Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số biện pháp phát triển BHYT toàn dân tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
BHYT là một trong hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinh tế – xã hội. Chính sách BHYT có vai trò như một mạng lưới bảo vệ sức khỏe của nhân dân trên toàn quốc.
Ở nước ta, chính sách BHYT luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, luôn xác định có tầm ảnh hưởng rất lớn đến an sinh xã hội và đối với cuộc sống của nhân dân; chính sách BHYT luôn được chỉnh sửa, bổ sung cho theo kịp sự phát triển của kinh tế – xã hội, “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững.”[1] đã được thể hiện rất rõ trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng các nhiệm kỳ, nhất là Đại hội Đảng XII vừa qua đã nêu rất rõ
Chính sách BHYT đã trải qua nhiều thời kỳ theo lịch sử của đất nước, tuy có nhiều nét thay đổi về cơ chế vận hành, về phương pháp thực hiện nhưng tất cả đều hướng tới mục tiêu cao cả là phục vụ dân tộc, giai cấp, tạo điều kiện để nhân dân, người lao động có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Từ năm 1998 đến nay Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung chính sách BHYT đặc biệt là tại Luật BHYT được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2017, có hiệu lực từ ngày 01/7/2018; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2023, có hiệu lực từ ngày 01/01/2024 là một sự kiện vô cùng quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống Pháp luật về BHYT ở nước ta.
Tại Việt Nam cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống nhân dân đã cải thiện không ngừng, đại đa số người dân rất quan tâm đến vấn đề về sức khỏe. Tuy nhiên, nước ta cũng còn hạn chế về mức độ phân hóa các vùng, miền, vẫn còn bộ phận không nhỏ người dân có thu nhập rất thấp do vậy khi bản thân có vấn đề về sức khỏe thì việc trang trải chi phí khám chữa bệnh trở lên rất khó khăn. Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
“Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những loại hình bảo hiểm xã hội mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.”[2] Hơn nữa, đối với người lao động trực tiếp còn liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi không may phải điều trị tại bệnh viện. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận lao động nhận thức chưa đầy đủ về chính sách BHXH, đồng thời do nguồn thu nhập thấp nên chưa thể tham gia BHXH, BHTN, BHYT. Việc cung cấp dịch vụ y tế của cơ sở KCB về cơ bản chưa đồng đều vẫn nặng nề về hình thức đối với các cơ sở KCB công lập dẫn đến việc tiếp cận của người dân về chăm sóc sức khỏe còn khó khăn. Việc quản lý quỹ BHYT còn thiếu kiểm soát một số mặt, trách nhiệm các đơn vị quản lý nhà nước, đơn vị thực hiện còn chưa rõ ràng do vậy quyền lợi của người có thẻ BHYT bị ảnh hưởng.
Chính vì vậy, ngày 22/11/2021, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2021 – 2029; ngày 29/03/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 538/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2021 – 2025 và 2029; Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định đến năm 2029, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt trên 80%. Sau 5 năm thực hiện phạm vi bao phủ BHYT đã đạt trên 79% tuy nhiên vẫn còn trên 20 triệu người chưa được tham gia BHYT. Tại quận Kiến An số người tham gia BHYT mới đạt 73%. Trong khi, BHYT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống dân sinh. Vậy làm thế nào để phát triển được BHYT toàn dân tại địa bàn quận thời gian tới? Đâu là những thuận lợi, khó khăn và thách thức? Đâu là giải pháp? Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn “Một số biện pháp phát triển BHYT toàn dân tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh.
