Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty đông bắc giai đoạn 2021 – 2025 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Giới thiệu về Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc
Tổng Công ty Đông Bắc đuợc thành lập ngày 27 tháng 12 năm 1994; là doanh nghiệp Kinh tế – Quốc phòng trực thuộc Bộ Quốc Phòng có chức năng và nhiệm vụ chính là sản xuất kinh doanh và quân sự quốc phòng.
Năm 1995 (năm đầu tiên đi vào hoạt động) Đông Bắc có số vốn 19 tỷ đồng, sản lượng than khai thác mới đạt trên 600.000 tấn, doanh thu trên 200 tỷ đồng, thu nhập bình quân trên 600.000đ/người/tháng. Đến nay, sau hơn hai thập kỷ xây dựng và trưởng thành, bình quân sản lượng than khai thác của Tổng Công ty đã đạt con số trên 5 triệu tấn/năm, chiếm 12 – 14% sản lượng than của toàn quốc, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. So với năm 1995, tổng doanh thu hiện nay của Tổng Công ty tăng gấp 50 lần, lợi nhuận tăng gấp 96 lần, nộp ngân sách nhà nước tăng gấp 108 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 15 lần; đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên chức, lao động không ngừng được nâng cao.
Công ty TNHH – MTV 397 là một đơn vị trực thuộc tổng Công ty Đông Bắc.
Địa chỉ: Số 251 Khu Vĩnh Tuy II, Phường Mạo Khê, Thị xã Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh, ngày cấp giấy phép: 25/10/2019, ngày hoạt động: 25/10/2019.
Công ty với 426 cán bộ, đoàn viên, trong năm qua đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tích cực, trách nhiệm tham gia với đơn vị phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; tham gia quản lý mọi hoạt động của đơn vị; tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động trong Công ty học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng đơn vị VMTD. Tích cực “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Tổ chức tốt các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “5 nhất, 3 không”, “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”. Chăm lo sức khỏe, môi trường lao động, đời sống, nơi ăn ở và thực hiện tốt chính sách với người lao động trong Công ty. Năm 2025, Công đoàn cơ sở đã được Tổng cục Chính trị tặng Cờ thi đua. Đồng chí Hoàng Hữu Diễn, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty đã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng khen.
Quãng thời gian kể từ khi thành lập đơn vị với một đời người chưa phải là dài nhưng với một đơn vị quân đội chủ lực bước sang sản xuất kinh doanh than thì là cả một chặng đường đầy khó khăn, vất vả. Những năm đầu mới thành lập, do trữ lượng mỏ được giao nhỏ, phân tán, phải kết hợp cả khai thác lộ thiên và hầm lò, trang thiết bị lạc hậu nên sản lượng khai thác than hàng năm chỉ đạt trên 132.000 tấn, doanh thu chưa đầy 30 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động chỉ khoảng 1 triệu đồng/tháng. Song với quyết tâm của người lính làm theo lời Bác dạy “Sản xuất than cũng như đánh giặc”, cùng với sự đoàn kết của tập thể Đảng ủy, chỉ huy đơn vị, họ đã vượt khó đi lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 2002, Công ty được giao khai thác lộ thiên tại mỏ Bàng Nâu, được đầu tư các loại thiết bị hiện đại. Từ đó, biểu đồ tăng trưởng của đơn vị không ngừng tăng cao qua từng năm. Sản lượng khai thác than tăng bình quân 24,5%/năm (từ trên 200.000 tấn năm 2002 đến trên 750.000 tấn năm 2018), trở thành một trong những doanh nghiệp đi đầu trong TCT về sản lượng khai thác than.397 là Công ty đầu tiên trong Đông Bắc xây nhà sinh hoạt văn hoá cho công nhân, có phòng Hồ Chí Minh để anh em đọc sách. Khi khánh thành và đưa vào sử dụng năm 2003, Tập đoàn Vinacomin đã khen thưởng 30 triệu đồng. Mô hình tiên tiến, giàu ý nghĩa xã hội này sau đó đã được nhân rộng ra toàn Tập đoàn. 397 cũng là đơn vị có nhà ăn kiểu mẫu đầu tiên của Tập đoàn với 2 bếp ăn trong khai trường, mỗi bếp phục vụ khoảng 200 suất. Được biết, về đầu tư máy móc công nghệ, 397 tiên phong trang bị máy TamZoc, máy xúc CAT 5059 đầu tiên của ngành Than. Công ty đã 3 lần được Tập đoàn khen thưởng Mô hình đơn vị xanh – sạch – đẹp. Và đây cũng là một trong 3 đơn vị đầu tiên của Tổng Công ty Đông Bắc được đón Huân chương Lao động hạng Ba…
2.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của Công tyTNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Cơ cấu tổ chức của Công ty 397chia làm 2 bộ phận: khối cơ quan và khối đơn vị sản xuất.
Hiện nay Công ty có 426 cán bộ công nhân viên gồm 10 phòng ban.
Sau đây là chức năng nhiệm vụ của một số phòng ban chính:
Phòng Hành chính – Tổ chức là Phòng chức năng thuộc bộ máy quản lý, điều hành của Công ty, do Trưởng phòng phụ trách và quản lý, có các Phó phòng giúp việc, đội ngũ chuyên viên thực hiện công tác và tuỳ theo tình hình thực tế sẽ có các tổ chuyên môn, nghiệp vụ.
Chức năng: Tham mưu, giúp việc cho Ban GĐ Công ty trong quản lý và điều hành hoạt động thuộc lĩnh vực: Hành chính, quản trị tài sản, nhân sự và lao động tiền lương.
Phòng Kế Toán là Phòng chức năng thuộc bộ máy quản lý, điều hành của Công ty, do Kế toán Trưởng phụ trách và quản lý, có các Kế toán phó và đội ngũ kế toán viên giúp việc và tùy theo tình hình thực tế sẽ có các tổ chuyên môn, nghiệp vụ.
Chức năng: Tham mưu, giúp việc cho Ban GĐ Công ty trong quản lý và điều hành hoạt động thuộc lĩnh vực tổ chức, chỉ đạo, thực hiện công tác kế toán tài chính theo luật pháp và quy định của Nhà nước.
Phòng Tài chính – Kế hoạch là Phòng chức năng thuộc bộ máy quản lý, điều hành của Công ty, do Trưởng phòng phụ trách và quản lý, có các Phó phòng giúp việc và các chuyên viên tuỳ theo tình hình thực tế sẽ có các tổ chuyên môn, nghiệp vụ.
Chức năng: Tham mưu, giúp việc cho Ban GĐ Công ty trong quản lý và điều hành công việc thuộc lĩnh vực tài chính, kế hoạch của Công ty. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV 397
2.1.3. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc
Hoạt động kinh doanh của bất ký tổ chức doanh nghiệp đều với mục đích chính là thu được lợi nhuận để vốn của họ tăng lên. Vì lợi nhuận là mục đích quan trọng nhất của doanh nghiệp, cũng như những người có quyền lợi liên quan cho nên việc cung cấp các thông tin về tình hình kinh doanh của từng hoạt động, sự lãi, lỗ của doanh nghiệp có tác dụng quan trọng trong việc ra các quyết định quản trị, cũng như quyết định đầu tư cho vay của những người liên quan. Can cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp cho việc ra quyết định xây dựng các kế hoạch cho tương lai.
Qua bảng số liệu tại bảng 2.1 ta thấy, kết quả kinh doanh của Công ty qua 5 năm có sự biến động không đều. Từ năm 2021 đến năm 2023 có chiều hướng tăng, nhưng từ năm 2024 đến 2025 giảm nhẹ cụ thể như sau:
Doanh thu năm 2022 tăng 10.6% so với năm 2021, năm 2023 tăng 40.8% so với năm 2022, năm 2024 tăng 5.9% so với năm 2023, đến năm 2025 giảm 19.1%. Sở dĩ doanh thu tăng lên là do sản lượng tăng lên qua từng năm. Tuy nhiên đến năm 2025 doanh thu giảm mặc dù sản lượng không đổi là do sản lượng than cám và than sạch có chiều hướng giảm.
Bên cạnh sự biến động tăng giảm của doanh thu thì chi phí cũng tăng lên rõ rệt từ năm 2021 – 2024, đến 2025 có giảm nhẹ. Chính vì vậy mà lợi nhuận của Công ty qua mỗi năm chỉ tăng từ 20% đến 30%, năm 2024 có sự suy giảm 30%. Như vậy để khai thác than hiệu quả Công ty cũng cần tính toán đến việc sử dụng chi phí sao cho hiệu quả và tiết kiệm để nâng cao lợi nhuận cho Công ty.
Sản lượng khai thác của Công ty tăng lên qua từng năm. Nguyên nhân là do thị trường trong nước và xuất khẩu đều phát triển mạnh mẽ. Trên thị trường quan hệ cung cầu đã thay đổi căn bản: “cầu” đã lớn hơn “cung”, đồng thời trong ngành than cũng có sự tiến bộ về khoa học công nghệ áp dụng dẫn tới sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng lên nhanh chóng.
- Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc
- Biểu đồ 2.1: Kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2021 – 2025
Mặc dù sản lượng khai thác của Công ty mỗi năm không ngừng tăng lên, trung bình từ 250 – 300 nghìn tấn mỗi năm nhưng doanh thu có lức lại giảm đi cho thấy trữ lượng than tốt ngày càng suy giảm. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn tới phải làm lại quy hoạch phát triển ngành than, cần đầu tư về mặt công nghệ và phương pháp hiện đại trong quá trình khai thác đảm bảo đủ sản lượng được giao và chất lượng tốt. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Ngành than là ngành thu hút được nhiều lao động phổ thông, chính vì vậy mà giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho xã hội, nguồn lao động ổn định và không có biến động nhiểu. Lao động bình quân trong Công ty là 400 làm tại vỉa 9a và 9b. Trong giai đoạn 2021 – 2023, mặc dù số lao động hàng năm tăng lên không đáng kể nhưng năng suất lao động lại tăng lên. Nguyên nhân là trong giai đoạn này Công ty bổ sung và đầu tư công nghệ hiện đại trong khai thác. Đến năm 2025, năng suất lao động lại giảm là do sản lượng than cám và than sạch trong khai thác có chiều hướng giảm dẫn đến doanh thu giảm đi trong năm này.
Bên cạnh đó, hàng năm Công ty mang lại nguồn thu ngân sách lớn cho Nhà nước. Đây cũng là một trong những hiệu quả xã hội của Công ty đóng góp vào ngân sách Nhà nước.
Bảng 2.2. Bảng thống kê lao động từ năm 2021-2025
Qua bảng trên ta thấy về cơ cấu tổng số lao động của Công ty 397 đều tăng lên qua từng năm cụ thể là: Năm 2021 là 400 người, năm 2022 là 385 người, năm 2023 là 404 người, năm 2024 là 400 người, năm 2025 là 406 người. Như vậy trong 5 năm từ 2021 đến 2025 số lao động bình quân của công ty là 400 người.
Lực lượng lao động gián tiếp của Công ty chiếm tỷ trọng nhiều nhất, lên tới 80% tổng số lao động của Công ty phù hợp với đặc thù sản xuất và khai thác của Công ty.
Cũng theo các số liệu thống kê ở trên, về chất lượng lao động của Công ty ta nhận thấy rằng số lao động có trình độ đại học từ năm 2021 đến 2025 được tăng thêm 22 người, tương ứng với mức tăng 46,8%. Tất cả những lao động này đều là nhân viên gián tiếp. Bên cạnh đó số lao động chiếm đa số chủ yếu là trình độ sơ cấp đó là các công nhân khai thác. Nhìn chung, xét một cách tổng thể trình độ của người lao động trong Công ty vẫn còn hạn chế. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác.
2.2. Phân tích thực trạng hiệu quả khai thác than tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc giai đoạn 2021 – 2025 Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
2.2.1. Đánh giá hiện trạng hoạt động quản lý khai thác than tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc giai đoạn 2021 – 2025
2.2.1.1. Về sản lượng khai thác
Trong giai đoạn 2019–2025, Công ty 397 đã đạt được những thành tựu đáng kể trong khai thác. Sản lượng than khai thác không ngừng tăng lên nhanh chóng qua từng năm. Tốc độ tăng trưởng sản lượng luôn đạt được những con số ấn tượng cả về số tuyệt đối và tương đối, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Khai thác than chủ yếu bao gồm hình thức là khai thác lộ thiên.
Khai thác lộ thiên có nhiều ưu thế nổi bật hơn so với khai thác hầm lò thể hiện ở các điểm sau:
- Điều kiện làm việc thuận lợi, an toàn và vệ sinh công nghiệp tốt do việc toàn bộ các khâu khai thác và phụ trợ được tiến hành trên bề mặt.
- Có điều kiện thuận lợi cho việc cơ giới hoá và hiện đại hoá, do đó năng suất lao động cao, giá thành khai thác hạ.
- Tổn thất tài nguyên thấp( 7-10%) hơn nhiều so với khai thác hầm lò (30-50%).
Tuy nhiên, nhược điểm rất lớn của khai thác lộ thiên đó là chiếm nhiều diện tích đất mặt cho khai trường và bãi thải; ảnh hưởng tới cảnh quan, môi trường sinh thái do gây ra hiện tượng trôi lấp bãi thải, tạo bụi, tiếng ồn, bồi lắng sông suối và ô nhiễm nguồn nước. Thêm vào đó do khai thác lộ thiên đã được tiến hành từ rất lâu và khai thác lộ thiên cũng có giới hạn hiện nay phần lớn các mỏ lộ thiên trữ lượng còn lại không nhiều.
