Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Một thành viên 189 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các DN cần phải có đầy đủ các yếu tố cơ bản sau: Tư liệu lao động, sức lao động và đối tượng lao động. Vốn là yếu tố không thể thiếu trong quá trình SX-KD, và cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển của mỗi DN. Đối với mỗi doanh nghiệp, vốn là điều kiện để đầu tư, trang bị, đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp … Vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của một doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và tăng trưởng của DN. Vì vậy, trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đến vấn đề tạo lập vốn, quản lý và sử dụng đồng vốn có hiệu quả nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam còn rất lúng túng trong việc quản lý và sử dụng đồng vốn của mình. Tình hình sử dụng vốn kém hiệu quả, tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các DN diễn ra ngày càng phổ biến đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng DN. Chính vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trở thành vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và được rất nhiều DN quan tâm.

Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn” của DN. Cỏ thể nêu ra một số công trình nghiên cứu về đề tài này như sau:

  1. Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Lệ Phương, bảo vệ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông năm 2020 với đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty CP xây lắp Bưu điện Hà Nội”.
  2. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của tác giả Trần Thị Hảo bảo vệ tại Học viện Tài chính năm 2019 với đề tài: “Vốn kinh doanh và Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty CP xây dựng công trình Thăng Long 9”.
  3. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của tác giả Võ Thị Thanh Thủy bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2018 với đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP Công nghệ thực phẩm Đà Nẵng”.
  4. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoài Linh bảo vệ tại Đại học Hải Phòng năm 2025 với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP Nhựa và cơ khí Hải Phòng”.
  5. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Hồng Hoa bảo vệ tại Đại học Hàng hải năm 2024 với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH Ô tô Hoa Mai”.
  6. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thúy Khánh bảo vệ tại Đại học Hàng hải Việt Nam năm 2024 với đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty CP Xây dựng số 9 Hải Phòng.
  7. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Luyện Thị Thanh Hà bảo vệ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông năm 2022 với đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Tổng Công ty CP Bảo hiểm bưu điện”.

Các công trình nghiên cứu này đã phân tích thực trạng sử dụng VKD tại các DN nghiên cứu, từ đó nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các DN đó và các doanh nghiệp khác cùng lĩnh vực sản SXKD. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn khác nhau, ở mỗi ngành nghề khác nhau, lại có những đặc điểm về vốn và hiệu quả sử dụng vốn khác nhau cho nên các công trình nghiên cứu trên lại nghiên cứu theo các hướng khác nhau.

Tại Công ty TNHH Một thành viên 189, trong những năm qua, công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cơ bản là tốt, Công ty vẫn luôn hoàn thành tốt các mục tiêu kế hoạch đề ra. Nhưng, trong quá trình nghiên cứu tình hình sử dụng vốn tại Công ty giai đoạn 2021-2025, bản thân tôi vẫn thấy có một số điểm hạn chế nhất định, nó cũng gây ra một số ảnh hưởng đến tình hình SXKD của Doanh nghiệp, mà trực tiếp là ảnh hưởng đến kết quả hoạt động SXKD của Công ty.

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Một thành viên 189”.

2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

Hệ thống hóa các lý luận về hiệu quả sử dụng vốn, từ đó tìm hiểu thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty để tìm ra được những kết quả và hạn chế trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty. Phát hiện ra các nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả sử dụng vốn, từ đó có các biện pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

3. Đối tượng nghiên cứu

Phù hợp với mục tiêu nói trên, luận văn tập trung nghiên cứu việc tổ chức, quản lý và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty TNHH Một thành viên 189.

4. Phạm vi nghiên cứu

  • Thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu trong luận văn được lấy trong thời gian 5 năm, từ năm 2021 đến năm 2025.
  • Không gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi tại Công ty TNHH Một thành viên 189 .

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá dựa trên các tài liệu sưu tập… kết hợp với suy luận, phân tích để làm sáng tỏ đề tài.

6. Kết cấu của luận văn Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
  • Chương 2: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Một thành viên 189.
  • Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Một thành viên 189.

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Một số vấn đề cơ bản về vốn

1.1.1. Khái niệm về vốn

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn. Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tức là mục đích tích lũy chứ không phải mục đích tiêu dùng. Xét trên các góc độ khác nhau ta có các khái niệm khác nhau về vốn.

Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dưới góc độ của các yếu tố sản xuất thì ông cho rằng: “Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark [5, tr.86].

Trong cuốn “kinh tế học” của David Begg cho rằng “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Như vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của DN. Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất.

Ngoài ra, có nhiều quan điểm khác nhau về vốn như mọi quá trình SX- KD đều có thể khái quát thành:

  • T … H (TLLĐ, TLSX) … SX… H’ … T’

Để có các yếu tố đầu vào (TLLĐ,TLSX) phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, DN phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này gọi là vốn của DN. Vậy vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời [6, tr.65].

Vậy khái niệm về vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời [5, tr.87]. Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

Nhưng tiền không phải là vốn. Nó chỉ trở thành vốn khi có đủ các điều kiện sau:

  • Thứ nhất: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định, hay phải được đảm bảo bằng một lượng hàng hóa có thật.
  • Thứ hai: Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định.
  • Thứ ba: Khi có đủ lượng tiền thì phải được vận động nhằm mục đích sinh lời.

1.1.2. Đặc điểm và phân loại vốn

1.1.2.1. Đặc điểm về vốn

Thứ nhất: Có trước khi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra.

Mỗi doanh nghiệp muốn thành lập phải có một lượng vốn tiền tệ đầu tiên đăng ký trong ĐKKD. Đó là vốn điều lệ. Trong quá trình hoạt động của mình, vốn của doanh nghiệp thường lớn hơn rất nhiều so với lượng vốn ban đầu này [12, tr. 136].

  • Quỹ khấu hao TSCĐ
  • Quỹ bù đắp vốn lưu động
  • Quỹ tiền lương
  • Các quỹ chuyên dùng khác…

Thứ hai: Sử dụng cho mục đích tích lũy. Vốn của doanh nghiệp không sử dụng cho mục đích tiêu dùng mà vì mục tiêu lợi nhuận. Mọi quyết định đầu tư của doanh nghiệp đều hướng về mục tiêu này. Vốn đầu tư sau đó phải được thu về để tiếp tục quay vòng tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận thu về cũng được tái đầu tư để phục vụ cho việc mở rộng hoạt động SXKD.

Thứ ba: Luôn biến đổi hình thái biểu hiện, nhưng bắt đầu và kết thúc vòng tuần hoàn dưới dạng tiền tệ.

Thứ tư: Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.

1.1.2.2. Phân loại vốn

  • Phân loại vốn theo nguồn hình thành: Vốn chủ sở hữu:

Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ.

Vốn pháp định: Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do Pháp luật quy định đối với từng ngành nghề.

Vốn tự bổ sung: Nguồn vốn này thực chất là số lợi nhuận chưa phân phối và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ của doanh nghiệp(quỹ đầu tư phát triển,…). Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

  • Vốn huy động của doanh nghiệp:

Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường, vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng nhưng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho SXKD, doanh nghiệp phải tăng cường huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ, liên doanh liên kết, … và các hình thức khác.

Vốn vay: Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng, các cá nhân, tổ chức kinh tế để tăng thêm nguồn vốn sản xuất kinh doanh của mình.

Vốn liên doanh liên kết: Doanh nghiệp có thể liên doanh, liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác để thực hiện việc mở rộng sản xuất kinh doanh.

Đây là một hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc thiết bị nếu hợp đồng liên doanh quy định góp vốn bằng máy móc thiết bị.

  • Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển:

Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, vốn vận động một cách liên tục. Nó biều hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau, từ tiền mặt đến tư liệu lao động, hàng hóa dự trữ…Sự khác nhau về mặt vật chất này tạo ra đặc điểm chu chuyển vốn, theo đó người ta phân chia vốn thành hai loại là vốn cố định và vốn lưu động [12, tr.138].

  • Vốn cố định

Cơ sở để phân biệt VCĐ là hình thái biểu hiện của nó tức là dựa trên cơ sở nghiên cứu về tài sản cố định (TSCĐ).

  • Tài sản cố định:

Để tiến hành SX-KD, các DN cần có tư liệu sản xuất. Căn cứ vào tính chất, tác dụng, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là tư liệu lao động và đối lượng lao động. Tư liệu lao động được sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ của DN. Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một hay nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó giá trị của tư liệu lao động bị giảm đi mặc dù giá trị sử dụng vẫn như ban đầu, giá trị của chúng được chuyển dần từng phần vào giá trị của sản phẩm.

