng thêm đòn bẩy để gia tăng lợi nhuận. Ngược lại, khi các yếu tố vĩ mô diễn biến xấu, nhà đầu tư nên cân nhắc hạ tỷ trọng cổ phiếu về mức an toàn nâng tỷ trọng tiền mặt, hạn chế sử dụng đòn bẩy. Tóm lại, để đảm bảo an toàn nguồn vốn, các quyết định đầu tư vào cổ phiếu cần cân nhắc trong tình hình kinh tế vĩ mô thích hợp, không có những biến động bất thường.
Thứ hai, cần lựa chọn cổ phiếu dựa trên các yếu tố cơ bản của doanh nghiệp. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố nội sinh của doanh nghiệp là thu nhập trên mỗi cổ phần và quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu dù không nhiều. Giá cổ phiếu của các doanh nghiệp có nền tảng vững chắc và tình hình tài chính ổn định có thể bị ảnh hưởng tiêu cực trong ngắn hạn bởi thị trường chung, nhưng xu hướng tích cực trong dài hạn vẫn được duy trì. Một số ví dụ điển hình trên TTCKVN là cổ phiếu REE, FPT, NLG, HPG… Tuy nhiên, khi xem xét đến các chỉ số hoạt động, cần tìm hiểu những số liệu đó có đến từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp hay không. Đồng thời các nhà đầu tư cũng nên cân nhắc lựa chọn các doanh nghiệp có quy mô lớn khi đầu tư để đảm bảo sự minh bạch trong công bố thông tin và tính thanh khoản khi giao dịch.
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai
5.3.1. Hạn chế của đề tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
Dù thu được một số kết quả nhất định nhưng vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau:
Khi lựa chọn các yếu tố thiết lập mô hình nghiên cứu, tác giả chỉ chọn các yếu tố cũ dựa trên các nghiên cứu đã được lược khảo nên chưa có các yếu tố mới mang tính cập nhật như Covid-19, chỉ số Dow Jones,…
Việc thu thập dữ liệu cho tất cả các công ty chứng khoán niêm yết gặp khó khăn do sự gián đoạn thông tin từ các doanh nghiệp khi chuyển đổi sàn, khác biệt về thời điểm niêm yết hoặc các doanh nghiệp bị đình chỉ giao dịch.
Các yếu tố trong mô hình chỉ giải thích được một phần tác động đến giá cổ phiếu, tức vẫn còn một số yếu tố khác mà trong giới hạn của đề tài không thể quan sát và đo lường được do một số hạn chế như khả năng thu thập và xử lý dữ liệu, hay sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố có thể gây ra hiện tượng đa cộng tuyến,….
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn trong các công ty chứng khoán niêm yết trên TTCKVN nên số lượng mẫu quan sát chưa lớn, không thể đại diện cho toàn bộ thị trường cổ phiếu của Việt Nam. Do đó tính ứng dụng thực tiễn đối với toàn thị trường cổ phiếu Việt Nam sẽ có những hạn chế nhất định về sự phù hợp của mô hình.
5.3.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai
Từ những hạn chế đã nêu, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu cho các nghiên cứu trong tương lai như sau: Sử dụng các yếu tố mới mang tính cập nhật như Covid19, chỉ số Dow Jones,…; Định hướng phạm vi và mở rộng quy mô nghiên cứu, có thể chọn nghiên cứu các nhóm ngành khác hoặc toàn thị trường để tăng tính bao quát và ứng dụng thực tiễn; Đa dạng nguồn thu thập dữ liệu; Sử dụng thêm nhiều phương pháp hồi quy khác để tăng tính đa dạng, phù hợp và hiệu quả. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán […]