Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Một thành viên 189 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát tình hình Công ty TNHH Một thành viên 189

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty

  • Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Một thành viên 189
  • Tên giao dịch: 189 One Member Limited Liability Company
  • Tên viết tắt: Công ty 189 – 189 Company
  • Địa chỉ: Khu công nghiệp Đình Vũ, phường Đông Hải 2, quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
  • Điện thoại: (031) 3979.706; (031) 3979.708
  • Fax: (031) 3979709; (031) 3876.035
  • E-mail:cty189@vnn.vn / 189shipyard@vnn.vn
  • Website:189shipbuilding.com.vn

Lịch sử hình thành và phát triển

  • Công ty 189 Bộ Quốc Phòng tiền thân là xưởng 10B Công binh trực thuộc Bộ Tham Mưu Quân khu 3, với chức năng nhiệm vụ: Gia công cơ khí, sửa chữa vũ khí, khí tài phục vụ sẵn sàng chiến đấu.
  • Tháng 1 năm 1989 xưởng 10 Công binh đổi tên thành Xí nghiệp 189 Quân khu 3 và chuyển từ đơn vị sẵn sàng phục vụ chiến đấu sang đơn vị hạch toán kinh doanh với chức năng:Sửa chữa. đóng mới các phương tiện thủy, bộ.
  • Tháng 4 năm 1996 theo sự chỉ đạo của Bộ Quốc Phòng về sắp xếp lại các doanh nghiệp trong quân đội. Xí nghiệp 189 Quân khu 3 đổi thành Công ty 189 Bộ Quốc Phòng theo quyết định số 566/QĐ-QP ngày 22/4/1996 do sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng cấp.
  • Tháng 4 năm 2019 theo QĐ1373 ngày 30/4/2019 của Bộ Quốc Phòng, Công ty 189 Bộ Quốc Phòng đổi tên thành Công ty TNHH Một thành viên 189.

Trụ sở làm việc và nhà xưởng sản xuất nằm trên 02 cơ sở:

  • Cơ sở 1: Số 27 – Trường Chinh, Kiến An, Hải Phòng (diện tích 3 ha).
  • Cơ sở 2: Khu Công nghiệp Đình Vũ, phường Đông Hải 2, quận Hải An, thành phố Hải Phòng (diện tích 32,2 ha).

2.1.2. Lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh của Công ty Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Công ty là một doanh nghiệp có uy tín trong ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam. Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty là:

  • Đóng mới và sửa chữa tàu, xuồng
  • Kinh doanh vật tư kim khí, máy móc thiết bị phục vụ đóng tàu
  • Dịch vụ vận tải đường bộ

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty

Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty

Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm: 1 Giám đốc, 3 phó giám đốc quản lý các phòng chức năng riêng, 7 phòng chức năng, các bộ phận sản xuất.

2.1.4. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Công ty TNHH Một thành viên giai đoạn 2021-2025

Vốn chủ sở hữu của Công ty tăng dần qua 4 năm, từ 2021-2024. Số vốn chủ sở hữu năm 2021 là 637.152 triệu đồng, tăng 66.011 triệu đồng so với năm 2020, tiếp tục tăng 8.544 triệu đồng so với năm 2021, lên 645.696 triệu đồng ở năm 2022. Năm 2023 số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là 656.338 triệu đồng. Đến năm 2024, chỉ tiêu này đạt mức cao nhất trong 4 năm là 673.147 triệu đồng tăng 2,56% so với năm 2023. Đến năm 2025, số vốn chủ sở hữu của Công ty còn 659.834 triệu đồng, giảm so với năm 2024 hơn 13 tỷ đồng là do Công ty nộp tiền khấu hao tài sản cố định lên cơ quan chủ quản cấp trên. Biến động của vốn chủ sở hữu cho thấy doanh nghiệp đang ngày càng mở rộng hoạt động SXKD của mình. Lợi nhuận sau thuế của công ty được bổ sung hàng năm vào quỹ đầu tư phát triển, và các quỹ khác theo đúng quy định và hướng dẫn của cơ quan chủ quản cấp trên khiến cho vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngày một tăng .

Chỉ tiêu doanh thu thuần của DN có chiều hướng tăng qua từng năm. Năm 2021 doanh thu thuần đạt 656.419 triệu đồng. Nguyên nhân là do năm 2021 ngành vận tải biển, vận tải đường sông gặp nhiều khó khăn, khiến cho nhu cầu đóng mới tàu giảm, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu của Công ty. Từ năm 2022-2024, hoạt động SXKD của DN đã có những kết quả tốt, doanh thu tăng dần. Năm 2022, doanh thu tăng 10,97% so với năm 2021. Do trong năm, doanh nghiệp đã kí được một số hợp đồng đóng mới tàu vận chuyển thuyền viên cho tập đoàn Damen của Hà Lan với giá trị lớn. Đà tăng này không được duy trì ở năm 2023, doanh thu của doanh nghiệp lại giảm nhẹ xuống còn 726.133 triệu đồng, giảm 0,32% so với năm 2022. Nhưng đến năm 2024, chỉ tiêu này tăng mạnh 64,59% so với năm 2023, lên 1.195.153 triệu đồng. Năm 2025, doanh thu của Công ty tiếp tục được tăng cao, tăng 16,24% so với năm 2024. Đây là năm mà hoạt động SXKD của DN tăng trưởng mạnh nhất trong 5 năm qua. Do là một công ty đã có tên tuổi trong ngành đóng tàu nên đã được Bộ Tư lệnh Cảnh Sát biển lựa chọn để kí hợp đồng đóng mới tàu tuần tra cho lực lượng Cảnh Sát biển. Doanh thu tăng cao sau 5 năm cho thấy uy tín và danh tiếng của Công ty ngày càng được nâng cao, và Công ty đã khẳng định được mình trong ngành đóng tàu. Điều này cho thấy lãnh đạo Công ty đang đi đúng hướng trong việc phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Giá vốn của doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng dần trong 5 năm nghiên cứu. Năm 2021, giá vốn hàng bán là 591.739 triệu đồng. Năm 2022, chỉ tiêu này là 655.078 triệu đồng, tăng 10,7% so với năm 2021. Do các hoạt động sửa chữa đóng mới tàu trong năm tăng khiến cho giá vốn tăng theo. Năm 2023, giá vốn sản xuất sản phẩm tiếp tục tăng lên 662.013 triệu đồng, tăng 6.935 triệu đồng so với năm 2022, tỷ lệ tăng so với năm 2022 là 1,06%. Mặc dù hoạt động sản xuất giảm nhẹ trong năm 2023, nhưng do giá cả các yếu tố đầu vào bị tăng khiến cho giá vốn của doanh nghiệp vẫn bị kéo lên so với năm 2022. Sang đến năm 2024, giá vốn của doanh nghiệp là 1.106.628 triệu đồng, tăng 67,18% so với năm 2023, cụ thể tăng 444.615 triệu đồng. Một phần do trong năm, Công ty quyết toán , bàn giao được nhiều sản phẩm hơn so với năm trước. Phần nữa là do doanh nghiệp vẫn chưa đưa ra được biện pháp hiệu quả để giảm được chi phí của các yếu tố đầu vào khiến cho giá vốn tăng , vượt hơn một chút so với tốc độ tăng của doanh thu trong năm. Đến năm 2025, giá vốn của Công ty là 1.222.882 triệu đồng, tăng 116.254 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ tăng so với năm 2024 là 10,51%. Dù sao, Công ty vẫn cần phải tìm ra ra chính sách tiết kiệm chi phí hơn để tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào.

Lợi nhuận trước thuế của Công ty tăng dần đều trong 5 năm, năm sau tăng hơn so với năm trước. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng đạt kết quả tốt. Năm 2021, lợi nhuận trước thuế của Công ty là 23.659 triệu đồng . Năm 2022, chỉ tiêu này tăng 18,24 % so với năm 2021, đạt mức 27.974 triệu đồng. Đà tăng tiếp tục được duy trì trong năm 2023 lên mức 31.298 triệu đồng, tỷ lệ tăng so với năm 2022 là 11,88%. Năm 2024, lợi nhuận trước thuế của Công ty đạt mức 32.413 triệu đồng, tăng 3,56% so với năm 2023. Năm 2025, lợi nhuận trước thuế của Công ty là 37.351 triệu đồng, tăng hơn so với năm 2024 là 4.938 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 15,23%. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của các khoản thu cao hơn tốc độ tăng của các khoản chi, nhưng khi các khoản thu giảm thì các khoản chi lại giảm với tốc độ cao hơn khiến cho lợi nhuận của Công ty vẫn tăng đều. Sự tăng dần qua các năm của LNTT đã khiến cho LNST của DN cũng biến động theo xu hướng đó.

Các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng trong giai đoạn 2021- 2025. Năm 2021, số nộp ngân sách của Công ty là 16.467 triệu đồng. Năm 2022 các khoản phải nộp ngân sách nước tăng mạnh lên 49.282 triệu đồng, tăng 199,28% so với năm 2021. Nguyên nhân chủ yếu là do các khoản thuế GTGT phải nộp, thuế GTGT hàng nhập khẩu của công ty tăng cao. Năm 2023 chỉ tiêu này giảm nhẹ xuống còn 47.498 triệu đồng, giảm 3,62% so với năm 2022. Biến động này là do khoản thuế GTGT phải nộp trong năm 2023 của doanh nghiệp giảm xuống. Sang năm 2024, chỉ tiêu này là 50.811 triệu đồng, tăng 6,98% so với năm 2023. Năm 2025, số nộp ngân sách Nhà nước của Công ty là 61.053 triệu đồng, tăng 20,16% so với năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu là do sự biến động tăng của thuế GTGT phải nộp và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Mặc dù các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước tăng dần qua các năm nhưng doanh nghiệp luôn thực hiện đầy đủ và đúng thời hạn, nghĩa vụ với Nhà nước. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Số lượng lao động của doanh nghiệp tăng dần qua các năm. Số lượng lao động từ 680 ở năm 2021 đã tăng lên 724 người ở năm 2025. Việc không ngừng tuyển thêm lao động đã phần nào phản ánh quy mô SXKD của doanh nghiệp ngày càng mở rộng.