Tài sản cố định là bộ phận tư liệu lao động chủ yếu quan trọng nhất của DN. Đó là những tư liệu lao động được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp vào SX như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải…

Nhà nước ta quy định TSCĐ là những tư liệu lao động thỏa mãn đủ hai điều kiện sau đây: Thời gian sử dụng tối thiểu là một năm, giá trị phải đạt đến một mức độ nhất định. Theo Thông tư 45/2022/TT-BTC ngày 25/04/2022 thì TSCĐ phải có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên. Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

TSCĐ của DN có nhiều loại, để quản lý sử dụng hiệu quả chúng người ta phân TSCĐ làm hai loại là TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.

Tài sản cố định hữu hình bao gồm 6 loại sau:

  • Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc.
  • Loại 2: Máy móc thiết bị dùng trong sản xuất kinh doanh.
  • Loại 3: Phương tiện vận tải, truyền dẫn.
  • Loại 4: Thiết bị và dụng cụ quản lý.
  • Loại 5: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho ra sản phẩm.
  • Loại 6: Tài sản cố định khác.

Tài sản cố định vô hình: Là những tư liệu lao động không có hình thái vật chất nhưng vẫn thỏa mãn đủ hai điều kiện của TSCĐ. TSCĐ vô hình có thể kể đến là: Phần mềm quản lý tài chính của Công ty, lợi thế thương mại, uy tín công ty, nhãn hiệu sản phẩm, chi phí thành lập DN…

  • Vốn cố định:

Vốn cố định là bộ phận vốn ứng ra để hình thành TSCĐ. Nói cách khác, VCĐ là giá trị ứng ra ban đầu và trong các quá trình tiếp theo để đầu tư vào TSCĐ nhằm phục vụ cho hoạt động SX-KD của DN [5, tr. 89].

Khi tham gia vào SX, TSCĐ không bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, sự suy giảm giá trị đó được gọi là hao mòn hữu hình. Đồng thời giá trị thuần túy của chúng giảm dần do có những TSCĐ cùng loại rẻ hơn hoặc hiện đại hơn. Bộ phận giá trị hao mòn này chuyển dần dần vào giá trị của sản phẩm, điều đó quyết định đến hình thái biểu hiện của VCĐ trên hai góc độ: Vốn dưới hình thái hiện vật và vốn tiền tệ.

  • Vốn lưu động

Vốn lưu động của DN là số vốn bằng tiền được ứng ra để hình thành các tài sản lưu động sản xuất, tài sản lưu động lưu thông và một phần để trả tiền công người lao động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của DN được thực hiện thường xuyên, liên tục [5, tr. 90].

TS lưu động sản xuất bao gồm ở khâu dự trữ sản xuất như: Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ… TS lưu động ở khâu sản xuất như sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm. Trong quá trình SX-KD, các TS lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo quá trình hoạt động SX-KD được tiến hành liên tục và thuận lợi [5, tr. 90].

Trong quá trình vận động, VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, VLĐ lại thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hóa dự trữ. Qua giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo thành các bán thành phẩm và thành phẩm, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, VLĐ lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, VLĐ mới hoàn thành một vòng chu chuyển.

1.1.3. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp. Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động SXKD. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư sản xuất kinh doanh.

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là kinh doanh để thu được lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động của doanh nghiệp, lợi nhuận tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Để đạt được lợi nhuận tối đa các doanh nghiệp không ngừng nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, trong đó việc tổ chức huy động vốn đảm bảo cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và việc sử dụng vốn có hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng.

Vốn quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Như chúng ta đã biết để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiến hành các yếu tố đầu vào: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Muốn có được các yếu tố đầu vào để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định.

Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các DN luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Doanh nghiệp nào cũng muốn giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh và mong muốn có một sự phát triển bền vững. Để đạt được điều đó, doanh nghiệp cần tiếp tục bổ sung vốn để tăng thêm tài sản kinh doanh tương ứng với sự tăng trưởng của quy mô doanh nghiệp.

1.2. Hiệu quả sử dụng vốn Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

1.2.1. Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ khai thác, sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí hợp lý.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu hàng đầu của DN. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không những đảm bảo cho DN an toàn về mặt tài chính, hạn chế rủi ro, mà còn tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận.