2. Lược sử nghiên cứu
Phát triển BHYT toàn dân là một đề tài không mới, nó đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Chẳng hạn trong nghiên cứu của mình tác giả Đặng Trần Anh Minh (2018) đã nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển BHYT toàn dân tại Tỉnh Thanh Hóa.[3] Trong đó tác giả đi sâu vào công tác tăng cường tuyên truyền giáo dục, vận động bằng nhiều hình thức, quản lý chặt chẽ các đối tượng tham gia BHYT, tích cực cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ và kiện toàn tổ chức bộ máy đồng thời tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh và BHXH Việt Nam hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý để phát triển BHYT. Cũng về đề tài này, Đặng Thị Kim Loan (2018) Tỉnh Khánh Hòa tập trung nghiên cứu về cải tiến phương thức và tư duy quản lý điều hành của cơ quan BHXH, đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ thông tin, tăng cường nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh BHYT, tập trung công tác tuyên truyền vận động tham gia BHYT và công tác kiểm tra.[4] Tác giả Vũ Thị Nhâm (2018) nghiên cứu nhóm đối tượng tham gia BHYT tự nguyện, xác định đối tượng này tham gia BHYT tỷ lệ còn thấp, tác giả tập trung đề xuất đa dạng hóa các loại hình BHYT tự nguyện tại Việt Nam, chú trọng xây dựng khung mức đóng phí hợp lý, quy định rõ các phương thức thanh toán chi phí KCB, tạo cơ chế ràng buộc các cơ sở KCB và cuối cùng kiến nghị BHXH Việt Nam tăng cường công tác tuyên truyền, đầu tư đào tạo đại lý thu BHYT tốt hơn.[5] Nguyễn Thị Bích (2020) kiến nghị chỉnh sửa bổ sung Luật BHYT 2017 và các văn bản pháp quy, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục Luật BHYT, tập trung đầu tư cơ sở khám chữa bệnh đặc biệt ở tuyến cơ sở và cuối cùng xây dựng kế hoạch thực hiện đảm bảo lộ trình cho các nhóm đối tượng năm 2021-2023 trong đó chú trọng phát triển đối tượng người thuộc hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp do số lượng các đối tượng này chiếm tỷ lệ lớn chưa tham gia BHYT.[6] Luận văn của Phạm Thu Hường (2021) tại Tỉnh Vĩnh Phúc cũng tập trung kiến nghị một số giải pháp về phát triển BHYT tự nguyện đến năm 2029.[7] Trong đó, tác giả đề xuất đề xuất xây dựng phương pháp tiếp cận phù hợp các đối tượng tham gia BHYT tự nguyện, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT, tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng quỹ BHYT, hoàn thiện bộ máy tổ chức và công tác quản lý của cơ quan BHXH và cuối cùng kiến nghị sửa đổi Luật BHYT theo hướng nâng cao quyền lợi của người tham gia BHYT. Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả nhất định như đưa ra được hệ thống lý luận về mảng mình nghiên cứu, phân tích được thực trạng BHYT tại địa phương, và đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao được hiệu quả diện bao phủ BHYT. Các nhóm giải pháp tập trung vào việc hoàn thiện công tác tuyên truyền giáo dục, vận động, chỉnh sửa bổ sung các văn bản Luật BHYT, các văn bản quy phạm pháp luật khác và nâng cao chất lượng KCB tại các cơ sở KCB BHYT.
Tại thành phố Hải Phòng những năm qua cũng đã có một số nghiên cứu về phát triển BHYT toàn dân, tuy nhiên các nghiên cứu này cũng chỉ tập trung một số giải pháp về tuyên truyền, nâng cao chất lượng của hai ngành BHXH và Y tế, chưa có sự thống nhất toàn diện về công tác phối hợp thực hiện. Chưa đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao số lượng người thuộc các nhóm đối tượng tham gia BHYT. Do đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu này với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé cho BHXH quận Kiến An và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao số lượng người tham gia BHYT theo lộ trình BHYT toàn dân.
3. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích: Đề ra những biện pháp góp phần phát triển được BHYT toàn dân tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An trên cơ sở nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xã hội của quận Kiến An và thực trạng tham gia BHYT tại BHXH quận Kiến An.
- Nhiệm vụ:.
- Hệ thống các vấn đề lý luận về BHYT, BHYT toàn dân và phát triển
- Đánh giá thực trạng thực hiện BHYT tại BHXH quận Kiến An.
- Đề ra những biện pháp nhằm phát triển bảo hiểm y tế toàn dân tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống lý luận về bảo hiểm y tế.
- Các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tại BHXH quận Kiến An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu nghiên cứu được sử dụng từ năm 2021 đến năm 2025.
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xã hội tại quận Kiến An và tình hình tham gia bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An.
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích định tính, phân tích xu hướng, phân tích định lượng từ đó biết được thực trạng, những tồn tại để xây dựng giải pháp phù hợp nhằm phát triển BHYT toàn dân trên địa bàn quận Kiến An thời gian tới.
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu của BHXH thành phố Hải Phòng.
- Sách, giáo trình về quản lý thu BHXH.
- Tài liệu giới thiệu về cơ quan BHXH quận Kiến An.