Thu nhập của người lao động cũng được cải thiện dần qua từng năm trong giai đoạn 2021- 2025. Năm 2021 thu nhập bình quân của người lao động là 8,50 triệu đồng/người/tháng. Đến năm 2022, chỉ tiêu này đã đạt được là 8,60 triệu đồng/người/tháng, tăng 0,1 triệu so với năm 2021. Năm 2023 thu nhập bình quân của lao động là 8,8 triệu đồng/người/ tháng, tăng 0,2 triệu so với năm 2022. Sang đến năm 2024, chỉ tiêu này là 9,1 triệu đồng/người/ tháng, tăng 0,3 triệu so với năm 2023. Đến năm 2025, mức thu nhập bình quân tăng vọt hơn so với những năm trước, cụ thể: 11.15 triệu đồng/người/tháng, tăng 2,05 triệu đồng/ người/ tháng so với năm 2024.Việc không ngừng nâng cao đời sống cho người lao động cho thấy Công ty luôn quan tâm tới chính sách đãi ngộ với cán bô, công nhân viên và người lao động. Điều này sẽ giúp cho người lao động trong Công ty thêm gắn bó và có thêm động lực để cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp.

Tóm lại, tình hình tài chính của Công ty trong giai đoạn 2021- 2025 đã đạt được những kết quả tốt: lợi nhuận tăng dần qua các năm, quy mô SXKD không ngừng được mở rộng thông qua việc doanh thu không ngừng tăng, vốn chủ sở hữu cơ bản là tăng, số lượng lao động cũng tăng. Ngoài ra doanh nghiệp luôn chú ý đến việc hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước cũng như quan tâm, từng bước nâng cao đời sống cho người lao động. Những thành công trong 5 năm qua cho thấy những chính sách, biện pháp mà doanh nghiệp đã đề ra và áp dụng đang phát huy hiệu quả tích cực. Công ty cần phát huy tốt hơn nữa trong thời gian tới để đạt được những mục tiêu cao hơn.

2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH một thành viên giai đoạn 2021-2025 Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

2.2.1. Phân tích bảng cân đối kế toán của Công ty

2.2.1.1. Phân tích cơ cấu tài sản của Công ty

Trong giai đoạn 2021- 2025, tổng tài sản của Công ty cơ bản là tăng. Năm 2021, tổng tài sản của doanh nghiệp là 1.277.439 triệu đồng. Năm 2022 chỉ tiêu này đạt mức 1.378.268 triệu đồng, tăng 7,89% so với năm 2021. Sang năm 2023 tổng tài sản tăng 21,09% so với năm 2022, lên mức 1.669.011 triệu đồng. Đà tăng tiếp tục được duy trì tới năm 2024, trong năm này, tổng tài sản đạt mức 2.050.289 triệu đồng, tăng 381.278 triệu đồng, tỷ lệ tăng 22,84% so với năm 2023. Đến năm 2025, tổng tài sản so với năm 2024 giảm 224.790 triệu đồng, còn 1.825.499 triệu đồng, tỷ lệ giảm là 10,96%. Nguyên nhân khiến cho tổng tài sản thay đổi qua các năm là do biến động của các loại tài sản. Cụ thể:

Tài sản ngắn hạn của Công ty cũng có xu hướng tăng trong 5 năm nghiên cứu. Năm 2021 tài sản ngắn hạn của Công ty là 721.442 triệu đồng. Sang năm 2022, tài sản ngắn hạn của Công ty tăng lên thành 809.629 triệu đồng, tăng 88.187 triệu đồng, và tăng 12,22% so với năm 2021. Biến động của tài sản ngắn hạn tại năm 2022 so với năm 2021 chủ yếu do sự tăng mạnh của 2 nhóm tài sản: Các khoản phải thu ngắn hạn tăng 57,36% so với năm 2021, và hàng tồn kho tăng 19,03% so với năm 2021. Tuy tiền và các khoản tương đương tiền giảm 58.882 triệu đồng so với năm 2021 nhưng do sự tăng mạnh của các khoản phải thu ngắn hạn, tăng 56.006 triệu đồng so với năm 2021, cũng như sự tăng lên 87.720 triệu đồng so với năm 2021 của hàng tồn kho, đã làm cho tài sản ngắn hạn tăng ở năm 2022. Sang năm 2023, chỉ tiêu này đạt 1.088.188 triệu đồng, tăng 34,41% so với năm 2022. Nguyên nhân chính là do sự tăng mạnh của tiền và các khoản tương đương tiền, tăng 444,72% so với năm 2022. Năm 2024, tài sản ngắn hạn của Công ty đạt mức 1.472.130 triệu đồng, tăng 35,28% so với năm 2023. Biến động này chủ yếu là do sự tăng mạnh của nhóm hàng tồn kho, tăng 80,66% so với năm 2023. Chính việc tăng cao của tài sản ngắn hạn đã khiến cho tổng tài sản cũng tăng theo. Sang năm 2025, tài sản ngắn hạn của Công ty là: 1.236.270 triệu đồng, giảm 235.860 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 16,02%. Nguyên nhân giảm của tài sản ngắn hạn năm 2025 so với năm 2024 chủ yếu là khoản trả trước cho người bán giảm 59.854 triệu đồng, giảm 59,64%. Hàng tồn kho giảm so với năm 2024 là 154.397 triệu đồng.

Tài sản dài hạn của Công ty thì biến động bất thường trong giai đoạn 2021- 2025. Năm 2021 tài sản dài hạn của Công ty là 555.997 triệu đồng. Năm 2022, chỉ tiêu này tăng lên 568.639 triệu đồng, tài sản dài hạn của công ty tiếp tục tăng 2,27% so với năm 2021. Đà tăng được duy trì tới năm 2023, là 580.823 triệu đồng, chỉ tiêu này tăng với mức 2,14% so với năm 2022. Nguyên nhân chủ yếu là do trong hai năm này doanh nghiệp liên tục đầu tư mua sắm thêm máy móc thiết bị đã khiến cho tài sản dài hạn biến động theo. Nhưng năm 2024, do giá trị hao mòn tăng nhanh, cùng với việc giảm 22.144 triệu đồng các khoản đầu tư tài chính dài hạn đã khiến cho giá trị tài sản dài hạn của Công ty bị giảm 2.664 triệu đồng, và giảm 0,46% so với năm 2023. Sang năm 2025, tài sản dài hạn của Công ty là: 589.229 triệu đồng, tăng 11.070 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ tăng là 1,91%. Giá trị tài sản dài hạn của năm 2025 tăng so với năm 2024 là do trong năm 2025, Công ty đã tăng các khoản đầu tư tài chính dài hạn lên 24.322 triệu đồng. Tuy nhiên, so với năm 2024, giá trị tổng tài của doanh nghiệp trong năm 2025 vẫn giảm chút ít.

Tóm lại, tổng tài sản của Công ty tăng một cách ổn định trong 5 năm nghiên cứu cho thấy sự phát triển và tăng trưởng của DN. Đây là một tín hiệu tốt cho thấy sự tăng trưởng một cách ổn định của Công ty TNHH Một thành viên 189.

2.2.1.2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Trên bảng 2.3, ta thấy được tổng nguồn vốn của doanh nghiệp cơ bản là tăng dần trong giai đoạn 2021-2025. Nguồn vốn biến động là do sự biến động chính của hai khoản mục nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Cụ thể:

  • Giai đoạn 2021-2022:

Năm 2021, tổng nguồn vốn của Công ty là 1.277.439 triệu đồng. Trong đó phát sinh một số khoản chính như sau:

Năm 2021, các khoản nợ phải trả là 640.819 triệu đồng. Do năm 2021 doanh nghiệp đã tiến hành tất toán các khoản vay nợ ngắn hạn và dài hạn với ngân hàng nên hai khoản mục này trên bảng cân đối kế toán của Công ty đã giảm về 0 đồng. Điều này giúp doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng nợ, giảm bớt tiền lãi vay, giảm chi phí sử dụng vốn. Trong năm 2021 doanh nghiệp không phát sinh các khoản nợ dài hạn.

Vốn chủ sở hữu của công ty năm 2021 là 636.619 triệu đồng, chủ yếu là nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Công ty đang tiến hành xây dựng thêm nhà xưởng nên đã có sự bổ sung lợi nhuận thu được vào quỹ đầu tư xây dựng cơ bản năm 2021, riêng khoản mục này đã chiếm 480.529 triệu đồng, với tỷ lệ 75,48% vốn chủ sở hữu.

Năm 2021 chứng kiến biến động tăng của chỉ tiêu Vốn chủ sở hữu và biến động giảm của chỉ tiêu Nợ phải trả nhưng do mức giảm của nợ phải trả cao hơn mức tăng của vốn chủ sở hữu khiến cho tổng nguồn vốn của Công ty giảm nhẹ. Sự biến động của hai khoản mục lớn này cũng cho thấy sự điều chỉnh lại trong cơ cấu nguồn vốn của Công ty.

Năm 2021, tỷ trọng của nợ phải trả và vốn chủ sở hữu gần như bằng nhau. Tức là Công ty đã tăng mức độ chủ động về tài chính của mình lên. Điều này giúp Công ty giảm bớt gánh nặng nợ nần, giảm chi phí sử dụng vốn.

Năm 2022: Tổng nguồn vốn của Công ty đạt được mức 1.378.269 triệu đồng, tăng thêm 100.830 triệu đồng so với năm 2021. Quy mô nguồn vốn được tăng lên là do:

Nợ phải trả trong năm 2022 tăng 92.068 triệu đồng so với năm 2021, lên mức 732.888 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 14,37%. Nợ dài hạn của Công ty không có nên biến động của nợ phải trả là do nợ ngắn hạn tác động. Trong năm 2022, Công ty đã phải đi vay ngắn hạn 40.607 triệu đồng, trong khi năm 2021 khoản mục này không phát sinh. Ngoài ra để đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất tăng cao trong kì, doanh nghiệp phải tiến hành mua nguyên vật liệu, vật tư nhiều hơn, nhưng chưa thanh toán hết cho người bán. Điều đó khiến cho khoản phải trả người bán tăng 25.205 triệu đồng so với năm 2021. Do hoạt động kinh doanh có hiệu quả nên DN cũng phân phối thêm vào quỹ lương của cán bộ công nhân viên và người lao động trong DN để động viên người lao động. Tất cả những điều chỉnh này khiến cho nợ phải trả của Công ty tăng so với năm 2021.

