Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Căn cứ trên các cơ sở lý thuyết được trình bày ở Chương 2, tác giả sẽ tiếp tục thực hiện xây dựng mô hình, xử lý dữ liệu, trình bày về phương pháp hồi quy phù hợp và xác lập các giả thuyết nghiên cứu cho các biến đã chọn.

3.1 Mô hình nghiên cứu:

3.1.1. Lựa chọn các yếu tố đưa vào mô hình

Dựa trên cở sở lý thuyết và tổng hợp các nghiên cứu trước, có thể thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, gồm yếu tố nội sinh và ngoại sinh, mang tính định lượng hay định tính, do giới hạn về khả năng thu thập dữ liệu và thời gian thực hiện nghiên cứu nên không thể đưa tất cả vào mô hình. Do đó, tác giả sẽ lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các công ty chứng khoán niêm yết để đưa vào mô hình dựa trên các tiêu chí sau:

Thứ nhất, các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong dài hạn và liên tục. Phạm vi nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu của luận văn được thu thập trong 10 năm nên chọn các yếu tố có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong dài hạn là phù hợp. Vì vậy các thay đổi trong ngắn hạn của giá cổ phiếu do các sự kiện bất ngờ hay còn gọi là hiện tượng “thiên nga đen” như chính trị, thiên tai, dịch bệnh, … sẽ được bỏ qua.

Thứ hai, các yếu tố được đưa vào mô hình là các yếu tố có thể lượng hóa, gồm cả các yếu tố nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp.

Thứ ba, việc lựa chọn các yếu tố để đưa vào mô hình dựa trên một số nghiên cứu trước, điều kiện thực tế tại Việt Nam và khả năng thu thập dữ liệu. Vì vậy, mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng dựa trên mô hình của tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017), tuy nhiên, để đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp cũng như phù hợp với khả năng thu thập dữ liệu, tác giả sẽ thay thế hoặc thêm vào một số yếu tố ngoại sinh hoặc nội sinh của doanh nghiệp. Cụ thể, tác giả sẽ không sử dụng biến tỷ lệ cổ tức trên mỗi cổ phần trong mô hình. Mà thay vào đó bằng các biến: Cung tiền M2 và chỉ số giá tiêu dùng. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Như vậy các yếu tố được lựa chọn bao gồm:

Biến phụ thuộc: Giá cổ phiếu các công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN, là giá đóng cửa đã điều chỉnh vào ngày giao dịch cuối cùng của năm. Đơn vị tính: Ngàn đồng. Ký hiệu: SP.

Biến độc lập:

  • Chỉ số giá tiêu dùng: Đại diện cho mức độ lạm phát của một quốc gia. Ký hiệu: CPI. Đơn vị tính: %;
  • Cung tiền M2: Đại diện cho lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Ký hiệu: LM2;
  • Tốc độ tăng trưởng GDP: Đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ký hiệu: GDP, đơn vị tính: %;
  • Quy mô doanh nghiệp: Đo lường bằng Tổng tài sản của từng doanh nghiệp. Ký hiệu: SIZE;
  • Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu: Đại diện cho khả năng sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp. Ký hiệu: ROE, đơn vị tính: %;
  • Thu nhập trên mỗi cổ phần: Đại diện cho thu nhập vốn của cổ đông. Ký hiệu: EPS;
  • Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu: Là hệ số P/E. Ký hiệu: PE;

Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài: Đại diện cho lượng vốn đầu tư vào doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài. Ký hiệu: FR, đơn vị tính: %.

3.1.2. Xây dựng mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên đề tài của tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017), tuy nhiên, tác giả sẽ không sử dụng biến tỷ lệ cổ tức trên mỗi cổ phần trong mô hình. Mà thay vào đó bằng các biến: Chỉ số giá tiêu dùng, tỷ giá hối đoái và cung tiền M2. Cụ thể mô hình như sau:

SPit = β0 + β1 * CPIt + β2 * LM2t + β3 * GDPt + β4 * SIZEit + β5 * ROEit + β6 * EPSit + β7 * PEit + β8 * FRit + εit

Trong đó:

  • SPit: Giá cổ phiếu.
  • CPIt: Chỉ số giá tiêu dùng.
  • LM2t: Cung tiền M2.
  • GDPt: Tốc độ tăng trưởng GDP.
  • SIZEit: Quy mô doanh nghiệp.
  • ROEit: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
  • EPSit: Thu nhập trên mỗi cổ phần.
  • PEit: Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu.
  • FRit: Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.