- Các báo cáo hoạt động thu BHXH của quận Kiến An từ năm 2021 đến năm 2025, định hướng hoạt động đến năm 2029.
- Website của cơ quan BHXH, tạp chí BHXH, các bài viết của chuyên gia kinh tế …
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa các vấn đề luận về chính sách bảo hiểm y tế.
- Khẳng định vai trò, tầm quan trọng của BHYT trong sự nghiệp phát triển của ngành BHXH nói riêng và sự nghiệp an sinh xã hội của đất nước nói chung.
- Đưa ra những đánh giá cụ thể về thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An.
- Đưa ra một số biện pháp để phát triển bảo hiểm y tế toàn dân tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương chính như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về BHYT và phát triển BHYT toàn dân
- Chương 2: Thực trạng phát triển BHYT toàn dân tại BHXH quận Kiến An giai đoạn 2021 – 2025
- Chương 3: Biện pháp phát triển bảo hiểm y tế toàn dân tại Bảo hiểm xã hội quận Kiến An
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ TOÀN DÂN
1.1. Sự tất yếu khách quan hình thành BHYT
Theo quy luật và nhu cầu tự nhiên, con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao. Nhưng để có nhiều của cải, con người phải lao động, phải làm việc nhiều hơn. Có nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Trái lại, có rất nhiều trường hợp gặp phải khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn bị ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong. Hơn nữa, cuộc sống của loài người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Những điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi (tai nạn, thiên tai, địch hoạ…) đã làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình cảnh bất lợi, cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường.
Khi rơi vào các trường hợp rủi ro đó, các nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi. Trái lại, có những nhu cầu còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới. Ví dụ khi ốm đau, xuất hiện thêm nhu cầu mua thuốc chữa bệnh; khi sinh con, xuất hiện thêm nhu cầu mua tã lót, nhu yếu phẩm cho trẻ sơ sinh, nhu cầu bồi dưỡng sức khoẻ cho sản phụ… Bởi vậy, muốn tồn tại, con người cũng như xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau. Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình, từ xa xưa, con người đã tự khắc phục, thông qua hình thức dự trữ, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, người lao động còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng, được sự bảo trợ của xã hội. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Chính vì vậy mà ngày 24/01/2011, Chính phủ có Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg chuyển giao BHYT thuộc Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam.
1.2. Một số khái niệm về BHYT Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
1.2.1. Bảo hiểm
“Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường của tổ chức bảo hiểm cho người tham gia khi gặp rủi ro dẫn đến tổn thất với điều kiện người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho tổ chức bảo hiểm. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với tổ chức bảo hiểm.”[10]
1.2.2. Bảo hiểm y tế
“Là một bộ phận cấu thành của pháp luật về an sinh xã hội, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và là một trong 9 nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH.”[11]
Tại các nước công nhiệp phát triển, người ta đưa ra khái niệm: “BHYT là một tổ chức cộng đồng, đoàn kết tương trợ lẫn nhau, có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia.”[12]
Theo Len Nichols, một nhà kinh tế y tế người Mỹ thì: “BHYT là việc người bình thường sẽ không bị vỡ nợ khi mức bệnh nghiêm trọng.”[12]
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm BHYT vẫn có tính độc lập tương đối so với khái niệm BHXH, đặc biệt là ở góc độ luật thực định, tính độc lập càng thể hiện rõ.
Khái niệm về BHYT được trình bày trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995 – Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa – trang 151 như sau: “BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân.”[13]
BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật.
Tóm lại: “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khoẻ, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.”[14]
1.2.3. BHYT toàn dân Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
Theo quy định của Luật BHYT sửa đổi, từ ngày 01/01/2024, toàn dân bắt buộc tham gia BHYT. Đây là một trong những nội dung mới có tính đột phá mạnh mẽ, thể hiện quyết tâm chính trị nhằm thúc đẩy thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân theo tinh thần của Hiến pháp 2022 và Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị hướng đến mục tiêu chăm sóc sức khoẻ cho người dân và chia sẻ trách nhiệm đối với cộng đồng.