Trong quá trình sử dụng vốn, để đạt hiệu quả cao DN cần phải giải quyết một số vấn đề sau [12, tr.139]:

  • Thứ nhất: Đảm bảo tính tiết kiệm, có nghĩa là vốn của DN phải được sử dụng hợp lý, đúng mục đích, tránh lãng phí vốn hoặc để vốn không sinh lời.
  • Thứ hai: Phải tiến hành đầu tư, phát triển cả chiều sâu và mở rộng quy mô SX-KD khi cần thiết.
  • Thứ ba: Doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra trong kế hoạch SX-KD, hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu quan trọng nhất DN cần đạt tới.

Như vậy, ta có thể thấy, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chính là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa mà chi phí bỏ ra ở mức thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải giải quyết được các vấn đề như: Đảm bảo tiết kiệm, huy động thêm để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình sử dụng vốn của mình.

1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi DN phải luôn đề cao tính an toàn, đặc biệt là an toàn tài chính. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp DN nâng cao khả năng huy động vốn, khả năng thanh toán của DN được đảm bảo, DN đủ tiềm lực để khắc phục những khó khăn và rủi ro trong kinh doanh.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp DN nâng cao sức cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp DN đạt được mục tiêu tăng cao giá trị tài sản của Chủ sở hữu và các mục tiêu khác của DN như nâng cao mức sống của người lao động, nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường… Như vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN không những mang lại hiệu quả thiết thực cho DN và người lao động mà còn có sự ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của cả nền kinh tế và toàn bộ xã hội.

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

1.2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

Trong đó:

  • DTT: Doanh thu thuần
  • VCĐbq: VCĐ bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ bình quân có thể đảm bảo tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng VCĐ ngày càng cao.

Trong đó: LNST: Lợi nhuận sau thuế

Chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng VCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao.

  • Hệ số hao mòn tài sản cố định

Khấu hao lũy kế

Hệ số hao mòn TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ

Chỉ tiêu này càng lớn thì tốc độ hao mòn TSCĐ càng cao.

1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Để đánh giá quá trình tổ chức và sử dụng vốn lưu động của DN thì cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động. Hiệu suất sử dụng vốn lưu động thể hiện thông qua các chỉ tiêu:

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: được thể hiện thông qua 2 chỉ tiêu đó là số vòng quay vốn lưu động và kỳ luân chuyển vốn lưu động. Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

  • Trong đó: VLĐbq: Vốn lưu động bình quân

Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển của vốn lưu động hay số vòng quay của vốn lưu động thực hiện được trong một chu kỳ nhất định.

  • Sức sinh lời của vốn lưu động

Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn lưu động bình quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

  • Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động

Là số vốn lưu động bình quân cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu

  • Vòng quay hàng tồn kho

Hệ số vòng quay thường dùng để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho tốt hay xấu, hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng tồn kho nhanh và ngược lại hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho chậm

Trong đó:

GV : Giá vốn hàng bán

Hbq: Hàng tồn kho bình quân

  • Vòng quay các khoản phải thu

Trong đó:

DTT : Doanh thu thuần

Phải thu bq : Các khoản phải thu bình quân

1.2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN phản ánh kết quả tổng hợp quá trình sử dụng toàn bộ vốn và tài sản. Các chỉ tiêu này phản ánh chất lượng và trình độ quản lý SX-KD của DN, bao gồm:

  • Trong đó: Vbq: Vốn kinh doanh bình quân Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

Chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng vốn mà DN bỏ ra đầu tư, sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng vốn càng lớn, trong các điều kiện khác không đổi có nghĩa là hiệu quả quản lý toàn bộ tài sản càng cao.

1.2.3.4. Các chỉ tiêu về nguồn vốn

  • Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu

Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu mà chủ đầu tư rất quan tâm vì nó cho biết khả năng tạo lãi của 1 đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty.

Trong đó: VCSH bq: Vốn chủ sở hữu bình quân

  • Hệ số nợ

Hệ số nợ là chỉ tiêu phản ánh để chi cho 1 đồng TS, DN sử dụng bao nhiêu đồng nợ. Nếu hệ số nợ càng thấp thì mức độ an toàn của vốn vay cao. Hệ số nợ càng cao khả năng thanh toán càng khó khăn, DN cần xem xét khả năng vay vốn của mình.