3.2 Mô tả biến và giả thiết nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Để đưa ra giả thuyết cho mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng chỉ số ngành chứng khoán làm đại diện cho giá cổ phiếu của 33 công ty chứng khoán, qua đó sẽ xem xét mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và các yếu tố ảnh hưởng. Đồng thời trình bày phương pháp đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu.

3.2.1. Biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là logarit giá đóng cửa đã được điều chỉnh tại ngày giao dịch cuối cùng của năm dương lịch, tức là logarit giá khớp lệnh sau cùng của năm.

SP = Logarit giá đóng cửa của cổ phiếu vào cuối năm

3.2.2. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên năm. Chỉ số giá tiêu dùng thường được dùng để đo lường mức độ lạm phát của một nền kinh tế. Dữ liệu CPI được thu thập từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Như đã đề cập ở chương 2, khi lạm phát tăng, các nhà điều hành kinh tế sẽ sử dụng lãi suất như một công cụ để kiềm chế lạm phát, khi này tiền không còn “rẻ” nữa và thị trường chứng khoán sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn các kênh khác khiến cầu trên thị trường chứng khoán suy yếu. Bên cạnh đó, lạm phát cũng làm tăng giá nguyên liệu đầu vào, sự gia tăng chi phí sẽ ăn mòn lợi nhuận, kết quả kinh doanh kém sắc góp phần khiến giá cổ phiếu giảm. Phần lớn các nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã chứng minh mối quan hệ giữa CPI và giá cổ phiếu là mối quan hệ ngược chiều (-). Có thể kể đến nghiên cứu của Eita (2012); Bùi Kim Yến và Nguyễn Thái Sơn (2014); Dương Phan Trà My (2015); Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Trương Đông Lộc (2014) và Nguyễn Thu Hằng (2022). Tuy nhiên, chỉ có nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Mạnh (2017) và Nguyễn Thị Phương Dung (2019) cho thấy giữa giá cổ phiếu và chỉ số giá tiêu dùng có mối quan hệ cùng chiều.

Biểu đồ 3.1 Chỉ số giá tiêu dùng và giá cổ phiếu các công ty chứng khoán niêm yết

Quan sát biểu đồ 3.1, có thể thấy rõ sự không đồng nhất trong mối tương quan giữa chỉ số giá tiêu dùng và giá cổ phiếu. Chỉ số giá tiêu dùng và giá cổ phiếu gần như đồng pha trong giai đoạn 2016 – 2019. Tuy nhiên ở 2 giai đoạn 2013-2015 và 2020-2022 chỉ số giá tiêu dùng biến động ngược chiều với lãi suất. Vì tổng thời gian chỉ số giá tiêu dùng biến động ngược chiều dài hơn và phần lớn các bằng chứng thực nghiệm cho rằng mối quan hệ giữa chỉ số giá tiêu dùng và giá cổ phiếu là ngược chiều nên tác giả kỳ vọng biến CPI tác động ngược chiều (-) đến SP.

Giả thuyết H1: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tác động ngược chiều (-) đến giá cổ phiếu (SP)

3.2.3. Cung tiền M2

Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng logarit giá trị cung tiền M2 dại diện cho cung tiền M2 của nền kinh tế. Trong đó, cung tiền M2 bằng M1 cộng với tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng.

LM2 = Logarit cung tiền M2

Hầu hết các Ngân hàng Trung ương trên thế giới đều sử dụng cung tiền như một công cụ để điều tiết hệ thống tài chính với mục tiêu tối thượng là duy trì sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, lượng tiền sẽ được đưa vào trong lưu thông nhiều hơn, làm giảm lãi suất. Lãi suất giảm sẽ kích thích nhu cầu sử dụng vốn để mua các tài sản có suất sinh lời cao trong đó có cổ phiếu. Ngược lại, khi chính sách tiền tệ thắt chặt được áp dụng, lãi suất sẽ cao hơn do lượng tiền trong lưu thông đã giảm xuống. Lãi suất cao làm cho chi phí sử dụng nguồn vốn cao hơn trước, góp phần làm giảm lợi nhuận khi đầu tư cổ phiếu, từ đó làm giảm giá cổ phiếu. Các nghiên cứu của Eita (2012), của Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015), … đã tìm ra sự tác động cùng chiều của cung tiền đến giá cổ phiếu.