- Bảng 2.3 : Cơ cấu khai thác than
- Biểu đồ 2.2: Sản lượng than khai thác giai đoạn 2021 – 2025
Nhìn vào bảng sản lượng trên ta thấy sản lượng khai thác than lộ thiên của Công ty có năm tăng và có năm giảm. Trữ lượng bình quân của sản lượng khai thác mỗi năm từ 200 – 300 nghìn tấn. Con số này vẫn còn khá ít so với các mỏ than trên cả nước. Số lượng than cám và than sạch chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên năm 2025, sản lượng khai thác có tăng lên, nhưng sản lượng than cám và than sạch lại giảm xuống. Điều này chính tỏ công tác thăm dò khoáng sản trước khi khai thác chưa được hiệu quả. Bên cạnh đó đòi hỏi công tác quy hoạch khai thác cần được hợp lý hơn để đảm bảo cung cấp hiệu quả cho nền kinh tế mà trữ lượng khoáng sản không bị cạn kiệt. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Khai thác hiệu quả cũng chính là công tác hoàn nguyên môi trường của Công ty 397 thuộc Tổng Công ty Đông Bắc tại vỉa 9a, 9b, khu Nam Đồi Sắn, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều cần dừng toàn bộ các dự án tận thu than tại khu 9A, 9B, đẩy nhanh tiến độ hoàn nguyên môi trường, nhằm đảm bảo an toàn cho người dân sống xung quanh khu vực.
Đồng thời, tích cực phối hợp với các sở, ngành liên quan và thị xã Đông Triều hoàn thiện các thủ tục báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc kết thúc khai thác than tại vỉa 9a, 9b, khu Đồi Sắn, thị xã Đông Triều.
Xu hướng hiện nay là khai thác lộ thiên giảm dần tỷ trọng và tỷ trọng khai thác hầm lò tăng. Nhưng sản lượng của cả hai loại hình khai thác này đều tăng (trong tương lai gần, khai thác than lộ thiện vẫn có thể tăng sản lượng). Đây là một xu hướng hợp lý, một mặt vẫn đảm bảo chú trọng phát triển cả hai hình thức khai thác, mặt khác tiến tới phát triển theo chiều sâu bằng cách đổi mới công nghệ, ngày càng phát huy tiềm năng của khai thác hầm lò.
2.2.1.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý và công nghệ khai thác than Công tác quản lý kỹ thuật khai thác
Phòng kỹ thuật sản xuất Công ty TNHH MTV 397 phải tổ chức, chỉ đạo các đơn vị sản xuất trong Công ty TNHH MTV 397 tiến hành khai thác theo đúng thiết kế đã được duyệt. Trường hợp muốn thay đổi phương hướng khai thác, hệ thống khai thác mở vỉa hoặc các yếu tố kỹ thuật phải tính toán các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và trình cấp trên xét duyệt.
Trong quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất năm, quý hoặc đột xuất thay đổi các yếu tố kỹ thuật. Phòng kỹ thuật sản xuất Công ty TNHH MTV 397 báo cáo Giám đốc Công ty TNHH MTV 397 trên cơ sở đảm bảo kỹ thuật an toàn, đảm bảo yêu cầu sản xuất và bố trí thiết bị, khi hoàn thành phải giữ đúng các yếu tố kỹ thuật được cấp trên phê duyệt.
Phòng kỹ thuật sản xuất phải xây dựng các hộ chiếu xúc mẫu cho các gương tầng, hộ chiếu khoan nổ mìn từng vị trí cần phải khoan nổ mìn trên cơ sở bản đồ nham thạch, điều kiện địa chất thuỷ văn và các điều kiện kỹ thuật an toàn khác theo hộ chiếu quy định.
Các hộ chiếu khoan nổ mìn ở khu vực khai thác lộ thiên phải trình duyệt Phó Giám đốc kỹ thuật sản xuất Công ty TNHH MTV 397 và gửi xuống các công trường, phân xưởng sản xuất thực hiện, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Công ty 397.
Các công trường, phân xưởng khai thác lộ thiên có khoan phải được thực hiện nghiêm túc hộ chiếu khoan đã được Giám đốc phê duyệt và tuân thủ nghiêm theo quy phạm an toàn trong công tác vận chuyển và sử dụng VLNCN TCVN 5507:2002
Cán bộ công nhân có liên quan đến vật liệu nổ công nghiệp phải được huấn luyện và kiểm tra theo bản quy phạm an toàn trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng VLNCN TC TCVN 5507:2002 do nhà nước ban hành.
Việc thuê nổ mìn bãi khoan lớn ở các công trường lộ thiên phải trực tiếp dưới sự chỉ đạo của người chỉ huy nổ mìn của Công ty đó( Chỉ huy nổ mìn). Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Phòng kỹ thuật sản xuất trực tiếp giám sát huớng dẫn đội thi công khoan, nổ mìn đạt hiệu quả, an toàn theo hộ chiếu nổ mìn đã được phê duyệt giữa hai bên.
Hiện nay tại tất cả các mỏ lộ thiên của Công ty được trang bị đồng bộ thiết bị khoan, xúc bốc, vận tải ngoài thuộc loại trung bình, tiên tiến. Đối với các mỏ quy mô lớn phục vụ cho dây chuyền bóc đất đá là máy khoan thuỷ lực với đường kính lỗ khoan d= 110-200 mm, máy xúc điện EKG có dung tích gàu E=4,6-8 m3, máy xúc thuỷ lực với dung tích gầu xúc E= 3,5-6,7 m3, ô tô tự đổ có trọng tải 30-58 tấn gồm các chủng loại như BelAZ, Komatsu,… Đào hào tháo khô mở vỉa và khấu than bằng máy xúc thuỷ lực gầu ngược có dung tích gầu E= 2,8-3,5 m3 phối hợp với máy xúc gầu thẳng EKG với dung tích gầu xúc đến 5 m3, vận chuyển than là các loại ô tô trọng tải 15-32 tấn hoặc vận tải băng chuyền liên hợp ô tô- băng tải (mỏ than Núi béo và mỏ Cọc Sáu).
Trong các năm qua Công ty than Đông Bắc đã thực hiện chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ, cải thiện tình trạng kỹ thuật và công nghệ do quá khứ để lại tại các mỏ lộ thiên như sau:
- Đã nghiên cứu và áp dụng thành công hệ thống khai thác khấu theo lớp đứng cho hầu hết các mỏ.
- Chỉ đạo và giao chỉ tiêu hệ số bóc đất đá cho các công ty, các mỏ, cải thiện dần các thông số của hệ thống khai thác do các năm trước thu hẹp sản xuất.
- Đã nghiên cứu và áp dụng thành công công nghệ đào sâu đáy mỏ bằng máy xúc thuỷ lực gàu ngược đối với các mỏ khai thác dưới mức thoát nước tự chảy.
- Đã nghiên cứu và bước đầu đưa vào áp dụng công nghệ và thiết bị khai thác chọn lọc, nâng cao chất lượng và giảm tổn thất than.
- Các khâu chủ yếu trong quy trình công nghệ khai thác đã được đầu tư trang thiết bị hiện đại và đồng bộ như:
Công tác khoan lỗ mìn, nạp mìn bằng máy khoan, xe nạp mìn của các nước tiên tiến đang sử dụng.