Trong đó:

  • N: Nợ phải trả
  • TS: Tài sản

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

1.3.1. Các yếu tố khách quan

1.3.1.1. Tác động của thị trường

Thị trường tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quan trọng có tác động rất lớn tới hoạt động SXKD của DN. Trong đó, thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn của DN còn thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn của DN. Thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của DN. Nếu các thị trường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy DN tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần. Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

1.3.1.2. Yếu tố khách hàng

Ngày nay, nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao đòi hỏi nhà cung cấp phải tạo ra được những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn người mua. Vì vậy, DN cần phải làm sao đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng với giá thành hợp lý để thu hút được khách hàng, từ đó làm cho DN có lợi nhuận cao. DN sẽ phải bỏ ra chi phí hợp lý để nghiên cứu thị trường tìm hiểu các mặt hàng đang được ưa chuộng, tìm hiểu mẫu mã…để từ đó có quyết định sản xuất cho hiệu quả..

1.3.1.3. Môi trường kinh tế

Các yếu tố của môi trường kinh tế như tình trạng lạm phát, thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá, tình trạng cạnh tranh….đều có ảnh hưởng tới hoạt động SX-KD của DN. Các yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới hiệu quả sử dụng vốn của DN.

1.3.1.4. Cơ chế quản lý và các chính sách của Nhà nước

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và khả năng của mình. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp đã lựa chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy, chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các quy định, chính sách của Nhà nước về phương hướng, định hướng phát triển của các ngành kinh tế đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của DN. Tùy từng loại hình DN và tùy từng thời điểm mà mức độ ảnh hưởng, tác động của các yếu tố này có khác nhau.

1.3.1.5. Môi trường Kỹ thuật công nghệ

Sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với xu thế chuyển giao công nghệ đặt ra cho các DN nhiều cơ hội và thách thức mới. Việc sử dụng vốn của DN cũng phải thích ứng với sự tác động của các yếu tố này.

1.3.2. Các yếu tố chủ quan

1.3.2.1. Chu kỳ sản xuất

Đây là một đặc điểm rất quan trọng, bó tác động trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của DN. Nếu chu kỳ ngắn, DN sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng SX-KD. Ngược lại, nếu chu kỳ sản xuất dài DN sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và phải trả lãi cho các khoản vay của mình. Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

1.3.2.2. Kỹ thuật sản xuất

Các đặc điểm về kỹ thuật sản xuất có tác động tới một số chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng VCĐ như hệ số sử dụng máy móc thiết bị, hệ số sử dụng về thời gian, về công suất…

Nếu kỹ thuật sản xuất đơn giản, DN dễ có điều kiện sử dụng máy móc thiết bị nhưng lại phải luôn đối phó với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu của khách hàng ngày càng cao về sản phẩm. Do vậy, DN dễ dàng tăng doanh thu, lợi nhuận trên VCĐ nhưng khó giữ được chỉ tiêu này lâu dài.

Nếu kỹ thuật sản xuất phức tạp, trình độ trang bị máy móc thiết bị cao, DN sẽ có lợi thế trong cạnh tranh, song đòi hỏi người lao động phải có tay nghề cao, mặt khác, chất lượng nguyên vật liệu tốt sẽ làm tăng lợi nhuận cho DN.

1.3.2.3. Đặc điểm của sản phẩm

Nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dùng, nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹ thì sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ được nhanh và qua đó giúp DN sớm thu hồi vốn. Hơn nữa những máy móc thiết bị dùng để sản xuất ra các sản phẩm này có giá trị không lớn do đó DN dễ có điều kiện để đổi mới. Ngược lại, nếu sản phẩm có vòng đời dài và có giá trị lớn, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ có giá trị lớn việc thu hồi vốn sẽ lâu hơn, nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình quay vòng vốn của DN.

1.3.2.4. Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo

Vai trò của ban lãnh đạo DN trong quá trình SXKD là vô cùng quan trọng. Sự điều hành và quản lý sử dụng đồng vốn có hiệu quả thể hiện ở sự kết hợp một cách nhịp nhàng các yếu tố sản xuất, giảm những chi phí không cần thiết đồng thời nắm bắt được các cơ hội SXKD, đem lại sự tăng trưởng và phát triển cho DN.