Biểu đồ 3.2 Cung tiền M2 và giá cổ phiếu các công ty chứng khoán niêm yết trên

Biểu đồ 3.2 cho thấy sự tương quan giữa cung tiền M2 và giá cổ phiếu không thật sự đồng pha trong một số năm dù cả hai đều có xu hướng tăng lên trong cả giai đoạn. Vì vậy, tác giả vẫn kỳ vọng biến LM2 tác động cùng chiều (+) đến SP.

Giả thuyết H2: Cung tiền M2 (LM2) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP)

3.2.4. Tốc độ tăng trưởng GDP Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là nền kinh tế mới nổi, có tốc độ tăng trưởng nhanh như Việt Nam. Trong mối quan hệ với giá cổ phiếu, khi nền kinh tế phát triển, nguồn lực tài chính tăng, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn so với nhu cầu tích luỹ, thu nhập và đầu tư của người dân cũng tăng theo. Các kênh đầu tư sinh lời sẽ được hưởng lợi, trong đó có thị trường chứng khoán. Với cổ phiếu là hàng hóa chủ yếu trên thị trường, luồng vốn đầu tư sẽ là động lực làm cầu cổ phiếu tăng, do vậy làm tăng giá cổ phiếu. Hàm ý rằng, tăng trưởng kinh tế làm tăng cầu cổ phiếu, từ đó tác động làm giá cổ phiếu có xu hướng tăng lên và ngược lại. Vì vậy, tác giả sẽ sử dụng tốc độ tăng trưởng

GDP đại diện cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng GDP được tính bằng công thức:

GDP = (GDPt – GDPt-1)/ GDPt-1

Trong đó: GDP: Tốc độ tăng trưởng GDP trong năm t; GDPt: Tổng sản phẩm quốc nội năm t; GDPt-1: Tổng sản phẩm quốc nội năm t-1.

Các nghiên cứu thường cho kết quả GDP có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu như nghiên cứu của Eita (2012), Nguyễn Thu Hằng (2022), Phạm Tiến Mạnh (2017), Dương Phan Trà My (2015), …

Biểu đồ 3.3 Tốc độ tăng trưởng GDP và giá cổ phiếu các công ty chứng khoán

Tuy các nghiên cứu lược khảo đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ cùng chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP và giá cổ phiếu nhưng biểu đồ 3.3 lại cho thấy điều ngược lại trong giai đoạn 2019-2022. Cụ thể, tốc độ phát triển

GDP giảm nhanh còn giá cổ phiếu thì tăng trưởng mạnh. Đây cũng là thời gian khởi nguồn và lan rộng của đại dịch Covid-19, chính phủ đã hy sinh lợi ích kinh tế để ưu tiên chống dịch và như đã đề cập ở chương 1 kênh chứng khoán thu hút được các dòng vốn trong bối cảnh các kênh đầu tư khác bị hạn chế bởi chỉ thị giãn cách xã hội.

Dù vậy tốc độ tăng trưởng GDP vẫn tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu trong hầu hết thời gian và sự lệch pha chỉ xảy ra khi xuất hiện hiện tượng kinh tế không thể dự báo như đại dịch Covid-19 nên không có tính chu kỳ. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra giả thuyết tổng sản phẩm quốc nội GDP có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu.

Giả thuyết H3: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP)

3.2.5. Quy mô doanh nghiệp Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Quy mô doanh nghiệp thường được các nhà đầu tư sử dụng như một tiêu chí quan trọng trong quá trình sàng lọc cổ phiếu. Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng logarit giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp để dại diện cho quy mô doanh nghiệp.

  • SIZE = Logarit tổng tài sản

Tổng tài sản của một doanh nghiệp không chỉ thể hiện sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp mà còn cho thấy tiềm lực phát triển của doanh nghiệp đó. Trong cùng một ngành, những doanh nghiệp lâu đời, có quy mô lớn thường được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn hơn vì nhiều ưu điểm như sự chuyên nghiệp, nguồn lực dồi dào, tính minh bạch, … Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế phát triển, các doanh nghiệp lớn sẽ có nhiều cơ hội để tăng trưởng và mở rộng thị phần. Ngược lại khi nền kinh tế gặp khó khăn, những doanh nghiệp này cũng có khả năng chống chịu tốt hơn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Từ những yếu tố trên, các nhà đầu tư sẵn sàng trả mức giá cao cho những công ty có quy mô lớn trên thị trường chứng khoán.