Máy xúc thuỷ lực gầu thuận, gầu ngược, chạy diezen, có tính cơđộng cao, phù hợp với hệ thông khai thác khấu theo lớp đứng, đào hào và khai thác than đáy mỏ, khai thác chọn lọc,…
Ô tô vận tải cỡ lớn ( Trọng tải 42÷60 tấn), ô tô khung động ( xe lúc lắc có khả năng leo dốc cao và bán kính đường vòng nhỏ).
Tóm lại, tình trạng kỹ thuật và công nghệ của các mỏ lộ thiên hiện nay đã được cải thiện một bước về chất, đang tiếp tục đổi mới và dần dần đi vào nề nếp, tiến tới phải đảm bảo quy trình, quy phạm kỹ thuật và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Tuy nhiên quá trình đổi mới công nghệ trong khai thác vẫn chủ yếu là mua sắm trang thiết bị máy móc hiện đại trong khai thác, chưa chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng sáng tạo của người thợ mỏ cũng như là sự nhận thức trong việc khai thác bền vững. Chính vì vậy hiệu quả khai thác của Công ty vẫn còn hạn chế.
2.2.1.3. Hiện trạng mạng kĩ thuật cơ sở hạ tầng Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Với khối lượng đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở ở các khu vực khai thác than rất lớn trong các năm 2022, 2023, 2024 song hệ thống hạ tầng cơ sở vẫn còn tồn tại các bất cập so với tốc độ tăng trưởng sản lượng than cụ thể như:
Bãi thải của Công ty nhiều khi quá tải, chưa xử lý kịp. Công tác khoan nổ mìn trong khai thác nhiều khi dồn dập do gặp phải các vỉa có nhiều lớp đất đá. Theo kiến nghị của người dân tại khu Vĩnh Tân, hoạt động khai thác than của Công ty TNHH MTV 397 đã gây ảnh hưởng đến môi trường sống, sinh hoạt của người dân quanh khu vực. Hiện nay, có khoảng 80/243 hộ dân trong khu bị ảnh hưởng bởi tiếng nổ mìn, gây chấn động nhà cửa; hoạt động khai thác, bốc xúc than diễn ra cả đêm, phát tán bụi, gây ra tiếng ồn; giảm lượng nước sinh hoạt đối với giếng nước của các hộ dân.
Khắc phục tình trạng trên, phía Công ty TNHH MTV 397 đã thực hiện hỗ trợ cho các hộ dân về tiền nước sinh hoạt hàng tháng; tổ chức động viên, tặng quà những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị ảnh hưởng; hỗ trợ khu xây dựng nhà văn hóa; điều chỉnh lại thời gian sản xuất từ 6h sáng đến 18h trong ngày (trước đây khai thác 24/24 giờ); hạn chế việc nổ mìn. Thị xã Đông Triều cũng đã triển khai lắp đặt hệ thống nước máy đến các hộ dân.
Về công tác vận tải than của Công ty tại khu vực Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả vẫn còn tồn tại việc vận tải bằng ô tô với khối lượng lớn ra các cảng tiêu thụ than, một mặt làm tăng chi phí khai thác, mặt khác đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống của dân cư dọc theo các tuyến đường vận tải chưa được khắc phục cụ thể như:
- Vận tải than bằng ô tô từ Uông Bí về nhà máy tuyển và cảng Nam Cầu Trắng.
- Vận tải than bằng ô tô ra cảng km6.
- Vận tải than bằng ô tô ra các cảng Đèo Nai, Đá Bàn.
- Các tuyến đường sắt khổ 1000 mm chuyên dùng vận tải than chưa được cải tạo và tận dụng hết năng lực.
Tiến độ đầu tư tập trung tại các khu vực theo quy hoạch chậm theo yêu cầu do đó vẫn còn tồn tại gây ô nhiễm môi trường một cách đáng kể. Khu vực khai thác than của công ty còn nằm gần Trường Tiểu học Mạo Khê A, bị nứt do hoạt động khai thác than. Trường học có bán trú, các em học sinh ăn uống, ngủ nghỉ ngay tại trường, khói bụi ô nhiễm, máy móc, xe chạy suốt cả trưa, ảnh hưởng tới sức khỏe của các em. Cùng với đó, đoạn đường vào trường cũng chính là nơi xe than, xe đất chạy, giờ tan tầm, đủ các loại xe chạy, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông.
2.2.1.4.Thực trạng quản lý khai thác liên quan đến môi trường
Một số dấu hiệu môi trường đặc trưng tại khu vực khai thác than được thể hiện trong bảng 2.3.
Bảng 2.4: Các dấu hiệu môi trường đặc trưng của Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc
Với việc áp dụng các công nghệ xử lý khí, bụi trong hầm lò, tại khu vực nhà sàng và chống bụi trên các tuyến đường giao thông nội bộ mỏ bằng các ô tô phun nước với tần suất hợp lý đã góp phần cải thiện chất lượng môi trường không khí rất nhiều so với những năm trước đây. Khu vực tác động trực tiếp đến môi trường và người lao động sản xuất đều đạt tiêu chuẩn cho phép ngoại trừ nhà sàng khu 56 hàm lượng bụi đo được là 2,16 mg/m3 khi đang hoạt động, vượt 1,08 lần theo Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động 3733 – 2002. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Khu vực có ảnh hưởng của hoạt động đến môi trường bao gồm các tuyến đường vận chuyển và các khu dân cư hàm lượng bụi đều đạt Quy chuẩn môi trường theo QCVN 05:2018/BTNMT. Ngoại trừ tuyến đường vận chuyển qua khu vực nhà sàng và tuyến đường chuyên dụng vận chuyển than ra cảng Bến Cân do hoạt động thường xuyên của các chuyến xe vận tải nên hàm lượng bụi ở những khu vực này tương đối lớn, vượt Quy chuẩn môi trường từ 1,06 – 1,1 lần.
Khu vực đổ thải nằm xa khu dân cư nên không ảnh hưởng tới khu dân cư mà ảnh hưởng trực tiếp đến công nhân tham gia sản xuất trong các khâu này. Tuy nhiên trong quá trình vận chuyển, nồng độ bụi đo thường lớn song quá trình khai thác cũng gần với các hộ dân cư sinh sống trên địa bàn và đặc biệt là gần trường học. Chính vì vậy việc ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân trên địa bàn là khó tránh khỏi.
Quá trình khai thác, chế biến than không những phát sinh ra bụi, khí độc mà còn tạo nên tiếng ồn và độ rung lớn tại khu vực sản xuất. Vì vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động thường xuyên trong khu vực và ảnh hưởng đến đời sống người dân xung quanh công trường khai thác. Tiếng ồn do nổ mìn chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến công nhân mỏ. Tuy nguồn ô nhiễm này không liên tục, nhưng sẽ gây những tác động tiêu cực đến đời sống của dân cư và môi trường sinh thái xung quanh vùng.
- Môi trường nước
Quá trình sản xuất than thường đi kèm theo một khối lượng nước thải từ mỏ khá lớn. Lượng nước thải này bao gồm nước mưa rửa trôi bề mặt được dẫn vào hệ thống hồ lắng qua mương hứng nước và nước bơm từ moong lộ thiên, mỏ hầm lò dẫn vào hệ thống xử lý nước thải chung của mỏ trước khi thải ra suối.