Trong năm 2022, vốn chủ sở hữu của Công ty cũng được điều chỉnh tăng nhẹ lên mức 645.381 triệu đồng, tăng 8.762 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 1,38% so với năm 2021. Sự biến động tăng của vốn chủ sở hữu chủ yếu là do quyết định bổ sung lợi nhuận sau thuế của Công ty vào quỹ đầu tư phát triển 22.825 triệu đồng, và được Bộ Quốc Phòng cấp thêm 23.299 triệu đồng bổ sung thêm vào nguồn vốn đầu tư XDCB cho Công ty, khiến cho hai khoản mục này đều tăng so với năm 2021. Nhưng do vốn đầu tư của chủ sở hữu tụt giảm mạnh, từ 105.504 triệu đồng giảm xuống còn 88.004 triệu đồng,(giảm 17.500 triệu đồng so với năm 2021) khiến cho mức tăng của vốn chủ sở hữu bị giảm xuống. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu đều có biến động tăng khiến cho tổng nguồn vốn của Công ty tăng. Đây là cơ sở để Công ty tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Năm 2022, DN đã sử dụng vốn chiếm dụng nhiều hơn khi chỉ tiêu Nợ phải trả cao hơn chỉ tiêu Vốn chủ sở hữu. Nhưng cơ cấu của nguồn vốn vẫn ở mức đảm bảo được sự an toàn về tài chính cho DN.

  • Năm 2023:

Nguồn vốn của Công ty tăng 21,09% so với năm 2022, tăng lên thành 1.669.012 triệu đồng. Nguyên nhân là sự biến động tăng đồng thời của nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Cụ thể:

Nợ phải trả tăng mạnh trong năm 2023, tăng 38,18% so với năm 2022, từ 732.888 triệu đồng lên mức 1.012.674 triệu đồng. Đây là năm mà chỉ tiêu này biến động tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2021-2025. Do sự tăng mạnh của nợ ngắn hạn, tăng 37,77% so với năm 2022(từ 732.888 triệu đồng lên 1.009.706 triệu đồng). Năm 2023 doanh nghiệp được một số đối tác trả trước một phần giá trị hợp đồng đóng mới tàu có giá trị lớn, khoản trả trước của người mua tăng 96,01% so với năm 2022, cụ thể mức tăng là 374.500 triệu đồng. Chính điều này đã kéo tổng nợ ngắn hạn biến động theo. Ngoài ra năm nay, DN đã tiến hành trả toàn bộ tiền vay ngắn hạn với số tiền là 40.607 triệu đồng, khiến cho khoản mục này về 0 đồng.

Năm 2023 vốn chủ sở hữu của Công ty vẫn tiếp tục tăng nhẹ, tăng 1,7% so với năm 2022. Vì DN tiếp tục bổ sung nguồn cho vốn khác của Chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển và nguồn vốn xây dựng cơ bản của Công ty. Ngoài ra năm 2023, vốn đầu tư của chủ sở hữu giảm 88.004 triều đồng, về mức 0 đồng nhưng vốn khác quyền chủ sở hữu lại tăng 86.866 triệu đồng.

Cơ cấu nguồn vốn trong năm 2023 có biến động mạnh, nợ phải trả tăng cao, khiến tỷ trọng nợ phải trả tăng lên gần bằng 61% trên tổng nguồn vốn, tỷ trọng vốn chủ sở hữu giảm xuống còn trên 39% trên tổng nguồn vốn.

Năm 2024: Tổng nguồn vốn tiếp tục tăng 381.277 triệu đồng so với năm 2023, lên mức 2.050.289 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 22,84%. Đây cũng là năm tổng nguồn vốn có sự tăng trưởng cao nhất trong 5 năm nghiên cứu.

Nợ phải trả là 1.377.142 triệu đồng, tăng 364.468 triệu đồng so với năm 2023, nguyên nhân chủ yếu là do sự biến động của nợ ngắn hạn. Trong năm 2024, Bộ tư lệnh Cảnh Sát biển đã ứng trước một khoản tiền lớn cho doanh nghiệp để đóng mới tàu tuần tra, khiến cho khoản người mua trả tiền trước tăng 348.263 triệu đồng so với năm 2023. Bên cạnh đó, khoản phải trả người bán cũng tăng 18.640 triệu đồng so với năm 2023. Nhưng trong năm 2024, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước giảm 2.987 triệu đồng so với năm 2023. Điều này cho thấy doanh nghiệp luôn chủ động thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình với Nhà nước, giảm các khoản nợ thuế. Ngoài ra Công ty tiếp tục chính sách vay dài hạn để phục vụ sản xuất kinh doanh, khiến nợ dài hạn trong năm tăng 3.095 triệu đồng so với năm 2023. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Vốn chủ sở hữu của Công ty tăng 16.809 triệu đồng so với năm 2023, lên 673.147 triệu đồng. Biến động của vốn chủ sở hữu chủ yếu là do sự tăng lên của vốn khác quyền chủ sở hữu, tăng 28.700 triệu đồng so với năm 2023, từ 86.866 triệu đồng lên 115.566 triệu đồng. So với năm 2023, quỹ đầu tư phát triển trong năm 2024 tăng 9.291 triệu đồng càng khiến cho vốn chủ sở hữu tăng cao hơn.

Năm 2025 tổng nguồn vốn của Công ty là 1.825.499 triệu đồng, giảm 224.790 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 10,96%.

Trong năm 2025, nợ phải trả là 1.165.690 triệu đồng, giảm 211.452 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 15,35%. Nguyên nhân là do nợ ngắn hạn bị giảm, trong đó, khoản bị giảm lớn nhất là người mua trả tiền trước, giảm từ 1.112.821 triệu đồng ở năm 2024 xuống còn 701.733 triệu đồng năm 2025, tỷ lệ giảm là 36,94%, số giảm là 411.088 triệu đồng. Trong năm, có một số khoản như phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải trả ngắn hạn có tăng nhưng không đáng kể.

Vốn Chủ sở hữu của Công ty năm 2025 giảm 13.338 triệu đồng so với năm 2024, còn 659.809 triệu đồng, tỷ lệ giảm 1,98%. Lý do, trong năm 2025 vốn khác quyền Chủ sở hữu tăng một khoản nhưng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản lại giảm một khoản lớn so với năm 2024.

Tóm lại, tổng nguồn vốn của doanh nghiệp có xu hướng được gia tăng một cách vững chắc mà nguyên nhân chính là do sự tăng lên của Nợ phải trả. Điều này chứng tỏ DN đang chiếm dụng được vốn của khách hàng để phục vụ cho hoạt động SXKD của mình. Nhưng do doanh nghiệp chủ yếu gia tăng vốn chiếm dụng của người mua trả tiền trước nên giảm được rủi ro tài chính cho DN. Vì vậy DN cần đề ra biện pháp tiếp tục gia tăng nguồn vốn theo hướng đang thực hiện để tạo điều kiện cho DN mở rộng hơn nữa hoạt động SXKD của mình.

2.2.2. Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH Một thành viên 189 Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

2.2.2.1. Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty

  • a) Phân tích tình hình sử dụng vốn của Công ty TNHH MTV 189

Trên bảng 2.4 ta thấy tổng vốn của Công ty có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2021-2024, nhưng đến năm 2025, lại giảm một chút. Năm 2021 tổng vốn của Công ty là 1.277.439 triệu đồng. Sang năm 2022, tổng vốn của Công ty là 1.378.268 triệu đồng, tăng 100.829 triệu đồng so với năm 2021. Đà tăng tiếp tục được duy trì ở năm 2023, với mức tăng 290.743 triệu đồng so với năm 2022 đẩy mức tổng vốn năm 2023 của Công ty lên 1.669.011 triệu đồng, tỷ lệ tăng năm 2023 so với năm 2022 là 21,09%. Sang năm 2024, tổng vốn của Công ty đã tăng lên mức cao nhất trong 5 năm nghiên cứu là 2.050.289 triệu đồng, cao hơn so với năm 2023 là 381.278 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 22,84%. Đến năm 2025, tổng vốn của Công ty giảm xuống còn 1.825.499 triệu đồng, giảm 224.790 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 10,96%. Nguyên nhân khiến cho vốn biến động qua từng năm cụ thể như sau:

Năm 2022, cả VLĐ, VCĐ và vốn đầu tư tài chính của Công ty đều tăng nên đã kéo tổng vốn của Công ty tăng 7,89% so với năm 2021. VLĐ của Công ty tăng 12,22% so với năm 2021. VCĐ tăng 0,93% so với năm 2021. Vốn đầu tư tài chính của Công ty tăng 9,3% so với năm 2021. Do nhu cầu cần huy động thêm vốn nên doanh nghiệp quyết định đầu tư thêm vốn cho Công ty CP Tân Cảng-189 để mở rộng hoạt động kinh doanh.

Sang năm 2023, cả ba loại vốn thành phần đều tiếp tục đà tăng. Vốn cố định của Công ty tăng 10.882 triệu đồng so với năm 2022, tỷ lệ tăng là 2,31%. Vốn lưu động tăng 278.559 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 34,41% so với năm 2022. Vốn đầu tư tài chính tăng 1.302 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 1,34% so với năm 2022.

Năm 2024, VLĐ của Công ty tăng mạnh, với mức 383.942 triệu đồng so với năm 2023, tỷ lệ tăng 35,28%, lên thành 1.472.130 triệu đồng . Vốn cố định của Công ty cũng tăng 19.480 triệu đồng so với năm 2023, từ 482.179 triệu đồng tăng lên thành 501.659 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 4,04%. Đây là năm mà hai khoản vốn này tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2021- 2025, khiến cho tổng vốn của doanh nghiệp cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm nghiên cứu. Mặc dù vốn đầu tư tài chính của Công ty có giảm 22.144 triệu đồng so với năm 2023.