Theo đó, BHYT toàn dân được hiểu là mọi người dân trong xã hội đều có thẻ BHYT, với những trường hợp không có thì có những cơ chế phù hợp khác để hỗ trợ tài chính khi ốm đau, bệnh tật nhằm đảm bảo cho họ được tiếp cận một cách đầy đủ với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
1.2.4. Phát triển BHYT toàn dân
Phát triển BHYT toàn dân là quá trình quy định dần các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc như cán bộ công nhân viên chức, người lao động, người hưởng lương hưu, người nghèo, trẻ em, người hưởng bảo trợ xã hội … đồng thời cố gắng mở rộng BHYT tự nguyện cho những người còn lại.
Như vậy, BHYT là tất yếu và phát triển BHYT toàn dân là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh hợp lý từ hai ngành y tế và BHXH.
1.3. Vai trò của BHYT
BHYT là một chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm, từ đó hình thành nên một quỹ và quỹ này sẽ được dùng để chi trả chi phí KCB, khi một người nào đó không may mắc phải bệnh tật mà họ có tham gia BHYT.
Mặc dù ở mỗi nước khác nhau thì sẽ có các hình thức tổ chức khác nhau, có nước tổ chức độc lập với loại hình bảo hiểm khác, có nước lại coi đây là một trong những chế độ của BHXH. Ở nước ta Ngành BHYT đã được chuyển giao về ngành BHXH kể từ ngày 01/01/2012. Nhưng mặc dù được tổ chức như thế nào đi chăng nữa, thì BHYT vẫn có vai trò riêng biệt mang tính xã hội rộng rãi như sau: Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
“Thứ nhất, BHYT chính là biện pháp để xoá đi sự bất công giữa người giàu và người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị với điều kiện họ có tham gia BHYT. Với BHYT, mọi người sẽ được bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh, đây là một đặc trưng ưu việt của BHYT. BHYT mang tính nhân đạo cao cả và được xã hội hoá theo nguyên tắc “Số đông bù số ít”. Tham gia BHYT vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội. Sự đóng góp của mọi người chỉ là đóng góp phần nhỏ so với chi phí KCB khi họ gặp phải rủi ro ốm đau, thậm chí sự đóng góp của cả một đời người cũng không đủ cho một lần chi phí khi mắc bệnh hiểm nghèo. Do vậy sự đóng góp của cộng đồng xã hội để hình thành nên quỹ BHYT là tối cần thiết và được thực hiện theo phương châm: “Mình vì mọi người, mọi người vì mình.””[15]
“Thứ hai, BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng như ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau. Nhờ có BHYT, người dân sẽ an tâm được phần nào về sức khoẻ cũng như kinh tế, bởi vì họ đã có một phần như là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt với những người nghèo chẳng may mắc bệnh. Như vậy, BHYT ra đời có tác dụng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định được cuộc sống cho người dân khi họ bị ốm đau, tạo cho họ một niềm lạc quan trong cuộc sống, từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho chính bản thân họ và sau đó là cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của xã hội.”[15]
“Thứ ba, BHYT ra đời còn góp phần giáo dục cho mọi người dân trong xã hội về tính nhân đạo theo phương châm: “Lá lành đùm lá rách”, đặc biệt là giúp giáo dục cho trẻ em ngay từ khi còn nhỏ tuổi về tính cộng đồng thông qua loại hình BHYT học sinh – sinh viên.”[15]
“Thứ tư, BHYT làm tăng chất lượng KCB và quản lý y tế thông qua hoạt động quỹ BHYT đầu tư. Lúc đó trang thiết bị về y tế sẽ hiện đại hơn, có kinh phí để sản xuất các loại thuốc đặc trị chữa bệnh hiểm nghèo, có điều kiện nâng cấp các cơ sở KCB một cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, giúp người dân đi KCB được thuận lợi. Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, các y, bác sỹ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm, có trách nhiệm đối với công việc hơn, dẫn đến sự quản lý dễ dàng và chặt chẽ hơn trong KCB.”[15]
“Thứ năm, BHYT còn có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Hiện nay kinh phí cho y tế được cấu thành chủ yếu từ 4 nguồn: Từ ngân sách Nhà nước; Từ quỹ BHYT; Thu một phần viện phí và dịch vụ y tế; Tiền đóng góp của các tổ chức quần chúng, của các tổ chức từ thiện và viện trợ quốc tế. Do vậy BHYT ra đời đã thực sự góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.”[15]
“Thứ sáu, chỉ tiêu phúc lợi xã hội trong mỗi nước cũng biểu hiện trình độ phát triển của nước đó. Do vậy, BHYT là một công cụ vĩ mô của Nhà nước để thực hiện tốt phúc lợi xã hội, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động chăm sóc sức khoẻ của người dân.”[15]
“Thứ bảy, BHYT còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh hiểm nghèo theo phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Với việc kết hợp với các cơ sở KCB BHYT kiểm tra sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cho đại đa số những người tham gia BHYT, từ đó phát hiện kịp thời những căn bệnh hiểm nghèo và có phương pháp chữa trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu, mà nếu không tham gia BHYT tâm lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh viện, do đó mà coi thường hoặc bỏ qua những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong.”[15] Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
1.4. Nội dung cơ bản của BHYT
1.4.1. Đối tượng tham gia BHYT [14]
Đối tượng tham gia BHYT được quy định tại khoản 6 sửa đổi, bổ sung Điều 12 – Luật BHYT, cụ thể:
Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm: a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động).