1.3.2.5. Trình độ tay nghề của người lao động

Nếu người lao động có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao tương ứng với trình độ công nghệ của dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc thiết bị sẽ có hiệu quả hơn, khai thác được tối đa công suất của máy móc thiết bị, làm tăng năng suất lao động, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của DN.

1.3.2.6. Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của DN. Công cụ chủ yếu để theo dõi việc quản lý và sử dụng vốn là hệ thống tài chính kế toán. Công tác tài chính kế toán nếu được thực hiện tốt, sẽ đưa ra được các số liệu chính xác giúp cho lãnh đạo DN nắm được tình hình tài chính của DN nói chung cũng như tình hình sử dụng vốn nói riêng, trên cơ sở đó đưa ra được những quyết định hợp lý cho DN. Do đó, ban lãnh đạo cần thông qua công tác tài chính kế toán để thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình hình sử dụng vốn của DN, nhằm tìm ra những điểm hạn chế để có các biện pháp khắc phục.

1.3.2.7.Trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh

Đây là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của DN. Quá trình SXKD của DN phải trải qua ba giai đoạn là cung ứng, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: Cung ứng chính là quá trình chuẩn bị các yếu tố đầu vào để phục vụ cho quá trình sản xuất . Nó bao gồm hoạt động mua và dự trữ vật tư, nguyên vật liệu, tuyển dụng lao động. Một doanh nghiệp tổ chức tốt hoạt động SXKD của mình tức là DN đó đã xác định được số lượng phù hợp của từng loại nguyên vật liệu, số lượng lao động cần thiết để phục vụ cho quá trình sản xuất. Ngoài ra để đảm bảo được hiệu quả SXKD thì chất lượng NVL đầu vào phải được đảm bảo, chi phí đầu vào giảm đến mức tối đa có thể. Còn mục tiêu của dự trữ NVL là đảm bảo cho quá trình SXKD không bị gián đoạn, không bỏ lỡ cơ hội. Vì vậy để đồng vốn được sử dụng có hiệu quả thì phải xác định được mức dự trữ hợp lý để tránh trường hợp dự trữ quá nhiều dẫn đến ứ đọng vốn và tăng chi phí bảo quản. Giai đoạn hai là giai đoạn sản xuất ra sản phẩm, ở giai đoạn này, DN cần phải sắp xếp dây chuyền cũng như nhân lực sao cho sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả cao nhất, nhằm khai thác hết được khả năng công suất, thời gian làm việc của máy để đảm bảo kế hoạch sản xuất ra sản phẩm. Giai đoạn ba, tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn quyết định đến hiệu quả SXKD của DN. Vì vậy, DN phải xác định được giá bán tối ưu, đồng thời cũng phải có những biện pháp phù hợp để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm. Việc này có ảnh hưởng đến doanh số bán ra của DN, và cũng là cơ sở để doanh nghiệp quay vòng vốn của mình.

1.3.3.Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN, các doanh nghiệp buộc phải chuyển mình theo cơ chế mới để tồn tại và phát triển. Thị trường luôn luôn có cạnh tranh, nó cho phép DN tận dụng triệt để mọi nguồn lực của mình và của toàn xã hội vì nó khiến cho DN phải luôn tự đổi mới, cải tiến mẫu mã chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất lao động, để có thể đứng vững trên thương trường. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có vị trí rất quan trọng trong chiến lược SXKD của DN.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ nâng cao được tính an toàn về tài chính cho doanh nghiệp. Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi DN phải luôn đề cao tính an toàn về an toàn tài chính. Đây là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của DN. Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng huy động các nguồn tài trợ dễ dàng hơn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đảm bảo, giúp DN có đủ tiềm lực để khắc phục những khó khăn trong SXKD.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp DN nâng cao sức cạnh tranh. Để đáp ứng các nhu cầu cải tiến công nghệ, đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, …doanh nghiệp phải có vốn, trong khi lượng vốn của DN chỉ có mức độ, vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một việc vô cùng cấp thiết đối với DN.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giúp cho DN đạt được mục tiêu tăng giá trị tài sản của mình và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy tín của DN trên thị trường, nâng cao mức sống cho người lao động,… Điều đó giúp cho năng suất lao động của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà còn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của cả nền kinh tế và toàn xã hội. Vì vậy, DN phải luôn tìm các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình. Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Cty Một thành viên

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Một thành viên […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993