Bước sang năm 2025, vốn cố định của Công ty tăng 12.838 triệu đồng, từ 501.659 triệu đồng lên 514.497 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 2,56%. Vốn lưu động giảm mạnh(giảm 235.860 triệu đồng), từ 1.472.130 triệu đồng xuống còn 1.236.270 triệu đồng, tỷ lệ giảm là 16,02%. Chính vì vậy đã kéo theo tổng vốn của năm 2025 giảm xuống còn 1.825.499 triệu đồng, giảm 224.790 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 10,96%. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

  • Biểu đồ 2.1: Cơ cấu vốn của Công ty trong giai đoạn 2021-2025

Nhìn vào biểu đồ 2.1 ta có thể thấy trong 5 năm từ 2021- 2025, vốn lưu động luôn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng vốn của Công ty. Cơ cấu vốn như vậy chưa thực sự hợp lý đối với một Công ty sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực đóng mới và sửa chữa tàu, một lĩnh vực cần sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất. Vì vậy Công ty nên có sự điều chỉnh lại cơ cấu vốn cho hợp lý hơn, gia tăng vốn cố định để có đủ cơ sở vật chất công nghệ kỹ thuật hiện đại từ đó sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, nghiên cứu tạo ra nhiều mẫu sản phẩm mới để phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường, làm tăng khả năng cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn trong khu vực.

Tóm lại, tổng vốn của Công ty cơ bản được gia tăng trong giai đoạn 2021- 2025. Đây là cơ sở để Công ty có thể mở rộng và phát triển hơn nữa hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng cơ cấu vốn của Công ty chưa thực sự phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc vốn sản xuất kinh doanh của Công ty tăng lên một cách ổn định là một thành công trong quá trình phát triển của Công ty.

  • b) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH MTV 189

Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy hiệu quả sử dụng vốn của Công ty được phản ánh thông qua hai chỉ tiêu chính là tỷ suất sinh lời của vốn, và hiệu suất sử dụng vốn.

  • Tỷ suất sinh lời của vốn:

Tỷ suất sinh lời của vốn có biến động không được ổn định trong giai đoạn 2021-2025. Ta có thể thấy, trong giai đoạn 2021-2023 tỷ suất sinh lời của vốn tăng liên tục. Năm 2021, chỉ tiêu này đạt 1,51%. Điều này cho thấy năm 2021 Công ty đã sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả. Năm 2022 chỉ tiêu này tiếp tục tăng, đạt 1,61% và đến năm 2023, chỉ tiêu này lại tiếp tục tăng lên mức 1,63%, tăng nhẹ so với năm 2022. Do hai năm này Công ty đã tập trung đầu tư thêm vốn vào sản xuất kinh doanh. Và việc đầu tư này đã đem lại hiệu quả, nó ngay lập tức làm tăng lợi nhuận sau thuế của Công ty. Mức tăng của LNST cao hơn mức tăng của vốn SXKD. Ta có thể thấy trong giai đoạn từ 2021-2023 Công ty đang áp dụng chính sách sử dụng vốn có hiệu quả, tuy khả năng sinh lời của đồng vốn chưa được cao. Nhưng đến năm 2024, chỉ tiêu vốn kinh doanh BQ tăng 22,05% so với năm 2023, nhưng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế chỉ tăng 3,36% so với năm 2023, do đó, tỷ suất sinh lời của VKD năm 2024 bị giảm, chỉ đạt 1,38%, giảm 15,32% so với năm 2023, tức là khả năng tạo ra LNST của đồng vốn đầu tư bị giảm. Vốn kinh doanh vẫn tiếp tục được Công ty bổ sung thêm nhưng tốc độ tăng của lợi nhuận lại chậm hơn tốc độ tăng của vốn khiến cho chỉ tiêu này bị giảm. Sang năm 2025, tỷ suất sinh lời của vốn là 1,52%, tăng 0,15 so với năm 2024, tỷ lệ tăng là 10,77%. Trong năm này, DN vẫn tiếp tục bổ sung thêm vốn để tiếp tục đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu vốn kinh doanh BQ năm 2025 tăng 4,21% so với năm 2024, trong đó, chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế lại tăng 15,43% so với năm 2024. Việc này đã làm cho tỷ suất sinh lời của vốn lại tăng trở lại so với năm 2024. Điều này cho thấy việc Công ty tiếp tục mạnh dạn đầu tư thêm vốn tại thời điểm này đã mang lại kết quả tốt.

  • Hiệu suất sử dụng vốn: Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Trong giai đoạn 2021-2025, hiệu suất sử dụng vốn của Công ty cũng có biến động nhỏ. Trong năm 2021 hiệu suất sử dụng vốn của Công ty đạt mức 0,51 lần. Sang năm 2022, chỉ tiêu này tăng 7,53% so với năm 2021, lên mức 0,55 lần. Do doanh thu thuần của Công ty trong năm tăng mạnh hơn mức tăng của vốn SXKD. Điều này cho thấy việc đầu tư thêm vốn đang giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó thu hút được nhiều khách hàng tìm tới đặt hàng. Nhưng thành công này không được duy trì ở năm 2023, khi hiệu suất sử dụng vốn trong năm 2023 giảm xuống còn 0,48 lần. Nguyên nhân chính là do Công ty tiếp tục đầu tư thêm vốn cho sản xuất kinh doanh nhưng doanh thu không những không tăng mà còn giảm nhẹ so với năm trước. Do khó khăn chung của ngành đóng tàu trong giai đoạn này đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Năm 2024 doanh nghiệp vẫn tiếp tục đầu tư thêm vốn để nâng cấp cơ sở hạ tầng và dây chuyền máy móc thiết bị. Và những đầu tư này đã mang lại thành công cho Công ty khi đã một lần nữa khẳng định uy tín, chất lượng sản phẩm của mình trong ngành khiến doanh thu thuần tăng mạnh. Hiệu suất sử dụng vốn của Công ty trong năm 2024 tăng 34,85% so với năm 2023, từ mức 0,48 lần lên mức 0,64 lần. Sang năm 2025, Công ty vẫn tiếp tục đầu tư thêm vốn vào nguồn vốn sản xuất kinh doanh của mình. Trong năm này, cả doanh thu và lợi nhuận của Công ty đều tăng so với năm 2024, vì vậy, hiệu suất sử dụng vốn của Công ty cũng tăng lên mức 0,72 lần, tỷ lệ tăng 11,55% so với năm 2024. Điều đó chứng tỏ, trong giai đoạn 2021-2025, Ban lãnh đạo Công ty đã tìm ra được hướng đi đúng cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển và tăng trưởng một cách ổn định.

Tóm lại, trong giai đoạn 2021-2025, Công ty liên tục bổ sung vốn đầu tư cho hoạt động SXKD đã từng bước mang lại hiệu quả khi giúp doanh nghiệp tăng được khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó gia tăng được các chỉ số doanh thu và lợi nhuận. Nhưng khả năng tăng trưởng của lợi nhuận vẫn chưa được cao. Chứng tỏ doanh nghiệp vẫn còn chưa tận dụng triệt để dồng vốn, chưa tiết kiệm đồng vốn bỏ ra. Trong những năm tới, lãnh đạo DN cần có sự quản lý vốn chặt chẽ hơn nữa, tìm cách tiết kiệm chi phí để tăng lợi nhuận, tức là làm tăng hiệu quả sử dụng cho đồng vốn SXKD của DN.

2.2.2.2. Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty

  • a) Phân tích tình tình sử dụng vốn lưu động của Công ty

Cơ cấu vốn lưu động: Trong giai đoạn từ 2021 đến 2025, vốn lưu động của Công ty cơ bản là tăng . Cơ cấu VLĐ cũng có sự thay đổi qua các năm, nhưng hàng tồn kho vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất tổng VLĐ. Năm 2021,số VLĐ của Công ty là 721.442 triệu đồng. Năm 2022, VLĐ của Công ty là 809.629 triệu đồng, tăng 88.187 triệu đồng so với năm 2021, tỷ lệ tăng là 12,22%. Doanh nghiệp trong năm bị chiếm dụng vốn nhiều khiến cho các khoản phải thu ngắn hạn tăng mạnh, tăng 56.006 triệu đồng so với năm 2021, tỷ lệ tăng là 57,36%. Thêm vào đó khoản mục hàng tồn kho cũng tăng 87.719 triệu đồng so với năm 2021. Mặc dù tiền và các khoản tương đương tiền giảm 58.882 triệu đồng so với năm 2021, do lượng tiền mặt tại quỹ giảm mạnh, nhưng nó chỉ hạn chế đà tăng của vốn lưu động trong năm. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Năm 2023, tổng VLĐ của Công ty tăng 278.559 triệu đồng so với năm 2022, tỷ lệ tăng tăng 34,41%, làm cho tổng vốn lưu động đạt mức 1.088.188 triệu đồng. Cơ cấu vốn lưu động cũng có sự thay đổi lớn. Tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty tăng đột biến, tăng 353.489 triệu đồng, tỷ lệ tăng là 444,72% so với năm 2022, và trở thành khoản mục chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng VLĐ. Do trong năm, DN được khách hàng tạm ứng trước một lượng lớn giá trị của hợp đồng đóng mới tàu đã khiến cho lượng tiền tăng mạnh. Ngoài ra trong năm lượng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ cũng tăng, do hoạt động mua vào tăng, là nguyên nhân chủ yếu làm cho tài sản ngắn hạn khác tăng 41,117 triệu đồng so với năm 2022. Biến động ngược chiều với các chỉ tiêu trên là sự sụt giảm của hàng tồn kho, trong năm 2023, lượng hàng tồn kho giảm xuống còn 432.581 triệu đồng, giảm 116.202 triệu đồng so với năm 2022, tỷ lệ giảm 21,17%. Đã khiến tỷ trọng của hàng tồn kho trên tổng vốn lưu động giảm. Ta thấy lượng vốn tăng nhiều hơn lượng vốn giảm khiến cho năm 2023, chỉ số vốn lưu động vẫn tăng lên.

Năm 2024, vốn lưu động tiếp tục tăng thêm 383.942 triệu đồng so với năm 2023, tỷ lệ tăng 35,28%, lên mức 1.472.130 triệu đồng. Chủ yếu do DN mở rộng quy mô hoạt động sản xuất khiến cho lượng hàng tồn kho tăng mạnh, tăng 348.928 triệu đồng so với năm 2023. Ngoài ra, các khoản phải thu cũng có sự điều chỉnh tăng, tăng 8.206 triệu đồng so với năm 2023. Tiền và các khoản tương đương tuy có giảm nhẹ, giảm 2.416 triệu đồng so với năm 2023, nhưng vẫn được duy trì ở mức cao, là khoản mục chiếm tỷ trọng cao thứ hai sau hàng tồn kho trong năm 2024.