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.
Nhóm do tổ chức BHXH đóng, bao gồm:
- Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;
- Người đang hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng;
- Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:
Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
- Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
- Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;
- Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm;
- Trẻ em dưới 6 tuổi; Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
- Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;
- Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;
- Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;
- Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này;
- Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
- Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;
- Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam.
Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm: a) Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; b) Học sinh, sinh viên.
- Nhóm tự nguyện tham gia BHYT, thuộc nhóm đối tượng phải tự đóng toàn bộ mức đóng BHYT.
- Chính phủ quy định các đối tượng khác ngoài các đối tượng: do ngân sách nhà nước đóng, hỗ trợ mức đóng và tự nguyện tham gia BHYT.
1.4.2. Mức đóng BHYT
Mức đóng BHYT được hiểu là mức phí mà người tham gia (Nhà nước, chủ sử dụng lao động, người lao động) phải trả (đóng, nộp) cho cơ quan BHYT để được hưởng quyền lợi BHYT. Theo quy định hiện hành mức đóng BHYT được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của mức tiền lương, tiền công của người lao động hoặc căn cứ vào mức lương tối thiểu do nhà nước ban hành, các đối tượng khác nhau thì quy định tỷ lệ (%) nộp BHYT cũng khác nhau.
Căn cứ đóng BHYT: được quy định tại khoản 7 sửa đổi, bổ sung Điều 13 – Luật BHYT, được cụ thể tại Điều 2- Nghị định số 105/2023/NĐ-CP:[17]
- Nhóm NLĐ và chủ SDLĐ: Mức đóng 4,5% tiền lương, tiền công trong đó (NLĐ đóng 1,5%, chủ SDLĐ đóng 3%)
- Nhóm người được cơ quan BHXH đóng toàn bộ: Mức đóng bằng 4,5% tiền lương, tiền trợ cấp.
- Nhóm được NSNN đóng toàn bộ: Mức đóng bằng 4,5% lương cơ sở.
- Nhóm được NSNN hỗ trợ một phần mức đóng: Đối với hộ cận nghèo mức đóng bằng 4,5% lương cơ sở được hỗ trợ 70% mức đóng; HSSV có mức đóng bằng 4,5% lương cơ sở được hỗ trợ 30% mức đóng.
- Nhóm người tham gia BHYT tự nguyện: Có mức đóng bằng 4,5% lương cơ sở do người tham gia đóng. Mức đóng được giảm dần từ thành viên thứ hai trở đi, cụ thể như sau:
- Người thứ nhất đóng 4,5% mức lương cơ sở;
- Người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất;
- Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất. b) Phương thức thực hiện: Có thể chia ra 03 loại phương thức:
- Thu trực tiếp từ chủ sử dụng lao động: Chủ SDLĐ sẽ thu BHYT từ NLĐ sau đó hàng tháng chuyển số tiền đóng BHYT của cả NLĐ và người SDLĐ cho cơ quan BHXH. Đây là phương thức phổ biến nhất, được áp dụng với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan quản lý đối tượng.
- Thu của người tham gia và cơ quan quản lý đối tượng: Được áp dụng những đối tượng được NSNN hỗ trợ mức đóng, phần hỗ trợ do cơ quan tài chính, hoặc cơ quan quản lý đối tượng chi trả.
- Thu trực tiếp qua đại lý: Được áp dụng cho đối tượng tham gia BHYT tự nguyện, đóng một lần/năm vào quỹ BHYT.