Nước thải mỏ của Công ty khi thải ra ngoài môi trường đã gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường nước mặt. Các vỉa khai thác lộ thiên trước đây, do điều kiện về địa hình cũng như số năm tồn tại của lộ vỉa, một số mỏ than không bố trí xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho riêng các công trường này. Nước thải được trung hòa tại mương chứa nước nằm sát cạnh các hồ thủy lợi trước khi đổ thải. Hồ Nội Hoàng, hồ Cầu Cuốn, hồ Khe Ươn 1 và hồ Khe Ươn 2 chịu ảnh hưởng của việc khai thác các vỉa lộ thiên trước đây đã khiến nước hồ bị nhiễm chua. Năm 2021, pH tại hồ Cầu Cuốn là 3.21, hồ Nội Hoàng đạt 3.02, trong khi độ pH để các sinh vật, thực vật phát triển bình thường phải đạt mức 5,5 – 6. Nguy hiểm hơn cả là việc đổ san gạt đất, đá xít lấp hồ và lấp cả suối đầu nguồn của hồ Nội Hoàng, hồ Cầu Cuốn, cắt mất nguồn sinh thủy của các hồ khiến việc điều tiết nước của phần lớn các hồ thủy lợi bị suy giảm đáng kể, trực tiếp đe doạ năng suất cây trồng, giảm nguồn lợi thuỷ sản và có thể còn là một nguy cơ đối với nguồn nước sạch dân sinh trong tương lai gần. Nồng độ chất hữu cơ cao làm giảm oxy hòa tan trong nước dẫn đến giảm khả năng phát triển của các loài sinh vật nước, giảm năng suất của hệ sinh thái nước.
Về mùa mưa, quá trình thoát nước mỏ và nước mặt mang theo nhiều bùn đất, làm bồi đắp lòng sông suối, làm thay đổi mạng lưới thủy văn về các phương diện hình dáng, động lực dòng chảy và chất lượng nước. Lượng nước thải này vẫn còn phát sinh kể cả khi các hoạt động mỏ đã kết thúc, vì vậy có tính tiềm tàng ảnh hưởng lâu dài. Năm 2021, mỏ than trực thuộc Công ty đã kết thúc khai thác lộ thiên một số vỉa gần hồ thủy lợi. Nước thải của các vỉa khai thác lộ thiên còn lại được dẫn về hệ thống xử lý nước thải hầm lò cộng thêm công tác nạo vét sông, suối hàng năm, xây kè chân bãi thải và kè suối Non Đông nên chất lượng nước mặt đã được cải thiện rất nhiều so với trước kia.
Khu vực chứa than tại cảng làm cho nước ven sông bị ô nhiễm, có độ đục cao, hàm lượng chất rắn lơ lửng lớn, nước có màu đen do chịu ảnh hưởng lớn bởi hoạt động sản xuất trên bờ.
- Chất thải Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Chất thải tại mỏ than thuộc Công ty than Đông Bắc bao gồm chất thải nguy hại và chất thải rắn của quá trình sản xuất, sinh hoạt. Chất thải nguy hại chứa tại kho vật tư Công ty gồm ắc quy thải các loại được lưu giữ trong nhà kho có mái che, tường bao kín. Chất thải nguy hại tại phân xưởng ô tô và phân xưởng cơ khí gồm ắc quy thải, giẻ lau có dính dầu mỡ, dầu thải, bộ lọc dầu đã qua sử dụng, các chi tiết của phanh đã qua sử dụng có chứa amiăng. Khối lượng chất thải nguy hại phát sinh ước tính khoảng 49.814 tấn/năm. Toàn bộ chất thải nguy hại được phân loại, lưu giữ trong nhà kho có mái che và được bán cho đơn vị thu mua do không tự xử lý được. Do đã được thu gom ngay nên tác động đến môi trường của loại chất thải này không đáng kể.
Chất thải của quá trình sản xuất chủ yếu là đất đá thải. Đất đá của Công ty hiện nay gồm hai nguồn chính bao gồm: đất đá thải hầm lò và đất đá thải lộ vỉa. Khối lượng đất đá bóc tại mỏ than của Công ty qua các năm được tổng hợp trong bảng Số liệu sản xuất kinh doanh của Công ty. Hiện tại tất cả khối lượng đất đá thải được vận chuyển bằng ô tô lên đổ thải tại các bãi thải trong và bãi thải ngoài theo quy hoạch của Công ty. Do bãi thải nằm xa khu dân cư nên ảnh hưởng của chúng chủ yếu là những tác động đến các dòng chảy trong khu vực. Khi có mưa lớn, mái dốc của bãi thải có thể bị bào mòn tạo ra các dòng chảy tập trung xuống phía dưới gây trôi lấp, bồi lắng lòng suối và các hồ xung quanh. Những năm gần đây do thực hiện công tác cải tạo và phục hồi môi trường, trên bãi thải phần nào đã được phủ xanh nên tác động của bãi thải tới môi trường được giảm nhẹ. Tiến trình lâm sinh sẽ đảm bảo ngăn chặn xói mòn đất, sụt lở đất đá, lũ trên các dòng chảy mặt.
2.2.2. Phân tích hiệu quả khai thác than tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc giai đoạn 2021 – 2025 Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
2.2.2.1. Chỉ tiêu định tính đánh giá về quy trình quản lý khai thác * Chỉ tiêu về kỹ thuật khai thác
Quy trình khai thác than trải qua 5 giai đoạn chính: đó là quy trình bốc xúc đất đá và làm tơi đất đá, quy trình khoan nổ mìn, quy trình xúc than, quy trình vận chuyển, quy trình đổ thải.
Phòng kỹ thuật sản xuất Công ty TNHH MTV 397 có trách nhiệm xây dựng và hướng dẫn giám sát các CT, PX sản xuất thực hiện đúng các hộ chiếu kỹ thuật, biện pháp thi công trong dây truyền sản xuất nhằm khai thác đúng kỹ thuật, đảm bảo an toàn và kinh tế nhất trên các khu vực khai thác lộ thiên để trình Phó giám đốc kỹ thuật phê duyệt trước khi gửi cho các công trường, phân xưởng thực hiện.
Khu vực khai thác lộ thiên phải lập đủ các hộ chiếu sau đây:
- Hộ chiếu khoan cho từng bãi khoan.
- Hộ chiếu nổ mìn và hộ chiếu an toàn cho từng đợt nổ mìn
- Hộ chiếu xúc cho từng tầng
- Phương án thoát nước
- Hộ chiếu đổ thải
- Các loại hộ chiếu, phương án khác khi cần thiết.
Tất cả các hộ chiếu của khu vực lộ thiên trong Công ty TNHH MTV 397 khi lập phải tuân theo đúng biểu mẫu quản lý kỹ thuật của Tổng công ty Đông Bắc.