Sự tác động tích cực của quy mô doanh nghiệp đến giá cổ phiếu được kiểm chứng qua kết quả nghiên cứu của Olowookere và Fadiran (2016), của Dương Phan Trà My (2015), của Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020) và của Tạ Thị Hồng Lê (2017). Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Biểu đồ 3.4 Quy mô doanh nghiệp và giá cổ phiếu các công ty chứng khoán niêm

Bên cạnh đó biểu đồ 3.4 cũng cho thấy giá cổ phiếu và quy mô doanh nghiệp có biến động cùng chiều với nhau trong giai đoạn từ 2013-2022. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đã lược khảo, tác giả kỳ vọng biến SIZE tác động cùng chiều (+) đến SP.

Giả thuyết H4: Quy mô doanh nghiệp (SIZE) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP)

3.2.6. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Như đã trình bày ở chương 2, để đo lường khả năng sinh lợi của một doanh nghiệp các tác giả thường sử dụng nhiều chỉ số như tỷ lệ hoàn vốn (ROI), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) hoặc tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Trong phạm vi của đề tài, tác giả nhận thấy sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là thích hợp trong việc đo lường ảnh hưởng của khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đến giá cổ phiếu. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu được tính toán dựa trên công thức:

  • ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân

Khả năng sinh lợi tăng cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả, kết quả kinh doanh tốt sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư, từ đó tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu, giúp giá cổ phiếu tăng trưởng. Mối quan hệ cùng chiều giữa ROE và giá cổ phiếu cũng được củng cố bằng kết quả nghiên cứu của Iqbal  và  các  tác  giả  (2014); Olowookere và Fadiran (2016),….

Thực tế trên TTCKVN, các doanh nghiệp có ROE vượt trội thường chứng kiến giá cổ phiếu diễn biến tích cực như CTCP FPT (FPT), CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG), CTCP Chứng khoán SSI (SSI)… Cụ thể, FPT có ROE năm 2021 là 21,4%, tăng 7% so với năm 2020 và giá cổ phiếu tăng từ 30.140  đồng/cổ phiếu (2020) lên 55.700 đồng/cổ phiếu (2021); chỉ số ROE của HPG năm 2021 đạt 38%, tăng 15,3% so với năm 2020, cùng thời gian, giá cổ phiếu cũng tăng từ 20.970 đồng/cổ phiếu (2020) lên 31.920 đồng/cổ phiếu (2021); SSI với ROE năm 2021 là 22% tăng 9% so với năm 2021, giá cổ phiếu cũng tăng từ 19.340 đồng/cổ phiếu (2020) lên 45.030 đồng/cổ phiếu (2021). Vì vậy, tác giả kỳ vọng tác động của ROE đến SP là tích cực (+).

Giả thuyết H5: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP)

3.2.7. Thu nhập trên mỗi cổ phần Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Tương tự như ROE, chỉ số thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) cũng thể hiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, EPS còn đại diện cho thu nhập vốn của cổ đông, hàm ý rằng với một đồng vốn sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho cổ đông. Chỉ số này được tính toán dựa trên công thức:

EPS = (Lợi nhuận sau thuế – Cổ tức ưu đãi) / Lượng cổ phiếu đang lưu hành trong năm

Thông thường, chỉ số EPS càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn của cổ đông càng hiệu quả, doanh nghiệp sẽ hấp dẫn nhiều nhà đầu tư, giá cổ phiếu sẽ được hưởng lợi. Hay nói cách khác, EPS ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. Điều này đã được chứng minh qua các nghiên cứu của Uddin và các tác giả (2013), của Arslan Iqbal và các tác giả (2015), của Edet và các tác giả (2023), của Utami và Darmawan (2019), của Phạm Tiến Mạnh (2017), của Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020), của Tạ Thị Hồng Lê (2017), …

Biểu đồ 3.5 Thu nhập trên mỗi cổ phần và giá cổ phiếu các công ty chứng khoán

Biểu đồ 3.5 đã củng cố thêm cơ sở lý thuyết ở chương 2 và nhận định của các nghiên cứu trước về mối tương quan giữa EPS và giá cổ phiếu. Hầu hết thời gian trong giai đoạn 2013-2022, EPS và giá cổ phiếu biến động cùng pha với nhau. Trên cơ sở đó, tác giả kỳ vọng EPS tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu.

Giả thuyết H6: Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP)

3.2.8. Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu

Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu (P/E) được tính toán dựa trên công thức sau: P/E = P/EPS

Từ biểu đồ 3.6 có thể thấy chỉ số P/E và giá cổ phiếu có xu hướng đồng pha trong giai đoạn năm 2013 – 2021. Tuy nhiên trong giai đoạn năm 2021 – 2022 mức biến động là không giống nhau, một mặt chỉ số P/E có xu hướng đi ngang và giảm nhẹ trong khi giá cổ phiếu tiếp tục giảm. Dù vậy, thời gian chỉ số P/E có xu hướng cùng chiều với giá cổ phiếu chiếm phần lớn trong khoảng thời gian nghiên cứu, nên khả năng hệ số này có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán là rất cao. Từ lý do trên, tác giả kỳ vọng biến PE có tác động tích cực (+) đến giá cổ phiếu (SP).