1.4.3. Phương thức đóng BHYT Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
Theo quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 sửa đổi, bổ sung Điều 15 Luật BHYT, phương thức đóng BHYT như sau:
- Hàng tháng, người SDLĐ đóng BHYT cho người lao động và trích tiền đóng BHYT từ tiền lương của người lao động để nộp cùng một lúc vào quỹ BHYT.
- Đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp không trả lương theo tháng thì định kỳ 3 tháng hoặc 6 tháng một lần, người sử dụng lao động đóng BHYT cho người lao động và trích tiền đóng BHYT từ tiền lương của người lao động để nộp cùng một lúc vào quỹ BHYT.
- Hàng tháng, tổ chức BHXH đóng BHYT vào quỹ BHYT cho các đối tượng: Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hàng tháng từ NSNN; cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng và người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Hàng quý, cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp học bổng cho đối tượng người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam đóng BHYT vào quỹ BHYT.
- Hàng quý, ngân sách nhà nước chuyển số tiền đóng, hỗ trợ đóng BHYT của đối tượng được NSNN hỗ trợ mức đóng do tổ chức BHXH báo cáo và mức NSNN hỗ trợ theo quy định, cơ quan tài chính chuyển kinh phí vào quỹ BHYT theo phân cấp của Luật NSNN.
- Định kỳ 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng, đại diện hộ gia đình, tổ chức, cá nhân đóng đủ số tiền thuộc trách nhiệm phải đóng vào quỹ BHYT.
1.4.4. Tổ chức KCB BHYT cho người tham gia BHYT
1.4.4.1. Cơ sở KCB BHYT:
Nội dung này được quy định tại khoản 17 sửa đổi, bổ sung Điều 24, Luật BHYT, cụ thể:
“Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT là cơ sở y tế theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh có ký kết hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức BHYT”. Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
- Cơ sở KCB BHYT bao gồm:
- Trạm y tế xã và tương đương, nhà hộ sinh;
- Phòng khám đa khoa, chuyên khoa;
- Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa.”[16]
1.4.4.2. Giám định BHYT:
Nội dung này được quy định tại Điều 29, Luật BHYT, cụ thể:
“Nội dung giám định BHYT bao gồm:
- Kiểm tra thủ tục KCB BHYT;
- Kiểm tra, đánh giá việc chỉ định điều trị, sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế cho người bệnh;
- Kiểm tra, xác định chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT.
Việc giám định BHYT phải bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch. Tổ chức BHYT thực hiện việc giám định BHYT và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả giám định.”[16]
1.4.5. Thanh toán chi phí KCB BHYT
1.4.5.1. Phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT
Nội dung này được quy định tại Điều 30 Luật BHYT, cụ thể:
- Thanh toán theo định suất BHYT được đăng ký tại cơ sở KCB BHYT trong một khoảng thời gian nhất định;
- Thanh toán theo giá dịch vụ là thanh toán dựa trên chi phí của thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế được sử dụng cho người bệnh;
- Thanh toán theo trường hợp bệnh là thanh toán theo chi phí KCB được xác định trước cho từng trường hợp theo chẩn đoán.
- Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT quy định tại khoản 1 Điều này.”[16]
1.4.5.2. Thanh toán chi phí KCB BHYT
Nội dung này được quy định tại khoản 20 sửa đổi, bổ sung khoản 2; bổ sung khoản 5 Điều 31 – Luật BHYT, cụ thể:
- Tổ chức BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT trực tiếp cho người có thẻ BHYT đi khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp sau đây:
- a) Tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT;
- Khám bệnh, chữa bệnh không đúng quy định tại Điều 28 của Luật này;
- Trường hợp đặc biệt khác do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
- Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc.
1.4.6. Quỹ BHYT Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
1.4.6.1. Nguồn hình thành quỹ BHYT
Nội dung này được quy định tại Điều 33 Luật BHYT, cụ thể:
- Một là, Tiền đóng BHYT theo quy định của Luật này.
- Hai là, Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ BHYT.
- Ba là, Tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
- Bốn là, Các nguồn thu hợp pháp khác.”[16]
1.4.6.2. Quản lý quỹ BHYT
- 1. Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức BHYT. Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam theo quy định của Luật BHXH chịu trách nhiệm quản lý quỹ BHYT và tư vấn chính sách BHYT.