Phải xây dựng và tổ chức thực hiện các quy trình công nghệ cho từng công xuất, từng loại thiết bị phù hợp với các quy phạm và quy trình của nhà nước của Tổng công ty Đông bắc cho các ngành nghề và từng chủng loaị thiết bị.
- Chỉ tiêu về môi trường trong khai thác
Tuy nhiên, bên cạnh đầu tư các công nghệ hiện đại trong khai thác, nguồn nhân lực của công ty dường như vẫn chưa tận dụng hết được các ưu điểm của công nghệ khai thác. Hơn thế nữa là trình độ nhận thức và năng lực quản lý khai thác của các CBCNV tại công ty còn hạn chế, chưa có sự lập kế hoạch cụ thể trong khai thác nhất là trong vận chuyển và việc khai thác bền vững đảm bảo chông ô nhiễm môi trường cụ thể như sau:
Thực tế có khoảng 80/243 hộ dân trong khu bị ảnh hưởng bởi tiếng nổ mìn, gây chấn động nhà cửa; hoạt động khai thác, bốc xúc than diễn ra cả đêm, phát tán bụi, gây ra tiếng ồn; giảm lượng nước sinh hoạt đối với giếng nước của các hộ dân.
Quy trình nổ mìn còn sử dụng quá liều lượng thuốc nổ cho phép.
Công tác vận chuyển than còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống của dân cư dọc theo các tuyến đường vận tải chưa được khắc phục. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Tiến độ đầu tư tập trung tại các khu vực theo quy hoạch chậm theo yêu cầu do đó vẫn còn tồn tại gây ô nhiễm môi trường một cách đáng kể.
Quá trình khai thác, chế biến than không những phát sinh ra bụi, khí độc mà còn tạo nên tiếng ồn và độ rung lớn tại khu vực sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới công nhân mỏ.
2.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng đánh giá hiệu quả khai thác
Hiệu quả khai thác than là công cụ quản lý để khai thác than hiệu quả. Hiệu quả khai thác than không những cho biết trình độ sản xuất mà còn giúp tìm ra các biện pháp tăng kết quả và giảm chi phí khai thác, nhằm nâng cao hiệu quả khai thác than của Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc. Nâng cao hiệu quả khai thác than tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực trong quản lý và khai thác than tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc. Và hơn bao giờ hết khi mà nguồn tài nguyên này ngày một cạn kiệt thì việc nâng cao hiệu quả khai thác than là điều kiện cần để Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc tồn tại và phát triển. Phân tích hiệu quả khai thác than là để đánh giá trình độ khai thác than, tiết kiệm các nguồn lực đã có, đồng thời thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo cơ sở cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất. Từ đó trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác than tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong quá trình sản xuất, đề ra các biện pháp nhằm khai thác mọi khả năng tiềm tàng để phấn đấu nâng cao hiệu quả khai thác than, tăng khả năng cạnh tranh, tăng tích luỹ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc.
- Các chỉ tiêu về sức sinh lợi
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng Công ty Đông Bắc giai đoạn 2021 – 2025
Từ biểu trên ta thấy ba loại tỷ suất lợi nhuận nêu trên đều dương, chứng tỏ Công ty TNHH 397 hoạt động khai thác vẫn có lợi nhuận. Tuy nhiên các tỷ suất có xu hướng giảm, chứng tỏ hiệu quả khai thác có chiều hướng giảm sút. Nguyên nhân chính là do chất lượng khai thác chưa đảm bảo về môi trường sống và môi trường sinh thái khiến Công ty phải chi ra các khoản bồi thường cho người dân sống xung quanh các vỉa khai thác trung bình chiếm khoảng 30% tổng số chi phí của Công ty. Tuy nhiên, mức chi phí này có chiều hướng giảm nhưng tốc độ giảm khá ít chứng tỏ Công ty đang cố gắng khắc phục những hạn chế gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả khai thác. Bên cạnh đó sản lượng than cám và than sạch giảm đi trong khi sản lượng than nguyên khai tăng lên cũng là một nguyên nhân khiến doanh thu tiêu thụ của Công ty bị giảm sút.
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ tỷ suất lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2021 – 2025
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu và chi phí trong cả giai đoạn đều tăng trưởng đồng đều, chỉ có năm 2024 – 2025, cả 2 chỉ tiêu đều giảm sút. Nguyên nhân là trong năm 2024 – 2025 Công ty phải chi phí nhiều cho việc tuyển dụng và đầu tư chủ yếu vào phát triển kho bãi, chi cho công tác đảm bảo an toàn môi trường. Đó cũng là nguyên nhân tỷ suất lợi nhuận theo vốn cũng giảm theo. Năm 2024 và năm 2025 mặc dù doanh thu giảm so với các năm trước đó nhưng chi phí cũng có tốc độ tăng giảm tương ứng như doanh thu nên tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu năm 2024 và 2025 đều giảm đáng kể so với các năm trước. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đã phản ánh rõ nét trong 1 đồng doanh thu ở năm sau đem lại lợi nhuận cao hơn so với năm trước, điều này chứng tỏ việc khai thác kinh doanh của công ty vẫn đem lại hiệu quả, chứ không thể đánh giá bằng sự chênh lệch doanh thu giữa 2 kỳ. Riêng năm 2024 và 2025 có giảm đi chủ yếu do sản lượng than có chất lượng giảm và chi phí đầu tư tăng lên. Chính vì vậy công ty cũng cần xem lại công tác sử dụng hiệu quả chi phí cho những năm tiếp theo nhất là các khoản chi về đền bù và bồi thường cho môi trường khai thác. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn chủ sở hữu năm 2024 – 2025 thì giảm so với các năm trước đó. Sở dĩ tỷ lệ này giảm là do lợi nhuận sau thuế năm 2024 và 2025 giảm đáng kể làm cho tỷ suất lợi nhuận theo vốn chủ sở hữu cũng giảm theo. Nguyên nhân chính cũng như phân tích ở trên do Công ty chưa sử dụng chi phí hiệu quả, chi phí phát sinh bồi thường tăng. Bên cạnh đó sản lượng than khai thác không tăng, bình quân chỉ ở mức 300.000 tấn, thậm chí sản lượng than cám và than sạch ngày một giảm.
- Về việc sử dụng tài sản cố định tại công ty:
Tài sản cố định của Công ty chủ yếu là máy móc, kho bãi và các phương tiện vận tải phục vụ cho khai thác ngành than.
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp hao mòn tài sản cố định (tại ngày 31/12 các năm 2021 – 2025)
Bảng 2.6 cho thấy hệ số hao mòn của công ty đang ở mức trung bình, cụ thể năm 2021 là 48%, năm 2022 là 47,7%, năm 2023 là 50%, năm 2024 là 59% và năm 2025 là 60%. Điều này chứng tỏ tài sản của đơn vị đa phần là mới đầu tư, còn tương đối mới. Điều này cho thấy những năm qua chi phí của Công ty là khá cao. Cũng qua bảng tổng hợp hao mòn tài sản cố định ở trên ta thấy trong cơ cấu tài sản cố định của đơn vị thì nhà cửa, máy móc và kho bãi chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là phương tiện vận tải và cuối cùng là thiết bị quản lý. Trong cả giai đoạn 5 năm 2021 – 2025, nhà cửa và kho bãi luôn chiếm tỷ lệ trên 50% trong tổng tài sản cố định. Phương tiện vận tải hàng năm đều được đầu tư mua mới đáp ứng nhu cầu ngày cảng tăng của vận tải. Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc thù ngành nghề kinh doanh là khai thác than của Công ty.