Biểu đồ 3.6 Chỉ số P/E và giá cổ phiếu các công ty chứng khoán niêm yết trên

Giả thuyết H7: Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu (PE) tác động cùng chiều  (+) đến giá cổ phiếu (SP)

3.2.9. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Tác giả nhận thấy việc sử dụng chỉ số FDI (hoặc FII) để đo lường tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài như nghiên cứu của Bashir Ahmad Joo và Zahoor Ahmad Mir (2014) và nghiên cứu của Dr. Syed Tabassum Sultana và Prof.  S Pardhasaradhi (2012) là trở nên không sát thực trong trường hợp nghiên cứu nhiều công ty khác nhau, vì có sự khác biệt về tỉ lệ vốn đầu tư nước ngoài giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả sẽ sử dụng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong từng doanh nghiệp để đo lường ảnh hưởng của vốn đầu tư nước ngoài đến giá cổ phiếu tương tự như nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017).

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và giá cổ phiếu các công ty

Biểu đồ 3.7 thể hiện mối tương quan chặt chẽ giữa tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và giá cổ phiếu. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và giá cổ phiếu biến động cùng pha trong hầu hết giai đoạn 10 năm từ 2013 đến 2022. Biểu đồ 3.7 củng cố thêm quan điểm của tác giả Tạ Thị Hồng Lê (2017), giá cổ phiếu của các doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nước ngoài cao như SSI, REE, ACB, … thường có diễn biến tích cực trong dài hạn. Bên cạnh đó, kết quả của các nghiên cứu đã lược khảo ở chương 2 cũng thể hiện vốn đầu tư nước ngoài tác động cùng chiều với giá cổ phiếu.

Do vậy, tác giả kỳ vọng biến FR tác động tích cực (+) đến SP.

Giả thuyết H8: Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (FR) tác động cùng chiều (+) đến giá cổ phiếu (SP)

Bảng  3.1 Tổng hợp mô tả biến độc lập và kỳ vọng dấu

Tên biến Ký hiệu Cách thức đo lường Bằng chứng thực nghiệm Chiều tác động kỳ vọng
Giá cổ phiếu SP Logarit giá đóng cửa của cổ phiếu vào cuối năm
Chỉ số giá tiêu dùng CPI Chỉ số giá tiêu dùng vào cuối năm Eita (2012); Dương Phan Trà My (2015); Trương Đông Lộc (2014); Nguyễn Thu Hằng (2022); Bùi Kim Yến và Nguyễn Thái Sơn (2014) (-)
Cung tiền M2 LM2 Logarit tự nhiên của giá trị cung tiền M2 Eita (2012); Thân Th ị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương (2015); Nguyễn Trà My (2023) (+)
Tốc độ tăng trưởng GDP GDP (GDPt – GDPt-1)/ GDPt-1 Eita (2012); Olowookere và Fadiran (2016); Nguy ễn Thu Hằng (2022); Ph ạm Tiến Mạnh (2017); Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020); Dương Phan Trà My (2015) (+)
Quy mô doanh nghiệp SIZE Logarit tự nhiên của giá trị tổng tài sản Uddin và các tác giả (2013); Olowookere và Fadiran (2016); Dương Phan Trà My (2015); Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020); Tạ Thị Hồng Lê (2017) (+)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE Lợi nhuận sau thuế /Vốn chủ sở hữu bình quân Olowookere và Fadiran (2016); Iqbal và các tác giả (2014) Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán. (+)
Thu nhập trên mỗi cổ phần EPS (Lợi nhuận sau thuế – Cổ tức ưu đãi) / Lượng cổ phiếu đang lưu hành trong năm Uddin và các tác giả (2013); Olowookere và Fadiran (2016); Arslan Iqbal và các tác giả (2015); Edet và các tác giả (2023); Utami và Darmawan (2019); Phạm Tiến Mạnh (2017); Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020); Tạ Thị Hồng Lê (2017) (+)
Tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu PE Giá c ổ phiếu / Thu nhập trên mỗi cổ phần Uddin và các tác gi ả (2013); Phạm Tiến Mạnh (2017); Nguyễn Minh Kiều và Lê Thị Thùy Nhiên (2020); Tạ Thị Hồng Lê (2017) (+)
Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài FR Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài vào cuối năm