- 2. Hằng năm, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ BHYT.”[14]
1.4.6.3. Phân bổ và sử dụng quỹ BHYT[14]
Nội dung này được quy định cụ thể tại khoản 23 sửa đổi, bổ sung Điều 35 – Luật BHYT, cụ thể:
- 90% số tiền đóng BHYT dành cho khám bệnh, chữa bệnh;
- 10% số tiền đóng BHYT dành cho quỹ dự phòng, chi phí quản lý quỹ BHYT, trong đó dành tối thiểu 5% số tiền đóng BHYT cho quỹ dự phòng.
- Số tiền tạm thời nhàn rỗi của quỹ BHYT được sử dụng để đầu tư theo các hình thức quy định của Luật BHXH. Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam quyết định và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hình thức và cơ cấu đầu tư của quỹ BHYT trên cơ sở đề nghị của BHXH Việt Nam.
- Trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có số thu BHYT dành cho khám bệnh, chữa bệnh lớn hơn số chi khám bệnh, chữa bệnh trong năm, sau khi được BHXH Việt Nam thẩm định quyết toán thì phần kinh phí chưa sử dụng hết được phân bổ theo lộ trình như sau:
- Từ ngày Luật này có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2029 thì 80% chuyển về quỹ dự phòng, 20% chuyển về địa phương để sử dụng theo thứ tự ưu tiên sau đây: Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
Hỗ trợ quỹ khám bệnh, chữa bệnh cho người nghèo; hỗ trợ mức đóng BHYT cho một số nhóm đối tượng phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương; mua trang thiết bị y tế phù hợp với năng lực, trình độ của cán bộ y tế; mua phương tiện vận chuyển người bệnh ở tuyến huyện.
Trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày BHXH Việt Nam thẩm định quyết toán, BHXH Việt Nam phải chuyển 20% phần kinh phí chưa sử dụng hết về cho địa phương.
Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày BHXH Việt Nam thẩm định quyết toán, phần kinh phí chưa sử dụng hết được chuyển về quỹ dự phòng;
- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, phần kinh phí chưa sử dụng hết được hạch toán toàn bộ vào quỹ dự phòng để điều tiết chung.
- Trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có số thu BHYT dành cho khám bệnh, chữa bệnh nhỏ hơn số chi khám bệnh, chữa bệnh trong năm, sau khi thẩm định quyết toán, BHXH Việt Nam có trách nhiệm bổ sung toàn bộ phần kinh phí chênh lệch này từ nguồn quỹ dự phòng.
- Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.
1.4.7. Thanh tra, khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm về BHYT
1.4.7.1. Thanh tra BHYT
- Thanh tra y tế thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về BHYT.”[16, Điều 46]
1.4.7.2. Khiếu nại, tố cáo về BHYT
Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về BHYT, việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về BHYT được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.”[16, Điều 47]
1.4.7.3. Tranh chấp về BHYT
Tranh chấp về BHYT là tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm BHYT giữa các đối tượng sau đây:
- Người tham gia BHYT theo quy định tại Điều 12 của Luật này, người đại diện của người tham gia BHYT;
- Tổ chức, cá nhân đóng BHYT theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này;
- Tổ chức BHYT;
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT.
Tranh chấp về BHYT được giải quyết như sau:
- Các bên tranh chấp có trách nhiệm tự hòa giải về nội dung tranh chấp;
- Trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.”[16, Điều 48] Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
1.4.7.4. Xử lý vi phạm
1. Người có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến BHYT thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến BHYT thì bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan, tổ chức, người SDLĐ có trách nhiệm đóng BHYT mà không đóng hoặc đóng không đầy đủ theo quy định của pháp luật thì sẽ bị xử lý như sau:
a) Phải đóng đủ số tiền chưa đóng và nộp số tiền lãi bằng hai lần mức lãi suất liên ngân hàng tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHYT để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của quỹ BHYT.
Phải hoàn trả toàn bộ chi phí cho người lao động trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT mà người lao động đã chi trả trong thời gian chưa có thẻ BHYT.”[14]
1.4.8. Các hành vi bị nghiêm cấm
Không đóng hoặc đóng BHYT không đầy đủ theo quy định của Luật BHYT.
- Gian lận, giả mạo hồ sơ, thẻ BHYT.
- Sử dụng tiền đóng BHYT, quỹ BHYT sai mục đích.
- Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia BHYT và của các bên liên quan đến BHYT.