Biểu đồ 2.4: Biểu đồ tỷ suất lợi nhuận trên TSCĐ giai đoạn 2021 – 2025
Qua bảng số liệu 2.7 ta thấy TSCĐ của Công ty đều tăng qua từng năm từ 5% đến 10% mỗi năm. Điều này cho thấycho thấy Ban Giám đốc đã quan tâm đến việc đầu tư vào tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Thực tế cho thấy Công ty đã mua các máy thủy lực, các máy móc công nghệ cao trong việc khai thác than.
Tỷ suất doanh thu trên tài sản cố định tăng từ năm 2021 – 2024. Nhưng đến năm 2025 lại giảm. Nguyên nhân chính là do doanh thu trong năm này giảm bởi mặc dù sản lượng khai thác vẫn đạt mức kế hoạch nhưng trữ lượng than cám và than sạch lại giảm đi.
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cố định cũng là một chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản cố định trong công ty. Các số liệu ở bảng 2.6 đều dương và qua biểu đồ 2.4 cho thấy tài sản trong công ty phần nào cũng đã được sử dụng hiệu quả, tuy số liệu chưa được cao, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cố định giảm từ 2023 đến 2025 một phần là do hàng năm tài sản cố định được đầu tư mua sắm lên với số lượng lớn, nhưng Công ty lại chưa nâng cao được hiệu quả sử dụng chi phí, sản lượng khai thác chỉ chững lại ở mức 300.000 tấn. Chính vì vậy việc đầu tư mua sắm công nghệ mới thực tế chưa đem lại hiệu quả cao trong khai thác. Trong tương lai, Công ty cần bước đến một vị thế cao hơn trong nhận thức của các cán bộ công nhân viên về việc khai thác hợp lý và hiệu quả. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Với đặc điểm kinh doanh khai thác than của công ty và tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới, công ty cần có chính sách để sử dụng tốt hơn nữa tài sản của mình. Sử dụng hiệu quả chi phí đã đầu tư để tránh sự hao mòn vô hình và lãng phí để mang lại hiệu quả về mọi mặt cho đơn vị trong quá trình khai thác.
- Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng lao động Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải đặt vấn đề con người, lao động lên hàng đầu, phải có phương hướng chiến lược sử dụng nguồn nhân lực một cách hữu hiệu để đạt kết quả cao hơn. Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản trong sản xuất, góp phần quan trọng trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Bảng 2.8 Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động
Qua bảng 2.8 ta thấy: hiệu suất sử dụng lao động trong giai đoạn 2021 – 2025 của Công ty đạt khá cao và có xu hướng tăng lên qua từng năm. Nguyên nhân do doanh thu của Công ty hàng năm tăng lên rõ rệt. Cùng với đó là mức năng suất lao động cũng tăng lên do sản lượng khai thác tăng. Mặc dù vậy mức sinh lời của lao động lại có xu hướng giảm. Nguyên nhân do chi phí tăng cao như đã phân tích ở trên dẫn đến lợi nhuận giảm sút. Bên cạnh đó trình độ lao động của Công ty còn hạn chế, chủ yếu vẫn là lao động sơ cấp và trung cấp. Lực lượng lao động quản lý trình độ cao đẳng và đại học chiếm tỷ trọng tương đương. Vì vậy để nâng cao hiệu quả khai thác, Công ty cần quan tâm chú trọng đào tạo nguồn nhân lực.
2.3. Đánh giá những thành công và hạn chế trong hoạt động khai thác than tại Công ty TNHH MTV 397 – Tổng công ty Đông Bắc
2.3.1. Thành công
Năng lực sản xuất và mức độ tiêu thụ than đã đạt được đúng sản lượng khai thác cho phép từ 200 – 300 nghìn tấn/năm. Mặc dù sản lượng than cám và than sạch có phần giảm nhưng Công ty cũng đã đóng góp một hiệu quả đáng kể trong việc cung cấp nhiên liệu cho nền kinh tế. Vì vậy mà doanh thu hàng năm tăng lên đáng kể thể hiện ở bảng số liệu 2.4.
Công ty đã phối hợp với các địa phương kiểm soát tình trạng khai thác than trái với quy định; môi trường vùng mỏ đã có sự quan tâm đầu tư cải thiện từng bước; an ninh chính trị trên địa bàn vùng than được giữ vững và ổn định. Trước hết là tuân thủ pháp luật về môi trường, hoàn thành mọi thủ tục pháp lý để thực hiện hoạt động khai thác như: lập dự án đầu tư xây dựng công trình; báo cáo đánh giá tác động môi trường; đề án cải tạo, phục hồi môi trường (đã được phê duyệt); được cấp giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép nổ mìn; được quy định tuyến đường, thời gian, phương tiện vận chuyển, địa bàn khai thác; được cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; thực hiện quan trắc môi trường định kỳ (4 lần/năm) và đóng phí bảo vệ môi trường theo quy định… Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Trước khi thực hiện nổ mìn tại khai trường, Công ty đã phối hợp cùng chính quyền địa phương thỏa thuận với các hộ dân (trong vùng ảnh hưởng), quay chụp hiện trạng công trình, nhà ở, vật kiến trúc của các gia đình, để theo dõi mức độ ảnh hưởng (nếu có) làm cơ sở đền bù theo quy định của pháp luật. Thông báo trước 2 ngày và mời lãnh đạo Công an thị xã Đông Triều, phường Mạo Khê và các khu dân cư Vĩnh Tân, Vĩnh Phú giám sát quá trình nổ mìn.Công ty đã tiếp thu và giải quyết thỏa đáng mọi kiến nghị; từ đó đã điều chỉnh giảm lượng thuốc nổ từ 1.000kg/bãi nổ xuống còn dưới 600kg/bãi.
Công tác quản lý kỹ thuật trong toàn ngành đã được quan tâm, đã cải thiện đáng kể tình trạng kỹ thuật của các mỏ than. Trong những năm gần đây, Công ty đã đầu tư các máy xúc thủy lực, máy xúc thủy lực gầu ngược..
Ngành than đã bảo toàn được vốn kinh doanh và đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi trung bình mỗi năm khoảng 20 tỷ đồng, các khoản nộp ngân sách hàng năm đều tăng từ 4 đến 7 tỷ đồng mỗi năm bao gồm cả thuế VAT và thuế TNDN.
Thực hiện theo quy hoạch đã được duyệt, các cơ sở sản xuất than trực thuộc Công ty dần được đưa ra ngoài vùng du lịch và đầu nguồn nước.