Bashir Ahmad Joo và Zahoor Ahmad Mir (2014); Dr. Syed Tabassum Sultana và Prof.  SPardhasaradhi (2012); Tạ Thị Hồng Lê (2017)

(+)

3.3 Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Nghiên cứu thực hiện hồi quy theo cách tiếp cận các ảnh hưởng cố định FEM và các ảnh hưởng ngẫu nhiên REM, dùng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp. Thực hiện một số kiểm định quan trọng đối với mô hình hồi quy được lựa chọn như kiểm định tự tương quan, kiểm định phương sai sai số thay đổi… sau đó tiếp tục sử dụng phương pháp hồi quy ước lượng dữ liệu bảng động GMM nhằm khắc phục một số khuyết tật của mô hình và hiện tượng nội sinh.

3.3.1. Qui trình nghiên cứu

Biểu đồ 3.8 Qui trình nghiên cứu
Biểu đồ 3.8 Qui trình nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Bước 1: Thống kê mô tả dữ liệu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Thống kê mô tả được được sử dụng để mô tả các đặc điểm của dữ liệu thông qua các tiêu chí cơ bản như giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất và độ lệch chuẩn. Từ đó, xem xét dữ liệu bình thường hay có bị khuyết tật gì hay không, qua đó, tăng độ tin cậy của dữ liệu.

Bước 2: Lựa chọn các mô hình hồi quy để ước lượng tham số của mô hình

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng để tiến hành ước lượng hồi quy theo cách tiếp cận các ảnh hưởng cố định FEM và cách tiếp cận các ảnh hưởng ngẫu nhiên REM, dùng  kiểm  định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp hơn giữa hai mô hình.

Bước 3: Kiểm định khuyết tật của mô hình hồi quy được lựa chọn

Sau khi đã lựa chọn được một trong hai mô hình FEM hoăc REM, để đảm bảo kết quả ước lượng của các mô hình này đáng tin cậy, cần phải thực hiện kiểm định các khuyết tật của mô hình. Nếu xảy ra một hoặc các khuyết tật sau: phương sai sai số thay đổi, tự tương quan hoặc nội sinh, thì sẽ sử dụng mô hình GMM thay thế các mô hình trên để ước lượng tham số.

3.3.2. Các kiểm định được thực hiện

3.3.2.1.  Kiểm định Hausman

Để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp hơn giữa mô hình FEM và mô hình REM, tác giả sẽ sử dụng kiểm định Hausman với giả thuyết như sau:

H0: Có sự thay đổi của hệ số tác động.

Điều kiện bác bỏ H0: Với mức ý nghĩa 5%, giá trị P-value của thống kê Chi bình phương (ꭓ2) < 0.05.

3.3.2.2. Kiểm định đa cộng tuyến Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Đa cộng tuyến xảy ra khi các biến độc lập trong mô hình có tồn tại mối quan hệ tuyến tính. Một số nguyên nhân phổ biến dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến: lựa chọn các biến độc lập có quan hệ nhân quả hoặc có tương quan cao vì cùng phụ thuộc vào một điều kiện cụ thể; mẫu nghiên cứu được chọn không đại diện cho tổng thể; độ biến thiên của biến độc lập nhỏ…

Khi xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, các biến độc lập trong mô hình có thể có sự tương quan lẫn nhau, các biến này có xu hướng thay đổi đồng nhất, hay nói cách khác khi một biến thay đổi cũng sẽ làm thay đổi một biến khác. Đặc biệt, khi sự tương quan càng mạnh thì càng khó thay đổi một biến mà không làm một biến khác thay đổi. Mô hình trở nên khó khăn trong việc ước tính mối quan hệ giữa từng biến độc lập và biến phụ thuộc một cách độc lập, dẫn đến gia tăng sai số chuẩn của các hệ số, khoảng tin cậy lớn và kiểm định t ít ý nghĩa. Các ước lượng trong phân tích hồi quy không thật chính xác, có khả năng mô hình hồi quy không thể hiện đúng bản chất của các mối quan hệ cần xem xét.

Trong quá trình nghiên cứu, để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến, đa phần các tác giả sẽ sử dụng hai phương pháp sau: Hệ số phóng đại phương sai (VIF) và ma trận hệ số tương quan.