Sang năm 2025, tổng vốn lưu động của Công ty đạt mức 1.210.180 triệu đồng, giảm 261.950 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 17,79%. Nguyên nhân giảm là do trong năm 2025, khoản trả trước cho người bán giảm mạnh nhất: giảm 59.853 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 59,64%. Hàng tồn kho giảm 180.488 triệu đồng so với năm 2024 cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự sụt giảm của tổng vốn lưu động trong năm 2025.

Như vậy, lượng VLĐ của Công ty cơ bản là được bổ sung tăng thêm trong vòng 5 năm nghiên cứu (năm 2021 là 721.442 triệu đồng, năm 2025 là 1.210.180 triệu đồng). Điều này sẽ tạo điều kiện để DN mở rộng quy mô sản xuất cũng như gia tăng thêm khả năng thanh toán ngắn hạn cho DN.

  • Tình hình quản lý các khoản phải thu: Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Các khoản phải thu của Công ty ở giai đoạn 2021- 2025, cơ bản là có xu hướng tăng dần. Năm 2021, số liệu các khoản phải thu là 97.644 triệu đồng, trong đó, khoản trả trước cho người bán là 62.138 triệu đồng, chiếm 63,6% trong các khoản phải thu .

Năm 2022, các khoản phải thu tăng mạnh, tăng 56.007 triệu đồng so với năm 2021, tỷ lệ tăng là 57,36%, lên thành 153.651 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do doanh nghiệp đặt cọc tiền để mua vật tư thiết bị phục vụ sản xuất. Các khoản phải thu của khách hàng tăng cao, từ 30.710 triệu đồng năm 2021 lên 116.638 triệu đồng năm 2022, tăng 85.928 triệu so với năm 2021. Chính vì các khoản phải thu của khách hàng tiếp tục tăng nên khoản dự phòng phải thu khó đòi trong năm lại tăng thêm 967 triệu đồng so với năm 2021. Nhưng năm 2022, doanh nghiệp đã giảm được các khoản phải ứng trước cho người bán, khiến cho khoản trả trước cho người bán tiếp tục giảm 28.793 triệu đồng so với năm 2021, xuống còn 33.345 triệu đồng.

Năm 2023, các khoản phải thu là 153.806 triệu đồng, có tăng nhẹ so với năm 2022. Điều này là do biến động tăng của các khoản trả trước người bán, từ 33.345 triệu đồng năm 2022 tăng lên 98.640 triệu đồng năm 2023, và biến động giảm của khoản phải thu của khách hàng (116.638 triệu đồng năm 2022 và 51.998 triệu đồng năm 2023) tương đương nhau. Mà đây là hai khoản mục lớn nhất trong tổng các khoản phải thu. Những biện pháp tăng cường thu hồi công nợ của Công ty đã phát huy hiệu quả, khi năm 2023 Công ty đã thu được tiền của các hợp đồng lớn đã hoàn thành từ năm 2022 của một số khách hàng. Điều này làm các khoản phải thu khách hàng giảm 64.460 triệu đồng so với năm 2022. Nhưng do năm 2023 doanh nghiệp đã phải đặt cọc để mua thêm vật tư thiết bị ở cả trong nước và nước ngoài, cũng như các yếu tố đầu vào khác để đáp ứng nhu cầu SXKD nên các khoản trả trước người bán tăng 65.295 triệu đồng so với năm 2022, (tăng lên 98.640 triệu đồng).

Bước sang năm 2024, các khoản phải thu tiếp tăng cao so với các năm trước, tăng 8.205 triệu đồng so với năm 2023, tăng lên thành 162.012 triệu đồng. Do hoạt động SXKD năm 2024 hoạt động mạnh hơn năm 2023, các hợp đồng đóng mới, sửa chữa tàu tăng nhiều khiến cho các khoản phải thu khách hàng tăng nhẹ, tăng 8.725 triệu đồng so với năm 2023 (tăng lên thành 60.723 triệu đồng). Nhu cầu nhập khẩu NVL, vật tư thiết bị ở nước ngoài cũng tăng nên các khoản trả trước người bán tăng 1.715 triệu đồng so với năm 2023 (tăng lên thành 100.355 triệu đồng). Nhưng các khoản phải thu khác lại giảm 2.208 triệu đồng so với năm 2023, còn 6.545 triệu đồng.

Năm 2025, các khoản phải thu là 134.473 triệu đồng, giảm 27.5398 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ giảm là 17%. Nguyên nhân chính để giảm các khoản phải thu là do năm 2025, khoản trả trước cho người bán giảm mạnh, giảm 59.853 triệu đồng so với năm 2024, từ 100.355 triệu đồng ở năm 2024 giảm xuống 40.502 triệu đồng năm 2025, lý do là sang năm 2025, Công ty đã giảm được khoản tạm ứng để mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất. Khoản phải thu của khách hàng tăng lên 33.861 triệu đồng so với năm 2024 (từ 60.723 triệu đồng tăng lên 94.584 triệu đồng).

Như vậy, các khoản phải thu có chiều hướng tăng trong giai đoạn 2021-2025 cho thấy doanh nghiệp quản lý các khoản nợ phải thu chưa được tốt. Việc chỉ tiêu này tăng chủ yếu do việc tăng lên của các khoản phải thu khách hàng và các khoản trả trước người bán. Do vậy doanh nghiệp cần tập trung quản lý chặt hơn nữa công tác thu hồi công nợ, đốc thúc việc thu tiền các hợp đồng đã hoàn thành bàn giao cho khách, rút ngắn thời hạn thanh toán hợp đồng…Ngoài ra cũng cần phải có những biện pháp làm sao để giảm được số tiền đặt cọc trước cho người bán giảm tình trạng bị chiếm dụng vốn trong thời gian tới.

  • Tình hình quản lý hàng tồn kho: Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Hàng tồn kho của Công ty luôn có biến động trong giai đoạn 2021-2025. Số liệu hàng tồn kho năm 2021 là 461.064 triệu đồng. Năm 2022, hàng tồn kho tăng lên mức 548.783 triệu đồng, tăng 87.719 triệu đồng so với năm 2021, tỷ lệ tăng là 19,03%. Nguyên nhân chủ yếu do Công ty phải nhập thêm một lượng lớn nguyên vật liệu để chuẩn bị đóng mới một số tàu xuất khẩu cho tập đoàn Damen (Hà Lan). Sang năm 2023, lượng hàng tồn kho lại giảm 116.202 triệu đồng so với năm 2022, xuống còn 432.581 triệu đồng, tỷ lệ giảm là 21,17%. Do một lượng lớn nguyên vật liệu, vật tư thiết bị trong kho đã dùng cho sản xuất, sản phẩm hoàn thành đã bàn giao trong năm cho khách hàng. Nhưng năm 2024, hàng tồn kho tăng mạnh, tăng 348.928 triệu đồng so với năm 2023, lên 781.509 triệu đồng, tỷ lệ tăng 80,66%. Nguyên nhân chủ yếu do Công ty nhận được hợp đồng đóng mới tàu cho lực lượng Cảnh Sát biển Việt nam với giá trị rất lớn, nên Công ty đã tiến hành nhập thêm vật tư nguyên vật liệu chuẩn bị cho sản xuất, ngoài ra, còn một nguyên nhân nữa là đến cuối năm 2024 một số sản phẩm đã hoàn thành nhưng chưa hoàn thiện thủ tục quyết toán, bàn giao cho khách hàng. Bước sang năm 2025, lượng hàng tồn kho lại giảm 180.488 triệu đồng so với năm 2024, xuống còn 601.021 triệu đồng, tỷ lệ giảm 23,09%. Nguyên nhân giảm là do, trong năm, lượng nguyên vật liệu, vật tư thiết bị xuất kho để đóng tàu cho Cảnh sát biển với số lượng lớn, đã quyết toán và bàn giao được một số sản phẩm dở dang có giá trị lớn.

Vật tư, hàng hóa tồn kho của Công ty đều là những mặt hàng có giá trị lớn, khả năng bị giảm giá do tiến bộ kĩ thuật, do quy cách bảo quản, lưu kho… nên doanh nghiệp phải tiến hành trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho lại là chỉ tiêu làm giảm giá trị khoản mục hàng tồn kho. Trong năm 2021 và năm 2022 mức trích lập dự phòng hàng năm là 1.194 triệu đồng mỗi năm. Nhưng sang đến năm 2023, chỉ tiêu này tăng lên 4.081 triệu đồng, tăng 241,79% so với năm 2022. Nguyên nhân chủ yếu do, năm 2023 có một số tiến bộ kỹ thuật trong ngành đóng tàu, điều này có thể khiến cho hàng hóa trong kho của Công ty bị lỗi thời nên Công ty phải gia tăng mức trích lập dự phòng. Năm 2024 và năm 2025, chỉ tiêu này tăng nhẹ lên 4.633 triệu đồng, chủ yếu là do lượng hàng tốn trong kho lớn khiến công ty phải gia tăng thêm mức dự phòng để phòng khi có rủi ro xảy ra.

Như vậy, hàng tồn kho của Công ty có hiện tượng tăng giảm bất thường trong 5 năm nghiên cứu, nhưng vẫn ở mức cao. Do đặc thù sản xuất kinh doanh nên giá trị, số lượng vật tư, hàng hóa tồn kho luôn lớn nhưng Công ty cũng cần có biện pháp quản lý chặt chẽ, luân chuyển nhanh để tránh tình trạng ứ đọng vốn quá lớn ở hàng tồn kho. Ngoài ra, lượng hàng tồn kho càng lớn Công ty càng đối diện với rủi ro giảm giá hàng tồn kho, nên Công ty nên có mức trích lập dự phòng cho hợp lý và lập ra quy chế quản lý, sử dụng vật tư, hàng hóa để giảm thiểu rủi ro cho Công ty.