Việc khai thác than được thực hiện theo quy hoạch của tổng Công ty than Đông Bắc nói riêng và của Tập đoàn công nghiệp than và khoáng sản Việt Nam nói chung, có sự quản lý giám sát. Sự phân bố các cơ sở sản xuất và chế biến than có sự phù hợp. Tạo được mạng luới các cơ sở sản xuất, sàng tuyển, chế biến và tiêu thụ than có hiệu quả.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
- Hạn chế:
Mặc dù doanh thu hàng năm đều tăng lên nhưng chi phí của Công ty cũng tăng theo khá cao chính vì vậy lợi nhuận của công ty trong giai đoạn gần đây 2024 – 2025 giảm sút dẫn đến các tỷ suất lợi nhuận về vốn và chi phí cũng giảm sút theo. Nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn và chi phí giảm cụ thể như sau:
Công tác an toàn ngành mỏ của Công ty trong những năm gần đây đã được chú ý coi trọng tuy nhiên vẫn chưa đạt yêu cầu trong đó chủ yếu là ô nhiễm môi trường sống do nổ mìn, khói bụi, tiếng ồn và ô nhiễm nguồn nước.Ngày 25/4/2025 đơn vị đã phối hợp cùng các cơ quan của thị xã Đông Triều, Công ty CP Tư vấn, kiểm định chất lượng công trình xây dựng Hạ Long và các hộ dân tổ chức cuộc họp để thống nhất phương pháp và cách xác định mức độ ảnh hưởng sau khi nổ mìn theo ý kiến của các hộ dân khu Vĩnh Tân. Theo đó, Công ty CP Tư vấn kiểm nghiệm chất lượng công trình xây dựng Hạ Long tiến hành kiểm tra xác định mức độ ảnh hưởng của các công trình, vật kiến trúc của các hộ dân làm cơ sở pháp lý bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định của pháp luật. Do đó Công ty phải chịu phát sinh những chi phí bồi thường, chính vì vậy làm giảm hiệu quả trong kinh doanh khai thác cụ thể như sau: Công ty đã bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án khai thác khoáng sản; đã giải phóng mặt bằng, xây dựng xong khu tái định cư tại khu Vĩnh Hòa diện tích 7,3 ha tương đương 273 lô tái định cư với tổng giá trị gần 43,8 tỷ đồng. Sử dụng 21 lao động địa phương tại nơi có hoạt động khai thác khoáng sản, thu nhập bình quân khoảng 94,4 triệu đồng/năm; hỗ trợ xây dựng, cải tạo, nâng cấp nhà văn hóa khu Vĩnh Tân, Vĩnh Tuy II và 4 nhà tình thương cho các hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với số tiền hơn 1,2 tỉ đồng. Bên cạnh đó quá trình khai thác làm ảnh hưởng tới nguồn nước nên đơn vị phải hỗ trợ tiền nước và môi trường cho 98 hộ dân bị ảnh hưởng.
Quản lý khai thác và cung ứng than đã được chú trọng nhưng tỷ trọng than cám và than sạch giảm ảnh hưởng đến cơ chế định giá than và bảo vệ tài nguyên khoáng sản quốc gia. Hai mỏ 9a và 9b ngày càng hạn chế tiềm năng khai thác.
Công tác quản lý kỹ thuật – công nghệ tuy có những cải tiến đầu tư về máy móc thiết bị nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất về phát triển và khai thác bền vững không ảnh hưởng đến môi trường. Hay nói cách khác công tác đầu tư đổi mới công nghệ chưa được hiệu quả. Do đó hiệu quả sử dụng chi phí chưa cao. Qua bảng phân tích 2.1 ta thấy doanh thu của Công ty khá cao nhưng chi phí cũng tăng lên nhiều do một phần phát sinh những chi phí bồi thường như đã nói ở trên. Vì vậy lợi nhuận mỗi năm của Công ty chưa được cao. Do đó hiệu quả dử dụng tài sản cố định có phần giảm sút từ năm 2024.
Trong giai đoạn 2021 – 2024 hiệu quả sử dụng lao động tương đối tốt, nhưng đến năm 2025 lại giảm xuống rõ rệt.
- Nguyên nhân: Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
Trình độ chuyên môn và sự nhận thức về vấn đề môi trường của công nhân viên chưa cao. Đa số cán bộ và công nhân mỏ chưa nhận thấy được trách nhiệm của mình phải tuân theo luật BVMT, phải bảo quản và sử dụng trang thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân để bảo vệ sức khỏe cho chính mình, vi phạm quy định an toàn lao động.
Nguồn nhân lực phục vụ công tác QLMT chưa được trang bị đầy đủ về chuyên môn. Các kỹ sư còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm về công nghệ và kỹ thuật môi trường, chuyên môn QLMT.
- Hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường chưa đạt yêu cầu.
Thiếu cơ chế quản lý thích hợp trong lĩnh vực QLMT như: trong việc phối hợp triển khai thực hiện công tác BVMT với các đơn vị cùng khai thác trong từng khu vực ảnh hưởng, trong công tác thanh tra xử lý vi phạm pháp luật về BVMT, trong việc chủ động đầu tư thực hiện và cung cấp dịch vụ BVMT v.v…Chưa có sự quy hoạch quản lý đồng bộ trong hoạt động BVMT.
- Cụ thể:
Khai thác lộ thiên đối với những khu vực thuộc khoanh định của UBND tỉnh Quảng Ninh đối với những vùng bị hạn chế khai thác (không khai thác lộ thiên, hạn chế công suất khai thác, quy mô và phải có biện pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt) cạnh các hồ chứa nước phía Đông huyện Đông Triều. Hiện tại lộ vỉa 9, 9A, 9B đang tạm dừng khai thác để giải quyết vấn đề này.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 đã giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH MTV 397 – Tổng Công ty Đông Bắc và hoạt động về kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Tiếp đó phân tích thực trạng về hoạt động khai thác than và đánh giá các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh và khai thác than của Công ty. Nhìn chung, Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác của Công ty đã có những đổi mới tích cực về công nghệ khai thác góp phần khai thác hiệu quả và bảo vệ môi trường. Công ty đã đầu tư, đổi mới về quy trình công nghệ máy móc trong khai thác, sản lượng than trung mình vẫn đạt ở mức cho phép là 300 tấn, doanh thu hàng năm tăng . Bên cạnh đó đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác đó là các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng chi phí. Vì công tác quản lý môi trường còn yếu kém nên đã bị hạn chế trong khai thác, phát sinh nhiều chi phí bồi thường dẫn đến hiệu quả khai thác chưa cao, các tỷ suất lợi nhuận đều bị giảm sút, hiệu quả sử dụng chi phí thấp, hiệu quả sử dụng lao động cũng giảm sút theo chính vì vậy ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả khai thác than của Công ty. Vì vậy trong thời gian tới Công ty cần trang bị thêm các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, góp phần khai thác tiết kiệm, hiệu quả và tránh phát sinh thêm các chi phí đặc biệt là chi phí bồi thường. Đặc biệt Công ty cũng cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công ty để hiệu quả hơn trong khai thác. Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại công ty đông bắc […]