- Cố ý báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chuyên môn, nghiệp vụ để làm trái với quy định của pháp luật về BHYT.”[16, Điều 11]
1.5. Những chế độ cơ bản về BHYT Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
1.5.1. Quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHYT
1.5.1.1. Quyền lợi
Theo quy định tại điều 36 Luật BHYT, quyền lợi của người tham gia BHYT như sau:
- Được cấp thẻ BHYT khi đóng BHYT.
- Lựa chọn cơ sở KCB BHYT ban đầu.
- Được khám bệnh, chữa bệnh.
- Được tổ chức BHYT thanh toán chi phí KCB theo chế độ BHYT.
- Yêu cầu tổ chức BHYT, cơ sở KCB BHYT và cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ BHYT.
- Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BHYT.
1.5.1.2. Nghĩa vụ
Theo quy định tại Điều 37 Luật BHYT, nghĩa vụ của người tham gia BHYT như sau:
- Đóng BHYT đầy đủ, đúng thời hạn.
- Sử dụng thẻ BHYT đúng mục đích, không cho người khác mượn thẻ
- Thực hiện các quy định về thủ tục KCB BHYT khi đến KCB.
- Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức BHYT, cơ sở khám chữa bệnh khi đến KCB.
- Thanh toán chi phí KCB cho cơ sở KCB ngoài phần chi phí do quỹ BHYT chi trả.
1.5.2. Trách nhiệm của người đi khám bệnh, chữa bệnh BHYT
Sử dụng thẻ BHYT đúng mục đích, không cho người khác mượn thẻ BHYT.
- Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phần cơ quan BHXH chi trả.”[16]
- Phải xuất trình thẻ BHYT có ảnh, nếu thẻ BHYT không có ảnh thì phải xuất trình thêm giấy tờ tuỳ thân có ảnh.
- Trẻ em dưới 6 tuổi chỉ cần xuất trình thẻ BHYT (Trường hợp trẻ dưới 1 tháng tuổi chưa có thẻ BHYT có thể sử dụng giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh).
- Trường hợp chuyển tuyến phải có hồ sơ chuyển viện.
- Trường hợp cấp cứu phải xuất trình thẻ BHYT có ảnh, nếu thẻ BHYT không có ảnh thì phải xuất trình thêm giấy tờ tuỳ thân có ảnh trong vòng 24h kể từ lúc nhập viện.
- Nếu khám lại phải có giấy hẹn.
- Nếu đi công tác, làm việc lưu động, tạm trú ở địa phương khác phải trình thêm giấy công tác hoặc giấy đăng ký tạm trú khi đến cơ sở khám chữa bệnh.”[18]
1.5.3. Các trường hợp không được hưởng BHYT Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
Các trường hợp không được hưởng BHYT được quy định tại Điều 23 – Luật BHYT và khoản 16 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, cụ thể:
- Chi phí trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 21 đã được ngân sách nhà nước chi trả.
- Điều dưỡng, an dưỡng tại cơ sở điều dưỡng, an dưỡng.
- Khám sức khỏe.
- Xét nghiệm, chẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị.
- Sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nạo hút thai, phá thai, trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do nguyên nhân bệnh lý của thai nhi hay của sản phụ.
- Sử dụng dịch vụ thẩm mỹ.
- Điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt, trừ trường hợp trẻ dưới 6 tuổi.
- Sử dụng vật tư y tế thay thế bao gồm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động trong khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng.
- Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng trong trường hợp thảm họa.
- Khám bệnh, chữa bệnh nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây nghiện khác.
- Giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
- Tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học.”[14]
1.5.4. Các trường hợp thẻ BHYT không có giá trị sử dụng
Thẻ đã hết thời hạn sử dụng;
- Thẻ bị sửa chữa, tẩy xoá;
- Người có tên trong thẻ không tiếp tục tham gia BHYT.”[16]
1.6. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của BHYT toàn dân
- Tỷ lệ tham gia BHYT (d1): là tỷ lệ số dân tham gia BHYT trong tổng số dân của địa phương
Trong đó: D: Số dân tham gia BHYT trên địa bàn
- ∑D: Tổng số dân trên địa bàn
- Tốc độ phát triển số dân tham gia BHYT (d2): là tỷ lệ số dân tham gia BHYT năm sau so với năm trước
- Trong đó: Ds: Số dân tham gia BHYT năm sau Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An.
- Dt: Số dân tham gia BHYT năm trước
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Phát triển BHYT toàn dân tại quận Kiến An […]