Tóm lại, vốn lưu động của Công ty liên tục được gia tăng trong giai đoạn 2021-2025. Điều này giúp cho việc mở rộng hơn nữa hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Đây là một tín hiệu tốt cho Công ty. Nhưng việc các khoản phải thu của Công ty cũng tăng cho thấy lượng vốn của Công ty bị chiếm dụng ngày càng tăng, nên Công ty cần đề ra chính sách theo dõi, thanh toán công nợ hợp lý hơn nữa. Ngoài ra việc quản lý hàng tồn kho cần phải chặt chẽ hơn khi lượng hàng tồn kho đang ở mức tương đối cao. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

  • b) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty

Nhìn vào bảng 2.7 ta thấy được hiệu quả sử dụng VLĐ của Công ty trong giai đoạn 2021-2025. Cụ thể:

  • Hệ số đảm nhiệm VLĐ:

Hệ số đảm nhiệm VLĐ của Công ty biến động bất thường trong 5 năm nghiên cứu. Năm 2021, chỉ tiêu này là 1,21 lần, tức là để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp cần bỏ ra 1,21 đồng vốn lưu động bình quân. . Năm 2022, chỉ tiêu này giảm xuống còn 1,05 lần, giảm 13,09% so với năm 2021. Nguyên nhân do số vốn lưu động bình quân của Công ty giảm nhưng doanh thu của Công ty không những không giảm mà còn tăng. Chứng tỏ chứng sách quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty đang phát huy tốt hiệu quả, Công ty gần như chỉ cần bỏ ra bình quân 1 đồng vốn lưu động đã có thể thu về 1 đồng DTT. Nhưng sang đến năm 2023, hệ số đảm nhiệm VLĐ của Công ty lại tăng mạnh lên 1,31 lần, tăng 24,35% so với năm 2022. Do DN thấy hiệu quả sử dụng VLĐ những năm trước nên có kế hoạch đầu tư thêm VLĐ để mở rộng hoạt động SXKD năm 2023. Nhưng doanh thu thuần năm 2023 không những không tăng mà còn giảm nhẹ. Sang đến năm 2024, việc đầu tư thêm vốn lưu động của Công ty mới phát huy tác dụng, tạo điều kiện gia tăng doanh thu thuần trong năm khiến cho hệ số đảm nhiệm VLĐ giảm 18,03% so với năm 2023, xuống còn 1,07 lần. Năm 2025, hệ số đảm nhiệm VLĐ của Công ty là 0,89 lần, giảm 16,92% so với năm 2024. Đây là năm chỉ tiêu này đạt mức thấp nhất trong 5 năm. Điều này cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng VLĐ của mình một cách hiệu quả hơn.

  • Sức sinh lời của VLĐ:

Sức sinh lời của VLĐ ở Công ty có những biến động bất thường trong giai đoạn 2021-2025. Năm 2021, sức sinh lời của VLĐ là 2,4% , năm 2022, chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên 2,79%, tăng thêm 0,35% so với năm 2021, tỷ lệ tăng là 14,43%. Điều này cho thấy, trong 3 năm đó khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của đồng VLĐ ngày càng tăng, hay nói cách khác hiệu quả kinh tế mang lại từ sử dụng VLĐ ngày càng cao. Nguyên nhân do, VLĐ bình quân giảm trong năm 2022 so với năm 2021 nhưng lợi nhuận sau thuế không những không giảm mà còn tăng. Thành công này không được duy trì ở hai năm tiếp theo. Năm 2023- 2024, sức sinh lời của VLĐ giảm liên tiếp. Năm 2023, chỉ tiêu này giảm 0,18% so với năm 2022, xuống còn 2,61% . Năm 2024, tiếp tục giảm 0,61% so với năm 2023 xuống còn 2% . Đây là một mức thấp so với quy mô của doanh nghiệp. Sang năm 2025, sức sinh lời của VLĐ là 2,39%, tăng thêm 0,39% so với năm 2024, đây là mức tương đối thấp trong 5 năm nghiên cứu. Tuy nhiên, lượng vốn lưu động bình quân năm 2025 cũng giảm chút ít so với năm 2024.

  • Số vòng quay VLĐ: Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Số vòng quay VLĐ tăng giảm thất thường trong giai đoạn 2021-2025. Năm 2021, số vòng quay của VLĐ là 0,83 vòng. Năm 2022, chỉ tiêu này là 0,95 vòng, tăng 15,07% so với năm 2021. Điều này cho thấy tốc độ quay vòng của vốn VLĐ đã tăng dần, thời gian thu hồi VLĐ ngày càng được rút ngắn. Nguyên nhân là do lượng VLĐ bình quân năm 2022 giảm so với năm 2021 nhưng doanh thu thuần năm 2022 lại tăng so với năm 2021 khiến cho tốc độ luân chuyển VLĐ tăng lên. Nhưng sang đến năm 2023 thì chỉ tiêu này lại giảm 19,58% so với năm 2022, xuống còn 0,77 vòng. Do doanh nghiệp gia tăng thêm VLĐ bình quân nhưng DTT của Công ty lại giảm nhẹ. Sang năm 2024, chỉ tiêu này đã được cải thiện, tăng lên mức 0,93 vòng, tăng 0,17 vòng so với năm 2023. Do doanh thu thuần đã tăng mạnh khi doanh nghiệp tiếp tục đầu tư thêm VLĐ. Sang năm 2025, số vòng quay của VLĐ tiếp tục tăng lên thành 1,12 vòng, tăng thêm 20,36% so với năm 2024. Nguyên nhân số vòng quay của VLĐ năm 2025 tăng mạnh vì trong năm, doanh thu thuần tăng mạnh so với năm trước, VLĐ bình quân lại giảm một chút. Chứng tỏ điều này là một tín hiệu tăng trưởng tốt với doanh nghiệp, cho thấy tốc độ luân chuyển VLĐ đã được cải thiện. Tuy nhiên, ban lãnh đạo Công ty cần tiếp tục có những biện pháp hữu hiệu hơn nữa để gia tăng tốc độ quay vòng VLĐ, giúp doanh nghiệp giảm được rủi ro và kích thích phát triển sản xuất kinh doanh.

  • Số vòng quay hàng tồn kho:

Số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2021-2025. Năm 2021, chỉ tiêu này là 1,21 vòng. Sang năm 2022, chỉ tiêu này giảm 2,90% so với năm 2021, xuống còn 1,17 vòng. Số vòng quay hàng tồn kho giảm so với năm trước cho thấy hoạt động quản trị hàng tồn kho chưa đạt được hiệu quả, lượng hàng ứ đọng nhiều hơn nhu cầu SXKD của DN. Thấy được thực trạng đó, DN đã đưa ra những biện pháp hiệu quả để cải thiện tình hình. Sang năm 2023, số vòng quay hàng tồn kho tăng lên thành 1,35 vòng, tăng 15,12% so với năm 2022. Lượng hàng tồn kho của Công ty đã được điều chỉnh giảm xuống, trong khi tình hình tiêu thụ vật tư, nguyên vật liệu lại khả quan hơn, làm cho giá vốn hàng bán của Công ty trong năm 2023 tăng lên.

Điều này giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí lưu kho và rủi ro hàng tồn kho. Sang năm 2024, chỉ tiêu này tiếp tục tăng 35,12% so với năm 2023, lên mức là 1,82 vòng. Tiếp tục đà tăng trưởng, sang năm 2025, chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho tăng 23,93% so với năm 2024,đạt mức 2,26 vòng, mức cao nhất trong 5 năm nghiên cứu. Nguyên nhân, trong năm 2025, lượng hàng tồn kho bình quân có giảm so với năm 2024, nhưng doanh thu thuần và giá vốn đều tăng lên mức cao nhất trong vòng 5 năm (2021-2025).

Do sự tăng mạnh của hoạt động SXKD trong kì để đáp ứng cho nhu cầu đầu ra nên lượng hàng nhập về kho để phục vụ sản xuất cũng tăng theo. Nhưng mức độ tăng của doanh thu cao hơn mức độ tăng của hàng tồn kho bình quân đã khiến chỉ tiêu này tăng. Vậy doanh nghiệp hiện đang thực hiên công tác quản trị hàng tồn kho theo hướng có hiệu quả, khiến cho tốc độ luân chuyển hàng tồn kho tăng lên, nhằm giảm thiểu được rủi ro và chi phí lưu kho cho doanh nghiệp.

  • Vòng quay các khoản phải thu: Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Vòng quay các khoản phải thu của Công ty có biến động bất thường trong 5 năm nghiên cứu. Năm 2021, vòng quay các khoản phải thu là 5,77 vòng. Sang năm 2022, chỉ tiêu này có bước tăng mạnh, lên mức 9,89 vòng. Điều này cho thấy công tác thu hồi công nợ của Công ty đã đạt hiệu quả, làm tăng được khả năng bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp. Các khoản phải thu bình quân của Công ty tiếp tục giảm mạnh, trong khi tình hình kinh doanh của Công ty phát triển hơn. Nhưng sang đến năm 2023, vòng quay các khoản phải thu đột ngột giảm mạnh, giảm 52,23% so với năm 2022, xuống còn 4,72 vòng. Như vậy khả năng thu hồi công nợ của Công ty giảm, điều này sẽ ảnh hưởng tới lượng tiền mặt của Công ty. Nguyên nhân là do số vốn của Công ty bị khách hàng chiếm dụng tăng mạnh, trong khi doanh thu thuần lại bị giảm nhẹ. Doanh nghiệp nên xem lại chính sách tín dụng thương mại của mình để từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Sang năm 2024, chỉ tiêu vòng quay các khoản phải thu của Công ty đã tăng 60,23% so với năm 2023, lên mức 7,57 vòng. Năm 2025, chỉ tiêu này tiếp tục tăng mạnh, lên mức 9,37 vòng, tăng 23,82% so với năm 2024, đồng thời, chỉ tiêu phải thu bình quân cũng giảm so với năm 2023 và 2024. Điều này chứng tỏ, trong năm 2025, Công ty đã cải thiện được tình hình thu hồi công nợ của mình. Tuy nhiên, Công ty vẫn cần thường xuyên kiểm soát việc theo dõi và thu hồi công nợ để tránh tình trạng nợ đọng kéo dài, nợ khó đòi gia tăng, giảm tình trạng bị chiếm dụng vốn trong sản xuất kinh doanh.

Tóm lại, trong giai đoạn 2021-2025, VLĐ của Công ty cơ bản được đầu tư tăng thêm, hiệu quả sử dụng VLĐ cũng tăng lên: số VLĐ mà DN cần bỏ ra để thu về 1 đồng doanh thu đã giảm, tốc độ quay vòng VLĐ tăng, công tác quản trị hàng tồn kho đạt hiệu quả hơn, số vòng quay các khoản phải thu cũng tăng, cho thấy hoạt động thu đòi nợ đang đạt hiệu quả.

2.2.2.3. Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty

  • a) Phân tích tình hình sử dụng vốn cố định của Công ty

Nhìn trên bảng 2.8, ta thấy vốn cố định của Công ty ngày càng tăng trong giai đoạn 2021-2025.