3.3.2.3. Kiểm định phương sai sai số thay đổi

Phương sai sai số là một đại lượng đo lường mức độ phân tán của các số hạng sai số xung quanh giá trị trung bình. Phương sai không đổi có nghĩa là mức độ phân tán là như nhau cho tất cả các quan sát. Ngược lại, khi phương sai của các sai số ước lượng không bằng nhau sẽ dẫn đến hiện tượng phương sai thay đổi.  Hiện tượng này xảy ra khi phương sai của sai số không phải là hằng số, mà tăng hoặc giảm khi biến độc lập tăng.

Theo tác giả Nguyễn Hồng Nhung (2023), nguyên nhân chính của hiện tượng phương sai thay đổi là do một hoặc một số biến có các quan sát có giá trị quá khác biệt so với các quan sát còn lại. Hoặc cũng có thể do việc sử dụng các thước đo khác nhau để đo lường các quan sát của cùng một biến. Không những vậy, khi phát sinh sai sót trong quá trình xử lý dữ liệu hoặc sử dụng sai dạng hàm cũng có thể khiến hiện tượng này xảy ra.

Có nhiều phương pháp để phát hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi như: kiểm định White, kiểm định Breusch và Pagan Lagrangian, kiểm định Wald…. Trong phạm vi của bài nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng kiểm định Wald (trong trường hợp mô hình FEM được chọn) hoặc kiểm định Breusch và Pagan Lagrangian (nếu mô hình REM được chọn) để kiểm tra xem giả thiết hồi quy về phương sai không đổi trong mô hình hồi quy có bị vi phạm hay không. Giả thuyết của kiểm định phương sai sai số thay đổi:

  • H0: Phương sai các sai số không đổi.
  • H1: Phương sai các sai số thay đổi.
  • Điều kiện bác bỏ H0: Với mức ý nghĩa 5%, giá trị P-value < 0.05.

3.3.2.4. Kiểm định tự tương quan  Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Tự tương quan là hiện tượng xảy ra khi các thành phần của dãy quan sát được sắp xếp theo thứ tự không gian hoặc thời gian tồn tại sự tương quan, cụ thể, đây là hiện tượng mà sai số tại các thời điểm hoặc không gian khác nhau lại có mối quan hệ với nhau.

Cũng theo Nguyễn Hồng Nhung (2023), hiện tượng tự tương quan xảy ra chủ yếu do hai nhóm nguyên nhân: nguyên nhân khách quan (chuỗi dữ liệu có tính chất quán tính theo chu kỳ, hiện tượng mạng nhện, chuỗi dữ liệu có độ trễ, ví dụ lợi nhuận ở thời kỳ này phụ thuộc vào cả doanh thu kỳ này và chi phí của kỳ trước); nguyên nhân chủ quan (chọn dạng mô hình sai, sai sót khi xử lý số liệu, sai sót trong lập mô hình do bỏ sót biến quan trọng hoặc dạng hàm sai).

Việc mô hình xuất hiện hiện tượng tự tương quan sẽ làm cho các ước lượng về phương sai, kiểm định t, F không còn chính xác. Để kiểm tra xem mô hình hồi quy đang sử dụng hay không, tác giả sẽ sử dụng kiểm định Wooldridge. Giả thuyết của kiểm định Wooldridge như sau:

  • H0: Không có tự tương quan bậc nhất.
  • H1: Có tự tương quan bậc nhất.
  • Điều kiện bác bỏ H0: Với mức ý nghĩa 5%, giá trị thống kê F có P value < 0.05.

3.3.2.5. Kiểm định nội sinh

Lý thuyết hiện tượng nội sinh giả định rằng có một hoặc nhiều biến không quan sát được (nội sinh) ẩn sau dữ liệu quan sát được, và những biến này có thể gây ra mối quan hệ tương quan giữa các biến quan sát được.

Nội sinh là hiện tượng biến giải thích không hoàn toàn độc lập với biến được giải thích, phát sinh mối quan hệ hai chiều giữa biến giải thích và biến được giải thích, hoặc biến giải thích có tương quan với sai số ngẫu nhiên của mô hình. Nội sinh xảy ra dẫn đến các ước lượng bằng phương pháp FEM hay REM không hiệu quả. Nguyên tắc cơ bản để giải quyết hiện tượng nội sinh là tìm biến công cụ để đại diện cho biến nội sinh trong mô hình. Biến công cụ là biến thỏa mãn 2 điều kiện: có tương quan với biến nội sinh và không tương quan với phần dư. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Để kiểm tra mô hình có chứa biến nội sinh hay không, đề tài sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn (2SLS) để có ước lượng chính xác hơn. Sau đó sử dụng kiểm định Durbin Wu Hausam, với từng phép thử cho các biến độc lập trong mô hình, biến công cụ là sai phân của các biến độc lập cho ra kết quả Pvalue để xem xét các giả thuyết như sau:

  • H0: Biến độc lập không phải là biến nội sinh.
  • H1: Biến độc lập là biến nội sinh.
  • Điều kiện bác bỏ H0: Nếu P-value < 0.05, xác nhận biến bị nội sinh.