Điều này cho thấy VCĐ của Công ty đã được điều chỉnh để phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh cũng như định hướng phát triển mở rộng sản xuất của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn cố định cũng biến động hàng năm bởi sự thay đổi của hai chỉ tiêu nguyên giá TSCĐ, và khấu hao TSCĐ. Nguyên giá TSCĐ của Công ty tăng liên tục trong 5 năm nghiên cứu vì đây là giai đoạn Công ty đang tập trung đầu tư xây dựng nhà xưởng mới, mua săm máy móc thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất. Năm 2021, nguyên giá TSCĐ của Công ty ở mức 499.005 triệu đồng. Do trong năm Công ty đã mở rộng hệ thống nhà xưởng: nhà xưởng để sản xuất các sản phẩm nhôm, trạm biến thế, khu nhà phóng dạng…để tăng diện tích sản xuất. Ngoài ra Công ty đã nhập khẩu hệ thống điều khiển máy phay 2 trụ cho phân xưởng đóng tàu thay thế cho hệ thống cũ đã lỗi thời.

Sang năm 2022 Công ty tiếp tục đầu tư thêm vốn để hoàn thiện dây chuyền sản xuất các thiết bị, chi tiết độc lập của tàu thủy khiến nguyên giá TSCĐ tăng lên mức 521.849 triệu đồng, tăng thêm 22.844 triệu đồng so với năm 2021. Công ty đã mua bản quyền phần mềm thiết kế đóng mới tàu thủy Shipcontructor. Đây là chương trình sản xuất tự động tiên tiến trong ngành đóng tàu, nó giúp cho doanh nghiệp có thể đóng mới tàu đặc chủng như tàu quân y, tàu chở quân…Năm 2023, nguyên giá TSCĐ của Công ty tiếp tục tăng 141.005 triệu đồng so với năm 2022, lên thành 662.854 triệu đồng, tỷ lệ tăng so với năm 2022 là 27,02%.

Do nhu cầu đóng mới tàu quân sự và đặc biệt là tàu xuất khẩu ngày càng tăng cao, nên Công ty phải tăng công suất sản xuất hơn nữa. Lượng vốn bỏ vào máy móc thiết bị, phương tiện vận tải trong năm tăng cao. Doanh nghiệp đặt mua thêm xe nâng trọng tải lớn, lắp đặt mới hệ thống sàn nâng tàu…Năm 2024, hợp đồng đóng mới tàu các loại tăng cao, yêu cầu về chất lượng tàu cũng được khách hàng đặt ra cao hơn khiến cho doanh nghiệp tiến hành tiếp tục đầu tư thêm máy móc hiện đại như: máy hàn tự động, bán tự động, máy lốc tôn, …của các hãng hàng đầu trên thế giới. Ngoài ra Công ty còn nâng cấp phần mềm thiết kế đóng mới tàu để cập nhật chương trình tiên tiến hơn nữa…Những hoạt động đầu tư trên đã khiến cho nguyên giá TSCĐ năm 2024 của Công ty đã tăng thêm 113.761 triệu đồng so với năm 2023, lên mức 776.615 triệu đồng. Sang năm 2025, Công ty có đầu tư mở rộng nhà xưởng, nối dài cầu tàu, … vì vậy giá trị TSCĐ của Công ty đạt mức 798.224 triệu đồng, tăng 21.609 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ tăng là 2,78%. Như vậy, trong giai đoạn 2021-2025 Công ty đã ngày càng chú trọng đầu tư vốn cho TSCĐ không chỉ là theo chiều rộng mà còn theo chiều sâu để có thể đáp ứng được các nhu cầu trong định hướng phát triển SXKD của mình, không những tăng số lượng đóng mới mà còn tăng chất lượng và đa dạng hóa chủng loại sản phẩm.

Khấu hao lũy kế TSCĐ của Công ty liên tục tăng mạnh trong 5 năm nghiên cứu. Do lượng TSCĐ Công ty đầu tư mua mới cho hoạt động SXKD ngày càng tăng lên, thời gian khấu hao dài khiến cho mức khấu hao lũy kế ngày càng tăng. Năm 2021, mức khấu hao lũy kế là 32.064 triệu đồng. Sang năm 2022 mức khấu hao lũy kế tăng 18.488 triệu đồng so với năm 2021, đạt mức 50.552 triệu đồng. Năm 2023, mức khấu hao lũy kế tiếp tục được gia tăng lên mức 180.675 triệu đồng, tăng 130.123 triệu đồng so với năm 2022. Năm 2024, mức khấu hao lũy kế tăng lên thành 274.956 triệu đồng, tăng 94.281 triệu đồng so với năm 2023. Sang năm 2025, mức khấu hao tiếp tục tăng lên thành 309.817 triệu đồng, tăng hơn so với năm 2024 là 34.961 triệu đồng. Trong 5 năm nghiên cứu, doanh nghiệp có một số tài sản hết thời gian sử dụng nhưng giá trị tài sản mới đưa vào trích khấu hao nhiều hơn khiến cho mức khấu hao lũy kế vẫn tăng mạnh. Doanh nghiệp đang áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng theo Thông tư số 45/2022/TT-BTC ngày 25/4/2022. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Tóm lại, trong giai đoạn 2021- 2025, doanh nghiệp liên tục đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ mới, phần mềm tiên tiến hiện đại, mở rộng nhà xưởng, mua sắm thêm phương tiện vận tải… Đây là cơ sở giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng sản xuất, nâng cao được chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

b) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty

  • Hiệu suất sử dụng VCĐ

Hiệu suất sử dụng VCĐ của Công ty có sự biến động bất thường ở giai đoạn 2021-2025. Trong năm 2021, hiệu suất sử dụng VCĐ là 1,49 lần, sang năm 2022 tăng 0,06 lần so với năm 2021, lên mức 1,55 lần. Điều này cho thấy khả năng tạo doanh thu khi đầu tư 100 đồng vốn cố định của Công ty có tăng lên. Năm 2022, hiệu suất sử dụng VCĐ tăng 4,18% so với năm 2021, hiệu suất sử dụng VCĐ tăng lên trong năm 2022 cho thấy DN đã sử dụng và quản lý VCĐ ngày càng tốt hơn, tăng khả năng tạo ra doanh thu của đồng vốn cố định. Nhưng thành công đó không được duy trì đến năm 2023. Sang năm 2023, chỉ tiêu này đạt 1,23 lần, bị giảm 21,05% so với năm 2022. Nguyên nhân là do lượng VCĐ bình quân trong năm đã được tiếp tục tăng lên nhưng doanh thu thuần của doanh nghiệp không những không tăng mà còn giảm nhẹ khiến cho hiệu suất sử dụng VCĐ giảm. Điều này cho thấy việc đầu tư thêm VCĐ chưa mang lại hiệu quả gia tăng doanh thu như kỳ vọng của Công ty. Nhưng sang đến năm 2024 doanh nghiệp đã có những điều chỉnh trong chính sách quản lý việc sử dụng VCĐ chặt chẽ, hợp lý hơn đồng thời vẫn tiếp tục tăng VCĐ để đáp ứng yêu cầu mở rộng hoạt động SXKD. Những điều chỉnh đó của Công ty đã đem lại hiệu quả khi doanh thu thuần của doanh nghiệp tăng mạnh. Mức tăng của doanh thu thuần cao hơn mức tăng của VCĐ khiến cho hiệu suất sử dụng VCĐ bật tăng mạnh, tăng 35,46% so với năm 2023, lên mức 1,66 lần. Bước sang năm 2025, hiệu suất sử dụng VCĐ của Công ty chạm mức 2,73 lần, tăng cao hơn so với năm 2024 là 64,66%. Lý do của việc tăng cao hiệu suất sử dụng VCĐ trong năm của Công ty là, năm 2025, doanh thu của Công ty đạt mức cao nhất trong 5 năm nghiên cứu, vốn cố định bình quân lại giảm so với năm 2024. Chính vì vậy, hiệu suất sử dụng VCĐ trong năm của Công ty cũng tăng tới mức cao nhất trong vòng 5 năm (2021-2025). Nó cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho Công ty trong giai đoạn 2021-2025.

  • Suất sinh lời của VCĐ:

Suất sinh lời của VCĐ có sự biến động trong giai đoạn 2021-2025. Năm 2021, khả năng sinh lời của VCĐ là 0,04 lần. Tức là lúc này bỏ ra 100 đồng VCĐ doanh nghiệp thu về được 4 đồng LNST. Năm 2022, chỉ tiêu này tăng 0,01 lần so với năm 2021, đạt ở mức 0,05 lần. Nhưng kết quả này không được duy trì ở năm 2023, sang năm 2023, chỉ tiêu này giảm về bằng mức với năm 2021, tức là 0,04 lần. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của LNST thấp hơn tốc độ tăng của VCĐ bình quân. Chỉ tiêu này được giữ nguyên ở năm 2024. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng VCĐ của Công ty đang bị giảm và chưa có dấu hiệu được cải thiện. Sang năm 2025, suất sinh lời của VCĐ tăng lên mức 0,6 lần, cao nhất trong vòng 5 năm nghiên cứu. Điều này cho thấy, trong năm 2025, Công ty đã sử dụng có hiệu quả đồng vốn cố định của mình.

  • Hệ số hao mòn TSCĐ: Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Hệ số hao mòn TSCĐ của Công ty tăng dần trong giai đoạn 2021- 2025. Năm 2021, chỉ tiêu này là 0,06 lần. Năm 2022, chỉ tiêu này tăng lên thành 0,1 lần, tăng 50,76% so với năm 2021. Sang năm 2023, hệ số hao mòn TSCĐ tiếp tục tăng, tăng 181,38% so với năm 2022. Năm 2024, chỉ tiêu này tăng 29,39% so với năm 2023. Năm 2025, chỉ tiêu này đạt 0,39 lần, tăng 9,63% so với năm 2024, đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2021-2025. Nguyên nhân chủ yếu do mức độ đầu tư mua sắm TSCĐ mới, giá trị hao mòn của tài sản lớn.