3.3.2.6. Kiểm định Sargan

Nhằm kiểm tra tính phù hợp của các biến công cụ trong mô hình GMM tác giả sẽ sử dụng kiểm định Sargan (hay còn biết đến là kiểm định Hansen hoặc kiểm định J). Đây là kiểm định về giới hạn xác định quá cao (overidentifying restrictions) của mô hình. Kiểm định Sargan được thực hiện với giả thuyết:

  • H0: Biến công cụ là ngoại sinh.
  • H1: Biến công cụ là nội sinh.
  • Điều kiện để bác bỏ H0: Với mức ý nghĩa 5%, giá trị P-value của thống kê Chi bình phương (ꭓ2) < 0.05.

3.3.2.7. Kiểm định Arellano-Bond

Kiểm định Arellano-Bond được đề xuất bởi Arellano – Bond (1991) để kiểm tra tính chất tự tương quan của phương sai sai số mô hình GMM ở dạng sai phân bậc 1. Khi sử dụng mô hình GMM, kiểm định AR (1) có thể bỏ qua do mô hình sử dụng sai phân bậc 1 của dữ liệu để hồi quy. Kiểm định AR (2) kiểm tra tự tương quan sai phân bậc 2 của mô hình có ý nghĩa hơn cả. Giả thuyết của kiểm định AR (2):

  • H0: Mô hình không có tự tương quan sai phân bậc 2.
  • H1: Mô hình có tự tương quan sai phân bậc 2.
  • Điều kiện bác bỏ H0: Với mức ý nghĩa 5%, giá trị P value < 0.05.  

3.4 Mẫu nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Thời gian nghiên cứu của đề tài là giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2022. Mẫu quan sát gồm 33 công ty chứng khoán được niêm yết trên TTCKVN. Thời gian niêm yết của các công ty phải ít nhất là hai năm tính đến ngày 31/12/2022.

Tổng kích thước mẫu là 272 đơn vị quan sát. Dữ liệu mẫu là dữ liệu bảng không cân bằng do trong thời gian nghiên cứu có một số doanh nghiệp không thu thập được đủ số liệu vì một số lý do sau: thời gian nghiên cứu không trùng thời gian doanh nghiệp bắt đầu niêm yết, doanh nghiệp bị đình chỉ giao dịch hoặc hủy niêm yết, …

Dữ liệu nghiên cứu

Các dữ liệu về giá cổ phiếu và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài được lấy từ trang web www.cafef. Các chỉ số tài chính khác của các doanh nghiệp được thu thập thông qua kết xuất từ cơ sở dữ liệu FiinPro-X là: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu (P/E), tổng tài sản (quy mô doanh nghiệp).

Còn các dữ liệu vĩ mô như: Tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được lấy từ trang web www.imf. của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Riêng dữ liệu lượng cung tiền M2 được thu thập từ trang web www.finance.vietstock.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Ở chương 3, để thiết lập mô hình nghiên cứu, đầu tiên tác giả lựa chọn các yếu tố và các tham số đại diện cho các yếu tố được đưa vào mô hình, đặt ra các giả thuyết về chiều hướng tác động của các yếu tố đến giá cổ phiếu, lựa chọn phương pháp hồi quy, thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu. Các giả thuyết về dấu của mô hình được hình thành dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả từ các nghiên cứu đã lược khảo. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty chứng khoán.

Các biến được lựa chọn để đưa vào mô hình bao gồm: Chỉ số giá tiêu dùng – CPI, cung tiền M2 – LM2, tổng sản phẩm quốc nội – GDP, quy mô doanh nghiệp – SIZE, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu – ROE, thu nhập trên mỗi cổ phần – EPS, tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu – P/E và Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài – FR. Ngoài ra để đảm bảo sự phù hợp và tin cậy của mô hình nghiên cứu, nghiên cứu sẽ sử dụng một số kiểm định như kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm định tự tương quan, kiểm định nội sinh, kiểm định Sargan và kiểm định Arellano-Bond.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu Cty chứng khoán

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993