Tóm lại, trong giai đoạn 2021-2025, hiệu quả sử dụng VCĐ của Công ty còn chưa đạt được kết quả như mong muốn khi hệ số hao mòn TSCĐ tăng liên tục cho thấy công tác quản lý TSCĐ chưa thực sự hiệu quả. Nhưng trong giai đoạn này cũng có tín hiệu đáng mừng khi hiệu suất sử dụng VCĐ có sự tăng trở lại, cho thấy việc đầu tư thêm VCĐ của Công ty đang dần mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong giai đoạn tới Công ty cần chú trọng hơn nữa công tác quản lý VCĐ và TSCĐ.

2.2.2.4. Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Công ty

Nhìn vào bảng 2.10 ta thấy được hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Công ty trong giai đoạn 2021-2025. Cụ thể:

  • Khả năng sinh lời của VCSH

Khả năng sinh lời của VCSH của Công ty có xu hướng tăng trong giai đoạn 2021-2025. Trong 2 năm 2021, 2022, khả năng sinh lời của VCSH không biến động, giữ ở mức 0,03 lần. Nguyên nhân là do trong 2 năm đó VCSH bình quân của Công ty tăng liên tục nhưng lợi nhuận sau thuế cũng tăng với tốc độ tương ứng khiến cho chỉ tiêu này được giữ vững. Sang năm 2023 khả năng sinh lời của VCSH tăng lên 0,01 lần so với năm 2022, lên mức 0,04 lần, và được giữ ổn định ở năm 2024. Sang năm 2025, chỉ tiêu này tăng lên mức 0,045 lần, tăng 15,13% so với năm 2024. Biến động tăng này chủ yếu là do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế là 15,9% của năm 2023 so với năm 2022, và 15,43% của năm 2025 so với năm 2024 đã khiến cho khả năng sinh lời của VCSH tăng. Điều này cho thấy đồng vốn của Công ty đã được sử dụng một cách hiệu quả hơn.

  • Hệ số nợ:

Trong giai đoạn 2021-2025, hệ số nợ của Công ty cơ bản là có xu hướng tăng. Năm 2021, hệ số nợ là 0,50 lần, tức là nợ phải trả của Công ty chiếm 50% trên tổng nguồn vốn của Công ty. Do các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp giảm một lượng nhỏ, trong khi đó lượng vốn đầu tư của chủ sở hữu lại tăng lên khiến cho tổng nguồn vốn tăng. Điều này sẽ làm giảm tác động của đòn bẩy tài chính, giảm năng lực tài chính của DN. Bước sang giai đoạn từ 2022 đến 2024, chỉ tiêu này bắt đầu tăng liên tục. Năm 2022, hệ số nợ tăng 6% so với năm 2021, lên mức 0,53 lần. Năm 2023, tiếp tục tăng lên mức 0,61 lần, tăng 14,11% so với năm 2022, năm 2024 tăng 10,7% so với năm 2023, đạt mức 0,67 lần, lên mức cao nhất trong giai đoạn 2021-2025 . Sang năm 2025, chỉ tiêu này đạt mức 0,64 lần, có giảm 4,93% so với năm 2024. Điều này cho thấy Công ty đang ngày càng tận dụng được nhiều vốn của khách hàng để sử dụng. Vốn doanh nghiệp chiếm dụng chủ yếu là các khoản phải trả người bán và người mua trả trước nên chi phí sử dụng vốn rất nhỏ. Đây là một điểm thuận lợi mà doanh nghiệp cần tận dụng để tạo nguồn nâng cao hơn nữa số vốn để SXKD của DN mình. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

  • Hệ số vốn Chủ sở hữu

Hệ số vốn Chủ sở hữu biến động ngược chiều với hệ số nợ, chỉ tiêu này có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2021-2025. Năm 2021, hệ số vốn Chủ sở hữu là 0,47 lần, tức là vốn chủ sở hữu chiếm 47% trên tổng nguồn vốn. Khi hệ số vốn Chủ sở hữu càng tăng thì càng cho thấy doanh nghiệp tự chủ, độc lập hơn trong tài chính, tăng mức độ an toàn tài chính cho DN. Trong giai đoạn 2022-2025, hệ số vốn Chủ sở hữu của Công ty có chiều hướng giảm dần, trong khi hệ số nợ lại tăng dần. Năm 2022, hệ số vốn Chủ sở hữu là 0,46 lần, giảm một chút ít so với năm 2021. Năm 2023, hệ số vốn Chủ sở hữu là 0,39 lần, tiếp tục giảm 16,18% so với năm 2022. Đến năm 2024, chỉ tiêu này là 0,32 lần, giảm 16,88% so với năm 2023. Sang đến năm 2025, chỉ tiêu này tăng lên mức 0,37 lần, tăng 12,65% so với năm 2024. Nhưng nhìn chung trong giai đoạn 5 năm(2021-2025), chỉ tiêu này cơ bản bị giảm xuống. Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng của vốn Chủ sở hữu chậm hơn tốc độ tăng của tổng nguồn vốn khiến cho tỷ trọng vốn Chủ sở hữu ngày càng giảm trong tổng nguồn vốn.

Tóm lại, ở giai đoạn 2021-2025, Công ty đã sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình: khả năng sinh lời của vốn Chủ sở hữu năm sau tăng hơn năm trước, DN chiếm dụng được vốn của khách hàng ngày càng nhiều hơn, số vốn đó phần lớn là từ người bán và từ người mua trả trước nên giảm được chi phí sử dụng vốn cho Công ty. Việc dịch chuyển giữa hệ số nợ và hệ số vốn Chủ sở hữu đến thời điểm năm 2025 đang ở mức phù hợp với định hướng phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời điểm hiện tại.

2.3. Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Một thành viên 189 Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

2.3.1. Kết quả đạt được

Ở giai đoạn 2021-2025, Công ty TNHH Một thành viên189 đã từng bước phát triển ngày càng ổn định và vững chắc, vượt lên điều kiện tình hình kinh tế trong nước đang gặp nhiều khó khăn. Công ty đã đạt được những thành quả nhất định như sau:

Thứ nhất, vốn cố định ngày càng tăng, TSCĐ của công ty liên tục được đầu tư, nâng cấp giúp doanh nghiệp phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Điều này là cơ sở để Công ty nâng cao năng suất lao động, mở rộng hoạt động SXKD của mình.

Thứ hai, quy mô vốn không ngừng được nâng cao. Trong giai đoạn 2021-2025, quy mô vốn của công ty đã tăng từ 1.277.439 triệu đồng ở năm 2021 lên 1.825.499 triệu đồng ở năm 2025. Đây là một tốc độ tăng tương đối cao trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, giúp Công ty có đủ lực để không ngừng mở rộng hoạt động SXKD, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm của mình.

Thứ ba, tốc độ luân chuyển VLĐ ngày càng cao, số vòng quay của VLĐ được tăng dần. Lượng VLĐ của DN được vận động liên tục sẽ kích thích hoạt động SXKD.

Thứ tư,công tác quản trị hàng tồn kho, quản trị các khoản phải thu đạt kết quả tốt khi số vòng quay hàng tồn kho, tốc độ thu hồi các khoản phải thu ngày càng tăng. Vì thế, Công ty giảm được chi phí hàng tồn kho, tránh bị ứ đọng vốn, giảm tình trạng bị chiếm dụng vốn.

Thứ năm, số vốn doanh nghiệp chiếm dụng được ngày càng nhiều hơn, giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính. Hơn nữa doanh nghiệp chủ yếu sử dụng vốn chiếm dụng của người bán và vốn của người mua trả tiền trước nên chi phí sử dụng vốn rất thấp.

Thứ sáu, hiệu suất sử dụng VCĐ ngày càng tăng cao, đầu tư VCĐ đã mang lại hiệu quả khi thúc đẩy tốc độ tăng của doanh thu thuần.

Ngoài ra doanh nghiệp còn không ngừng khẳng định được vị trí của mình trong ngành đóng tàu, chất lượng tàu đóng mới ngày càng được nâng cao, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng. Hoạt động SXKD của Công ty đang phát triển một cách bền vững. Chính sách đầu tư con người của Công ty cũng hợp lý. Lực lượng lao động luôn luôn được đào tạo và đào tạo lại ở trong và ngoài nước nên trình độ công nhân có tay nghề rất cao, trẻ khoẻ, năng động, nhiệt tình, sáng tạo. Chế độ đãi ngộ với người lao động cũng luôn được chú trọng và ngày càng nâng cao.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

Ngoài những kết quả đã đạt được trong giai đoạn 2021-2025 thì vẫn còn một số hạn chế, tồn tại mà doanh nghiệp chưa giải quyết được. Cụ thể:

Thứ nhất, lượng tiền và các khoản tương đương tiền đang ở mức cao sẽ gây ra tình trạng không quay vòng được vốn, làm giảm đi hiệu quả sử dụng VLĐ của Công ty.

Thứ hai, TSCĐ còn bị hao mòn nhanh, công tác quản lý TSCĐ chưa thực sự hiệu quả, điều này gây lãng phí vốn đầu tư cho TSCĐ, ảnh hưởng đến kế hoạch thu hồi vốn đầu tư của Công ty.

Thứ ba, tỷ trọng VCĐ trên tổng VKD còn thấp. Bởi vì đặc thù của Công ty là một DN SXKD trong ngành đóng tàu, đòi hỏi cơ sở hạ tầng máy móc dây chuyền thiết bị lớn mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất.

Thứ tư, sức sinh lời của VKD bị giảm tức là khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư đang có dấu hiệu đi xuống. Tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư thêm vốn của Chủ sở hữu.

  • Nguyên nhân của những hạn chế:

Nguyên nhân khách quan là do trong giai đoạn 2021-2025 tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động bất lợi cho hoạt động kinh doanh, điển hình là ngành đóng tàu, bên cạnh đó, ngành vận tải biển, vận tải sông gặp rất nhiều khó khăn nên ảnh hưởng rất nhiều đến thị trường của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có một số TSCĐ vô hình như các phần mềm thiết kế đóng tàu, phần mềm ứng dụng tự động hóa… là loại tài sản thường xuyên bị hao mòn vô hình với tốc độ cao do sự cải tiến, nâng cấp chương trình khiến cho mức độ hao mòn của TSCĐ bị đẩy lên cao.

Do sự phát triển chưa đồng bộ của Công ty: Công ty đẩy mạnh phát triển, mở rộng thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, nhưng lại chưa có sự đầu tư phù hợp cho cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải để đáp ứng được yêu cầu của hoạt động SXKD trong thời điểm hiện tại. Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993